VIẾNG
BẮC ẤN ÐỘ
Ðặt
chân vào Bắc Ấn Ðộ, Ngài đi ngang qua hai tiểu quốc là
Ca-bi-ca (Capica) và Lâm-ba (Lampaka) là những nước thuộc Tiểu
thừa Phật giáo. Sau khi ở đấy vài tháng để nghiên cứu
kinh điển Tiểu thừa, Ngài đi đến một nước rất hùng
cường trong năm xứ Ấn Ðộ thời xưa là Kiền-đà-la (Gandhara).
Nước này trong quá khứ có những vì vua anh hùng cái thế,
và rất sùng mộ đạo Phật như vua Di-lan-đà (Nilanda), Già-nhi-sắc-già
(Kanishka). Nước này cũng là quê hương của những vị luận
sư xuất chúng, hay những tổ sư đã sáng lập các tông phái
như Ngài Na Tiên Tỳ kheo, Pháp Cữu, Như Ý, Hiếp Tôn Giả
...
Trước
khi đến nước này, Ngài nghe nói có một cái hang mà bóng
đức Phật Thích Ca thường xuất hiện, nên Ngài định đến
chiêm ngưỡng. Hang này, theo người ta kể lại, là nơi đức
Phật đã hàng phục con Long thần Gopâla và còn để lại hình
bóng Ngài. Nhưng con đường đến hang ấy rất hoang vu và có
nhiều trộm cướp hoành hành. Từ mấy năm rồi, không còn
ai dám đến đấy nữa. Những người đồng hành với Ngài
đều khuyên Ngài không nên ghé đến. Ngài trả lời:
–Trong
mấy ngàn A-tăng-kỳ-kiếp chưa chắc đã có một lần thấy
được hình ảnh của Phật. Tôi đã đến đây, làm sao không
đến chiêm ngưỡng được? Các người hãy đi trước đi,
tôi ghé đấy rồi sẽ theo sau.
Nói
xong, Ngài một mình đi rẽ về phía hang bóng Phật. Khi Ngài
đến một ngôi chùa gần đây, không ai dám dẫn Ngài đi. Ngài
đành đi một mình. Giữa đường, Ngài gặp một ông già bằng
lòng hướng dẫn Ngài đến hang. Ði được vài dặm, hai người
gặp năm tên cướp tay nắm giáo mác đang tiến tới phía Ngài.
Ngài cất mũ và chỉ vào bộ áo quần nhà sư của mình. Bọn
cướp hỏi:
–Nhà
sư muốn đi đâu đây?
–Tôi
muốn đi chiêm bái bóng đức Phật.
–Nhà
sư không biết rằng trong vùng này có nhiều kẻ cướp sao?
Ngài
ôn tồn trả lời:
Kẻ
cướp cũng là người. Tôi đi chiêm bái đức Phật, thì dù
có gặp thú dữ, rắn độc, tôi cũng không sợ. Các anh là
người, nghĩa là trong lòng đã sẵn có mầm từ bi, sao tôi
lại sợ?
Bọn
cướp nghe Ngài nói rất cảm kích, và tình nguyện đi theo
Ngài đến hang.
Hang
này ở phía đông một dải suối chảy giữa hai trái núi.
Cửa hang mở ra một thành đá. Ngài nhìn vào cửa hang không
thấy gì khác hơn là một khoảng tối om om. Ông già bảo Ngài:
–Pháp
sư hãy đi vào trong, khi Ngài đến đụng vách đá phía đông
Ngài hãy lùi lại đó độ 50 bước và đứng nhìn vào vách
đá, sẽ thấy bóng đức Như Lai.
Ngài
Huyền Trang đi vào một mình, làm như lời ông lão dặn. Ngài
xây mặt về phía vách đá, lạy một trăm lạy, nhưng vẫn
không thấy gì. Ngài òa lên khóc vì tự thấy mình bạc phước
và chứa nhiều tội lỗi nên không được bóng đức Phật
thị hiện ra. Bấy giờ với một tấm lòng thành khẩn. Ngài
tụng những bài sám hối, và sau mỗi đoạn lại đảnh lễ
Phật. Quả thật, sự linh diệu bắt đầu hiện ra! Sau khi
Ngài đã lạy trên 100 lạy, một điểm sáng bằng cái bình
bát hiện ra ở trên vách đá phía đông và vụt tắt ngay.
