CHIÊM
BÁI CÁC PHẬT TÍCH
Sau
khi được toàn tánh mạng, và thoát khỏi tay bọn cướp hung
ác một cách bất ngờ, Ngài Huyền Trang đi về phía Ðông
Bắc là nơi có nhiều Phật tích quý báu, trong số ấy có
6 đại thánh địa mà mọi Phật tử, khi sang Ấn Ðộ hành
hương, đều ao ước được đến chiêm bái. Sáu đại thánh
địa ấy là: Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi đức Phật giáng sanh;
Thành Ca Tỳ La Vệ, nơi trưởng dưỡng của Ngài khi chưa xuất
gia; Bồ đề đạo tràng, nơi đức Phật thành Ðạo; vườn
Nai, nơi Ngài thuyết pháp lần đầu tiên cho nhóm ông Kiều
Trần Như; vườn Trúc Lâm hay Cấp Cô Ðộc, nơi Ngài nhập
Niết-bàn.
Trong
cuộc chiêm bái của Pháp sư Huyền Trang, Ngài không theo thứ
tự như đã kể trên, nhưng theo sự thuận tiện trong cuộc
hành trình mà tuần tự chiêm bái những nơi sau đây:
1.
Chiêm bái vườn Trúc Lâm hay Cấp Cô Ðộc.
Vườn
này có tên là Cấp Cô Ðộc vì do một vị trưởng giả giàu
có, ông Tu Ðạ Na, cúng cho đức Phật để làm nơi thuyết
pháp. Sự tích cúng vườn này cũng là một điều lý thú nên
nhắc lại: Ông Tu Ðạt Na là một người giàu lòng bố thí,
thường cung cấp nuôi dưỡng những mẹ góa, con côi nghèo
khổ, cho nên được người đời tặng cho biệt hiệu là Cấp
Cô Ðộc trưởng giả. Khi Phật đến thuyết pháp tại thành
Vương Xá (Kocala, nay là tỉnh Oude), ông Tu Ðạt Na xin nguyện
cúng cho Ngài một nơi yên tĩnh để làm tịnh xá. Ông lựa
được một chỗ đất rất tốt, đó là rừng Trúc Lâm. Nhưng
rừng này thuộc sở hữu của nhà vua. Ông xin mua lại bằng
cách đem vàng bạc trải trên mặt đất. Nhưng còn một đám
đất vì cây cối rậm rạp ông chưa biết làm thế nào để
trải lên, nên đứng nhìn đám đất với vẻ mặt băn khoăn.
Vua lấy làm lạ, hỏi nguyên nhân, ông Tu Ðạt Na trả lời:
–Tâu
Hoàng thượng, thần được diễm phúc cúng dường đức Phật
một nơi làm tịnh xá, để Ngài thuyết pháp độ sinh. Thần
thấy đó là một công đức lớn vô cùng. Nhưng nay vì còn
một đám đất rậm rạp này, thần chưa biết phải trải
vàng thế nào để mua nốt, nên thần đang băn khoăn suy nghĩ.
Vua
trả lời:
–Nếu
sự cúng dường cho đức Phật có một công đức lớn lao
như thế thì ta không bán đám đất còn lại ấy nữa. Ta sẽ
dâng cúng cho đức Phật để làm công đức.
Từ
đấy một tịnh xá đồ sộ được dựng lên ở trong vườn
Trúc Lâm, nơi thường trú của đức Phật, sau ngày thành đạo.
Mấy thế kỷ sau ngày nhập diệt của Ngài, khách hành hương
đến chiêm bái ở đây vẫn còn say ngắm những phong cảnh
ngoạn mục nên thơ, nào hồ sen, nào bồn hoa cây cảnh, nào
giảng đường, nào trai phòng ... Nhưng khi Ngài Huyền Trang
đến đây, thì tịnh xá này đã hoang vắng, điêu tàn. Tất
cả cảnh tượng đồ sộ ngày xưa, chỉ còn trơ lại hai cột
trụ đá mà vua A Dục đã truyền dựng lên, mang ở trên đỉnh
một bánh xe Pháp và ở dưới mấy hàng chữ ghi dấu vết
một nơi thánh địa đã có cái vinh dự làm bối cảnh cho
bao cuộc thuyết pháp của đức Phật, mười ba thế kỷ trước.
Vùng
Trúc Lâm này, không những chỉ được cái vinh dự in nhiều
nhất những bước chân của đấng Giải thoát, mà còn mang
bao di tích quý báu có liên hệ đến đời Ngài hay của các
vị đại đệ tử.
