Phần
02
Thất
nhân tâm
Biến
chứng
Khoái
thay ! Khoái thay !
Điều
Đạt phá hòa hợp tăng
Một
bè gỗ hư
Một
Xa-Nặc trời đất
Đuổi
ra khỏi ấp
Vật
bất ly thân
Y
phi thời
THẤT
NHÂN TÂM
Bấy
giờ đức Phật và Tăng chúng của Ngài đang lưu trú tại
nước Câu-xá-di 7.
Tỳ-kheo
Xiển-đà cũng là một tay cự phách của nhóm sáu Tỳ-kheo.
Thầy ta thường lui tới các gia chủ của mình để nói pháp,
đồng thời cũng lo liệu, xử lý việc nhà quan cũng như chữa
trị, thuốc thang cho người bệnh bổn đạo. Quốc vương,
Ðại thần, Trưởng giả, Cư sĩ không ai là không thân tình,
trọng thị. Họ coi Xiển-đà như ông Thánh sống. Bổn đạo
thuộc các giai cấp trên thường đến Tăng xá để thăm viếng
Xiển-đà. Ngày ấy đang kinh hành, các bổn đạo quý ấy đến
tận nơi kinh hành, đảnh lễ sát chân Xiển-đà. Nhân đó,
Xiển-đà thuyết pháp cho họ nghe, họ rất vui mừng, vì phúc
lợi của việc nghe pháp đối với họ thật lớn lao. Khi mọi
người thân lui về, Xiển-đà cũng trở về phòng của mình
thì phòng này đã có Thượng tọa đến trưng dụng rồi. Cứ
như vậy phòng nào cũng có Tỳ-kheo ở cả, thậm chí phòng
nhỏ nhất cũng có sở hữu chủ. Xiển-đà hiểu rõ vấn đề
mất chỗ ở. Thầy đành phải lên đường du hành nhân gian.
Sau
đó không lâu, các bổn đạo thuộc giai cấp trên ấy đến
thăm, mới hay thầy mình đã lên đường. Hỏi thăm các Tỳ-kheo
đang kinh hành nơi đất trống, nhưng nào ai có biết thầy
Xiển-đà ở chân trời góc bể nào mà trả lời. Các bổn
đạo quý kia đành ra về với nỗi lo... Họ tìm khắp nơi
nhưng bặt vô âm tín...
Ra
đi rồi lại quay về, Xiển-đà mặc y, bưng bát đến các
gia chủ cũ của mình. Trông thấy thầy mình đến, họ mừng
hết lớn, họ vồn vã đón tiếp. Có người thưa:
- Bạch
Trưởng lão, gần đây chúng con có đến Tăng phòng tìm thăm
Ngài mà không gặp, vậy Ngài từ đâu đến đây?
Xiển-đà
trả lời:
- Tôi
là hàng Hạ tọa nhỏ nhất, tất cả phòng, các Thượng tọa
đều ở hết, cho nên tôi phải du hành. Rất tiếc các vị
đến thăm mà không gặp nhau.
Các
gia chủ thưa:
- Có
thể tìm nơi nào đó, chúng con sẽ cất phòng xá cho Trưởng
lão ở, không những chúng con được phước mà Trưởng lão
lại có chỗ ở an ổn để tu hành, việc thăm viếng của
chúng con cũng không bị trở ngại.
Xiển-đà
trả lời:
- Tôi
không thể đứng ra tự làm, vì sẽ xao nhãng việc hành đạo.
Hơn nữa, khi tuổi càng lớn thì theo thứ lớp, tự nó sẽ
có được chỗ ở, đó là lẽ tự nhiên.
Các
gia chủ thưa:
- Chúng
con may mắn có vật liệu vừa lại có thiện tâm. Tài vật
thì vô thường, còn thiện tâm khó lòng giữ được lâu, vậy
xin Trưởng lão tranh thủ tìm chỗ, chúng con nhanh chóng cất
phòng xá cúng dường Ngài.
Xiển-đà
thấy họ quá ân cần, khó lòng từ chối, bèn đi khắp vùng
tìm đất cất thất. Nhận thấy địa điểm Thọ thần8 là
nơi rất tốt cho việc tạo dựng phòng xá. Quyết chọn nơi
đây, nên Xiển-đà liền cho triệt hạ cây cổ thụ này. Người
trong nước coi cây cổ thụ này như một vị thần. Họ thờ
phụng, cúng bái, cầu khẩn thần đại thọ này rất mê say.
Họ đều nhận được sự cảm ứng tốt lành của thần,
cho nên lòng kính cẩn của họ đối với thần đại thọï
này cao vời vợi. Cổ đại thọ này bị Xiển-đà triệt hạ
không tiếc thương, đó là một cú sốc lớn của toàn dân,
họ hốt hoảng, vô cùng kinh ngạc, tưởng chừng như tai họa
sắp giáng xuống đầu họ. Sẵn lòng tin Phật pháp không có,
họ đồng loạt mắng nhiếc không tiếc lời:
- Sa-môn
Thích tử thật vô đạo hết chỗ nói, chỉ biết lợi cho
mình mà làm thương hại đến trời, người, quỉ thần.
Ðối
với những người có lòng tin Phật pháp thì nói:
- Cây
này có Thần ở, mọi người đều kính sợ, ngày đêm hằng
khấn nguyện không dám ngạo mạn, xúc phạm, nay các Tỳ-kheo
lại chặt cây không chút ngại ngùng. Nghĩ rằng, nơi đây
rồi ra mọi sắc tâm đều trong sáng như thường. Có thể
nói rằng vị thần cây này đã vô cùng kính trọng Tỳ-kheo.
Lời
khen, tiếng chê đồn vang khắp nước. Các Trưởng lão nghe
được và sự việc được làm rõ trước Tăng. Ðức Phật
lại nghiêm khắc quở trách Xiển-đà. Ngài kiết giới cấm
vấn đề này.
HẬU
QUẢ CỦA VIỆC VU KHỐNG
Bấy
giờ đức Phật lưu trú tại thành Vương-xá, là kinh đô nước
Ma-kiệt-đà, thuộc Trung Ấn. Ðối với Phật pháp, vua Bình-sa
rất thâm tín. Hằng ngày, cứ lần lượt vua thỉnh 500 vị
Tăng vào trong cung để thọ trai. Thần dân cũng theo gương
ấy cúng dường như vậy. Hồi ấy, các Tỳ-kheo chỉ nghĩ
đến việc hành đạo, không quan tâm mấy đến việc quản
lý Tăng, cho nên việc sắp xếp theo trên dưới, đi thọ trai
nơi này hay nơi khác không đặt thành vấn đề. Ðối với
Lục quần Tỳ-kheo, đây là cơ hội tốt, sáu vị này luôn
luôn có mặt ở chỗ tốt. Ngày ấy, Lục quần được mọi
người đặt câu hỏi như vầy:
- Chúng
con thỉnh Tăng theo thứ tự thọ trai, tại sao các Trưởng
lão thường đến đây mà không thấy các vị khác,?
Ðây
là câu hỏi chê khéo Lục quần không biết tự trọng, song
đối với Lục quần, biết điều hay không biết điều chả
là gì!
Mặc
dù còn nhỏ, tuổi đang 14, tuy mới xuất gia hành đạo, Ðà-bà
Lực Sỹ Tử 9, nhìn thấy cái cảnh mất trật tự trong Tăng
chúng như thế, nên trong chốn thanh vắng đã có suy tư: “
Vua Bình-sa cũng như thần dân, hằng ngày mời 500 thầy theo
thứ tự thọ trai, song trong Tăng không có người chuyên trách
phân phối việc thọ trai, nên đưa đến tình trạng Lục quần
cứ lựa chỗ tốt mà đến, điều này làm mất sự ngưỡng
vọng chung và lệch đi ý nghĩ của người tín thí. Nếu đến
tuổi 20, ta thọ giới Cụ túc, đắc A-la-hán, có được thần
thông, sẽ vì chúng Tăng làm người chỉ định Tăng đi phó
hội, và phân phối tư cụ cho Tăng”.
Ý
nghĩ sâu kín đầy trách nhiệm này của Ðà-bà, ngày một
hiện thực: Năm 16 tuổi, Ðà-bà thành tựu quả A-la-hán10,
sở đắc lục thần thông. Năm 20 tuổi thọ Cụ túc giới.
Như thế, bao điều nguyện trước kia nay đã hội đủ điều
kiện, Ðà-bà đi ngay đến thành Vương-xá. Trước các Tỳ-kheo,
Ðà-bà nói lên lời nguyện từ trước của mình. Vì lời
nguyện này, các Tỳ-kheo bạch lên Phật. Ðức Phật cho tập
hợp các Tỳ-kheo Tăng, hỏi Ðà-bà:
- Thật
sự ông muốn vì Tăng làm người sai Tăng đi tham dự hội
và phân phối ngọa cụ11 cho Tăng phải không?
Ðà-bà
thưa:
- Bạch
Thế Tôn thật sự lòng con là như vậy.
Ðức
Phật bằng mọi hình thức khen ngợi hạnh thiểu dục, tri
túc, khen ngợi giới, khen ngợi người gìn giữ giới, rồi
bảo các Tỳ-kheo:
- Nay
cho phép Ðà-bà vì Tăng làm người chỉ định Tăng đi tham
dự hội, và phân phối ngọa cụ... Tăng nên sai một Tỳ-kheo
bạch nhị Yết-ma để sai.
