MỐI
TÌNH HUYNH ÐỆ NGÀN NĂM CÒN THẮM THIẾT
Ngài
Huyền Trang ở nước Y Ngô được hơn mười ngày, một hôm,
được tin sứ thần vua nước Cao Xương đến yêu cầu quốc
vương Y Ngô mời Ngài sang nước ấy.
Nước
Cao Xương, tức là thành Nhã Nhi, phụ cận Tây Nhã Hồ, thuộc
xứ Tân Cương ngày nay. Cao Xương dựng nước vào khoảng giữa
đời Nguyên Ngụy, tuy ở xa về phía Tây, nhưng cũng là giòng
Hán, và theo Phật giáo. Vua nước ấy là Khúc Văn Thái, một
tín đồ nhiệt thành của đạo Phật.
Ngài
Huyền Trang, trước kia định từ nước Y Ngô theo rừng phía
bắc Thiên Sơn đến thẳng Aán Ðộ. Nhưng nay có lời khẩn
khoản mời của vua nước Cao Xương nên buộc lòng phải rẽ
sang nước ấy. Ngài theo sứ thần đi về hướng Tây Nam, lặn
lội sáu ngày trong vùng sỏi đá, đến tối ngày thứ sáu
mới đến địa giới Cao Xương, vào thành Bạch Lực (nay là
đất thành Hòa Thiên). Vua cùng các quan thị vệ đèn đuốc
trước sau, tự ra khỏi cung, long trọng đón rước Ngài vào
hậu cung, mời Ngài ngồi trong bảo trướng tầng lầu trong.
Quốc vương nói:
–Sư
phụ một mình một bóng, lặn lội qua sa mạc, là sự rất
lạ lùng. Ðệ tử, xưa có cùng đấng tiên Vương sang chơi
bên Ðại Quốc, theo vua Tùy đi du lịch đông tây hai kinh, và
các nơi đất Yên, Ðại, Phần, Tấn, có gặp nhiều vị danh
tăng, mà đệ tử không hâm mộ vị nào cả. Chỉ từ khi nghe
đại danh Pháp sư, vui mừng quên cả ăn ngủ. Ðệ tử tính
hành trình biết rằng hôm nay Pháp sư có thể đến được,
cho nên cả vợ con chưa dám đi ngủ, chỉ ngồi xem sách để
đợi Pháp sư đến nghe kinh.
Một
lúc sau, Vương phi và cung nữ trên mấy chục người đến
bái chào. Khúc Văn Thái ngồi chuyện vãn với Ngài cho đến
gần sáng. Ngài mệt nhừ, gần sáng mới đi nằm được một
lát. Sáng hôm sau, trong lúc Ngài Huyền Trang đang nằm trên
giường chưa dậy được, Khúc Văn Thái đã đến tận bảo
trướng hỏi thăm sức khỏe và nói:
–Ðệ
tử kính mếân sư phụ, giận không được trọn đời cung
phụng, mong rằng sư phụ đừng nghĩ gì đến việc Tây du
nữa, hoan hỉ ở lại đây để cho dân nước đệ tử đều
được chịu sự giáo hóa của sư phụ.
–Tâu
Ðại vương, bần tăng ra đi chuyến này không phải để nhận
lãnh phú quý vinh hoa. Bần tăng đã bao năm khổ tâm, vì tại
nước nhà, lý nghĩa Phật pháp đang còn hoang mang, kinh điển
còn nhiều thiếu sót, nên mới phát nguyện Tây du để nghiên
tầm kinh điển, không quản ngại đường sá gian lao có thể
tổn hại đến tánh mạng. Bần tăng mong rằng rồi đây mưa
pháp sẽ nhuần thấm không phải chỉ ở Ấn Ðộ, mà cả
toàn cõi Trung Quốc bao la. Vì thế, xin Ðại vương đừng bắt
bần tăng phải bỏ dở cuộc hành trình. Bần tăng rất lấy
làm cảm kích về sự tiếp đãi ân cần của Ðại vương,
nhưng không thể nghĩ chuyện ở lại đây được. Xin Ðại
vương hiểu thấu cho.