Vừa mừng, vừa tủi, Ngài lạy nữa, và lần này, Ngài thấy
một khoảng sáng lớn bằng cái thau xuất hiện rồi vụt tắt,
nhanh như chớp. Bấy giờ lòng tràn ngập hân hoan và thành
kính, Ngài thệ nguyện quyết tâm ở lại đây mãi cho đến
khi nào thấy được hình bóng thiêng liêng của đức Phật
mới thôi. Ngài tiếp tục tụng niệm. Và thình lình, tất
cả hang đá đều sáng rực lên, và hình ảnh đức Như Lai
hiện ra trắng toát. Một đường ánh sáng viền quanh khuôn
mặt đấng giác ngộ, thân hình Ngài và chiếc y rực lên một
màu vàng chói. Từ hai đầu gối Ngài trở lên, những tướng
tốt hiện ra trong ánh sáng; nhưng phía dưới tòa sen ánh sáng
mờ nhạt như ánh sáng hoàng hôn. Hai bên tả, hữu Ngài, có
rất nhiều hình bóng của các vị Bồ tát.
Ngài
Huyền Trang ngây ngất đứng nhìn hình ảnh nhiệm mầu, thiêng
liêng ấy một hồi rồi gọi sáu người đi theo Ngài đang
đứng ở ngoài cửa hang, đem đèn đuốc và hương hoa vào,
thì đức Như Lai biến mất. Ngài Huyền Trang bảo tắt đèn
đuốc, và hình ảnh trước lại xuất hiện. Trong sáu người
đi theo Ngài – Ông lão và năm tên cướp – chỉ có năm người
nhận thấy hình ảnh đức Phật, còn một trong năm tên cướp
không nhận thấy gì hết.
Ngài
Huyền Trang quỳ xuống dâng hương hoa và tán thán đức Phật
một hồi thì bóng đức Phật tắt hẳn. Ngài lạy tạ rồi
đi ra.
Sau
khi được chứng kiến rõ ràng hiện tượng kỳ diệu ấy,
Ngài Huyền Trang đi thẳng đến nước Kiền Ðà La (Bắc Ấn
Ðộ) phía đông giáp Ấn Ðộ hà (Indus). Ở đây, trước kia
là một nơi chứa rất nhiều di tích Phật giáo, nhất là ở
cựu thành Bố-lộ-sa-bố-la (Peshawar). Hoàng đế Ca-nị-sắc-ca
(Kanishka) xưa kia có dựng trong vùng này trên một ngàn tịnh
xá để chư tăng ở. Nhưng khi Ngài Huyền Trang đến đây thì
quang cảnh thật là buồn bã, hoang phế. Dân cư thưa thớt.
Dinh thự, đền đài, tịnh xá, thành quách đã bị quân Hung
nô nhiều lần đến tàn phá. Những di tích quý báu của đức
Phật đều bị cướp đem đi, cho đến cái bảo vật quý nhất
là bình bát mà xưa kia lúc tại thế, đức Phật đã dùng
đi khất thực, cũng không còn.
Trong
hơn một ngàn tịnh xá trước kia, nay chỉ còn lại một cái.
Ðó là tịnh xá mà Ðại đế Ca-nị-sắc-ca đã dựng lên
cho Ngài Hiếp Tôn Giả.
Sự
tích của Ngài Hiếp Tôn Giả là một cái gương kiên nhẫn,
tinh tấn, vô cùng quý báu, mà hàng tín đồ Phật tử thường
kể cho nhau nghe:
Tôn
giả đã gần 80 tuổi mới xả tục xuất gia. Những người
thanh niên trong thành phố đều nhạo báng và chê Ngài là người
không biết điều: "Lão già thật ngu. Xuất gia thì phải đủ
sức để tập định và tụng kinh. Nay đã già khọm đi rồi,
còn tiến thủ sao được nữa, mà dám lạm dự vào bậc thanh
lưu. Thật là để ăn bám mà thôi".
Hiếp
Tôn Giả nghe những lời nhục mạ như thế, đứng trước
mọi người mà thề rằng:
–Hiếp
này, nếu không thông suốt được Tam tạng kinh điển, không
đoạn trừ được phiền não của tam giới, thì quyết đừng
cho Hiếp này dự vào chỗ chiếu ngồi.
Từ
đấy, Tôn giả chăm chỉ học hỏi không ngừng; khi đi, khi
đứng, khi ngồi, lúc nào cũng nghiền ngẫm đến những điều
mình vừa học. Ban ngày thì nghiên tầm giáo lý, đêm đến
thì tĩnh tọa tham thiền, trong khoảng ba năm Ngài đã thông
hiểu hết ba tạng kinh điển. Do đó người đời mới tôn
kính đặt cho Ngài cái danh hiệu "Hiếp Tôn Giả".