Trước
toàn thể Tăng, lời dạy của đức Phật được thực hiện
như sau, một vị Tăng thưa:
“Ðại
đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo Ðà-bà này muốn vì Tăng
làm người sai Tăng đi tham dự hội và phân phối ngoạ cụ.
Nếu việc làm này đối với Tăng là thích hợp, Tăng chấp
thuận thì lời thưa này là lời đề nghị trước Tăng”.
Tăng
tác pháp Yết-ma: “Ðại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo
Ðà-bà này muốn vì Tăng làm người sai Tăng đi tham dự hội
và phân phối tư cụ cho Tăng. Các Trưởng lão nào chấp thuận
thì im lặng. Vị nào không đồng ý thì xin nói lên”.
Vị
Yết-ma chung quyết: “Tăng đã chấp thuận Tỳ-kheo Ðà-bà
làm người sai Tăng đi tham dự hội và phân phối tư cụ cho
Tăng rồi. Tăng đã đồng ý nên im lặng. Việc Yết-ma thành
tựu
phải thi hành đúng như vậy”.
Từ
đó Ðà-bà đủ tư cách pháp lý sai Tăng, điều phối công
việc của Tăng chúng, đối với đời sống tu hành hằng ngày.
Ðể
nhanh chóng ổn định tổ chức, cũng như đạt được hiệu
quả cao, Ðà-bà tiến hành việc phân phát ngọa cụ thành
Chúng, theo hạnh tu của Tăng: Chúng thiểu dục tri túc - Chúng
Lạc tịnh - Chúng tụng Tu-đa-la (Kinh) - Chúng Trì luật - Chúng
Pháp sư - Chúng Tán tụng - Chúng A-lan-nhã - Chúng khất thực
- Chúng ngồi thiền v.v...
Nhờ
có khiếu tổ chức mà việc quản lý, điều hành của Ðà-bà
trở thành nền nếp, kỷ cương, đặt Tăng đúng chỗ, đúng
người và cũng chính nhờ thế mà tất cả Tỳ-kheo, dù tu
theo hạnh tu nào, cũng được an ổn.
Ðối
với các Tỳ-kheo phương xa có việc đến trú xứ của Ðà-bà,
dù trời đã tối cũng vội đến người quản lý này để
xin chỗ tạm trú nghỉ ngơi. Ðà-bà liền nhập Hỏa quang tam
muội, tay trái phóng ra ánh sáng, tay phải chỉ chỗ trải ngọa
cụ một cách trung thực, hợp tình, hợp lý.
Chính
sự điều hành mầu nhiệm này mà Ðà-bà được đồn vang
và mọi người hết sức ngưỡng mộ con người quản lý đầy
đức độ ấy. Vì hiếu kỳ, mọi người đến trú xứ thăm
hỏi đức Thế tôn càng đông hơn, luôn thể họ được diện
kiến Ðà-bà, cũng như để được trông thấy thần lực của
người. Có lúc, cứ vào xẫm tối, người phương xa về xin
tạm trú rất đông, và qua việc sắp xếp nơi ăn chốn ở,
họ chứng kiến sự thật về đức độ và cách hành xử
của Ðà-bà.
Với
thần lực này, việc sai Tăng đi dự hội của Ðà-bà bỗng
chốc trở thành dễ dàng. Tăng đã tuân thủ sự điều phối
đúng người, đúng việc, đúng nơi, đúng chốn này một cách
triệt để.
Thế
nhưng, với việc làm cắt cử Tăng đi dự hội, Ðà-bà đã
bị vu khống. Sự việc xảy ra như vầy:
Hồi
ấy, trong thành Vương-xá có một Trưởng giả tên là Thiện
Phạn. Qua nhận thức được các pháp mà ông đắc quả. Hằng
ngày ông đích thân mời hai Tỳ-kheo về nhà cúng dường bữa
ăn thượng vị. Hai Tỳ-kheo Từ và Ðịa12 là hai anh em, tự
thân họ là kẻ thiếu phước nên rơi vào cấp bậc thấp.
Họ thường nhận sự phân phối tương xứng. Tuy nhiên, ngày
ấy bỗng Từ, Ðiïa được Tăng sai đến nhà Trưởng giả
Thiện Phạn thọ trai.
Thiện
Phạn biết được sự cắt cử này của Tăng, ông không mấy
vừa lòng, thầm nghĩ như vầy: “Hai vị này là người ác,
không có hạnh thanh tịnh, tại sao lại được nhận thức
ăn thượng vị của ta cúng dường?!”. Với ý nghĩ này, Trưởng
giả liền lui về trước và tìm gặp vợ, căn dặn rằng:
“Hôm nay bà chỉ nên làm thức ăn đơn giản, đạm bạc để
mời họ mà thôi”.
Kẻ
ăn người ở được lệnh trải tòa phu cụ tiếp đón anh
em Từ, Ðịa. Từ lúc huynh đệ Từ, Ðịa đến, cho đến
lúc trì bát, gia đình Thiện Phạn ngồi yên nơi tòa ngồi
của mình, mặc cho nô tỳ lo việc dâng cúng thức ăn thô,
kém phẩm chất do người vợ Trưởng giả chế biến.
Từ,
Ðiïa thấy vậy hỏi:
- Này
chị em! Nhà này thường cúng dường bữa ăn rất ngon, tại
sao nay lại cúng thức ăn thô dở đến thế?!
Nô
tỳ thưa:
- Tôi
là kẻ thấp hèn, làm sao biết rõ lý do này!
Ăn
xong ra về. Trên đường đi, trong lòng Từ, Ðiïa đầy hậm
hực, định bụng dạy cho Ðà-bà Lực Sĩ Tử một bài học.
Về
đến trú xứ, Từ và Ðiïa đến ngay các Thượng tọa buộc
tội Ðà-bà, bảo rằng:
- Ðà-bà
Lực Sĩ Tử, làm việc theo cảm tính: Yêu, ghét, giận, thù,
si mê, sợ hãi. Sợ ai thì cho đồ tốt, ai không sợ thì cho
đồ xấu.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Hai
thầy chớ nên nói những lời như thế. Tỳ-kheo Ðà-bà nào
có tùy tiện vì yêu ghét, giận hờn, si mê, sợ hãi. Tại
sao vậy? - Bởi lẽ, Tỳ-kheo Ðà-bà đã đắc A-la-hán, đầy
đủ sáu thần thông, mà làm việc theo cảm tính kia là điều
không cơ sở.
Từ,
Ðiïa nói:
- Chính
vì đắc thần thông nên biết được nhà nào có thức ăn
ngon, nhà nào có thức ăn dở. Chỗ nào ngon thì dành cho người
khác, chỗ nào dở thì sai chúng tôi đến. Cho nên tôi kết
luận: Ðà-bà làm việc theo yêu ghét, giận thù, si mê, sợ
hãi. Mắng như thế vẫn chưa thỏa, sau đó Từ, Ðiïa đến
chỗ nào, việc hàng đầu là rêu rao nói xấu Ðà-bà. Ðến
thành Vương-xá, Từ và Ðịa tìm gặp người em gái là ni
cô Di-đa-la. Trông thấy hai anh đến, ni cô ra nghinh đón, đảnh
lễ hỏi chào, nhưng anh em Từ, Ðiïa lặng thinh không nói một
lời. Trước sự biến đổi này, Di-đa-la thưa:
- Em
không nhớ, em có phạm điều chi, tại sao hai anh có thái độ
thế này?!
Từ,
Ðiïa trả lời:
- Tại
em không giúp hai anh, nên khiến cho Ðà-bà làm khổ hai anh như
vậy!
Di-đa-la
hỏi:
- Hai
anh muốn em trợ giúp hai anh bằng cách nào?
Từ,
Ðiïa bảo:
- Em
hãy giúp hai anh bằng cách đến chỗ đức Phật thưa rằng:
“Kính bạch đức Thế Tôn, con từ chỗ không có lo sợ, hốt
hoảng, xoay lại bị sự khủng bố, sợ hãi. Nay con không còn
chỗ nào để tìm được sự an ổn. Ðà-bà vốn được cho
là người phạm hạnh, thì giờ đây, đến xúc phạm làm hoen
ố con, phạm Ba-la-di”.
Di-đa-la
nói:
- Ðà-bà
thanh tịnh, nếu em hủy báng người thì ắt Tăng sẽ tác pháp
Tự ngôn13, đuổi em. Em đã xuất gia, cần phải có chỗ để
nương tựa!
Từ,
Ðiïa nói:
- Hai
anh sẽ làm chứng cho em, để Ðà-bà bị đuổi, làm gì có
chuyện em bị tác pháp Tự ngôn để đuổi em.
Di-đa-la
nói:
- Nếu
Tăng đuổi Ðà-bà thì Tăng có thêm được cái gì nữa đâu?
Hai
anh em Từ và Ðịa nói:
- Ðiều
cần thiết là làm cho Thế Tôn ruồng bỏ Ðà-bà. Há lẽ Ðà-bà
bị đuôûi đi, làm cho em khổ sở hay sao? Hai anh cần tự do,
cần có hình ảnh tốt đẹp để được sống an lành với
trú xứ.
Với
lời lẽ như thế, ni cô Di-đa-la im lặng, không dám trái mạng
và để làm vừa lòng hai ông anh của mình, Di-đa-la đến trước
đức Phật tố cáo Ðà-bà với lời lẽ như trên.