Nhưng
vua Cao Xương vẫn không từ bỏ ý định, nói một cách cương
quyết:
–Ðệ
tử một lòng quy kỉnh sư phụ, tha thiết mong mỏi sư phụ
ở lại đây để đệ tử được may mắn sớm hôm hầu hạ.
Lòng đệ tử đã quyết thì mặc dù núi Tu Di có dời đổi,
ý nguyện của đệ tử cũng không đổi thay.
Huyền
Trang vẫn một mức chối từ. Vua Cao Xương bây giờ đổi
sắc mặt, đứng dậy vung tay áo nói to:
–Ðệ
tử đã hết lời cầu khẩn mà Pháp sư vẫn không nghe. Vậy
đệ tử có cách khác đối xử với Pháp sư. Pháp sư không
thể đi được. Hoặc Pháp sư lưu lại đây, hoặc đệ tử
đưa Pháp sư trở về nước, xin Pháp sư hãy lựa một trong
hai điều.
Nói
xong, Khúc Văn Thái bỏ đi ra. Huyền Trang thở dài, nức nở
không thể nói ra lời.
Từ
đó, Khúc Văn Thái lại tăng thêm đồ cúng dường, săn sóc
Ngài rất chu tất, cung cấp từ ăn uống, áo quần, đồ dùng
không thiếu một thứ gì. Mỗi ngày, đến bữa ăn, Khúc Văn
Thái tự mình bưng mâm dâng lên, chấp tay đứng hầu bên cạnh.
Huyền
Trang không thể không cảm kích trước lòng chân thành của
Khúc Văn Thái, nhưng nhận thấy nếu cứ như thế này mãi
thì khó bề đi đến Ấn Ðộ được. Một hôm Ngài nói với
Khúc Văn Thái:
–Bần
tăng lặn lội xa xôi, cốt là cầu lấy kinh Phật, hiện giờ
bị Ðại vương ngăn giữ. Ðại vương chỉ giữ được hài
cốt của bần tăng thôi, chứ tinh thần, ý chí của bần tăng
thì Ðại vương không giữ được.
Từ
đấy, Ngài thề nhịn đói, không ăn uống nữa để cảm động
lòng vua. Ngài xếp bằng ngồi yên, ba ngày không có một hột
cơm, một giọt nước vào miệng. Hơi thở Ngài yếu dần,
thân hình Ngài không còn ngồi thẳng được, xem chừng nguy
kịch. Ðến ngày thứ tư, Khúc Văn Thái sinh lòng lo lắng và
hối hận, cúi đầu lạy và nói rằng:
–Thôi
đệ tử xin tạ tội với Pháp sư. Ðệ tử không dám cầm
giữ nữa. Pháp sư muốn sang Tây Trúc thì cứ sang, những xin
hãy xơi cơm cho. Ðệ tử chỉ xin phép Pháp sư hai điều: Một
là giảng cho một tháng kinh Nhân Vương Bát Nhã, hai là xin
được cùng Pháp sư kết nghĩa anh em.
Ngài
Huyền Trang sợ Khúc Văn Thái không giữ lời, mới yêu cầu
vua thề trước bàn Phật. Khúc Văn Thái ngoan ngoãn làm theo.
Và Ngài Huyền Trang lại ăn uống như cũ.
Theo
lời yêu cầu của vua, Ngài ở thêm một tháng để giảng
kinh Nhân Vương Bát Nhã. Khúc Văn Thái truyền dựng một cái
lều bằng vải có thể chứa được 300 thính giả. Bà Hoàng
thái hậu, vua, các trưởng lão Hòa thượng, đình thần đều
đến nghe giảng một cách kính cẩn. Mỗi ngày, đến giờ
giảng, vua thân hành bưng một lư hương đến thỉnh Ngài và
rước Ngài đến diễn đàn. Ðến đấy, vua quỳ xuống và
đỡ chân Ngài lên ngồi vào pháp tọa.
