TRÊN
ÐƯỜNG VỀ TRUNG QUỐC
Trên
đường về của Ngài Huyền Trang, mặc dù có quân lính của
vua Giới Nhật đi hộ tống, nhưng biên giới phía Bắc Ấn
Ðộ là nơi đầy dẫy bọn cướp núi, nên nhiều người vẫn
lo ngại sẽ có nhiều sự bất trắc xảy đến cho Ngài. Nhưng
pháp sư vẫn tỏ ra bình tĩnh và tự tin. Ngài sai một vị
tăng mở đường đi trước đến nói với bọn cướp:
–Chúng
tôi là những tu sĩ ở từ phương xa đến Ấn Ðộ để nghiên
tầm kinh điển Phật pháp. Hành lý chúng tôi chỉ gồm có
kinh sách, di bảo Phật tích và tượng Phật. chúng tôi tin
tưởng ở sự rộng lượng của các người, nên đến để
xin các người bảo bọc và giúp đỡ chúng tôi".
Pháp
sư đi sau với các đệ tử và những người hộ tống. Ði
đến đâu, bọn giặc cướp đều để cho Ngài tự do đi qua.
Khi
qua sông Tín độ (Indus), là một trong hai con sông lớn nhất
của Ấn Ðộ, Ngài cưởi con voi lội qua, còn kinh sách, hành
lý và đoàn hộ tống thì đi bằng thuyền lớn. Ðến giữa
dòng sông, đột nhiên sóng gió nổi lên dữ dội, thuyền bị
lay động mạnh sắp đắm, kinh sách trong thuyền bị rơi mất
hết 50 bộ, và những hạt giống, hoa quả lạ ở Ấn Ðộ
cũng rơi theo. Người phụ trách việc chuyên chở hốt hoảng
nhảy xuống dòng sông, nhưng may các bạn đồng hành vớt lên
được.
Tai
nạn này là biến cố đã làm Ngài Huyền Trang buồn rầu nhất
trong chuyến Tây du của Ngài. Nhưng cũng may là khi ấy, vua
nước Già-thấp-di-la (Kapica) nghe tin Ngài sắp đến, đã đem
quân ra đón Ngài ở trên bờ sông, và trước tai nạn ấy,
đã an ủi Ngài bằng cách cho người đi chép lại những bộ
kinh đã mất.
Vị
vua này lại còn hộ tống Ngài đi qua những nước chư hầu
của mình, và đến đâu cũng truyền tổ chức những cuộc
đón rước Ngài rất trọng thể, và mở những hội bố thí
khắp nơi. Sau khi từ giã vua Già-thấp-di-la, Ngài đi đến
phía Tây chân núi Ðại Tuyết (Indu-Kush), vua cho người hộ
tống Ngài và chuẩn bị chu đáo để Ngài vượt qua ngọn
Tuyết Sơn đầy nguy hiểm này. Một vị sĩ quan và độ 100
binh sĩ đi theo mang hành lý, lương thực cho Ngài, tuy thế cuộc
vượt núi này cũng vẫn vô cùng gian khổ.
Sau
7 ngày đường, họ trèo lên được một quả núi lớn đầy
dẫy những chóp nhọn toàn đá, hình thù quái dị. Ðến đây,
không còn có thể đi ngựa được nữa; Ngài Huyền Trang phải
xuống ngựa, chống gậy đi trước mở đường.
Sau
7 ngày nữa, họ mới đến được một làng nhỏ gồm độ
100 gia đình sống về nghề nuôi cừu. Ngài Huyền Trang nghỉ
lại đấy một ngày, rồi khuya hôm ấy lại tiếp tục leo
núi lại. Ðường đi bây giờ lại càng hiểm trở hơn lúc
đầu. Ðây đó, nhan nhản những suối và sông đóng băng,
nếu không có người bản xứ dẫn đi từng bước thì rất
dễ bị rơi xuống vực thẳm. Ðoàn lữ hành bây giờ chỉ
còn lại bảy nhà sư, 20 người hầu, một con voi, 10 con lừa
và 4 con ngựa.