Khi
ấy, Ðà-bà và La-hầu-la đang đứng hầu hai bên đức Phật,
đức Phật hỏi Ðà-bà:
- Ông
có nghe Di-đa-la nói điều gì không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe, nhưng việc đó Thế Tôn đã tự biết
rõ rồi. -Ðà-bà đáp lời.
Ba
lần đức Phật hỏi như vậy, và ba lần Ðà-bà cũng trả
lời đúng như vậy.
Trước
sự việc như thế, La-hầu-la bạch Phật:
- Bạch
đức Thế Tôn, phiền gì phải ba lần hỏi Ðà-bà, chỉ cần
tẫn xuất cô ni là xong.
Ðức
Phật lại hỏi:
- Nếu
Di-đa-la sử dụng thủ thuật này để phỉ báng La-hầu-la
thì La-hầu-la phải xử trí ra sao đây?
La-hầu-la
thưa:
- Con
sẽ nói việc này, Phật tự biết cho con.
Ðức
Phật dạy:
- Ông
có thể làm như thế song đối với Ðà-bà lại cũng nói như
vậy được sao?
Ðức
Phật xoay sang Ðà-bà dạy:
- Ông
nên đứng lên tự làm sáng tỏ vấn đề, nay không phải là
lúc ông im lặng. Ông cần vận dụng ký ức của mình, có
thì nói có, không thì nói không, không được tránh né mà
nói “Phật tự biết điều này”.
Ðà-baø
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục rồi quỳ
gối, chấp tay thưa:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, từ khi con sinh ra đến nay, kể cả trong
mộng con cũng chưa hề nghĩ tưởng về việc này. Tại sao,
nay với sự việc như thế, lại có được trong trí nhớ của
con?
Ðức
Phật khen Ðà-bà:
- Lành
thay! Hay thay! Ông đã quả quyết tự biện minh được vấn
đề. Người muốn tự biện minh phải nói lên được như
vậy.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nên
trao cho Ðà-bà Ức niệm Tỳ-ni 14, không nên nêu tội, phải
bạch tứ Yết-ma trao cho Di-đa-la pháp Tự ngôn, đuổi ra khỏi
Tăng chúng. Thi hành lời dạy này, trước Tăng, một Tỳ-kheo
dõng dạc đọc lên Yết-ma sau đây để lấy biểu quyết tẫn
xuất cô ni: “Ðại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo ni Di-đa-la
đã tự nói lời vu khống: Ðà-bà làm ô nhiễm cô ta. Nay Tăng
trao cho Tỳ-kheo ni này pháp Tự ngôn diệt tẫn. Nếu bây giờ,
việc này là thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận thì
lời thưa này là lời đề nghị trước Tăng”.
Pháp
Yết-ma: “Ðại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo ni Di-đa-la
tự nói lời vu khống: Ðà-bà làm ô nhiễm cô ta. Nay Tăng
trao cho Di-đa-la pháp Tự ngôn diệt tẫn. Các Trưởng lão nào
chấp thuận thì im lặng, nếu không đồng ý thì xin cho ý
kiến (Lời này được đọc lại lần thứ hai, lần thứ ba).
Tăng
chung quyết: “Tăng đã đồng ý trao cho Tỳ-kheo ni Di-đa-la
pháp Tự ngôn diệt tẫn rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Vậy
Yết-ma thành, việc thi hành phải nghiêm túc thực hiện”.
Tỳ-kheo
ni Di-đa-la sau khi bị diệt tẫn, lang thang lê bước giữa nhân
gian đa sự này. Còn về phía hai người anh Từ và Ðịa thì
vẫn ngoan cố đỗ trách sự việc ấy xảy ra là do Ðà-bà
Lực Sĩ Tử phá hoại phạm hạnh em gái của hai ông ta. Trước
giọng điệu phỉ báng này, các Tỳ-kheo bạch Phật. Ðức
Phật nhân đó cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng. Ngài bảo các Tỳ-kheo:
- Các
thầy phải phối kiểm lại, hỏi Từ và Ðịa: “Các ông
nói Ðà-bà phá hoại phạm hạnh của em gái các ông là thật
hay là hư cấu, đặt điều?
Các
Tỳ-kheo làm theo lời chỉ giáo, hỏi thẳng Từ và Ðiïa vấn
đề. Từ, Ðịa trả lời:
- Ðiều
tôi nói là sự thật.
Tăng
lại hỏi:
- Ông
thấy khi nào? Thấy chỗ nào? Thấy trong trường hợp nào?
Từ,
Ðiïa trả lời:
- Tôi
thấy chỗ đó, tôi thấy khi đó, tôi thấy như vậy?
Tăng
liền hỏi Ðà-bà:
- Khi
ấy thấy ở chỗ nào?
Ðà-baø
liền đáp:
- Lúc
ấy tôi ở chỗ kia.
Tăng
lại dồn dập hỏi Từ, Ðiïa:
- Ðịa
điểm không tương ứng, thời gian không tương ứng. Tại sao
ông nói là chỗ đó, lúc đó, thấy như vậy?
Tăng
lại đem lời thức tỉnh Từ, Ðiïa:
- Nếu
đối trước một Tỳ-kheo có lòng tin kiên cố mà nói láo,
thì tội nặng như giết hại vô số chúng sanh. Còn nếu đối
trước một vị mà chánh pháp của vị này rất kiên cố,
đem lời nói láo với vị này, thì tội nặng gấp trăm lần
hơn đối với vị có lòng tin kiên cố. Như vậy, đối với
trước Tăng mà cứ lần lữa nói dối, thì tội này của ông
nặng gấp trăm lần vị A-la-hán bị giết. Tăng lại vặn
hỏi Từ, Ðịa:
- Nay
Tăng quy tụ về hội họp, không tùy thuộc yêu ghét, giận
hờn, si mê, sợ hãi, thì điều này ông bảo là sự thật
hay là hư dối?
Từ,
Ðịa nói:
- Ðà-bà
làm theo yêu ghét, giận hờn, si mê, sợ hãi nên tôi phải
nói Ðà-bà như vậy.
Các
Tỳ-kheo bằng lời lẽ nghiêm khắc quở trách, rồi cùng đưa
Từ, Ðiïa đến chỗ đức Phật, trình bày lên Ngài sự việc
đã làm rõ.
Trước
toàn thể Tăng, Từ Ðiïa thú nhận tội lỗi của mình. Ðức
Phật lại quở trách:
- Hai
ông là kẻ ngu si! Tại sao lại dùng sự việc không căn cứ
thuộc Ba-la-di để hủy báng Tỳ-kheo phạm hạnh thanh tịnh?
Các ông há không nghe về ba hạng người đọa vào địa ngục
sao? Ðó là:
- Một
là người phạm giới, không có pháp Sa-môn mà tự nhận là
mình có, không tu phạm hạnh mà tự nói mình tu. Với hạng
người này là loại giặc trong Phật pháp.
- Hai
là hạng người hành động như vậy, thấy như vậy, lại
bảo rằng dâm dục không phải là điều xấu, rồi làm việc
phóng dật.
- Ba
là hạng người dùng vô căn cứ Ba-la-di hủy báng vị Tỳ-kheo
thanh tịnh, phạm hạnh.
Ba
hạng này người chắc chắn đọa vào địa ngục. Tại sao,
nay ông lại làm việc ác này?!
Sau
khi quở trách và vì 10 điều lợi15 cho Tăng chúng, đức Phật
kiết giới nghiêm cấm việc này.
BIẾN
CHỨNG
Chuyện
này xảy ra lúc đức Phật lưu trú tại thành Vương-xá.
Tỳ-kheo
Ðà-bà là bậc thần thông có oai đức lớn nên nhiều người
đến thăm viếng, nghe pháp là chuyện bình thường. Trong số
người này, có Tỳ-kheo ni Thâu-la-nan-đà. Ngày ấy trong cùng
một trú xứ, cô ni ngồi nghe pháp. Ðôi ba phen Từ, Ðiïa nhìn
thấy chuyện này và rồi lòng sẵn ôm hận, Từ, Ðiïa tìm
cách xuyên tạc phỉ báng16...
Bữa
nọ, từ trên núi Kỳ-xà-quật17 đi xuống, nhìn thấy hình
ảnh hai con khỉ đang làm trò khỉ, Từ, Ðịa đắc ý, gán
ghép ngay cho Ðà-bà là con khỉ đực và Thâu-la-nan-đà là
con khỉ cái. Hình ảnh này đã ghim chặt vào lòng hai ông,
biến nó trở thành sự thật, họ nói với các Tỳ-kheo Trưởng
lão rằng: “Trước đây chúng tôi vận dụng pháp thiếu cơ
sở để hủy báng Ðà-bà, nay thì không như thế, chính chúng
tôi nhìn thấy Ðà-bà cùng với cô ni Thâu-la-nan-đà làm hạnh
bất tịnh”.
