PHIÊN
DỊCH KINH ÐIỂN
Ngài
Huyền Trang sau khi yết kiến Ðường Thái Tông, trở về Tràng
An vào ngày mồng 1 tháng 3 năm 645, ở chùa Hồng Phúc. Công
tác chính của Ngài bấy giờ là lo tổ chức đại quy mô việc
phiên dịch những kinh điển mà Ngài đã mang từ Ấn Ðộ
về.
Ngài
triệu tập một số rất đông cao tăng, học rộng nghe nhiều
để cộng tác với Ngài, vì công tác sẽ rất phức tạp.
Về các việc như chứng nghĩa, xuyết văn, bút thụ, thủ thư
... thì có trên 50 người Sa môn đảm nhiệm, còn việc dịch
cho chỉnh nghĩa thì có đến 23 vị học thức trác tuyệt như
các ông Linh Khoát, Văn Bi đảm nhiệm.
Ngài
đã tổ chức một hệ thống phiên dịch rất hoàn bị gồm
có:
–
Vị dịch chủ là người chỉ huy, tinh thông Hán, Phạn, nghĩa
lý phán đoán xác thực. Chức vụ này do Ngài Huyền Trang đảm
nhiệm.
–
Vị bút thụ dịch nghĩa Phạn văn ra Hoa văn;
–
Vị Ðộ ngữ thạo tiếng Phạn, đọc lên để nghe âm vận,
nếu không ổn thì phiên âm lại.
–
Vị Chứng Phạn để đem so lại với Phạn văn có đúng không.
–
Vị Nhuận văn làm công việc nhuận văn cho hợp với văn pháp
Trung Hoa.
–
Vị Chứng nghĩa đem bản dịch so lại nghĩa lý nguyên bản,
nếu sai thì chữa lại;
–
Vị Tổng khám xét chung lại một lần cuối cùng trước khi
hoàn thành bản dịch.
Công
tác phiên dịch bắt đầu trung tuần tháng 5 năm 645 đến cuối
năm ấy đã hoàn tất được bốn loại sau đây: Ðại Bồ
tát tạng kinh (12 quyển); Phật địa kinh (1 quyển), Lục Môn
đà-la-ni kinh (1 quyển), Hiển dương thánh giáo luận (20 quyển).
Mùa
thu năm sau, phụng mệnh vua Thái Tông, Ngài thuật cho một đệ
tử là Biện Cơ chép lại cuộc Tây du của Ngài trong 17 năm,
trải qua 138 nước, một cách rất tường tận. Những điều
Ngài đã nghe thấy, học hỏi về lịch sử, phong thổ, vị
trí, sơn xuyên, thổ sản, nhân tình ở những nơi Ngài đã
đi qua đều được ghi chép thành 12 quyển nhan đề là "Ðại
Ðường Tây vức ký". Bộ sách này không những là một bộ
du ký vĩ đại cổ điển, mà còn là một bộ lịch sử, địa
lý trọng yếu ghi chép các nước Trung Á và Ấn Ðộ. Nhiều
nhà học giả chuyên môn ngoại quốc nghiên cứu bộ sách này
đều phải công nhận đó là một bộ sách vô cùng quý báu,
có một phạm vi rất lớn, kỹ thuật chính xác và nội dung
phong phú, có giá trị nhất trong các loại sách du ký thời
xưa. Vì thế, các nước Liên Xô cũ, Nhật Bản, Anh, Ðức,
Pháp, Mỹ đều có phiên dịch ra tiếng nước họ. Ngày này
các nhà bác học chuyên nghiên cứu về sử, địa dựa vào
bộ sách ấy rất nhiều để chỉnh lý những lịch sử, địa
lý mơ hồ về nước Ấn Ðộ thế kỷ thứ bảy.
