TRÊN
ÐƯỜNG ÐI ÐẾN CÁC THÁNH ÐỊA PHẬT GIÁO
Ngài
Huyền Trang đi dần về phía Trung Ấn Ðộ. Sau khi đi chừng
1.000 dặm và qua mấy tiểu quốc ở Bắc Ấn Ðộ, một hôm,
đi ngang một khu rừng rậm rạp, Ngài và những người bạn
đồng hành gặp phải một bọn cướp chừng 50 tên. Sau khi
lấy hết cả đồ dùng, áo quần, vàng bạc, chúng nó còn
nắm giáo mác đuổi theo Ngài và mấy người lữ hành. Chạy
được một đoạn đường, mấy người lữ hành nhận thấy
bên bờ một cái hồ khô nước, cây cỏ rậm rạp, có một
cái hang rộng, có thể chứa được nhiều người. Họ ra dấu
cho Ngài và mấy người cùng nhau chạy xuống đấy ẩn trốn.
Bọn cướp đuổi theo sau, đến đây thấy mất tăm dạng các
người lữ hành, chúng mới thôi, không đuổi nữa. Sau khi
thoát nạn, họ chạy đến một làng gần đấy và kể lại
tai nạn vừa xảy ra. Một người Bà-la-môn, có lẽ là xã
trưởng, đánh trống hội họp dân làng cùng nhau đuổi theo
tiêu trừ bọn cướp. Nhưng bọn này đã cao bay xa chạy vào
rừng sâu. Các lữ hành mất hết của cải rất đau buồn,
chỉ có Ngài là giữ được vẻ mặt tự nhiên tươi sáng,
vì Ngài nghĩ rằng tánh mạng là điều quý nhất chưa mất,
thì cái gì rồi cũng có thể tạo lại được.
Mà
thật, khi đến một thành phố gần đấy, họ gặp được
một vị Bà-la-môn già, có cảm tình với đạo Phật, triệu
tập dân chúng và hô hào họ quyên góp vàng bạc, áo quần,
vật dụng trao tặng lại cho những người đã bị cướp.
Ðiều may mắn nhất cho Ngài là vị Bà-la-môn già ấy lại
là đệ tử thông thái của một đại sư đã có công lớn
trong sự kiện toàn môn Nhân Minh học, là môn luận lý học
của Phật giáo. Ngài Huyền Trang bất ngờ mà gặp được
vị đệ tử giỏi về môn học này rất vui mừng, và xin ở
lại thụ giáo với vị này trong một tháng trời. Ngài Huyền
Trang nhờ môn học này, mà đã thông hiểu một cách tường
tận hệ thống triết lý Ðại thừa và nhất là Duy Thức
học Phật giáo.
Ngài
đi dần về phía đông, và qua mỗi đoạn đường, Ngài lại
gặp thêm nhiều minh sư, ích hữu, thu hoạch được rất nhiều
kinh điển Ðại thừa quý báu. Ngài ở chỗ này một năm,
chỗ kia năm ba tháng để khảo sát, biên chép, hay thỉnh giáo
với những vị học rộng biết nhiều.
Rồi
Ngài đi dần về phía đông nam, đến thành phố Ma-siêu-la
(Mathura) trong lưu vực sông Jumna là thành phố còn giữ rất
nhiều di tích của các vị đệ tử tiếng tăm của đức Thích
Ca, như Ngài Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Ưu Bà Ly, A Nan
Ðà, La Hầu La ...