Các
Tỳ-kheo đem vấn đề này bạch lên đức Phật. Ðức Phật
cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng để kiểm vấn. Trước Tăng, Từ,
Ðiïa thẳng thắn nhìn nhận như vầy: “Thật sự chúng tôi
không thấy Ðà-bà làm chuyện bất tịnh nhưng lại Thấy Thâu-la-nan-đà
thường lui tới chỗ Ðà-bà, vì muốn phỉ báng cho hả giận
nên mượn hình ảnh hai con khỉ giao hợp mà chúng tôi thấy
trên núi Kỳ-xà-quật đi xuống và liên hệ gán ghép cho con
khỉ đực là Ðà-bà, con khỉ cái là Thâu-la-nan-đà rồi biến
gà ra cuốc mà qui kết rằng: Chính chúng tôi thấy hai người
làm hạnh bất tịnh, mà thôi”.
Từ
hội đồng Tăng cho đến đức Phật, Từ và Ðịa bị sự
quở trách nặng nề. Sau cùng, đức Phật đã răn cấm như
vầy:
“Tỳ-kheo
nào, tự thân không như pháp mà vì giận dữ, ác ý, mượn
một sự kiện tách biệt, dùng lấy một khía cạnh nhỏ hay
một khía cạnh tương tự của vấn đề rồi qui kết Ba la
di để phỉ báng Tỳ-kheo không phạm Ba-la-di, nhằm phá hoại
phạm hạnh của vị kia. Thời gian sau, Tỳ-kheo này, hoặc có
người chất vấn, hoặc không có người chất vấn, tự thú
rằng: Việc này vì tôi giận hờn nên mượn lấy một sự
kiện méo mó để liên hệ qui kết, nhằm phỉ báng kẻ khác
thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa”.
KHOÁI
THAY ! KHOÁI THAY !
Có
một thời gian đức Phật ở trong rừng A-nậu, thuộc ấp
Di-na18. Ở đây, các quí tộc thuộc giòng họ Thích, nhiều
người đến với đức Phật xuất gia học đạo. Không bỏ
lỡ cơ hội, Thích Ma-nam19, nói với A-na-luật20:
- Nay
các quý tộc đều xuất gia tu phạm hạnh, tại sao riêng anh
em chúng ta không thực hiện việc này? Nếu ta xuất gia thì
em coi ngó việc nhà, còn nếu em xuất gia thì ta ở nhà lo liệu.
A-na-luật
nói:
- Anh
cứ đi xuất gia, em sẽ lo liệu việc nhà.
Thích
Ma-nam nói:
- Trước
đây việc nhà có anh lo, em chỉ thụ hưởng sung sướng, đâu
có biết gian lao cực khổ là gì. Tuy nhiên, xuất gia hành đạo,
điều cực khổ đâu phải là kém. Nay em ở nhà thì anh phải
chỉ vẽ em phương pháp quản lý gia nghiệp. Hãy nghe anh nói
cách quán xuyến công việc: Ban ngày phải thích ứng với công
việc ra sao? Ban đêm phải đặt kế hoạch thế nào cho khớp?
Phương pháp làm ruộng, mua bán, điều hành kẻ ăn người
ở, tất yếu phải khôn khéo dùng lời tác động, theo dõi.
A-na-luật
nghe thế nói rằng:
- Nếu
quản lý gia nghiệp mà phải như vậy mới đạt kết quả,
thì một ngày em cũng không thể quản lý nổi! Thôi thì anh
ở nhà, em đi xuất gia vậy.
Thích
Ma-nam nói:
- Pháp
của chư Phật Thế Tôn, cha mẹ không cho phép thì không được
tu đạo, nay em muốn xuất gia thì phải đến xin phép mẹ,
tự em nói lên ý nguyện này.
Nghe
theo lời anh, trước mẹ, A-na-luật giải bày lời xin:
- Thưa
mẹ, con mộ Phật pháp nên muốn xuất gia học đạo.
Bà
mẹ trả lời:
- Mẹ
chỉ có hai anh em con, tình mẹ yêu thương hai con quá sâu đậm,
làm sao mẹ, con có thể sống xa lìa nhau được! Nhà mình rất
giàu có, thích hợp với việc tu công đức con cứ thực hiện
việc này, con xuất gia là làm đau lòng mẹ!
Tưởng
thuyết phục được con mình, không ngờ A-na-luật vẫn sắt
đá với việc xuất gia. Lần thứ ba, A-na-luật xin phép, bà
mẹ đặt vấn đề với con như một điều tiên quyết, bà
mẹ bảo như vầy:
- Nếu
Vua Bạt-đề21 xuất gia thì mẹ cũng đồng ý để con xuất
gia.
Ðã
từ lâu Vua Bạt-đề cùng A-na-luật, Nan-đề, Ðiều-đạt,
Bà-bà, Kim-bệ-lô.v..v... rất nặng tình thương mến nhau, nên
có việc gì thì cũng đều chung thề không làm trái ý nhau.
Với
ý của mẹ như thế, A-na-luật đến ngay Vua Bạt-đề, ngõ
lời như vầy:
- Nay
tôi có chút ý nguyện, mà ý nguyện này lại gắn liền với
lời thề của vua. Chúng ta đã long trọng thề rằng: Không
làm trái ý nhau, nếu làm trái ý nhau đầu bị vỡ thành bảy
mảnh. Vì thế, nay lời nguyện của vua ắt phải gắn liền
với lời thề ấy.
A-na-luật
liền đem ý kiến của mẹ mình trình bày lên Vua Bạt-đề.
Nhà
vua nghe rồi, bảo rằng:
- Ý
nguyện này của khanh, ta chưa có thể thực hiện ngay được.
Tại sao vậy? Vì ta nguyện làm vua, cái quả này ta mới bắt
đầu. Thân tộc ta giàu sang, chẳng có gì để lo lắng cả,
làm sao có thể bỏ ngay nếp sống này để xuất gia học đạo?!
A-na-luật
nói:
- Nếu
vua xuất gia thì nguyện tôi mới toại, tham đắm sự phồn
vinh thì tôi phải trầm luân lâu dài. Xin vua suy nghĩ kỹ, đừng
để trái với lời thề trước kia!
Vua
Bạt-đề nói:
- Tôi
sẽ làm theo ý nguyện của bạn nhưng để cho tôi sau 7 năm,
tôi sẽ cùng bạn xuất gia học đạo.
A-na-luật
nói:
- Sau
7 năm chắc gì đức Phật còn tại thế?! Hơn nữa, mạng sống
của tôi khó có thể bảo đảm được đến ngày ấy. Tại
sao nay Vua lại nêu ra kỳ hẹn này?
Vua
Bạt-đề nói:
- Bảy
năm, nếu có lâu thì 6 năm không được sao?
A-na-luật
cũng trả lời như trên. Vua lại hẹn 5 năm rồi 4, 3, 2 năm,
đến còn một năm, rồi lại hẹn từ bảy tháng đến còn
một tháng, từ 7 ngày đến còn một ngày... đều không được
A-na-luật chấp nhận.
Nhà
vua nói:
- Chúng
ta là bậc vương giả, đâu có thể đột ngột ra đi như vậy.
Chúng ta cần phải chuẩn bị đầy đủ phương tiện, xa giá
hết sức nghiêm chỉnh, mượn con đường du hành để thực
hiện chí nguyện xuất gia. Bây giờ bạn có thể nói rõ ý
định này với A-nan-đà.v..v...
A-na-luật
liền thông tin cho 5 người bạn còn lại. Năm người này rất
hân hoan, tâm đầu ý hợp.
Ngay
trong đêm ấy, đội quân tinh nhuệ nhanh chóng hoàn tất nghiêm
chỉnh một chuyến đi. Một thế gian cực kỳ lộng lẫy, oai
nghiêm vào lúc trời vừa sáng. Vua, tôi ra khỏi thành, con đường
du hành của nhà vua đang bước sang một ngã rẻ khác, một
sự giải thoát đột biến đến kỳ lạ...
Cuối
cuộc du hành thưởng lãm, Ưu-ba-ly - người thợ cạo tóc -
được mật báo... Bảy hoàng thân quốc thích kín đáo rời
khỏi đoàn tùy tùng, rồi mất hút trong rừng sâu, họ ẩn
mình trong sự tịch vắng. Những trang phục quí giá trên mình
họ, bây giờ là cái giá để cho người thợ cạo Ưu-ba-ly
cạo tóc cho họ. Họ cải đổi y phục rồi nhanh chóng lên
đường xuất gia...
Bảy
người đi chưa bao lâu, Ưu-ba-ly giật mình nghĩ ngợi: “Các
hào tộc họ Thích cường bạo, nếu biết ta cạo đầu cho
bảy người này, chắc họ sẽ giết ta. Hơn nữa, các quý
tộc này còn bỏ nhà xuất gia, nay ta tại sao không bỏ đồ
nghề hớt tóc và các y phục quí giá này để xuất gia?”
Không
do dự, Ưu-ba-ly tự cạo đầu, rồi đem các y phục quí báu
kia treo lên gốc cây, với ý nghĩ: ai cần thì lấy sử dụng.
Ưu-ba-ly đi thật nhanh như muốn chạy, và không bao lâu đuổi
kịp 7 người, Ưu-ba-ly nói:
- Nay
tôi cũng muốn theo quý vị xuất gia.
Bây
giờ, 8 con người bình đẳng nhau trong sự giải thoát. Họ
tiến nhanh về khu rừng A-nậu, nơi đây đức Phật đang chờ
đón họ.