Tháng
Năm năm 648 Ngài Huyền Trang đã dịch xong chín bộ kinh, lấy
đề chung là "Tân phiên kinh luận". Vua Ðường Thái Tông muốn
kỷ niệm cuộc Tây du của Ngài Huyền Trang và ghi công đức
của Ngài, nên đích thân tự viết bài tựa cho tập phiên
dịch ấy. Bài tựa nhan đề là "Ðại Ðường Tam Tạng Thánh
Giáo" gồm 781 chữ. Ðây là một đặc ân vô cùng quý báu
mà vua Thái Tông đã dành cho Ngài. Trước đó, quan Phò mã
Cao Lý Hành có xin vua soạn một bài bia cho thân sinh mình, vua
từ chối, viện lẽ trong người đã già cả suy nhược. Nhưng
nay vua lại tự nguyện đứng ra viết bài tựa cho Ngài Huyền
Trang. Vì sợ có làm tủi phò mã Cao Lý Hành chăng, nên vua
nói với phó mã rằng:
–Nhà
người có xin Trẫm làm bài bia cho phụ thân ngươi, nhưng Trẫm
nay khí lực không bằng trước, không thể làm được. Sở
nguyện của Trẫm ngày nay là cố gắng làm các việc công
đức mà thôi. Vì thế Trẫm mới nhận làm bài tựa cho Pháp
sư Huyền Trang. Người hãy lượng biết cho Trẫm.
Tháng
sáu năm ấy, sau khi viết xong bài tựa, vua triệu Ngài Huyền
Trang vào điện Minh Nguyệt, sai quan Hoằng Văn Quán học sĩ
Thượng quan Nghi tuyên đọc bài tựa trước mặt đình thần.
Bài tựa này, hòa thượng Hoài Nhân lấy theo mẫu chữ của
nhà đại thư pháp đời Tấn là Vương Hy Chi để khắc lên
bia đá. Nhà đại thư pháp đời Ðường là Chư Tọa lượng
viết ra thành hai bản: một bản khắc vào nhạn tháp chùa
Từ Ân, một bản khắc ở Ðồng Châu, đến tận bấy giờ
lối chữ ấy là một tự thiếp có tiếng để tập viết.
Dưới
đây là bài tựa:
Trộm
nghe rằng: "Trời đất có Tượng, chở che đà tỏ rạng đức
Hàm Sinh; đông hạ vô hình, mưa nắng vốn âm thầm hóa vật.
Bởi thế ngắm trời trông đất, kẻ dung ngu cũng sơ biết
mối manh; thông âm rõ dương, bậc hiền triết thật khó cùng
đầu số. Song le, trời đất bao hàm âm dương mà dễ biết
là nhờ có tượng; âm dương ở trong trời đất mà khó cùng
là bởi không hình. Cho biết: Tượng kia bày rõ đành rành,
dù ngu cũng chẳng hoặc; hình nọ kín che mờ mịt, dẫu trí
vẫn còn mê. Huống nữa, Phật đạo hư truyền, u thâm lặng
lẽ; cứu khắp muôn vật, trị ngự mười phương. Nói đến
uy linh thì tuyệt đối; nghĩ đến thần lực lại vô cùng.
Lớn thì bao la ngoài vũ trụ; nhỏ thì thâu rút trong hào ly.
Không diệt không sanh, trải ngàn kiếp mà chẳng cổ; như ẩn
như hiện, diễn trăm phúc mãi đến nay. Ðạo cả sâu huyền,
noi theo mà chẳng biết đâu là bờ mé; pháp mầu thẳm lặng,
kiếm tìm cũng chẳng thấu đến căn nguyên. Cho nên những
kẻ phàm phu ngu xuẩn, dung tục tầm thường, nghe đến há
không nghi hoặc được ư?
Song
Phật giáo khởi hưng, nền tảng xây từ Tây độ; Hán đình
báo mộng, từ quang chiếu đến Ðông phương. Nhớ ngày xưa
hình tích vừa phân, chưa nói ra, người đều cảm hóa; vả
lúc trước Phật còn tại thế, ngửa trông đức ai chẳng
tuân theo; kịp đến khi ẩn bóng quy chơn, dung quang cách biệt;
ánh vàng mờ tối, ba ngàn cõi chẳng chiếu hào quang; ngọc
tượng phô bày, bốn tám tướng luống trơ hình dạng. Từ
đó kim ngôn lan khắp, cứu vạn loại thoát khỏi tam đồ;
di huấn truyền xa, dẫn chúng sinh đều lên thập địa. Nhưng
mà chân giáo khó tin, được mấy kẻ nhất tâm quy ngưỡng;
tạp học dễ tập, nào ai hay phân biệt chánh tà. Vì thế,
không luận, hữu luận, quen thói tục, tranh thị tranh phi; Ðại
thừa Tiểu thừa, phải tùy thời thoạt suy thoạt thịnh.