Sau
khi lễ bái các Phật tích ở đây và đem các tặng phẩm mà
vua Cao Xương đã biếu cho Ngài như vàng, bạc, vóc lụa, y
phục ... phân phát cho các tu viện, Ngài Huyền Trang đi lần
về phía đông nam.
Ngài
đi đến nước Ca Thấp Di La (bây giờ là Taxila trong vùng Panjab).
Vị trí nước này ở phía Tây dãy Hy Ma Lạp Sơn, thượng
lưu sông Na Bô và sông Xa Lâm, là những chi lưu của sông Ấn
Ðộ, diện tích độ 1.900 dặm vuông Anh. Nước này là nơi
phát nguyên Ðại thừa Phật giáo. Trong thời vua A Dục trị
vì, Ngài đã đặt ở đây Thủ đô của những tỉnh miền
Tây bắc và cử Hoàng tử Câu Na La (Kunâla), con Ngài, làm thủ
hiến vùng này. Nhân đây, tưởng cũng nên nhắc lại câu chuyện
thương tâm của vị Hoàng tử này:
Hoàng
hậu, vợ vua A Dục mất, vua lấy một người vợ sau. Bà này
là người không đứng đắn, đem lòng yêu Hoàng tử Câu Na
La, nhưng bị Hoàng tử cự tuyệt. Bà sinh tâm oán hận Hoàng
tử và xúi vua đày Hoàng tử lên trấn nhiệm các tỉnh miền
Tây bắc, tức là nước Ca Thấp Di La. Nhưng bà mẹ kế này
vẫn chưa nguôi thù oán. Bà làm một sắc chiếu giả và thừa
lúc vua ngủ, đóng dấu răng ngài vào – sự đóng dấu theo
thể thức này là một luật lệ của triều đình – Tờ chiếu
truyền lệnh móc đôi mắt Hoàng tử. Khi nhận được chiếu
chỉ, các thủ hạ của Hoàng tử do dự không dám thi hành.
Thái tử bảo họ:
–Phụ
thân ta đã truyền lệnh như thế, ta đâu dám chẳng tuân theo?
Các người hãy thi hành đi.
Hoàng
tử bị mù cả hai mắt từ đấy. Với một cây đàn, Câu
Na La đi kiếm ăn hết tỉnh thành này đến tỉnh thành khác.
Một hôm, thái tử đi về phía kinh đô, đến gần hoàng thành,
nơi vua A Dục đang ở. Trong đêm khuya Thái tử vừa gảy đàn
vừa than trách số kiếp xót đau của mình. Vua từ trên lầu
cao, giật mình kinh ngạc khi nghe giọng hát ấy. Vua cho thị
vệ gọi người hát vào và đau đớn nhận ra là con mình!
...
Trong
thời Ngài Huyền Trang đến đây, ảnh hưởng Phật giáo Ðại
thừa vẫn còn đang mạnh mẽ trong dân chúng. Khi Ngài đến
gần kinh thành, vua nước ấy thân hành đem triều thần, tăng
chúng, quân lính ra nghinh đón có trên ngàn người. Cờ quạt
rợp trời, hương hoa đầy đất. Vua thân đến trước mặt
Ngài, rải hoa dưới chân Ngài và mời Ngài lên ngồi trên
một thớt voi lớn, còn vua và đám rước đi theo sau.
Sau
khi biết được ý định của Ngài sang Ấn Ðộ để sưu tầm
kinh điển, vua truyền cho 20 người thơ lại đi theo Ngài biên
chép.
Ngài
đến trọ tại một ngôi chùa "Am-ra-nhân-đà" trong kinh thành.
Chùa này có 30 vạn biến kinh, cọng 96 vạn câu, và một vị
cao tăng đã 70 tuổi là Xưng Lão Pháp sư rất tinh thông kinh
điển Ðại thừa. Ngài ở đây biên chép kinh điển và theo
học với vị cao tăng này trong hai năm. Ngài đã tìm thấy
ở đây một vị sư xứng đáng với hoài bảo của mình. Ngài
thường ca tụng vị sư này là một người nghiêm trì giới
luật, thông minh xuất chúng, học hỏi uyên thâm và đức hạnh
hoàn toàn. Do sự mến phục ấy, Ngài theo học với vị cao
tăng đêm ngày không biết mệt. Và vị cao tăng này, khi Ngài
Huyền Trang từ giã ra đi, đã tuyên bố với đại chúng rằng:
–Thầy
Tăng Chi Na này trí lực hoằng thâm, trong bọn chúng ta không
ai hơn được. Ông là người thông minh đức độ, đủ nối
được cái phong thái và sự nghiệp của anh em Thế Thân Bồ
tát.