Chính
ở đây, du khách còn được chiêm bái đám đất trước kia
là tu viện của Di mẫu đức Phật và quý vị Tỳ Kheo Ni đầu
tiên của Ni bộ. Mỗi bước Ngài Huyền Trang dẫm lên vùng
này là gặp một kỷ niệm đáng kể: Ở đây là mộ phần
của anh chàng Vô Não (Angulimâla), một tên cướp theo cuồng
đạo, giết người để chặt ngón tay làm chuỗi hạt đeo
ở cổ. Theo đạo ấy, thì hễ ai giết được một trăm người,
lấy một trăm ngón tay làm tràng hạt thì được đắc đạo.
Anh chàng Vô Não chỉ còn thiếu có một ngón tay thì chuỗi
hạt của anh đủ một trăm ngón. Tìm không ra người để
giết, anh toan đem mẹ anh làm vật hy sinh. Ðức Phật biết
được, tự nguyện thay người mẹ để cho chàng Vô Não giết.
Anh ta vung gươm nhảy tới chém đức Phật; đức Phật cứ
lui dần, lui dần, và tên sát nhân khát máu kia không sao đuổi
kịp. Vừa bước lui, vừa thuyết pháp, cuối cùng đức Phật
đã hàng phục được tên cuồng tín kia và cho nhập vào hàng
thánh chúng. Ở nơi kia là mộ phần của nàng con gái mà bọn
ngoại đạo đã âm mưu độn bụng để vu oan cho đức Phật.
Ở một nơi khác là cái bia dựng lên để kỷ niệm nơi đức
Phật đã săn sóc một vị Tỳ kheo già ốm. Một hôm đức
Phật nhận thấy trong một căn nhà hẻo lánh, một vị Tỳ
kheo già ốm đang nằm đợi chết. Phật hỏi duyên cớ, vị
Tỳ kheo trả lời vì mình quá giải đãi, không chịu uống
thuốc men và cũng không ai săn sóc nên mới ra nông nỗi như
thế. Ðức Phật động lòng từ bi, dẫn ông ra khỏi phòng,
tự tay quét dọn giường chiếu, rửa tay và thay áo quần cho
vị Tỳ kheo ấy, rồi đi ra, sau khi đã dạy bảo ông phải
luôn luôn tinh tấn. Bệnh của vị Tỳ kheo ấy tự nhiên lành
hẳn.
Bao
nhiêu kỷ niệm đã vươn dậy dưới bước chân của Ðường
Pháp sư, và mỗi kỷ niệm là một bài học vô giá, một biểu
hiện của lòng từ bi hay trí tuệ, của thanh tịnh hay tinh
tấn ... Với một tâm hồn phong phú, tín thành như Ngài Huyền
Trang, thì một mảnh tường đổ, một viên gạch, một hòn
sỏi, cho đến một cục đất trong thánh địa Trúc Lâm đều
đáng được ôm vào lòng để nâng niu, chiêm ngưỡng.
2.
Chiêm bái vườn Lâm Tỳ Ni và thành Ca Tỳ La Vệ.
Sau
khi rời khỏi vườn Cấp Cô Ðộc, Ngài Huyền Trang đi 800
dặm về phía Ðông bắc, đến thành Ca Tỳ La Vệ (bây giờ
thuộc nước Népal), quê hương của đức Phật. Thành này,
khi Ngài Huyền Trang đến chiêm bái, là một nơi hoang địa.
Thành quách, đền đài bị tàn phá, may ra chỉ còn lại những
móng gạch của kinh đô xưa. Cỏ cây hoang dại lan cùng mặt
đất; năm bảy cái chòi tranh che không kín gió những người
dân thưa thớt, nghèo nàn. Vài ba chục vị Tỳ kheo Tiểu thừa
cố gắng gìn giữ một cách bất lực, thảm thương, với
sự hiện diện nghèo nàn của mình, cái huy hoàng rực rỡ
ngày xưa của nơi chôn nhau cắt rún của vị Siêu phàm đã
làm vẻ vang cho nhân loại! Mười ba thế kỷ đã qua rồi,
tang thương đã mấy lần thay đổi, ngài Huyền Trang còn mong
gì tìm thấy lại vang bóng của thời oanh liệt xưa kia? Nhưng
cũng may, nhờ sự sáng suốt nhìn xa của vua A Dục, những
trụ đã được dựng lên khắp nơi để ghi lại cho hậu thế
những biến chuyển đầy ý nghĩa trong đời sống của đức
Phật, khi còn sanh trưởng trên mảnh đất phì nhiêu này.
Ðây,
nơi đạo sĩ A Tư Ðà tiên đoán tương lai huy hoàng của Thái
tử Tất Ðạt Ða. Ðây, nơi Ngài đã thi tài võ nghệ và đã
thắng cuộc một cách vẻ vang để kết hôn với công chúa
Da Du, con vua Thiện Giác. Ðây, ba cửa thành mà Ngài đã gặp
người đau, người già, người chết ... Ðây con đường nhỏ
Ngài đã phi ngựa Kiền Trắc trong đêm, trốn ra khỏi hoàng
thành để tìm Ðạo. Ðây, cánh đồng ven rừng mà Ngài đã
ngồi tham thiền sau khi thấy cảnh tương tàn tương sát giữa
chúng sanh. Ðây, nơi hội ngộ đầu tiên giữa Ngài và vua
Tịnh Phạn, sau những năm dài Ngài xuất gia và tìm được
Ðạo.
