Ở
TU HỌC TẠI CHÙA NA LAN ÐÀ
Chùa
Na Lan Ðà ở về phía đông bắc Bồ đề già, trong nước
Ma Kiệt Ðà (Trung Ấn Ðộ); dịch theo tiếng Trung Hoa, Na Lan
Ðà nghĩa là Thí Vô Y. Chùa này được dựng lên từ thế
kỷ thứ nhất (Tây lịch) và là một ngôi chùa lớn nhất
và đẹp nhất ở Ấn Ðộ. Chùa gồm trên 10 tịnh xá, có
phòng họp, phòng tịnh niệm, tịnh thất cao 4 tầng lầu, có
vườn hoa, hồ sen, thành quách, như cả một đô thị. Chính
Ngài Huyền Trang cũng đã viết trong tập bút ký của Ngài:
"Tịnh xá ở Ấn Ðộ kể có hàng ngàn, nhưng không có cái
nào sánh kịp chùa Na Lan Ðà, cả về phương diện lộng lẫy,
giàu có và đồ sộ". Vào đây, người ta có cảm tưởng như
đi lạc vào một rừng lâu đài, điện các, cái này chồng
lên cái kia, với những pho tượng và những bức tường chạm
trổ công phu.
Na
Lan Ðà thật xứng đáng là một học phủ tối cao, một trung
tâm văn hóa của Ấn Ðộ thời bấy giờ. Các kinh điển Ðại
thừa, Tiểu thừa, tụng tán Phệ đà, các sách y dược, thiên
văn, địa lý, kỹ nghệ đều tập trung ở đó, tóm lại là
đủ cả các thứ sách vở dạy Ngũ minh.
Vị
cao Tăng chủ trì tại chùa này là Ngài Giới Hiển, thường
được gọi là Chánh Pháp tạng. Khi Ngài Huyền Trang đến
đây thì Ngài Giới Hiển đã già trên 100 tuổi rồi, và là
vị học giả thông thái nhất Ấn Ðộ thời bấy giờ.
Số
Tăng sĩ trong chùa, kể cả chủ lẫn khách, không bao giờ dưới
10 ngàn người. Các vị Tăng sĩ này đều nghiêm trì giới
luật và siêng năng tu học. Hằng ngày vào khoảng 100 vị giảng
sư túc trực giảng dạy trên pháp tọa. Cho nên từ 700 năm
nay, từ khi chùa mới thành lập cho đến khi Ngài Huyền Trang
đến tu học, chùa này luôn được sự trọng nể của các
hàng vua chúa và dân chúng khắp nơi. Trong số 10.000 tu sĩ ở
đây, có 1.000 vị thông giảng được 20 bộ kinh luận, 500
vị thông giảng 30 bộ, 10 vị thông giảng được 50 bộ, và
chỉ có Ngài Giới Hiển là thông hiểu hết toàn thể các
bộ.
Ðể
cung cấp mọi chi phí trong chùa và tứ sự cúng dường cho
toàn thể Tăng chúng, nhà vua đã trích số tiền thu thuế của
100 thành phố, và mỗi ngày 200 gia đình thu thuế đem cơm nước,
bơ, sữa đến cúng dường. Nhờ thế chư Tăng ở đây khỏi
phải mất thời giờ đi khất thực và có đủ phương tiện
và nhiều thời gian để tu học.
Khi
nghe Ngài Huyền Trang sắp đến, chùa phái 200 vị Tăng sĩ và1.000
tín đồ đi nghinh đón với cờ quạt, lọng tàng, hương hoa
... Khi Ngài vào đến chùa, toàn thể Tăng đồ và cư sĩ tụ
lại, vây quanh Ngài hoan hô. Họ đặt trên bệ cao một cái
ghế, mời Ngài Huyền Trang ngồi. Sau khi khách chủ đều ngồi,
vị phó giám đốc của chùa đứng dậy, cất tiếng mời Ngài
lưu lại chùa và cùng họ chung sống trong giáo lý lục hòa.
Ngài
được dẫn vào ra mắt Pháp sư Giới Hiển. Khi thấy Pháp
sư, Ngài Huyền Trang, theo lễ phép Ấn Ðộ, quỳ xuống và
bò vào đến gần chân Ngài Giới Hiển, lạy Ngài làm lễ
ra mắt. Sau khi hỏi han và không tiếc lời khen ngợi, Ngài
Giới Hiển truyền đem ghế và mời Ngài Huyền Trang ngồi.