Trước
Thế Tôn, tám người đầu mặt đảnh lễ sát chân Ngài, họ
thưa:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, nay chúng con muốn xuất gia tịnh tu phạm
hạnh. Riêng đối với Ưu-ba-ly là người nô bộc của chúng
con, xin Ngài độ cho ông ta thọ Cụ túc giới trước, sau đó
mới độ chúng con. Ðiều này cần phải như thế để cho
chúng con và các Thích chủng phá tâm kiêu mạn đối với Ưu-ba-ly.
Ðức
Phật liền độ Ưu-ba-ly, sau đó mới độ 7 người.
Ngay
sau lúc độ này, đức Phật có suy nghĩ:: “Ca-duy-la-vệ22
cách đây không xa, các người dòng họ Thích biết được
có thể gây trở ngại. Ðức Phật cùng đưa 8 người đến
thành Bạt-đề-la23. Nơi đây, dưới tàng cây Võng Lâm, đức
Phật đã vì họ nói diệu pháp, bao gồm những vấn đề:
Nhãn vô thường, Sắc vô thường, Nhãn thức, Nhãn xúc, Nhãn
xúc nhân duyên sanh thọ vô thường. Cho đến Ý vô thường,
Pháp vô thường, Ý thức, Ýù xúc, Ý xúc nhân duyên sanh thọ
vô thường. Các người là Thánh đệ tử nên phải thực hiện
quán sát như vậy, sanh tâm yểm ly, sở đắc trí tuệ giải
thoát, chỗ phải làm đã làm xong, phạm hạnh đã lập, không
thọ thân sau...
Sau
khi nghe pháp, có 6 người đoạn hết lậu hoặc, đắc A-la-hán.
A-nan vì hầu Phật nên các lậu hoặc không đoạn hết. Ðiều-đạt,
người duy nhất không thu hoạch được điều gì.
Tỳ-kheo
Bạt-đề sau khi đắc quả A-la-hán, tâm vua trong sạch không
còn sự lo sợ nào. Hoặc tọa thiền hay kinh hành, dưới tàng
cây hay nơi hoang vắng, tự thân liền được sự vui sướng,
thanh thản, vua đã thốt lên lời:
- Khoái
thay! Khoái thay!
Âm
thanh này, một Tỳ-kheo khác nghe được, lại có tác ý, nghĩ
rằng: “Chắc Tỳ-kheo Bạt-đề nhớ đến niềm vui thế tục
mà không vui với phạm hạnh nữa!”. Ngay sau đó, vị ấy
đến bạch Phật:
- Con
đã hướng đến Bạt-đề và nghe vị này nói: “Khoái thay!
Khoái thay!”. Chắc ông ta nhớ lại niềm vui khi còn làm vua,
không thích sống phạm hạnh nữa!
Ðức
Phật bảo Tỳ-kheo ấy gọi Tỳ-kheo Bạt-đề đến. Trước
Phật, Tỳ-kheo Bạt-đề đầu, mặt kính lễ sát chân Ngài
rồi đứng qua một bên.
Ðức
Phật hỏi Bạt-đề:
- Sự
thật ông có nói “Khoái thay” hay không?
- Bạch
đức Thế Tôn, thật sự con có thốt lên “Khoái thay”. -
Bạt-đề thưa.
- Ông
nói “Khoái thay” với ý nghĩa như thế nào? - Ðức Phật
hỏi.
- Thưa
Thế Tôn, lúc trước sống trong cung vua là sống trong bảy
lớp thành vây bọc, bảy hàng voi, bảy hàng ngựa, bảy hàng
xe, bảy hàng bộ binh, bốn binh chủng bao quanh. Ấy vậy, khi
nghe một âm thanh khác lạ thì lòng kinh sợ, lông tóc dựng
ngược lên. Nay ở dưới tàng cây, nơi đất trống mà thản
nhiên không một chút lo sợ, cho nên con đã phải nói lớn
“Khoái thay” là vậy!
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Bạt-đề
đã đắc A-la-hán mà không vui với nếp sống phạm hạnh là
điều không có cơ sở. Từ Bạt-đề, một thực tại của
vấn đề lúc bấy giờ mà nhân đó đức Phật nói kệ:
Khoái
thay! A-la-hán
Không
còn ân ái buộc
Phá
được dục, nhuế, si
Xóa
đi lưới kiết sử
Niết
bàn đây nơi đến
Nào
còn tâm uế trược
Nào
nhiễm đắm thế gian
Giải
thoát mọi nhiễm ô
Năm
uẩn tường tận rõ
Bảy
rừng pháp hành du
Chỗ
đi con rồng lớn
Chế
phục mọi khủng nguy
Thành
tựu mười Chủng đức
Vua
đức Tam muội thiền
Mọi
hủ lậu đã sạch
Là
đệ nhất thế gian
Bất
động không sợ hãi
Không
nhận lại thân sau
Tịch
diệt đều dứt sạch
Khổ,
lạc báo hằng không
Vững
vàng trí vô học
Thân
này, thân sau cùng
Phạm
hạnh kiên cố lập
Ðâu
điều không thể tin
Khắp
cả thế gian này
Còn
đâu các dục lạc
Vang
lừng sư tử rống
Nào
ai hơn đức Phật.
ÐIỀU-ÐẠT
PHÁ HÒA HỢP TĂNG
Nhận
lời mời của Long vương, đức Thế Tôn cùng các Ðại đức
Thanh-văn đến A-nậu-đạt24. Ðiều-đạt chưa sở đắc thần
thông nên không thể đi cùng. Ðiều này đã làm cho Ðiều-đạt
xấu hổ vô cùng, do vậy, nảy sanh ý nghĩ: “Nay ta cần phải
tìm học pháp tu thần thông”. Trước hết, Ðiều-đạt đến
bạch Phật:
- Cúi
xin Phật hãy vì con dạy cho pháp tu thần thông.
Ðức
Phật hướng dẫn. Ðiều-đạt thọ giáo và trong thời gian
an cư, Ðiều-đạt đắc thần thông.
Sau
khi đắc thần thông, Ðiều-đạt nghĩ ngay đến việc khuếch
trương thanh thế. Vấn đề giáo hóa được đặt ra, và ai
là người cần giáo hóa trước? Ðiều-đạt nghĩ ngay đến
Thái tử Chúng Lạc25, con vua Bình-sa. Ðối tượng đã được
xác định, lập tức Ðiều-Ðạt-mất dạng khỏi Võng Lâm...
Trên
giường của Thái tử, Ðiều-đạt hiện thành một đứa trẻ
nít nằm ngữa, mút ngón tay. Thái tử thấy thế vô cùng hoảng
sợ, hỏi:
- Mi
là trời hay là quỉ thần?
Ðứa
trẻ trả lời:
- Tôi
là Ðiều-đạt, đừng nên sợ chi cả!
- Nếu
là Ðiều-đạt thì nên hiện nguyên hình trở lại. - Thái
tử bảo thế.
Ðứa
bé liền biến thành Ðiều-đạt, đầy đủ oai nghi như cũ.
Thái tử hoan hỷ trước sự biến hóa của thầy mình. Tâm
niệm kính phục càng lên cao, hằng ngày Thái tử đích thân
đến thăm hỏi, theo liền sau là 500 chiếc xe. Ðiều-đạt
lại hóa 500 đứa trẻ nằm ngữa, mút ngón tay trên mỗi chiếc
xe. Thái tử lại dùng 500 chiếc xe chở từng loại thức ăn
sang trọng, ngon lành đến cúng dường...
Bấy
giờ, người các nước không ai là không đồn ầm lên rằng:
“Ðiều-đạt có đại thần lực nên mới biến hóa được
như vậy. Vì thế khiến Thái tử Chúng Lạc ngày nào cũng
đến thăm hỏi, cúng dường quá nhiều các loại thức ăn
ngon bổ cho Ðiều-đạt”.
Về
phía Ðiều-đạt đã không tự lượng sức mình, nên cứ làm
theo ý muốn chiêu dụ, bảo bọc, nuôi dưỡng đồ chúng. Thanh
thế lên như diều gặp gió.
Vào
thời gian ấy, đức Phật rời Võng Lâm đi vào nhân gian hành
du hóa độ. Ngài đến nước Câu-xá-di, trú ngụ trong vườn
Cù-sư-la26. Riêng Mục-liên đi theo Phật đã an trú ở một
nơi hoang vắng tịch mịch.
Tại
nước này, trước đây có Kiều-trần-như Tử, tên là Kha-hưu27,
tịnh tu phạm hạnh, đắc quả A-na-hàm, sau sanh lên cõi trời
Phạm Thiên28. Nửa đêm vắng lặng, vị này từ cõi trời
xuống, phóng ra ánh sáng rực rỡ, đến chỗ Mục-liên, đầu
mặt kính lễ sát chân rồi có lời thưa báo với Mục-liên
như sau:
- Nay
Ðiều-đạt giáo hóa Thái tử Chúng Lạc, hiện các thần thông
biến
hóa. Tuy vậy, trong thâm tâm Ðiều-đạt có điều lo sợ nên
quyết định thu nhận, nuôi dạy đồ chúng với ý đồ phá
hòa hiệp Tăng.
Vừa
dứt lời thưa, Kha-hưu nhanh như chớp biến mất.
Trời
vừa sáng, Mục-liên y phục chỉnh tề, đến thẳng chỗ đức
Phật, trình bày lên Ngài cặn kẽ hành động của Ðiều-Ðạt-mà
Kha-hưu đã thưa báo.
Ðức
Phật hỏi Mục-liên:
- Ý
ông thế nào? Có nên xem xét lời của Kha-hưu thưa báo hay
không?