Cách
thành Ca Tỳ La Vệ mấy dặm về phía đông bắc, là vườn
Lâm Tỳ Ni, nơi đức Phật đã ra đời trong khi Hoàng hậu
Ma Da đang đi ngoạn cảnh vào buổi tinh sương ở trong vườn.
Cây Vô Ưu mà Hoàng hậu đã với tay lên trong phút giây thiêng
liêng của đức Phật xuất thế, bây giờ cũng không còn dấu
vết nữa, vườn hoa rực rỡ ấy chỉ còn là một khu rừng
hoang vắng tiêu điều! Thật cảnh vô thường đã quá rõ rệt!
3.
Chiêm bái rừng Sa La, nơi đức Phật nhập diệt.
Từ
giã thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài Huyền Trang đi về phía đông,
qua 500 dặm rừng rậm, đến xứ Câu-thi-na-yết-la (Kucinagara,
bây giờ là Kasi), là nơi đức Phật đã nhập diệt. Ngài
Huyền Trang đến khu rừng Sa La (Cala) nơi đức Phật đã bảo
ông A Nan treo võng cho Ngài nằm nghỉ. Và đó cũng chính là
nơi yên nghỉ cuối cùng của Ngài. Rừng cây, hoa lá của vùng
này đã có diễm phúc nghe những Pháp âm vô cùng quý giá của
Ngài trước khi Ngài nhập diệt, như " ... Này, các người
hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi! Hãy lấy Pháp của ta
làm đuốc, hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát. Ðừng
tìm sự giải thoát ở một kẻ khác! Ðừng tìm sự giải
thoát ở một nơi nào khác" ... Hoặc: "Này các Tỳ kheo! Các
người đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật
ở đời không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ
có Ðạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý của Ðạo ta là bắt
di bất dịch!". "Hãy tinh tấn lên để giải thoát!"
Ngài
Huyền Trang đi viếng khắp cả vùng này. Ðây là nền nhà
trong ấy ông Thuần Ðà đã dâng cúng bữa cơm cuối cùng của
đức Phật. Ðây là nơi nhập diệt. Ðây là nơi làm lễ trà
tỳ (hỏa táng). Ðây là nơi các vị quốc vương Ấn Ðộ
chia Xá lợi của Phật ...
Chiêm
bái ở đây xong, Ngài Huyền Trang vượt nhiều rừng núi để
đi đến thành Ba La Nại (Bénarès), viếng vườn Lộc Uyển.
4.
Chiêm bái vườn Lộc Uyển.
Lộc-uyển
là nơi mà đức Phật đến thuyết pháp lần đầu tiên, sau
khi thành đạo, cho năm người bạn đồng tu của mình là nhóm
ông Kiều Trần Như. Vườn này nằm ở ngoại ô thành Ba La
Nại. Nhóm ông Kiều Trần Như gồm năm tu sĩ, ban đầu cùng
tu với đức Phật, theo phương pháp khổ hạnh. Ðược ít
lâu, nhận thấy phương pháp này không có hiệu quả, trái
lại cứ làm cho thân thể mỗi ngày mỗi gầy yếu, đức Phật
đã rời nhóm ông Kiều Trần Như và phương pháp tu hành của
họ. Ngài trở lại ăn uống như thường, và bị nhóm ông
Kiều Trần Như chế nhạo, khinh rẻ. Sau một thời gian tu luyện
một mình, đức Phật đã thành đạo Chánh đẳng Chánh giác.
Ngài trở về vườn Lộc Uyển và trình bày sự giác ngộ
của mình cho năm người bạn đồng tu là nhóm ông Kiều Trần
Như nghe. Năm người này trở thành năm đệ tử đầu tiên
của ngài. Từ đó Lộc Uyển trở thành một đạo tràng mà
đức Phật Thích Ca thường tới lui thuyết pháp. Vua A Dục
đã dựng lên ở đây một trụ đá chạm trổ rất đẹp để
đánh dấu nơi thuyết pháp đầu tiên của Phật.
Khi
Ngài Huyền Trang đến đây, mọi thánh tích của đức Phật
khi còn tại thế đều được giữ nguyên vẹn và kính cẩn,
vì ở đây, đang có một ngàn rưởi vị Tỳ kheo tu hành trong
tịnh xá dựng lên ở vườn Lộc Uyển. Nhờ thế, Ngài Huyền
Trang được chiêm ngưỡng những cái hồ mà đức Phật đã
dùng hoặc để tắm, để giặt, hay để rửa bình bát ...