Sau
khi đến chiêm bái các nơi này. Ngài lại đi tiếp sang phía
đông, đến thượng lưu sông Hằng. Ðối với tín đồ Ấn
Ðộ giáo, sông Hằng là một con sông linh thiêng, bắt nguồn
từ trên cõi trời mà chảy xuống đất. Sắc nước luôn luôn
thay đổi màu, sóng rất lớn. Nước ngọt và lòng sông toàn
cát trắng rất mịn. Theo kinh điển Ấn Ðộ giáo, người
ta gọi sông này là sông Hạnh phúc, ai tắm trong nước của
nó thì được rửa sạch tội lỗi, ai uống nước của nó,
hay chỉ súc miệng thôi, cũng đủ thoát nhiều tai nạn; ai
trầm mình chết ở đấy sẽ tái sanh lên cõi trời. Vì thế
dân chúng theo Ấn Ðộ giáo đêm ngày tụ tập lễ bái hai
bên bờ sông. Và một số người tìm cái chết trong dòng nước
thiêng ấy để hy vọng lên cõi trời. Rải rác từng khoảng
gần hai bên bờ sông, Ngài thấy có những chiếc sào cắm
xuống nước, phía trên đầu có những cái móc hay cái nạn
để cho người tín đồ treo mình lên đấy. Từ sáng sớm,
khi mặt trời bắt đầu lên, Ngài Huyền Trang đã thấy một
vài tín đồ ra sông, tự treo mình dọc theo cái sào ấy với
một tay và một chân móc vào cái nạn, còn tay và chân kia
thì dang thẳng ra, đôi mắt họ nhìn mặt trời và theo nó
từ phía đông cho đến phía tây, từ khi nó mới mọc cho đến
khi nó lặn xuống chân trời mới trở về nhà, để sáng hôm
sau lại tiếp tục cái công việc ấy. Và cứ như thế, họ
làm hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm
khác, hết hàng chục năm này đến hàng chục năm khác, với
mục đích là giải cho tâm linh thoát kiếp luân hồi!
Dọc
theo sông Hằng, Ngài Huyền Trang đi đến thành Khúc Nữ (Kanauj)
là kinh đô của nước Yết-nhược-cúc-đồ (Kayakubja). Nước
này thuộc Trung Ấn Ðộ là miền rất có nhiều thánh tích
đức Phật Thích Ca. Thời cổ gọi là "Ðất Giữa" vì nó
nằm ở giữa Ấn Ðộ. Khi Ngài Huyền Trang đến, thì Yết-nhược-cúc-đồ
là một nước đang thời thịnh trị, dân cư giàu có, vui vẻ
làm ăn. Vị vua đang trị vì nước ấy là Giới Nhật (Harsha)
một anh quân, rất sùng mộ đạo Phật có thể so sánh được
với A Dục vương thời trước. Kinh thành Khúc Nữ nằm trên
bờ tây sông Hằng có đến 100 ngôi chùa, tăng lữ có trên
vạn người. Khi Ngài Huyền Trang đến đây, vua Giới Nhật
không có ở kinh đô, nên không được vua tiếp đón như những
nước mà Ngài đã đi qua. Ngài ở lại đây ba tháng, trọ
lại chùa Bạt-đạt-di-kha-la (Bhadravihârâ) để học hỏi Tam
tạng kinh điển. Sau ba tháng ở thành Khúc Nữ, Ngài lại vượt
sông Hằng đi về phía đông, đến một thành có nhiều di
tích rất thân thiết đối với Ngài, là thành A Du Ðà (Ayodhya,
tỉnh Oude). Thành này còn rực rỡ oai danh của hai vị Bồ-tát
có công lớn với Ðại thừa Phật giáo và là những vị đã
thành lập môn Duy Thức học, đó là hai anh em Ngài Vô Trước
(Asanga) và Thế Thân Bồ-tát (Vasubandhu). Ngài Huyền Trang đến
khu rừng Xoài, cách 5, 6 dặm về phía tây nam A Du Ðà, là nơi
có tịnh xá mà hai thế kỷ trước, hai vị bồ-tát này đã
tu niệm và giảng dạy giáo phái của hai Ngài.
Câu
chuyện của hai vị Bồ tát này cũng đáng để cho chúng ta
suy gẫm trong vấn đề đi tìm sự thật:
Hai
anh em Ngài Vô Trước và Thế Thân, gốc ở thượng lưu sông
Hằng, đều là những vị thông minh xuất chúng. Nhưng trong
lúc Ngài Vô Trước là anh, tu theo phái Ðại thừa thì Ngài
Thế Thân là em lại theo Tiểu thừa. Hai Ngài đều có trước
tác những bộ luận để xướng minh giáo lý của phái mình,
và tất nhiên không thể không có những sự xung đột về
lý thuyết.
Một
hôm, Ngài Vô Trước mời em đến tịnh xá của mình tại rừng
Xoài chơi. Ðêm đến, Ngài Vô Trước dẫn Ngài Thế Thân ra
một cái gác dựng bên sông để em nằm hóng mát, còn mình
thì trở vào. Ðêm ấy là một đêm thu, có trăng rất đẹp.
Trăng và nước hòa hợp trong một bầu trời thu, mênh mông,
huyền ảo. Bỗng một giọng tụng niệm trong trẻo thanh thoát
ngân lên, ngân lên, bay trong gió, hòa hợp trong không trung.