- Ý
con là nên như vậy. - Mục-liên thưa.
- Không
nên nói lời ấy, tại sao vậy? Vì khắp thế gian này, Ta không
thấy Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm nào có thể thống
lãnh đồ chúng của Phật.
Ðức
Phật lại bảo Mục-liên:
- Ở
đời có 5 hạng thầy, hiện nay đều có đủ, đó là:
1.
Giới không thanh tịnh, tự nói thanh tịnh. Các đệ tử của
họ đều biết rõ sự thật này nhưng che giấu tội lỗi của
thầy để mong cầu lợi dưỡng.
2.
Tà mạng, siễm khúc, tự nói mình chánh trực. Các đệ tử
cũng che giấu điều đó.
3.
Nói điều bất thiện, lại tự cho là lời nói thiện, nên
các đệ tử vui mừng cho là thiện.
4.
Hiểu biết không thanh tịnh, tự nói là thanh tịnh, cho nên
các đệ tử hết lời ca tụng rằng sự hiểu biết ấy là
trong sạch.
5.
Nói lời không phải pháp luật, lại nói là pháp luật, nên
các đệ tử cũng hùa theo nói là đúng pháp, vì thế đã không
thể thuyết phục được kẻ trí chấp nhận tin theo.
Này
Mục-liên! Giới của Như Lai thanh tịnh, không siễm khúc, đâu
nói lời bất thiện, chỗ thấy, chỗ hiểu biết thanh tịnh,
điều nói ra như pháp, kẻ trí chấp nhận tin theo, không cần
đệ tử hùa theo che giấu và khen ngợi.
Cũng
trong thời gian ấy, nguồn thông tin khác đến từ thành Vương-xá,
đó là các Tỳ-kheo sau an cư về thăm Thế Tôn. Các thầy bạch
lên Phật sự việc Ðiều-đạt giống như Kha-hưu đã thưa
báo với Mục-kiền-liên. Ðức Phật dạy:
- Này
Tỳ-kheo! Ðừøng ham muốn theo kiểu Ðiều-đạt làm các biến
hóa đó..., đến cả lợi lộc cúng dường. Sự cung kính cúng
dường ấy nếu có, nó càng làm tăng gánh nặng tối tăm,
thống khổ mà thôi! Cũng như con chó dữ, dùng gậy đánh nó
thì chỉ càng làm cho nó hung dữ hơn lên. Ðiều-đạt cũng
như vậy, nhận được nhiều phẩm vật cúng dường thì phiền
não càng nhanh chóng gia tăng. Ðức Phật vì muốn làm rõ ý
nghĩa này nên lập lại vấn đề bằng lời kệ cô đọng
như sau:
Người
ngu, ác họ tăng
Ác
sanh từ lợi dưỡng
Người
si đoạn pháp lành
Như
đầu lìa khỏi thân
Không
tu hạnh thanh tịnh
Lại
muốn chiêu dụ Tăng
Muốn
ngồi trên mọi người
Vọng
cầu mọi quy kính
Có
người cầu lợi dưỡng
Có
người cầu Niết bàn
Lợi
dưỡng hại pháp lành
Tịch
diệt trừ xan tham.
Ðức
Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
- Cây
chuối, cây trúc, cây lau do kết trái mà chết. Con Cự Hư 29
mang thai cũng bỏ mạng. Nay Ðiều-đạt tham cầu lợi dưỡng
cũng lại như vậy.
Ðức
Phật lại đúc kết nhấn mạnh vấn đề này bằng lời kệ:
Do
buồng, cây chuối chết
Do
trái trúc, lau diệt
Cự
Hư chết vì thai
Kẻ
sĩ mất vì tham.
Tiếp
tục du hóa, đức Phật rời nước Câu-xá-di du hành trên quảng
đường dài về thành Vương-xá. Nơi đây, Ngài trú ngụ trong
núi Kỳ-xà-quật. Ngài được các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di, Quốc vương, Ðại thần, Sa-môn, Bà-la-môn, Phạm
chí, Cư sĩ, cung kính, tôn trọng, tán thán và cúng dường
thức ăn, y phục, đồ nằm, thuốc men... Giữa bao lợi dưỡng
này, Ngài như hoa sen không hề đắm trước. Lúc bấy giờ,
giữa một rừng người đủ mọi giai cấp vây quanh lắng nghe
Phật thuyết pháp. Chộp lấy cơ hội, Ðiều-đạt từ chỗ
ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, để trống vai bên phải,
đầu mặt đảnh lễ sát chân Phật, rồi quỳ gối, chấp
tay bạch Phật:
- Kính
bạch đức Thế Tôn, cúi xin Ngài hãy sống trong sự an lạc,
mà hôm nay cho phép con được lãnh đạo, xử lý việc chúng
Tăng.
Ðức
Phật nói với Ðiều-đạt:
- Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên còn chưa thể thống lãnh đồ chúng của Ta,
huống chi ông là kẻ ngu si, chẳng khác nào loại đờm dãi.
Bị
quở trách như vậy, Ðiều-đạt lòng đầy phẩn hận, lại
nghĩ suy: “Tại sao đức Thế Tôn đối trước đại chúng
lại nhục mạ ta thậm tệ như thế!” Khởi ác tâm nhằm
vào đức Phật nên Ðiều-đạt bắt đầu tổn giảm thần
túc. Ðiều-đạt lại nghĩ rằng: “Ðức Phật khen ngợi Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên mà nhục mạ ta”. Lần nữa, Ðiều-đạt sanh
ác tâm đối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, nên thần
túc của Ðiều-đạt lại bị tổn giảm lần thứ hai. Ðiều-đạt
trở về nơi cư ngụ của mình. Ðiều-đạt lại thuyết pháp,
vây quanh nghe, có quốc vương và đông đảo quần chúng. Có
một Tỳ-kheo tham dự buổi thuyết pháp này, đến bạch lên
Phật những điều mắt thấy tai nghe. Ðức Phật bảo:
- Này
Tỳ-kheo! Ðiều-đạt không những đời này có được đại
chúng, mà đời quá khứ đã từng có được số đông Tỳ-kheo
vây quanh. Ðời quá khứ xa xăm ấy, có một Ma-nạp30 ở trong
hang núi, tụng sách Sát-lợi31. Một con cáo rừng ở cạnh
đó, chuyên chú nghe tụng sách này nên trong tâm có được
điều tỏ ngộ. Qua sự tỏ ngộ cáo rừng nói lên: “Như
chỗ ta hiểu lời văn trong sách này thì đủ để làm vua trong
các loài thú”. Với ý niệm ấy, cáo rừng liền lên đường.
Trên đường du hành, gặp một con cáo rừng khác gầy yếu,
nó muốn giết đi. Con cáo kia nói:
- Tại
sao muốn giết tôi?!
- Ta
là vua loài thú, ngươi không thần phục ta thì bị giết ngay.
- Cáo rừng kia nói thế.
- Xin
ông đừng giết tôi, tôi xin làm kẻ tùy tùng ông. - Con
cáo gầy yếu van xin.
Thế
là hai con cáo lại tiếp tục lên đường. Lại gặp một con
cáo khác và sự việc xảy ra giống như con cáo yếu đuối
trước đây. Cả ba lại lên đường. Cứ như thế, suốt con
đường vua cáo rừng đi qua, nó hàng phục được tất cả
loài cáo. Sau đó, sử dụng bầy cáo của mình để hàng phục
loài voi. Lại dùng loài voi hàng phục tất cả họ hàng nhà
cọp. Lại dùng loài cọp hàng phục tất cả sư tử. Con cáo
kia lâm thời làm vua trong các loài thú. Ðã được ngôi vua
rồi lại nảy sanh ý nghĩ: “Nay ta đã là vua trong loài thú
thì không nên lấy loài thú làm vợ”. Nó nghĩ ngay đến con
gái vua thành Ca-di32. Nó phải hàng phục vua để được công
chúa.
Ngồi
trên lưng con voi chúa trắng, cáo ra lệnh xuất binh, các binh
chủng thú đồng loạt vây hãm thành Ca-di đến ngàn vòng.
Nhà
vua đứng trước sự uy hiếp kinh hoàng này liền sai sứ đến
hỏi:
- Các
ngươi là loài thú, tại sao lại hành động như vậy?
Cáo
rừng vua liền trả lời:
- Ta
là vua các loài thú, nên cần cưới con gái nhà vua. Nếu ông
thuận ý ta thì mọi sự tốt đẹp, bằng không ta sẽ tiêu
diệt nước ông.
Sứ
thần về báo cáo với vua sự việc nguy kịch nạn như thế.
Nhà vua liền triệu tập quần thần để nghị bàn, cùng tìm
ra một giải pháp. Ý kiến gả công chúa cho vua cáo chiếm
đại đa số. Với lý giải hèn kém như vầy: “Bởi lẽ,
quốc gia chỉ dựa vào sức mạnh của voi, ngựa. Ta có đủ
voi, ngựa mạnh, nhưng sức mạnh này sẽ bị đè bẹp bởi
sức mạnh sư tử của đối phương. Voi, ngựa chỉ cần nghe
rống khí của sư tử là run rẩy, bò mọp. Do vậy, cuộc chiến
không thắng được, đất nước sẽ bị loài thú tiêu diệt.
Sao lại tiếc một công chúa, không chịu gả để cho nước
nhà bị tiêu vong?!”