Nay
Pháp sư Huyền Trang là bậc lãnh tụ chốn thuyền môn. Nhỏ
đà linh mẫn, tâm tam không (1) sớm tỉnh ngộ từ xưa, lớn
lại thần tình, tánh tứ nhẫn (2) trước bao hàm đủ cả.
Gió tùng trăng nước, chưa đủ ví thanh hoa; tuyết sáng ngọc
trong, khó so bằng tư chất. Vậy nên, trí suốt thông không
bị gì hệ lụy, thần soi thấu cả những việc chưa thành:
vượt sáu trần xa hẳn lao lung; tột thiên cổ không ai sánh
kịp. Lưu tâm nội cảnh, thương Chánh pháp suy vi; chú ý huyền
môn, buồn thâm văn sai uyển. Nghĩ muốn chia điều chẽ lý,
mở rộng chỗ học xưa; bỏ ngụy thêm chơn, khai thông kẻ
hậu tấn. Vậy nên, lòng trông đất Tịnh, thân đến cõi
Tây, mạo hiểm nghìn trùng, xông pha chiếc bóng. Ban mai tuyết
phủ, đất mất đường đi; chiều xế, cát bay, trời mờ
lối tới. Muôn dặm non sông, vén mây mù mà tiến bước; trăm
tầng nắng rét, đạp sương tuyết để lên đường. Nặng
lòng thành coi nhẹ gian lao; mạnh chí quyết sở cầu nguyện
đạt. Châu du Tây vức mười lẻ bảy năm. Trải khắp đạo
tràng tham cầu chánh giáo. Song lâm bát thủy (3) , suy nếm mùi
thuyền; Lộc Uyển Thứu Phong, thánh cảnh. Vâng chí ngôn của
đấng thiên thánh, lãnh chơn giáo với bậc thượng hiền.
Tìm thấu cửa mầu, tin cùng nghĩa áo. Ðạo nhất thừa cùng
năm luật bộ, đầy dẫy tâm điền; văn bát tạng với ba
hòm kinh, dập dồn khẩu hải (4).
Những
nước đã kinh lịch đi qua, tóm thâu được tám tạng (5) kinh
văn, gồm có sáu trăm năm mươi bảy bộ, đem về dịch truyền
bá khắp Trung Quốc, để tuyên dương thắng nghĩa. Dẫn mây
Lành ở nơi Tây vức, rưới mưa Pháp vào chốn Ðông thùy.
Thánh giáo khuyết mà lại toàn, thương sanh tội mà lại phúc.
Dập tắt ngọn lửa nồng hỏa trạch, dắt khỏi đường mê;
lắng trong làn sóng dục ái hà, đồng lên bờ giác. Thế mới
biết, ác do nghiệp trụy, thiện bởi duyên thăng, cái cớ
thăng hay trụy đều chỉ tại lòng người. Ví như: quế mọc
trên đỉnh cao, sương móc mới thấm nhuần được ngọn; sen
sanh trong nước biếc, bụi nhơ khó vấy bợn đến hoa. Ðó
không phải là tánh sen tự sạch, chất quế vốn trinh, chỉ
bởi ở tại nơi cao, nên vật hèn không thể lụy; nương vào
chốn tịnh, nên loại bẩn khó làm nhơ. Kìa như cây cỏ vô
tri, còn phải nhờ thiện mới nên thiện; huống hồ loài người
có biết, lại chẳng bởi lành mà thành lành. Những mong kinh
này lưu khắp, trải bao nhật nguyệt vô cùng, phúc ấy nhuần
xa, sánh với càng khôn vĩnh viễn.