5.
Chiêm bái Bồ-đề đạo tràng, nơi đức Phật thành đạo.
Ngài
Huyền Trang đi lần về phía Nam, đến xứ Ma Kiệt Ðà, là
một nước phồn thịnh trong thời Phật tại thế, và là quê
hương của vua A Dục. Chính ở kinh đô nước này, Vương Xá
thành, là nơi vị vua anh hùng cái thế ấy đã triệu tập
các vị đại đức tăng già để kiết tập kinh điển lần
thứ ba.
Khi
Ngài Huyền Trang đến thành Vương Xá thì thành này đã sụp
đổ điêu tàn. Ngài chỉ còn nhận thấy những vết tích của
những điện các huy hoàng ngày xưa. Và trong số hàng trăm
tịnh xá mà vua A Dục đã dựng lên ở đây, chỉ còn lại
vài ba cái còn đứng vững. Ngài Huyền Trang ở lại đây bảy
ngày, rồi đi về phía Tây, luôn trong sáu ngày mới đến rừng
Bồ đề già là nơi có cây Bồ đề mà đức Phật đã ngồi
tham thiền ở dưới gốc cho đến khi thành đạo. Chính ở
gốc cây này, đức Phật đã phát lời thệ nguyện lịch sử:
"Nếu
không thành đạo thì dù thịt nát xương tan, ta cũng không
rời khỏi gốc Bồ đề này".
Khi
Ngài Huyền Trang đến chiêm bái vùng này, thì sông Ni Liên
Thuyền, nơi đức Phật đã tắm rửa trước khi ngồi xuống
gốc cây Bồ đề, vẫn còn trong xanh, cây hai bên bờ vẫn
còn tươi tốt. Riêng về cây Bồ đề lịch sử, ngài Huyền
Trang đã tả: "Thân cây màu trắng ngà, lá xanh láng mướt,
không tàn rụng trong mùa hè cũng như mùa đông. Chỉ đến
ngày kỷ niệm đức Phật nhập Niết-bàn thì lá mới rụng,
nhưng ngày hôm sau lại đâm chồi nảy lộc sum mậu như trước.
Ngày ấy các bậc vua chúa, triều thần và thiện nam tín nữ
đến hành lễ ở đất, họ tưới vào gốc cây sữa tươi,
thắp hương đèn và rải hoa chung quanh. Họ hái lộc rồi ra
về".
Cây
Bồ đề này được vua A Dục săn sóc chu đáo và vô cùng
quý trọng. Vua cho xây thành bằng gạch quanh gốc cây, có trổ
nhiều cửa ra vào. Cửa chính hướng về phía Ðông, nhìn ra
sông Ni Liên Thuyền. Cửa phía Nam giáp giới một cái hồ trồng
đầy sen. Phía Tây giáp giới với một dãy đồi cao. Phía
Bắc có một cái tịnh xá rộng lớn, chính giữa có một pháp
tọa, gọi là Kim Cang pháp tọa, vì dù cho trời long đất lở,
thì pháp tọa ấy cũng vững vàng như bàn thạch, không lay
chuyển. Tương truyền chỉ những vị Bồ-tát sắp chứng được
quả vị Phật mới được vào đấy.
Sau
khi đứng chiêm ngưỡng cây Bồ đề một hồi lâu, Ngài Huyền
Trang sụp quỳ xuống đất, không ngớt lời than khóc:
Kính
lạy đức Từ phụ, khi Ngài đã chứng quả Bồ-đề thì con
đang còn lặn hụp trong biển khổ si mê; cho đến nay sau khi
Ngài đã nhập Niết bàn trên một ngàn năm rồi, con cũng vẫn
chưa thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi! Thật quả nghiệp
báo của con quá nặng nề, và con vô cùng xấu hổ, thẹn thùng
cho duyên kiếp của con".
Ngài
nói xong, nước mắt chan hòa, không sao cầm lại được. Trong
lúc ấy, có trên mấy ngàn tu sĩ vừa ra hạ, đến vây quanh
Ngài Huyền Trang, và đều mũi lòng thương cảm trước thái
độ thành khẩn của Ngài.
Ngài
Huyền Trang ở đây 6 ngày, rồi đến lưu học ở chùa Na Lan
Ðà.
Thế
là Ngài đã lần lượt chiêm bái xong các thánh địa chính
như ý Ngài mong ước. Về phương diện tình cảm của một
đệ tử thuần thành đối với đức Từ phụ, như thế là
Ngài đã được như nguyện. Bây giờ Ngài còn phải làm thế
nào để được thỏa mãn lý trí trong sự khao khát tìm cầu
học hỏi và sưu tầm kinh điển.