Ðứng
trước lập luận này, độc nhất có một vị thần phản
đối. Vị thần thông minh, mưu lược này tâu với vua rằng:
- Xưa
nay, thần chưa hề nghe thấy có mọât con gái của nhà vua
nào đem gả cho loài thú thấp hèn cả. Thần tuy yếu đuối,
nhưng thần xin quyết giết cho kỳ được con cáo chủ soái
kia, như thế là phá tan được hàng hàng, lớp lớp thú đang
vây hãm thành Ca-di.
Nhà
vua hỏi:
- Mưu
kế ra sao, khanh đề xuất cho trẫm rõ?
- Nhà
vua sai sứ hẹn chúng ngày đánh nhau, và trước khi giao chiến
yêu cầu vua thú chấp nhận một điều, là ra lệnh sư tử
đánh trước rồi mới rống sau. Chúng nó tưởng ta sợ nên
nhất định ra lệnh cho sư tử rống trước đánh sau. Và đến
ngày ấy nhà vua sắc lệnh cho quân ta nhét kín lỗ tai lại.
- Vị đại thần ấy kiến nghị như vậy.
Nhà
vua chấp nhận ý này, và cho thi hành ngay mưu kế thông minh
của vị đại thần kia.
Ðến
ngày hẹn đánh nhau, quân hai bên giàn trận. Vua cáo ngồi trên
bạch tượng thật oai phong, lẫm liệt. Ðến giờ, vua cáo
ranh mảnh ban lệnh: “ Lệnh cho toàn bộ sư tử rống lên
trước rồi mới giao chiến”. Tiếng rống sư tử rống lên
như sét đánh giữa trời. Nghe tiếng rống ấy, con cáo rừng
“vĩ đại” kia tim vỡ làm 7 mảnh, ngã nhào từ lưng voi
xuống đất, chết không kịp ngáp. Và cũng tiếng rống của
“binh lính” sư tử làm cho các loài thú khác khiếp cả hồn
vía, nhanh chóng tán loạn, bôn tẩu.
Nhân
việc này, đức Phật nói kệ:
Cáo
đồng lắm kiêu mạn
Muốn
tìm cầu vây cánh
Kéo
đến thành Ca-di
Tự
xưng là vua thú.
Người
kiêu mạn cũng vậy
Muốn
thống lãnh đồ chúng
Nên
tại Ma-kiệt-đà
Tự
xưng là Pháp chủ.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Vua
Ca-di thuở ấy, nay chính là Ta. Vị đại thần thông mẫn ấy,
nay chính là Xá-lợi-phất. Vua cáo rừng kia là Ðiều-đạt
hiện nay.
Này
các Tỳ-kheo! Xưa kia Ðiều-đạt dối trá để được thuộc
hạ, vây cánh, thì nay cũng chẳng khác nào.
Này
Xá-lợi-phất! Ông nên đến trong chúng của Ðiều-đạt công
bố lời này: “Ai chấp nhận 5 pháp của Ðiều-đạt thì
người ấy sẽ không thấy Phật, Pháp, Tăng”.
Tôn
giả Xá-lợi-phất thưa:
- Xưa
kia, con đã từng khen ngợi Ðiều-đạt, làm sao nay con lại
chê bai được?
Ðức
Phật lại hỏi:
-Trước
kia ông khen ngợi là đúng sự thật hay không?
- Thưa
Ngài là đúng sự thật. - Xá-lợi-phất đáp.
- Nay,
Ðiều-đạt là người đáng chê, ông chê cũng là đúng sự
thật. - Phật dạy Xá-lợi-phất.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nay,
nên bạch nhị Yết-ma, sai Xá-lợi-phất đến trong chúng của
Ðiều-đạt tuyên bố lời chê trách này.
Tăng
thi hành lời Phật dạy và Xá-lợi-phất thi hành đúng Yết-ma
Tăng sai. Giữa chúng của Ðiều-đạt, Xá-lợi-phất dõng dạc
tuyên bố:
- Nếu
vị nào chấp nhận 5 pháp của Ðiều-đạt thì sẽ không thấy
Phật, Pháp, Tăng.
Nghe
Yết-ma này, hội chúng của Ðiều-đạt phản ứng ngay, họ
nói lớn:
- Sa-môn
Thích tử lại ganh ghét với nhau, thấy Ðiều-đạt nhận được
nhiều phẩm vật cúng dường nên ganh ghét nói như vậy mà
thôi!
Tuy
nhiên, vua Bình-sa cũng ở trong hội chúng này, lại tuyên lệnh
rằng: Ðừng nên nói lời ấy. Tại sao vậy? Bởi lẽ chúng
đệ tử Phật thanh tịnh, không hề có sự ganh ghét như thế.
Ðể
cắt ngang việc này, Ðiều-đạt hỏi trong chúng rằng:
- Ai
muốn thấy hoa Mạn-đà-la33 trên cõi trời?
Cả
chúng hội đồng thanh:
- Muốn
thấy!.
Trước
hội chúng, Ðiều-đạt biến mất dạng... Bên hồ A-nậu-đạt
trên trời, trong ý niệm ham thích bẻ lấy hoa Mạn-đà-la,
Ðiều-đạt liền mất sạch thần túc.
Trở
về lại vị trí cũ, không một cành hoa, lại mất luôn thần
túc, Ðiều-đạt sanh ác tâm muốn hại đức Phật, và ý đồ
này được dàn trải trên một diện rộng.
Ðiều-đạt
đặt vấn đề với Thái tử Chúng Lạc:
- Nay
phụ vương của Ðiện hạ là vua Bình-sa cai trị bằng chánh
pháp, theo chỗ tôi hiểu thì triều đại của vua cha khó suy
tàn. Mạng người vô thường, khó bảo đảm được hơi thở
sau. Tại sao cái vương vị này lại kéo dài thời gian để
Ðiện hạ phải chờ đợi lâu như vậy? Ðiện hạ thể mưu
đồ sớm chiếm lấy ngôi vua mà nắm lấy bốn biển. Phần
tôi, tôi sẽ hại Phật, thay thế ngôi Pháp vương. Trong nước
Ma-kiệt-đà này, sẽ có vua mới, Phật mới, chúng ta đủ
cơ hội để cùng nhau hoằng hóa đạo, đời. Há đây không
là điều tốt sao?
Thái
tử trả lời:
- Công
ơn cha mẹ lớn hơn trời đất. Công ơn nuôi dưỡng trời
bể ấy tôi muốn báo đền nhưng chưa đền đáp được, tại
sao nay thầy lại chỉ lối cho tôi làm điều nghịch ác như
vậy?!
Ðiều-đạt
nghe thế mà lòng vẫn không biết xấu hổ, lại cứ dùng lời
điêu ngoa, xảo quyệt để khuyên dụ Thái tử, nhận chìm
Thái tử trong sự mê muội tối tăm, lần lựa làm cho Thái
tử mù quáng, xiêu lòng, mất tự chủ để trở thành con cờ
điều động của Ðiều-đạt.
Ngày
nọ, Thái tử bí mật mang gươm đi vào cửa vương cung. Vì
ôm lòng ác độc, phản nghịch nên bất giác bị giằng xé
hoảng sợ, lảo đảo té nhào trước vương cung rồi tự gượng
đứng lên. Quan giữ cửa thấy vậy sinh nghi, nhanh trí suy đoán
rằng: “Thái tử thường vào đây với oai nghi đỉnh đạc,
tại sao hôm nay lại có hiện tượng như thế, chắc có lý
do gì?” Quan giữ cửa vội vàng đến hỏi thì Thái tử trả
lời không chút do dự:
- Tôi
muốn giết vua cha nên mới như thế này!
- Ai
xúc giục Thái tử làm phản? - Quan giữ cửa hỏi.
- Ðiều-đạt.
- Thái tử đáp.
Các
quan giữ cửa liền họp lại bàn định:
- Nên
giải quyết sao đây?
- Nên
giết sạch Sa-môn và Thái tử Chúng Lạc. - Quan thứ nhất
nêu ý kiến.
- Trước
đây đức Phật sai Xá-lợi-phất tuyên bố sự ác nghịch
của Ðiều-đạt, tại sao lại muốn giết hết Sa-môn? Chính
tội này chỉ có Ðiều-đạt và Thái tử chịu trách nhiệm.
- Ðó là ý kiến của vị quan thứ hai.
- Chúng
ta không nên vội phán quyết tội này, cần phải tâu lên nhà
vua. Nhà vua có sắc chỉ, ta sẽ thừa lệnh thi hành. - Vị
quan thứ ba đề nghị như thế.
Chung
quyết lại, các quan thống nhất tấu trình việc này lên nhà
vua.
Nghe
tấu trình, nhà vua không chút biến đổi, lại hỏi:
- Chư
thần! Ðối với việc này, ý kiến của các ông giải quyết
sao đây?
Các
quan liền trình bày đầy đủ ý kiến đã thảo luận. Nhà
vua liền đuổi quan có ý kiến thứ nhất, cắt chức vị quan
thứ hai và trao thêm quyền hạn cho vị quan đề xuất ý kiến
thứ ba. Nhà vua lại cho triệu tập quần thần để lấy ý
kiến về việc này. Các quan đều có nhận định chung rằng:
“Vị quan đề xuất ý kiến thứ hai là hợp lý mà nhà vua
còn giáng cấp bậc, xem thế thì rõ thánh tâm của Vua. Vua
không nhẫn tâm nhìn thấy sự sát hại. Với hình phạt chính
đã không áp dụng thì phải dùng hạ kế”.