[Bản
dịch của Thượng tọa Thích Trí Thủ và Thượng tọa Thích
Thiện Siêu. Chú thích thêm:
(1)
Tam không: không, vô tướng, vô tác: ba môn giải thoát
(2)
Tứ nhẫn: Trong kinh Tư Ích về phẩm Tứ nhẫn nói: Bồ tát
có bốn pháp nhẫn để tiêu trừ tội phá giới: một là vô
sanh nhẫn, hai vô diệt pháp nhẫn, ba nhân duyên nhẫn, bốn
vô trú nhẫn. Các vị Bồ tát quan sát bốn điều nhẫn này
khi chứng được thì tội phá giới thảy được tiêu trừ.
(3)
Bát thủy: Tên tám con sông lớn Ấn Ðộ. Trong kinh Niết Bàn
về phẩm Trường thọ nói rằng: Phật bảo ngài Ca Diếp,
như tám con sông lớn, một Hằng Hà, hai Cát Ma La, ba Bát La,
bốn A Di La Bạt Ðề, năm Ma Hà, sáu Tân Ðầu, bảy Bát Xoa,
tám Tất Ðà đều chảy về biển cả.
(4)
Khẩu hải: ý nói khẩu thuyết thao như sóng biển
(5)
Tám tạng: Ðại, Tiểu mỗi thừa đều có bốn tạng là kinh,
luật, luận, tụng.]
Khi
bài tựa đọc xong, triều thần chúc mừng Ngài Huyền Trang;
Hoàng thái tử Lý Trị (tức là Ðường Cao Tông sau này) lại
chế bài "Thuật Thánh Ký" để tặng Ngài.
Tháng
10 năm ấy, Hoàng thái tử Lý Trị, vì muốn kỷ niệm báo
ân mẫu thân mình, nên xây dựng tại Tràng An một cảnh chùa
đồ sộ, lấy tên là chùa Từ Ân. Trong chùa có một sở đặc
biệt dành cho việc phiên dịch gọi là "Phiên kinh viện". Vua
triệu Ngài Huyền Trang đến đấy để tiếp tục việc phiên
dịch cho đủ tiện nghi.
Cuộc
đón rước Ngài Huyền Trang đến chùa Từ Ân đã được triều
đình tổ chức rất trọng thể:
Mở
đầu đám rước là một pho tượng lớn cung nghinh trên một
cỗ xe, hai bên tả hữu có hai tràng phang lớn nêu cao trên
hai xe khác. Tiếp theo sau là 1.500 chiếc xe trang hoàng lộng
lẫy, 300 lọng gấm, 200 ảnh tượng thêu hay vẽ trên lụa,
500 tràng phang bảo cái thêu bằng kim tuyến. Rồi đến tất
cả những kinh điển đã thỉnh ở Ấn Ðộ về cũng được
rước trên những hương án chở trên xe. 50 vị Trưởng lão
Hòa thượng được rước trên 50 chiếc xe, còn Tăng, Ni thì
đi bộ theo sau, vừa đi vừa tung hoa và tụng niệm. Sau nữa
là các văn quan và võ quan sắp hàng theo thứ tự cấp bậc.
Cuối cùng là chín ban nhạc trong nội phủ, dàn ra thành hai
hàng dài, vừa đi vừa tấu nhạc.
Dân
chúng Tràng An đều đổ xô ra xem, ban tổ chức phải huy động
đến 1.000 binh lính để theo giữ trật tự ở hai bên đường.
Trong lúc ấy, vua Ðường Thái Tông cùng Hoàng thái tử Lý
Trị và cung phi mỹ nữ đứng trên lầu Nhân Phúc Môn, kính
cẩn bưng lư hương nghi ngút trầm, nhìn theo đám rước đang
diễn hành vô cùng ngoạn mục và trang nghiêm trên các đường
phố đi đến chùa Từ Ân.