Sau
2 ngày đường, họ mới trèo lên được một chóp núi cao,
toàn đá trắng mà nhìn từ xa, người ta cứ tưởng là tuyết.
Chóp núi này cao đến nỗi tuyết và mây không thể bao phủ
được ngọn. Thảo mộc cũng không thể mọc được. Gió thổi
mạnh và lạnh buốt đến nỗi không một người nào đứng
thẳng được. Chim cũng không thể vượt ngang chóp núi, mà
phải bay vòng quanh ven sườn.
Ðoàn
lữ hành đi dần xuống phía dưới và hạ trại ven sườn
nằm nghỉ một đêm. Sáng hôm sau họ lại tiếp tục cuộc
hành trình trong gió tuyết.
Sau
khi vượt qua được núi Ðại Tuyết, Ngài Huyền Trang ở trọ
một tháng tại Diệp Hộ Nha, trong doanh trại của một vị
Tiểu vương ở vùng ấy, để lấy lại sức và chuẩn bị
cuộc vượt qua núi Thống Lĩnh (Pamir).
Thống
Lĩnh là một dãy núi cao độ chừng 4 –5 ngàn thước, quanh
năm có tuyết phủ, cây cỏ mọc sơ sài, ngoại trừ một loại
cây hành thì lại mọc rất nhiều và tốt, vì thế nên người
Trung Hoa mới đặt nên miền núi ấy là "Thống Lĩnh". Miền
này quá lạnh lẽo nên dân cư thưa thớt, và phải ở trong
hang đá, lẫn lộn với súc vật cho đỡ lạnh. Qua khỏi dãy
núi này thì đến một thung lũng nằm giữa hai trái núi cao
đồ sộ, quanh năm có tuyết, và gió gào thét một cách ghê
rợn. Ðoàn lữ hành của Ngài Huyền Trang lội suối trèo đèo,
đi quanh co, trong những dãy núi Tuyết ấy hết ngày này sang
ngày khác, nếm đủ những lao khổ cùng cực. Vượt qua Kiệt
Bàn Ðà (Tack-kousghan), Ô Sắt mới đến được nước Khư
Sa (Kasha thuộc xứ Tân Cương). Từ Khư Sa, Ngài đi qua nước
Tích Cư Già và cuối cùng đến nước Vu Ðiền (Khotan). Vu
Ðiền là một nước phồn thịnh có văn hóa cao, dân cư sinh
sống về nghề nuôi tằm dệt lụa, làm len dạ và khai thác
cẩm thạch. Tín đồ Phật giáo ở đây rất đông, tu sĩ có
đến năm ngàn người, hầu hết đều theo Ðại thừa. Chùa
chiền có đến 100 cảnh.
Vua
Vu Ðiền là một Phật tử rất hâm mộ Ngài Huyền Trang, nên
mời Ngài lưu lại Vu Ðiền trong 7 tháng. Trong thời gian này
Ngài vừa giảng dạy Phật pháp cho dân chúng ở đây, vừa
phái người đi đến các nước Khuất Chi, Khư Sa để dò tìm
và sao lại các bản kinh bị thất lạc khi qua sông Tín Ðộ.
