ÐẠI
THÍ TRƯỜNG "VÔ GIÀ"
Sau
ngày bế mạc đại hội ở Khúc Nữ, Ngài Huyền Trang muốn
từ giã Ấn Ðộ trở về nước. Nhưng vua Giới Nhật muốn
ngài ở lại để dự Ðại hội "Vô già" là một đại hội
Bố thí rất lớn, tổ chức tại Bát-la-ra-gia (Prayâga). Vua
nói:
–Ðệ
tử ở ngôi vua đã hơn 30 năm nay, tích chứa của báu, cứ
năm năm một lần mở ra hội Vô già đại thí trong 75 ngày.
Nay đệ tử muốn mở hội lần thứ sáu, vậy xin Pháp sư
hãy tạm ở lại để cùng tùy tùng tùy hỷ cho vui.
Nể
lời mời của vua Giới Nhật, Ngài Huyền Trang ở lại, chứng
kiến một đại hội bố thí vô cùng đặc biệt, chỉ riêng
ở Ấn Ðộ mới có.
Ðại
hội này mở tại nước Bát-la-ra-gia, phía Bắc giáp sông Hằng,
phía Nam giáp sông Diêm-mâu-na (Jumnâ), lập trên một cái đàng
rộng lớn, mỗi bề độ 15 dặm. Từ ngàn xưa, mỗi lần muốn
bố thí lớn, các vua chúa đều đến đây mở hội. Tục truyền
rằng một đồng bạc bố thí ở đấy có giá trị phước
đức 100 ngàn đồng bố thí ở các chỗ khác. Chung quanh đàng
có hàng rào bằng tre, ở giữa có nhiều dãy nhà rộng lớn
lợp tranh để chứa các vật bố thí có giá trị như vàng,
bạc, châu báu, san hô, xa cừ, mã não ... Ngoài ra còn có mấy
trăm kho chứa vải lụa ... Trước mỗi kho, có một gian nhà
có thể chứa được một ngàn người. Ngoài hàng rào, một
dãy trại lớn được dựng lên để làm trai đường.
Khi
vua Giới Nhật, Ngài Huyền Trang và 18 vị Quốc vương đến
đại thí trường này thì 500 ngàn người đang đợi sẵn để
được bố thí.
Sau
khi các vua chúa hạ trại xong, quân lính đi theo hộ giá chia
làm hai đạo, một đạo đi theo đường thủy, trên những
chiếc thuyền lộng lẫy, một đạo theo đường bộ trên những
thớt voi hùng dũng, tề tựu ở chung quanh thí trường; còn
các vua chúa thì cứ theo thứ tự lớn nhỏ mà đứng ở những
địa điểm đã định trước.
Ngày
đầu, người ta cung thỉnh một tượng Phật lên điện thờ
và bố thí những thứ thất bảo và y phục vô cùng quý giá.
Một bữa tiệc linh đình được thết đãi, có hoa và nhạc.
Ngày
thứ hai, người ta cung thỉnh một tượng Nhật thần, và cũng
bố thí các thứ thất bảo và y phục quý báu, nhưng chỉ
bằng nửa giá trị của những thứ bố thí ngày đầu.
Ngày
thứ ba, người ta cung thỉnh một tượng thần Xi-va (Civa) và
cũng bố thí các thứ quý giá như ngày thứ hai.
Ngày
thứ tư, người ta cúng dường cho mười ngàn Tăng sĩ; những
người này ngồi sắp thành 100 hàng dài và mỗi người nhận
lãnh 100 đồng tiền vàng, một bộ y bằng vải, các thức
ăn và hương hoa.
Ngày
thứ năm, làm lễ cúng dường cho tu sĩ Bà-la-môn, và liên
tiếp trong 20 ngày như thế.
Lần
thứ sáu, làm lễ cúng dường cho ngoại đạo, và liên tiếp
trong mười ngày như thế.
Lần
thứ bảy, làm lễ cúng dường cho các người thuộc đạo
Ni Càn ở xa đến và trong 10 ngày như thế.
Sau
cùng, là cuộc bố thí cho những người nghèo khổ, mồ côi,
vô gia đình. Lần bố thí này kéo dài trong suốt một tháng.
Sau thời hạn này, tất cả các kho tàng của nhà vua tích trữ
trong khoảng năm năm đều hết sạch; chỉ còn voi ngựa, khí
giới là những thứ cần dùng để bảo vệ an ninh, trật tự,
không thể đem cho được.