Ðường
Thái Tông lúc bấy giờ đã già yếu. Sau một cuộc đời tung
hoành ở các trận mạc, vô cùng sôi nổi hiên ngang, Thái Tông
cảm nghe mệt mỏi, thích thú thanh nhàn tĩnh mịch. Do đó,
mối thâm tình giữa Thái Tông và Ngài Huyền Trang lại càng
tăng lên. Vua thường vời Ngài vào cung giảng đạo và nhất
là kể lại cuộc Tây du đầy mạo hiểm kỳ lạ của Ngài
cho vua nghe, hay cùng vua đi dạo.
Sau
khi Ðường Thái Tông mất (10 tháng 7 năm 649), Ngài ít khi bước
chân ra khỏi cửa chùa Từ Ân, chỉ chuyên tâm vào việc phiên
dịch. Ngài sợ thọ mệnh của mình hữu hạn, không làm xong
được công tác nặng nề, khó khăn ấy nên lại càng sách
lệ mình tinh tấn làm việc, hết ngày lại đêm không biết
mệt.
Chúng
ta hãy nghe Ðại đức Huệ Lập, một vị đệ tử thường
túc, từng theo Ngài 20 năm, thuật lại sự tinh tấn của Ngài:
"Ngài
ở Từ Ân, chuyên lo phiên dịch, ngày nào gặp việc, dịch
chưa xong, thì đêm đến, dịch thế lại, dịch cho đến chỗ
đã làm dấu trước trong nguyên bản mới dừng bút. Khi dịch
xong, Ngài xếp sách đi lễ Phật, kinh hành đến canh ba mới
tạm nghỉ. Sang canh năm Ngài đã trở dậy, đọc to bản kinh
chữ Phạn, lấy điểm son làm dấu thứ tự, định trước
những đoạn sẽ dịch trong ngày. Mỗi ngày, sau giờ ngọ trai,
và lúc hoàng hôn, Ngài giảng kinh luận mới dịch, và giải
đáp nhưng nghi nghĩa mà các học tăng khắp nơi thường đến
thỉnh giáo. Ngoài ra, vì chức vị trụ trì tại chùa của
Ngài, nên mọi tăng sư, mọi công quả trong chùa Ngài đều
phải đặt mắt đến và giải quyết. Tối lại, hàng trăm
đệ tử trong chùa đều đến cầu Ngài dạy bảo. Ðầy nhà,
đầy hiên đều là nơi thù đáp, không bỏ sót một ai. Tuy
phải nhiều việc bận rộn như thế, mà lúc nào thần khí
của Ngài cũng vẫn thư thái, chẳng chút ủ trệ. (Ðại Từ
Ân Tam Tạng Pháp sư truyện).
Vua
Cao Tông, kế vị vua Thái Tông đối với Ngài cũng rất kính
mến, trọng nể, nhưng thỉnh thoảng Ngài mới đến yết kiến,
vì sợ làm mất thì giờ cho công tác phiên dịch mà Ngài cho
như là công tác chính, vô cùng cấp bách sau cuộc Tây du.
Tháng
3 năm 652 (năm Vĩnh Huy thứ ba) Ðường Cao Tông, vì muốn làm
nơi chứa kinh điển và tượng Phật đem từ Ấn Ðộ về,
mới dựng một tòa tháp năm tầng ở phía Tây chùa Từ Ân.
Từ ngày khởi công, cứ sáng sớm, người ta thấy một vị
sư già ngoài 50 tuổi, cùng mọi người gánh vác gạch đá,
mới nhìn không ai có thể nhận ra vị sư ấy chính là Ngài
Pháp sư Huyền Trang, người đã được các vua chúa từ Ấn
Ðộ đến Trung Hoa kính bái như một bậc thầy cao cả. Ngài
cùng thợ xây dựng tháp ấy trong hai năm mới xong. Tòa tháp
ấy ngày nay vẫn còn sừng sững đứng ở thành Tây Ân, tỉnh
Thiểm Tây.
Sau
đó năm năm, Ngài lại dịch được thêm 10 bộ kinh luận nữa.
Bấy giờ Ngài đã già yếu, vì đã mất sức quá độ trong
cuộc Tây du và trong việc phiên dịch. Ngài thường có chứng
đau ngực, mà Ngài đã mắc phải trong khi vượt qua núi Thống
Lĩnh. Ðau thì Ngài dùng thuốc, chứ không bao giờ nghỉ việc
phiên dịch và dạy học.