Nhưng
công việc chính của Ngài trong lúc ở lại Vu Ðiền là viết
một tờ biểu sai người theo bọn lái buôn mang về Trang An
dâng lên vua Ðường Thái Tông. Sở dĩ có tờ biểu ấy là
vì, khi ra đi, Ngài Huyền Trang đã trái lệnh cấm của triều
đình, Ngài sợ bây giờ trở về, vua Thái Tông sẽ truy trách
cái lỗi trước, nên viết biểu về vừa tạ tội, vừa có
ý báo tin sự thành công của mình trong cuộc Tây du. Dưới
đây là tờ biểu ấy:
"Sa
môn Huyền Trang tâu gởi: Trang nghe rằng: Mã Dung là người
bác nhã, nên Trịnh Huyền mới đến Phù Phong để tìm thấy;
Phục Sinh là bực cao minh, nên Triều Thố mới tới Tế Nam
để cầu học. Xem đó thì biết rằng Nho, Ðạo thuật vốn
ở gần, mà cổ nhân cũng còn phải đi xa để khảo xét. Huống
chí cái đạo huyền của chư Phật làm lợi ích cho muôn loài,
cái diệu thuyết của Tam Tạng khó giải đến muôn phần,
lẽ nào dám nản đường xa mà không hướng mộ đi tìm tòi
vậy. Huyền Trang nghĩ rằng đức Phật khởi phát ở Tây vức,
di giáo mới truyền sang Ðông phương. Thế thì thắng điển
tuy đã đem lại rồi, nhưng mà viên tông vẫn còn chưa đủ.
Bởi vậy, phải phóng cầu, không dám tiếc thân mạng. Tôi
đã lấy ngày tháng Tư năm Trinh Quán thứ Ba, mạo phạm hiến
chương, lẻn đi Tuyết Lĩnh chon von; nào là cửa Thiết Môn
hiểm hóc, đường Nhiệt Hải ba đào. Khởi hành từ Tràng
An thần ấp, đi cho đến Vương xá tân thành, trung gian kinh
qua hơn năm vạn dặm. Tuy rằng phong tục mỗi nơi một khác,
gian nguy khó đến vạn trùng. Song nhờ cậy thiên uy, đến
đâu cũng không ai dám ngăn trở; lại nhờ giúp cho hậu lễ,
thân mình không đế khổ tân. Nên mới được thỏa nguyện
tùng tâm được đến xem núi Kỳ Ðồ Quật Sơn, lễ bái cây
Bồ đề; thấy những tích chưa từng trông thấy, nghe những
kinh chưa từng được nghe. Xét hết sự kinh kỳ của vũ trụ,
đạo hóa dục của âm dương. Tuyên bá nguồn đức hạnh của
nhà Vua, khởi phát lòng kính nhường ở các nơi thù túc. Châu
du lịch lãm đến mười bảy năm; nay đã từ nước Bát-la-ra-gia
qua cõi Già Tất Thí, vượt núi Thống Lĩnh, qua sông Ba Mê,
đi về nước Vu Ðiền. Vì con voi lớn đem theo đã chết đuối
mất, mà kinh bản đem về rất nhiều, chưa mướn được xe
chở, vậy phải tạm đình ở lại, chưa kịp ruổi về để
sớm vào yết kiết chốn hiên bệ. Khôn xiết ngóng trông,
cẩn sai người tục nước Cao Xương tên là Mã Huyền Trí
theo bọn thương lữ đi về trước dâng biểu tâu lên Vua rõ".
Sau
khi sai người đem tờ biểu đi rồi, Ngài Huyền trang trở
lại Vu Ðiền, đêm ngày trông ngóng tin tức.
Thế
rồi một buổi sáng kia, sứ giả trở về, mang theo tờ sắc
chiếu của vua Ðường Thái Tông. Tờ chiếu như sau:
"Nghe
tin nhà Sư đi phỏng đạo cõi xa, nay mới trở về, hoan hỷ
vô chừng! Mong kịp về đến nơi cùng Trẫm tương kiến. Những
thầy Tăng nước ấy mà có biết chữ Phạn, hiểu nghĩa kinh,
thì cũng cho đem về.
"Trẫm
đã sắc cho các đạo Vu Ðiền sai các nước đem quân tiễn
tống, cùng là sức người, xe cộ phải cung ứng cho đủ.
Lại sai các quan ty Ðôn Hoàng đóng tiếp ở bãi Lưu Sa; người
nước Nghiệp Thiện đón tiếp ở bến Thư Mạt" [Ngày nay
là huyện Nặc Khương, xứ Tân Cương].