CHU
DU ÐÔNG, NAM, TÂY, BẮC ẤN ÐỘ
Rời
Na Lan Ðà, Ngài Huyền Trang vượt sông Hằng, đi về phía Ðông,
ra vịnh Băng-gan (Bengale) đến cửa bể Tâm-ra-li-ti (bây giờ
là Tamluk). Ngài định đến đây rồi đi thuyền vượt biển
ra đảo Xri LanKa, ở tận cùng bán đảo Ấn Ðộ, về phía
Nam. Ðối với Ngài Huyền Trang, Xri LanKa là thủ phủ trung
tâm của Tiểu thừa. Chính ở đây là nơi, lần đầu tiên
công chúa con vua A Dục đã chiết nhành cây Bồ đề sang truyền
đạo Phật. cũng chính ở đây là nơi đã có vinh hạnh độc
nhất, được giữ di tích quý báu nhất là cái răng của đức
Phật.
Ngài
Huyền Trang, đêm ở trên bờ biển Ấn Ðộ, thường mơ tưởng
đến cái hòn đảo xa xăm kia mà hào quang của răng đức Phật
chiếu sáng từ "Chùa răng Phật" ra xa mấy mươi dặm ở chung
quanh, như một ngôi sao sáng lấp lánh giữa bầu trời đêm
quang đãng.
Nhưng
khi đến cửa biển Tâm-ra-li-ti, Ngài hỏi đường thủy đi
sang đảo Xri LanKa, thì người ta khuyên Ngài không nên làm
một cuộc hành trình bằng hải đạo xa như thế, sợ gặp
nhiều nguy hiểm. Họ bảo tốt hơn là Ngài nên đi lần ven
bờ biển vịnh "Băng-gan", xuống đến gần đảo Xri LanKa sẽ
vượt sang ngang thì dễ dàng và bớt phần nguy hiểm. Ngài
Huyền Trang nghe theo lời khuyên ấy, đi đường bộ ven biển
về phía Nam. Ngài trải qua các nước Ðông và Nam Ấn Ðộ
như nước Cung-ngự-đàm Yết-lăng-già (Kalinga) Ma-ha Kiền-tất-la
(Kosala) Án-đạp-la (Andàra), Ðà-na-yết-kiệt-ca (Dravida) v.
v ...
Ðến
nước nào, Ngài nghe có vị cao tăng, đại đức có thể chỉ
giáo cho mình về các môn đạo học, triết học, thiên văn,
địa lý v.v ... thì Ngài liền xin đến thụ giáo. Ngoài ra,
Ngài còn quan sát một cách chính xác địa thế sanh hoạt,
tánh tình, đạo đức của dân tộc các nước ấy. Vì thế
cho nên bộ Tây Du Ký của Ngài là một tài liệu quý báu mà
chính ngày nay các nhà bác học vẫn cần đến để tìm tài
liệu lịch sử về các nước Ấn Ðộ trong thời đại mà
Ngài đi qua đấy.
Khi
Huyền Trang đến cực nam bán đảo Ấn Ðộ, đối diện với
đảo Xri LanKa, định vượt biển qua đấy, thì một tin buồn
đang đợi Ngài.
Ðảo
Xri LanKa, sau một cuộc đảo chánh trong nội phủ, đang làm
mồi cho nạn đói khó và loạn lạc. Xri LanKa không còn là
một xứ thanh tịnh êm đềm như trong tưởng tượng của Ngài
Huyền Trang, mà là một nơi các vị tu sĩ đang lánh xa để
đi tìm yên tĩnh ở một nơi khác. Chính các vị tu sĩ ở đây
chạy sang trốn lánh trên đất Ấn Ðộ đã khuyên Ngài không
nên đặt chân lên đảo ấy nữa.
Ngài
Huyền Trang đành hủy bỏ dự định sang viếng Xri LanKa và
tiếp tục cuộc hành trình bằng đường bộ dọc theo bờ
biển phía Tây Ấn Ðộ, để trở về chùa Na Lan Ðà.
Ngài
đã từ phía Bắc xuống cực Nam Ấn Ðộ bằng con đường
ven biển phía Ðông (tức là bờ biển Bengale), giờ đây Ngài
lại từ cực nam Ấn Ðộ lên phía Bắc bằng con đường ven
biển phía Tây (tức là bờ biển Ấn Ðộ Ô Măng). Ði con
đường vòng này xa hơn, nguy hiểm, khó nhọc hơn, nhưng mục
đích của Ngài không phải đi cho mau đến đích mà là đi
để biết và học hỏi. Ði là chính, mà đến chỉ là phụ.
Thái độ của những người đi tìm học, tìm chân lý đều
như thế cả.
Trên
đoạn đường dài trở về chùa Na Lan Ðà, Pháp sư đã đi
qua những nước Yết Lăng Già (Nam Ấn Ðộ) Nam Kiền Tất
La (Trung Ấn Ðộ), Lang Yết Là (cực Tây Ấn Ðộ) v.v ... Trong
các nước ở vùng này, có nước giòng vua Ca-lu-ki-a (Calukya)
là hùng mạnh hơn cả. Dân nước này thân hình cao lớn, phong
tục giản dị và ngay thật. Tánh tình của họ kiêu hãnh và
dễ nóng giận. Họ trọng danh dự và khinh thường cái chết.