Ngài
Huyền Trang tỏ ý định muốn được thụ giáo với Pháp sư
Giới Hiển. Khi được biết ý định của Huyền Trang, Pháp
sư Giới Hiển bảo một đệ tử thân tín kể lại cho Ngài
Huyền Trang nghe điềm mộng mà Pháp sư đã thấy trước đây
ít lâu, vì mang bệnh nặng, Ngài Giới Hiển muốn nhập diệt,
nhưng một hôm Ngài nằm mộng thấy ba vị Ðại Bồ-tát là
Ngài Văn Thù, Ngài Quan Thế Âm và Ngài Di Lặc đến dạy Ngài
phải ở lại truyền đạo và đợi một vị Tăng sĩ ở Trung
Hoa qua để truyền giáo.
Ngài
Huyền Trang nghe chuyện ấy, hết sức mừng rỡ, một lần
nữa van xin Ngài Giới Hiển hãy rủ lòng từ bi nhận cho mình
được làm đệ tử. Ngài hứa sẽ luôn là một đệ tử thuần
thành và ngoan ngoãn vâng theo lời chỉ dạy của Pháp sư Giới
Hiển.
Ngài
Giới Hiển, vì tuổi đã quá già, lâu nay không giảng kinh
nữa, nhưng lần này vì Ngài Huyền Trang, sẽ đặc cách giảng
về Du-già-sư-địa-luận. Ngài Huyền Trang thật may mắn gặp
được vị sư xứng đáng như thế. Ngài Giới Hiển là học
trò Ngài Dharmapala (Hộ Pháp), Ngài Dharmapala là học trò của
Ngài Luận chủ Dignaga; Ngài Dignaga lại là đệ tử của hai
Ngài Vô Trước và Thế Thân Bồ-tát, hai vị đã sáng lập
ra tông Duy Thức. Như thế là Ngài Huyền Trang đã trực tiếp
hấp thụ được giáo lý chính tông của Duy thức; thật là
một sự may mắn hiếm hoi.
Ngài
Giới Hiển giảng về Du-già-sư-địa luận trong 15 tháng. Mỗi
khi Ngài giảng, tín đồ xa gần nô nức tới nghe có đến
ba, bốn ngàn người. Riêng Ngài Huyền Tràng, thì đêm ngày
không phút nào chểnh mảng. Ngài vừa nghe giảng, vừa tìm
tòi nghiên cứu thêm các kinh điển khác để được thông
hiểu hết ý nghĩa sâu xa. Vì thế, thanh danh bác học của
Ngài được lan khắp 5 xứ Ấn Ðộ, và được từ vua chúa
cho đến dân chúng kính trọng, quý mến.
Ban
đầu Ngài ở trong một tòa nhà hai tầng của một tịnh xá
do vua nước Ma Kiệt Ðà là Baladitya lập lên, sau Ngài lại
dời sang ở kế cận ngôi nhà mà trước kia Ngài Luận chủ
Hộ Pháp (Dharmapala) đã ở. Mỗi tháng vua nước Ma Kiệt Ðà
cúng dường cho Ngài ba thùng dầu, và các thứ bơ, sữa, thức
ăn đủ dùng trong mỗi ngày. Vua lại truyền cho một vị Tăng
sĩ và một vị Bà-la-môn cứ mỗi ngày hướng dẫn Ngài đi
du ngoạn đây đó bằng xe, ngựa hay cán. Trong 5 năm ở tu học
tại chùa Na Lan Ðà, Ngài Huyền Trang đã nghe Pháp sư Giới
Hiển giảng: 3 lần luận Du-già-sư-địa, một lần Thuận
chánh lý luận, một lần Hiển dương luận, một lần Ðối
pháp luận, hai lần Nhân minh luận, hai lần Thanh minh luận,
hai lần Tập lượng luận, 3 lần Trung luận, 3 lần Bách luận.
Ngoài ra, những luận khác như Câu Xá, Bà Sa, Lục Túc v.v ...,
đã học ở các nơi thì chỉ hỏi lại những điểm nào còn
nghi ngờ thôi.
Sau
năm năm thụ giáo với Ngài Giới Hiển và tiếp thu một số
vốn học hỏi sâu rộng, Ngài Huyền Trang lại từ giã Na Lan
Ðà để đi du học ở Ðông bộ, Nam bộ và Tây bộ Ấn Ðộ.