Ðó là một bài luận về Ðại thừa. Qua ý nghĩa bài luận,
thế giới vật chất như tan biến, mung lung, mộng ảo như
ánh trăng, như hơi nước đang bàn bạc trên sông. Trước mắt
Ngài, vật chất chỉ là thế, nghĩa là hư ảo, là duy tâm,
là duy thức.
Ngài
Thế Thân xúc động đến tận đáy lòng, và cảm thông được
cái cao thâm huyền diệu của giáo lý Ðại thừa, Ngài vừa
xấu hổ, vừa hối hận, đi vào nhà, xin cắt lưỡi trước
mặt anh để chuộc cái tội đã phỉ báng Ðại thừa.
Ngài
Vô Trước can em:
–
Sao lại cắt lưỡi? Em đã dùng cái lưỡi ấy để công kích
Ðại thừa thì nay cũng nên dùng cái lưỡi ấy để xiểng
dương Ðại thừa, mới phải chứ!
Ngài
Thế Thân nghe theo lời anh dạy. Trước kia Ngài đã viết 500
bộ luận về Tiểu thừa để kích bác Ðại thừa, thì từ
đấy, Ngài lại viết 500 bộ luận về Ðại thừa để thuyết
minh giáo lý Ðại thừa. Do đó, người đời tôn xưng Ngài
là "Thiên bộ Luận sư", vị luận sư tạo ngàn bộ luận.
Ngài
Huyền Trang khi đến thăm tịnh xá của hai vị Bồ tát này,
chắc không thể không xúc động mãnh liệt, vì giáo lý Duy
thức mà hai vị này đã phát huy ra trước Ngài hai thế kỷ,
chính là giáo lý mà sau này Ngài đã dùng làm cơ sở cho bộ
luận Thành Duy Thức đồ sộ của Ngài, và là căn bản của
Pháp Tướng tông.
Từ
giã tịnh xá của hai vị Bồ-tát này, Ngài đi thuyền xuôi
theo sông Hằng về phía đông để tiếp tục viếng các Phật
tích. Trong thuyền có lối 20 hành khách. Thuyền xuôi theo dòng
sông, độ vài chục dặm thì xảy ra một tai nạn lớn, có
thể nói là lớn nhất trong cuộc hành trình của Ngài từ
trước đến nay, và có thể làm Ngài bỏ xác nơi đây.
Thuyền
đi vào một khúc sông, hai bên bờ có nhiều cây cối rậm
rạp của rừng cây "A Dục". Dưới những tàn cây rậm rạp
bổ ra sông, có mười chiếc ghe của bọn cướp đang ẩn núp
đợi mồi. Khi thấy thuyền Ngài gần đến, bọn cướp hè
nhau bơi thuyền ra chặn đường. Nhiều hành khách sợ quá
nhảy ùm xuống sông và mất xác, những người còn lại bị
đưa vào bờ và bị bọn cướp lột hết quần áo, của cải.
Bọn cướp này thờ "Durga", một nữ hung thần thường bắt
các đệ tử cuồng tín phải làm lễ hy sinh người sống cho
mình. Thường năm, đến mùa thu, họ tìm một nạn nhân, phần
nhiều là đàn ông có hình dáng cân đối, mặt mũi khôi ngô
để lấy huyết và thịt dâng cúng cho nữ thần. Khi bọn cướp
này nhận thấy Ngài Huyền Trang có khuôn mặt tuấn tú, hình
dáng oai nghi, chúng nhìn nhau mừng rỡ. Chúng nói với nhau:
–Chúng
ta đã trễ quá thời hạn làm lễ tế thần, vì chưa tìm được
một kẻ hy sinh xứng đáng với nữ thần. Nhưng bây giờ chúng
ta gặp được nhà sư mặt mũi khôi ngô, thân hình đẹp đẽ
này, chúng ta hãy làm lễ tế ngay, để nữ thần ban phước.
Ngài
nghe nói, bình tỉnh trả lời:
–Nếu
thân xác của bần tăng này đáp đúng ý nguyện của các ngươi,
để dâng cúng cho nữ thần, bần tăng thật tình không dám
tiếc. Nhưng bần tăng từ phương xa lặn lội đến đây để
chiêm bái các Phật tích, cung thỉnh các kinh điển và học
hỏi giáo lý của đức Thích Ca. Sở nguyện thiết tha ấy
chưa thành, mà nay các ngươi đành tâm giết bần tăng, thì
bần tăng e rằng các ngươi đã không được phúc mà trái
lại còn mang thêm nhiều tai họa.