Ai làm ơn cho họ, họ luôn luôn ghi nhớ, trái lại, ai phạm
đến danh dự của họ, không bao giờ họ tha thứ. Ai cầu
cứu đến họ, họ hy sinh tất cả để cứu giúp. Khi họ
muốn rửa hận, bao giờ họ cũng báo tin cho kẻ thù địch
của họ biết trước. Sau đó họ mới nắm khí giới để
thực hành dự định của mình. Khi ra trận, họ đuổi theo
bắt những người thua chạy, nhưng không giết những kẻ chịu
đầu hàng. Nếu một tướng sĩ của họ thua trận, họ không
trừng trị bằng cách hành hạ thân xác, mà chỉ bắt người
ấy ăn mặc y phục đàn bà; nhưng thường thường, kẻ bại
trận ấy tự tìm lấy cái chết trước để khỏi phải ô
danh như thế. Họ có một đạo quân hùng mạnh vô cùng, nhờ
thế mà họ vẫn giữ được nền tự chủ trong lúc chung quanh
họ, các nước đều bị sự đô hộ của vua Giới Nhật là
vị vua đã thống trị hầu hết cả năm xứ Ấn Ðộ. Triều
đình tuyển lựa một đám võ sĩ vô địch gồm mấy trăm
người, rất hùng dũng, gan dạ. Nhóm người này trước khi
ra trận, uống rượu vào cho đến say, và mỗi người có thể
địch được muôn người. Nếu trong lúc say sưa ấy, họ lỡ
tay giết người, thì triều đình cũng không bắt tội họ.
Khi lâm trận, bọn người này đi xung phong. Ngoài ra, đạo
quân của nước này còn gồm có một đoàn voi chiến, hàng
mấy trăm con. Trước khi xáp trận, đàn voi này được cho
uống rượu mạnh đến say như điên dại. Thế là người
ta thả chúng xông vào tàn phá hàng ngũ quân địch.
Tuy
thế, dân chúng nước này phần đông đều hiếu học. Họ
thờ thần Xi Va (Civa), nhưng không chống lại Phật giáo. Trong
nước, có trên vài trăm tịnh xá Phật giáo nằm sát cạnh
những đền thờ Bà-la-môn giáo.
Sau
khi đi dần đến nước Lan Yết Ma, cực Tây Ấn Ðộ, giáp
ranh giới nước Ba Tư, Ngài Huyền Trang mới quay trở lại
Trung Ấn Ðộ và sau khi trải qua nhiều nước, Ngài trở về
nước Ma Kiệt Ðà và vào tu học lần thứ hai tại chùa Na
Lan Ðà.
Kể
từ ngày Ngài Huyền Trang rời chùa Na Lan Ðà cho đến khi trở
lại, ròng rã đã sáu năm. Trong sáu năm ấy, Ngài đã đi khắp
Ðông, Nam, Tây, Bắc, Trung, 5 xứ Ấn Ðộ, gồm trên 100 nước.
Nơi nào xét cần, Ngài ở lại để thụ giáo với những bực
minh sư, từ một vài tháng cho đến một vài năm, như có lần
Ngài đã tìm đến núi Tượng Lâm, lưu lại hai năm tại đấy,
để học với ngài luận sư Thắng Quân. Ngài Thắng Quân là
đệ tử của ngài An Huệ (cũng học với Ðại sư Giới Hiển)
và là một học giả rất thông bác đương thời. Từ luận
Ðại, Tiểu thừa, Nhân minh, Thanh minh, đến các sách ngoại
đạo, 4 kinh Vệ Ðà, thiên văn, địa lý, y phương, thuật
số, luận sư Thắng Quân đều thông suốt đến gốc ngọn.
Ngài
Huyền Trang đã học được với luận sư Thắng Quân về Duy
Thức Quyết Trạch luận, Thành Vô uy, Bất trụ Niết bàn luận,
Thập nhị Nhân duyên luận, Trang Nghiêm kinh luận v.v ...
Ðiều
đáng quý trọng trong thái độ học hỏi của Ngài Huyền Trang
và đáng để cho chúng ta noi theo, là không phải Ngài chỉ
sưu tầm nghiên cứu giáo lý Ðại thừa hay Tiểu thừa mà
thôi; Ngài còn tìm hiểu, học hỏi những đạo giáo, môn phái
triết học khác mà có khi Ngài không thích. Nhờ thế, tầm
hiểu biết của Ngài thật bao la rộng lớn và mỗi khi bàn
đến một vấn đề gì, Ngài cũng tỏ ra thấu triệt, quán
xuyến, không ai qua mặt được và bao giờ cũng nắm phần
thắng lợi.
Chúng
ta sẽ thấy những bằng chứng cụ thể về điểm này trong
các cuộc tranh luận giữa Ngài và các đạo giáo khác, thuật
ở chương sau.