Ðến
đây Ngài Huyền Trang được chứng kiến một cử chỉ vô
cùng ngoạn mục của lòng từ bi mà vua Giới Nhật đã biểu
lộ trong những ngày cuối cùng của Ðại thí trường Vô già:
Sau
khi nhận thấy quanh mình không có gì để cho nữa, vua Giới
Nhật liền lột hết cả áo mão, vòng vàng, chuỗi ngọc, tất
cả những vật quý mang trong mình ra bố thí. Rồi mượn một
bộ áo quần mặc thường của bà công chúa chị mình, vua
choàng vào và quỳ xuống đảnh lễ mười phương Phật. Vua
chắp hai tay trong dáng điệu vô cùng hoan hỷ và nói:
–Xưa
kia, đệ tử thâu nhặt bao nhiêu ngọc ngà châu báu và cứ
sợ kho tàng không đủ chắc chắn để thu giấu kín đáo.
Nhưng bây giờ, sau khi làm bố thí, đã gieo tất cả vào phước
điền, đệ tử thấy rất yên lòng, vì biết không bao giờ
chúng có thể mất mát đi đâu được.
Nhưng,
mặc dù vua Giới Nhật tỏ vẻ vô cùng hoan hỷ trong cử chỉ
bố thí cao cả của mình, 18 vị quốc vương nhận thấy áy
náy vì không thể để cho một vị Ðại vương ăn mặc tầm
thường như thế được. Họ phải xuất tiền của trong kho
ra chuộc lại những thứ áo mão, vòng vàng, chuỗi ngọc, hoa
tai v.v ... mà vua Giới Nhật đã bố thí, và đem dâng lại
cho vua.
Sau
khi đại hội Vô già bế mạc, Ngài Huyền Trang xin từ giã
vua Giới Nhật để lên đường về nước.
Bấy
giờ Ngài đã 48 tuổi, và tính ra, ở Ấn Ðộ đúng 15 năm.
Trong thời gian ấy không một giờ phút nào Ngài không nhớ
đến tổ quốc. Mặc dù biết thế, vua Giới Nhật vẫn còn
muốn cầm Ngài ở lại nữa. Pháp sư phải dùng những lời
lẽ vô cùng vững chắc và cảm động mới làm xiêu được
lòng vua Giới Nhật. Vua đề nghị nếu Ngài đi đường thủy
thì sẽ cho người theo hộ tống. Nhưng Ngài Huyền Trang đã
có ý định từ trước là trở về bằng đường bộ, qua
ngã Trung Á. Bao nhiêu cảm tình nồng hậu và kỷ niệm quý
báu đang đợi Ngài ở đấy. Nhất là Ngài không thể quên
lời hẹn với vua Khúc Văn Thái, sẽ trở về ở lại nước
Cao Xương trong một thời gian vài năm. Lời hẹn ấy có giá
trị như một lời thề không thể làm ngơ được. Vì thế,
mặc dù Ngài có thể đi sang cực đông Ấn Ðộ đến nước
của vua Cưu Ma La rồi vượt núi, thẳng đường lên phía Bắc
là đến Trung Hoa, con đường này rất gần, nhưng Ngài không
đi. Có người cho rằng Ngài không đi đường này, vì sợ
gặp nhiều nguy hiểm. Nhưng một người đã có lòng cương
quyết, nhiều kinh nghiệm, không hề sợ gian nguy, hiểm trở
như Ngài, thì có bao giờ lại lùi bước trước một con đường
rút ngắn như thế? Lý do Ngài không đi đường ấy chính là
để khỏi thất lời hứa với vua Cao Xương vậy. Ngài không
ngờ rằng vua Cao Xương khi ấy đã chết rồi.
Khi
Ngài Huyền Trang ra về, vua Giới Nhật trao tặng Ngài rất
nhiều lễ vật và truyền lệnh cho một số quan lính theo hộ
tống Ngài đến tận biên giới Ấn Ðộ, để bảo vệ Ngài
chống bọn giặc cướp, rất nhiều ở sườn núi Hy Mã Lạp
Sơn. Vua lại còn tặng Ngài một thớt voi quý để chở Ngài
đi và viết thư cho các vị tiểu vương các nước Ngài sắp
đi qua để họ giúp đỡ, tiếp đón Ngài. Còn kinh sách và
tượng Phật mà Ngài đã sưu tầm thì vua truyền lệnh cho
một tiểu vương ở Bắc Ấn Ðộ chở đi bằng ngựa hay bằng
xe trận.
Vua
Cưu Ma La cũng trao tặng Ngài một bộ áo bằng lông rất quý
để phòng mưa gió khi vượt qua rừng núi.
Hai
vị vua ấy lại còn kéo cả một đạo quân tùy tùng theo đưa
tiễn Ngài đến mấy mươi dặm đường trên đồng bằng xứ
Bạt-la-ra-gia (Prayaga). Phút chia tay, chủ và khách đều không
thể cầm được nước mắt và những tiếng thở dài thương
cảm.
Ba
hôm sau, khi Ngài Huyền Trang đi rồi, vua Giới Nhật và Cưu
Ma La cùng mấy trăm kỵ mã lại ruổi theo Ngài, mong gặp lại
một lần cuối, và tiễn Ngài thêm mấy dặm đường nữa
mới trở lui.