Trước
khi Ngài lên đường, Khúc Văn Thái sắm sửa các thứ cần
dùng cho Ngài không thiếu một thứ gì, và có thể dùng đi
xa trong khoảng 20 năm. Vua truyền cho bốn vị sa di và hai mươi
lăm thủ hạ lực lưỡng theo hầu Ngài, chế 30 bộ áo rét,
bao tay, nịt chân, khăn trùm, lại biếu Ngài 100 lượng vàng,
30.000 ngân tiền, 500 tấm lãnh và 30 con ngựa. Nhưng điều
quý nhất cho Ngài trong chuyến đi này là 24 bức thư cho 24
quốc vương mà Ngài sắp đi qua để yêu cầu họ giúp đỡ
Ngài. Mỗi một bức thư lại kèm theo một tấm lãnh để làm
tin. Riêng đối với vua nước Ðột Quyết là nước mạnh
nhất trong miền Trung Á, vua sai quan Ðiện trung thị ngự sử
là Hoan Tín đưa Ngài sang với 500 tấm lụa và lãnh, hai xe
các thứ quả quý báu và một bức thư giới thiệu Ngài Huyền
Trang với vua nước ấy là Diệp Hộ. Trong thư viết: "Hòa
thượng pháp sư này là em tôi, muốn sang cầu pháp bên nước
Bà-la-môn, xin Ngài rộng thương Pháp sư cũng như tôi và xin
Ngài sắc cho các nước phương Tây cấp cho Pháp sư ngựa Ô
lạc (ngựa trạm) để đưa ra khỏi bờ cõi".
Những
sự gởi gấm này thật vô cùng quý báu. Ngài Huyền Trang khi
ra đi là một kẻ phạm pháp triều đình, đêm ngày trốn lánh,
như một tên tù vượt ngục, từ đây, do lòng cương quyết
của mình và lòng thành của vua Cao Xương, nghiễm nhiên trở
thành một quốc khách của các nước Trung Á và được họ
giúp đỡ đưa đến tận biên giới xứ Ấn Ðộ.
Ngày
Ngài lên đường, Khúc Văn Thái cùng quần thần, tăng lữ
và dân chúng gần cả nước tiễn đưa Ngài ra phía Tây kinh
thành. Vua nắm chặt tay Ngài và khóc to. Mọi người đều
không cầm được giọt lệ. Nhưng dù cảm tình có sâu đậm
bao nhiêu, cũng không thể bịn rịn mãi được, Ngài xây lưng
ra đi, Khúc Văn Thái đứng nhìn theo cho đến khi cát bụi và
nước mắt làm mờ hẳn hình bóng Ngài trên đường, mới
sụt sùi trở về cung.
Dưới
dây là bài biểu của Ngài Huyền Trang làm trước khi ra đi
để cảm tạ lòng hậu đãi của vua Cao Xương đối với Ngài.
Tạ
Cao Xương Quốc Vương Khải
"Trang
nghe rằng: Sông bể sâu xa, vượt qua được phải nhờ tay
lái; dân sinh mê hoặc, dẫn cho đi, phải mượn lời thiêng.
Bởi vậy đức Như Lai, do lòng đại bi cao rộng, hiện sinh
cõi dục; lòng lóng trí tuệ sáng lòa, soi khắp chốn mù. Mây
từ rợp tuyệt đỉnh trời cao, mưa pháp nhuần ba nghìn cõi
rộng. Ðã cùng yên lợi, lại thỏa y quy. Truyền giáo sang
Ðông 600 năm lẻ, cuộc thắng hội đã lẫy lừng nơi Ngô,
Lạc; lời sấm Thập từng ung đúc đất Tần, Lương. Chẳng
trụy thói huyền, đều khuôn nghiệp thành trong; người xa
lại dịch, ân nghĩa bất đồng. Ðời cách tánh xa, nghĩa càng
sai suyển, khiến cho cái ý chỉ "song lâm nhất vị", rẽ ra
là hai phái hiện đương; cái tôn thống "nhị thường bất
nhị", tách ra làm hai dòng Nam, Bắc. Phân vân đôi ngả, trải
vài trăm năm; suốt cõi nghi ngờ, nào ai quyết định!