Tháng
2 năm Hiển Khánh thứ hai (657), vua Cao Tôn ngự đến Lạc Dương
sắc Ngài bồi tụng. Ngài dẫn theo năm vị Cao tăng chuyên
dịch kinh điển, mỗi vị này lại đem thêm một đệ tử,
đến ở Tích Túy cung tiếp tục việc dịch kinh.
Lạc
dương là quê quán của Ngài và đây là lần đầu tiên Ngài
được dịp về thăm quê hương sau gần 40 năm xa cách. Thân
thuộc Ngài bấy giờ chỉ còn một người chị già, lấy chồng
ở Doanh Châu. Ngài cho người đi đón chị về. Chị em gặp
nhau mừng mừng tủi, không nói nên lời. Ngài nhờ chị dẫn
đến mộ phần của song thân, qua đời đã gần 40 năm trước
trong lúc nhà Tuy đang cảnh loạn lạc. Nhận thấy mộ phần
song thân lâu ngày bị bỏ đồi tệ, Ngài tự đi tìm đất,
sắm quan quách cải táng hài cốt của song thân. Trong cuộc
cải táng này, cả Tăng lẫn tục có trên mười ngàn người
đi đưa.
Sau
khi cải táng, Ngài nhận thấy chùa Thiếu Lâm, tại núi Thiếu
Bửu, quê hương Ngài, cảnh trí rất đẹp đẽ, thanh tịnh,
Ngài dâng biểu xin Vua vào đấy ở tu và chuyên việc dịch
kinh. Trong lời biểu có câu: "Cái tuổi 60 đã đến nơi" (lục
thập chi niên liệp yên dĩ chí), mà "từ nhỏ đến giờ chỉ
chuyên tinh về giáo nghĩa còn đối tam thuyền, cửu định
chưa rảnh an tâm, nếu không lánh ở trong núi chưa dễ thành
tựu". Ðể Vua Cao Tông chuẩn y, Ngài hứa khi đến ở chùa
Thiếu Lâm, ngoài giờ thiền quán, Ngài vẫn tiếp tục việc
phiên dịch. Nhưng Vua vẫn xuống chiếu không thuận!
Ðến
65 tuổi, tại Ngọc Hoa Cung, Ngài bắt đầu dịch bộ kinh sau
cùng bằng chữ Phạn rất to tát khó khăn là bộ Ðại Bát
Nhã kinh, tổng cộng có hai trăm ngàn (200.000) bài tụng.
Các
đệ tử đều cho là số chữ nhiều quá, nên rút ngắn lại.
Ngài Huyền Trang trái lại, có quan niệm rằng việc phiên dịch
không nên vì số chữ nhiều mà cắt bớt nguyên văn và dịch
tắt để làm mất nguyên ý. Ngài chủ trương không bỏ một
chữ nào, cứ phiên dịch theo thật đúng toàn bộ. Thật là
một quan niệm rất sáng suốt, và phương pháp làm việc của
Ngài cũng rất khoa học. Ngài lấy ba bộ "Ðại Bát Nhã" không
cùng một mẫu đem từ Ấn Ðộ về, hễ đến đoạn nào ngờ,
thì đem ra so sánh, hiệu duyệt cẩn thận đến hai, ba lần
mới dám hạ bút.
Trước
khi cầm bút dịch bộ kinh đồ sộ này, Ngài nói với chư
Tăng:
"Trang
nay đã 65 tuổi, tất sẽ lâm chung tại Già lam này, mà kinh
bộ thì quá lớn, sợ e dịch không trọn được. Vậy chư
vị hãy gắng sức gia công, chớ từ lao khổ".
Ngài
và các đệ tử tinh tấn làm việc, không một chút trễ biếng,
trong hơn ba năm trời, mới dịch xong bộ kinh gồm 600 quyển
ấy (tháng 11 năm 663). Năm ấy, Ngài đã là một ông già 68
tuổi. Và ngày từ giã cõi đời cũng sắp đến với Ngài
rồi!