Những
người hành khách quỳ xuống xin bọn cướp tha chết cho Ngài.
Có người lại xin thay mạng cho Ngài. Nhưng bọn cướp đều
từ chối. Tên đầu đảng truyền lệnh cho bộ hạ vào rừng
lấy nước trong và dựng một cái bàn thờ với đất bùn
lấy ở dưới sông lên. Xong xuôi nó truyền hai tên thân tín
rút giáo, lôi Ngài lên bàn thờ để làm lễ hy sinh ngay. Trong
lúc đó sắc mặt Ngài vẫn không đổi, bình thản như thường.
Bọn cướp lấy làm ngạc nhiên và không khỏi xúc động.
Riêng Ngài, thì Ngài thấy giờ phút cuối cùng sắp đến,
nên yêu cầu bọn cướp trì hoãn cho Ngài một lúc để Ngài
cầu nguyện và đừng lôi kéo Ngài như thế. Ngài bảo:
–Các
ngươi hãy để cho bần tăng được nhập Niết-bàn một cách
thanh tịnh và hoan hỷ.
Nói
xong, Ngài ngồi kiết già, xưng tán đức Di Lặc và chư Bồ
tát trong mười phương, mong cầu được nhập vào hàng Thánh
chúng để được nghe pháp và giác ngộ hoàn toàn. Rồi Ngài
lại nguyện sau khi giác ngộ sẽ trở về cõi Ta Bà này khai
thị cho bọn cướp, đưa chúng về con đường chính và làm
các việc công đức để chuộc những lỗi lầm. Cuối cùng,
Ngài nguyện sẽ hóa độ toàn thể chúng sanh, và đưa họ
vào cảnh giới an lạc. Nguyện xong, Ngài nhập định và chú
toàn tâm lực vào đức Bồ-tát Di Lặc.
Bỗng
Ngài nhận thấy tâm hồn lâng lâng siêu thoát, như bay bổng
đến núi Tu Di, và sau khi lên đến tầng trời thứ ba, Ngài
thấy đức Di Lặc đang ngồi trên tòa sen rực rỡ và quanh
Ngài, chư thiên đang ngồi nghe pháp. Trong khi tâm hồn Ngài
đang phiêu diêu trong cảnh giới thanh tịnh ấy, Ngài không
còn nhận thấy rằng mình đang ngồi trên bàn thờ tế nữ
thần, bên cạnh bọn cướp khát máu đang nóng lòng chờ đợi
cắt da, xẻ thịt mình, và dưới chân Ngài, chung quanh Ngài,
những người đồng hội, đồng thuyền với mình đang than
khóc tiếc thương Ngài.
Bỗng
một trận cuồng phong nổi lên, làm cây cối gẫy ngã, cát
bụi tung đầy trời, sóng cuồn cuộn gầm thét và lật úp
ghe thuyền trên sông. Bọn cướp hoảng sợ, hỏi những kẻ
bộ hành cùng đi theo Ngài:
–Nhà
sư này ở đâu đến và tên ông ta là gì?
Một
người trong đám hành khách trả lời:
–Ðó
là một cao tăng từ Trung Hoa đi sang đây thỉnh kinh. Nếu các
người giết vị sư ấy thì tai họa lớn lao sẽ đến với
các người. Các người thấy chưa, gió bão đang nổi dậy
đó chính là triệu chứng sự giận dữ của chư thiên trước
hành động bạo tàn của các người. Các người hãy mau hối
cải mới được.
Bọn
cướp sợ hãi, sụp quỳ xuống bên chân Ngài, xin tha tội,
nhưng Ngài vẫn điềm nhiên tĩnh tọa, không nhận thấy sự
thay đổi đột ngột, kỳ lạ xảy đến chung quanh Ngài. Một
tên cướp xích lại gần, nắm chéo áo Ngài van xin tha tội,
làm Ngài sực tỉnh.
Khi
được biết bọn cướp đã hoảng sợ mà đổi ý, Ngài nhận
tin ấy một cách bình tĩnh, không đổi sắc mặt. Ngài khuyên
bọn cướp hãy cải tà quy chánh. Bọn cướp ngoan ngoãn xin
tuân theo. Trận cuồng phong dịu dần rồi tắt hẳn.