"Huyền
Trang vốn nhờ phúc cũ, sớm dự cửa thiền, đội tráp theo
thầy, năm hầu hai kỷ. Danh hiền các bạn, đã khắp hỏi
han; đại, tiểu hai thừa đã từng nghiệm xét. Thường lắm
lúc mở kinh ngần ngại, cầm quyển tần ngần. Trông vườn
Cấp (Cấp Cô Ðộc) mà kiễng chân, ngóng đỉnh Thứu (Linh
Thứu) mà tưởng mến, muốn những bái lâm một chuyến, may
ra túc hoặc khỏi ngờ. Vẫn biết rằng ống tre nhỏ không
thể dòm được trời, cái bầu con khó lòng tát được bể.
Nhưng lòng vi thành không thể bỏ được, nên mới thúc Trang
lên đường; thấm thoát dăm trăng vừa đi tới nước Y Ngô.
"Nép
thấy Ðại vương, bẩm thụ cái khí thuần hòa của nhị nghi
trời đất. Rủ áo làm vua, vỗ về dân chúng; phía Ðông ví
bằng phong đại quốc, phía Tây yên cổ tục bách nhung. Những
nước lân bang Nhục Chi, nào nơi xa sư Lương Vọng, đều nhờ
ơn sâu, đã nhuần đức hậu. Lại nay kính hiền, yêu sĩ,
hiếu thiện lưu từ; thương xót kẻ xa xôi đi lại ân cần
cho tiếp đãi đến nơi, đã được vào chầu, nhuần ơn càng
hậu; tiếp đãi chuyện trò, phát dương pháp nghĩa. Lại được
nhờ Ngài giáng kết làm kẻ anh em và còn đưa thư cho hơn
20 nước Phiên cõi Tây vức; giới sức ân càn, sai bảo tiễn
tống. Lại thương tôi Tây du vò võ, đường tuyết lạnh lùng,
bèn xuống lời minh sắc, độ cho bốn chú tiểu sa di, để
làm người hầu hạ. Nào là pháp phục, mũ bông, đệm cừu,
giày nịt, hơn năm mươi thứ, và lãnh lụa, vàng bạc, tiền
nong để khiến cho sung cái phí vãng hoàn trong hai mươi năm.
Nép trông thẹn thùng, sợ hãi, không biết xử trí cách nào.
Dẫu khơi dòng nước Giao Hà, ví ơn kia còn sút kém, cân hòn
non Thống Lĩnh, đo nghĩa nọ còn nặng hơn. Thông cái hiểm
cầu treo, khe thẳm, chẳng cần phải lo; kìa cái hàng cây đạo
thang trời, âu cũng sắp tới. Nếu được toại chí thỏa
lòng thì cũng là nhờ ơn nhà vua vậy.
"Sau
này được bái yết chúng sư, bẩm vâng chính pháp, đem về
phiên dịch, truyền bá những điều chưa từng nghe, phá tan
cái rừng rậm rạp của những tà kiến, tuyệt hẳn cái ý
xuyên tạc của những mối dị đoan; bồi cái sự di khuyết
cho nền tượng giáo, định cái kim chỉ nam cho chốn huyền
môn. May ra cái công nhỏ ấy đáp được cái ơn sâu kia. Nay
tiền đồ còn xa, không thể lưu ở lâu được. Ngày mai từ
biệt, thắm thiết bùi ngùi; không xiết đội ơn, cẩn dâng
khải lên kính tạ"