Các
quan nói:
- Người
thừa kế ngôi vua không ai ngoài Thái tử. Nay Thái tử muốn
tiếp nhận sớm ngôi vua ấy nên mới làm phản nghịch. Nên
trao ngay ngôi vị vua cho Thái tử thì hy vọng ác tâm kia sẽ
chấm dứt. Ý kiến này hợp với lòng Vua, vua liền thoái vị,
truyền ngôi cho Thái tử, với vương hiệu A-xà-thế.
Buổi
đầu ở ngôi vua, A-xà-thế thụ hưởng 5 thứ dục lạc nên
tâm sát nghịch vua cha tạm thời quên đi, nhưng sau một thời
gian ngắn, tâm ấy lại bị tác động khởi lên, cho dù không
có việc gì xảy ra, A-xà-thế vẫn hãm hại phụ vương nơi
lao ngục.
Bấy
giờ, Vua A-xà-thế có một con voi rất hung hãn, Ðiều-đạt
bí mật đến gặp người nài voi ấy với lời đề nghị
đầy áp lực:
- Ngày
mai Cù Ðàm sẽ đi qua con đường này. Ông vì tôi phục rượu
cho con voi thật say, rồi thả nó ra nơi đoạn đường ấy.
Phật với tâm nhiều kiêu ngạo ắt sẽ không tránh nó, do
đó, voi say dày đạp chết. Tôi sẽ hậu tạ ông nếu có kết
quả.
Sáng
hôm sau đến giờ khất thực, đức Phật đắp y, trì bát
cùng 500 đệ tử vào thành. Từ xa đã trông thấy Phật, người
nài voi liền thả con voi đã say mèm ra đường. Nhìn thấy
hiện tượng bất thường này, những người có lòng tin, yêu
mến Phật pháp, sợ Phật bị voi hại, liền hối hả đến
trước bạch Phật:
- Cúi
xin Thế Tôn nên đi con đường khác.
Năm
trăm đệ tử và A-nan cũng đều bạch Phật như vậy.
Song
sau ba lần thưa thỉnh của đệ tử, Phật đều trả lời:
- Không
can chi! Rồng còn không hại ta, huống nữa là voi.
Các
đệ tử thấy Phật vẫn bình tĩnh, nhưng họ hoảng sợ và
do phản xạ tự nhiên, họ đều rời Phật đi sang đường
khác, chỉ một mình tôn giả A-nan đi theo hầu sát Phật mà
thôi.
Lúc
ấy, người hiếu kỳ càng lúc càng đông dần, từng nhóm
đông kháo nhau:
- Nay
hai con rồng thử sức, xem con nào hơn.
Nhóm
ngoại đạo thì nhận định:
- Voi,
rồng sức đều mạnh, nhưng phần thắng chắc là voi thôi.
Hàng
Phật tử thì nói:
- Người
rồng, đạo cao đức trọng, chắc hàng phục được voi. Hãy
đợi đấy!.
Lời
qua tiếng lại suông chẳng ích gì, họ lại cá nhau bằng tiền
và chờ kết quả ăn thua. Họ chờ đợi đến nghẹt thở...
Hai
sức mạnh như đang tiếp cận nhau. Từ xa đã nhìn thấy Phật,
con voi say đập tai, cất cao vòi như tạo ra một sức gió mạnh,
xông thẳng về phía đức Phật. Tôn giả A-nan hoảng hốt,
khiếp sợ, bất giác chui ngay vào nách Phật. Ðức Phật lại
bảo khẻ với A-nan:
- Này
A-nan ! Vừa rồi chính ông đã nghe ba lần Ta nói: “Không hề
chi”. Tại sao không tin mà còn hoảng sợ đến thế?!
Ðức
Phật thấy con voi tiến tới, Ngài liền nhập Từ tâm Tam muội
và nói kệ:
Ngươi
đừng hại Ðại Long
Ðại
Long ra đời khó.
Nếu
ai hại Ðại Long
Ðời
sau đoạ ác đạo.
Nghe
bài kệ rồi, con voi dừng lại, cúi xuống đưa vòi ra trải
lên đất, ôm chân đức Thế tôn. Ðộng tác này được lập
lại 3 lần như biểu lộ sự kính cẩn cao độ. Nó chiêm ngưỡng
Phật từ trên xuống dưới, rồi đi quanh bên phải Phật ba
vòng, sau đó, voi đi lùi lại rồi ra đi. Ðược biết, từ
đó về sau con voi trở nên hiền lành. Thật là một điều
kỳ lạ!
Mọi
người đồng thanh khen ngợi:
- Sa-môn
Thích tử không dùng đao, gậy... mà hàng phục được con voi
hung tợn này. Kỳ diệu thay! Người dân trong nước không còn
bị sự khủng bố của voi. Kỳ diệu thay!
Các
ngoại đạo không ai không lấy làm xấu hổ. Còn đối với
hàng đệ tử Phật thì hớn hở vui mừng, sung sướng, hảnh
diện... Kiểm thu số tiền thắng cược lên đến bảy mươi
vạn...
Sau
khi hàng phục được voi, đức Phật lại nói kệ:
Voi
say đầy sân nhuế
Tiến
về đấng Ðạo sư
Trăm
họ đều thấy rõ
Hơn
thua tiền cược nhau
Voi
to tựa Thái Sơn
Sáu
mươi voi nào bằng
Vang
dội rúng lòng người
Rống
lên địch quân phá
Ðại
lực của Ðạo sư
Thương
chúng sanh, xuất thế
Muốn
độ con voi dữ
Trước
nó Ta đứng yên
Voi
lạy mọi người thấy
Ðạo,
đời đều vui mừng
Khen
Ta hàng voi dữ
Phật
là sư tử vương.
Chứng
kiến sự thất bại của mình, ác tâm của Ðiều-đạt lại
lồng lộn. Ông ta suy nghĩ: “Nay hại Phật bằng cách thức
này không thắng được, thì nên tìm một hung thủ khát máu,
không biết Phật là ai, thuê nó thật nhiều tiền là có thể
hạ thủ được”. Lập tức, Ðiều-đạt đi khắp nơi tìm
kiếm cho ra con người “lý tưởng” này. Ðiều-đạt dò
la và gặp một người đàn ông “đúng tướng”, có thân
hình vạm vỡ, dữ dằn. Ðiều-đạt đề nghị:
- Ông
vì tôi giết Phật, bao nhiêu tôi cũng hậu tạ.
Người
kia ham của, chấp nhận ngay.
Bấy
giờ, đức Phật đang kinh hành nơi đất trống, Ngài nhìn
thấy hung thủ đang tiến dần về phía mình. Ngài vận dụng
Từ tâm Tam muội phủ xuống khắp người này rồi đưa tay
vẫy gọi. Như bị thôi miên, hung thủ buông dao trong trạng
thái không ý thức. Như đi theo sự chỉ dẫn, hung thủ tiến
gần đến Phật rồi sụp lạy sát chân Ngài. Hung thủ ngẩng
lên nhìn Phật rồi tha thiết thưa rằng:
- Hiện
con là người si cuồng, muốn hại đức Thế Tôn. Con tự biết
tội nặng, cúi xin Ngài gia ân cho con xin sám hối.
Ðức
Phật dạy:
- Ông
thật là người ngu si nên mới ham tiền mà hại đức Như
Lai. Trong giáo pháp Ta, nếu người biết có tội mà sám hối
thì sẽ tăng trưởng căn lành.
Ðức
Thế tôn lại nói pháp để độ ông ta. Ngài phân tích việc
bố thí, vấn đề trì giới, vấn đề sanh Thiên, vấn đề
nhiễm ô của kẻ tại gia và vấn đề an vui của người xuất
thế. Tâm hồn hung thủ như trút hết gánh nặng, vui mừng
hiện rõ lên. Ðức Thế Tôn biết rõ điều đó nên lại vì
ông ta, Ngài nói về các pháp Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Nghe
các pháp này, ông ta liền tỏ ngộ, xa lìa cấu trần, sở
đắc con mắt pháp trong sạch. Thấy pháp, đắc quả rồi,
ông ta xin quy y Tam bảo, thọ trì 5 giới.
Ðức
Phật bảo ông ta trở về bằng con đường khác, vì Ðiều-đạt
đã thuê hai người đón đường cũ để giết người này,
vì muốn bịt kín tiếng xấu ác.
Ðâu
phải dừng lại ở thất bại này, Ðiều-đạt còn thuê 4
người rồi 32 người và lần nào cũng thất bại.
Tất
cả người Ðiều-đạt thuê để hại Phật, đều đến trước
Phật sám hối và được Phật độ. Họ cũng chứng quả Tu-đà-hoàn
như người đầu tiên đến hại Phật.
Nếp
sống chư Phật là cứ mỗi sáng lúc mặt trời mọc, rời
phòng ra ngoài trời. Sáng hôm ấy, đức Phật bước ra khỏi
phòng và thấy ngay các Tỳ-kheo cầm dao, gậy đứng hai bên.
Ngài liền hỏi:
- Vì
lý do gì các thầy cầm đao, gậy đứng ở đây?
Các
Tỳ-kheo thưa:
- Chúng
con nghe Ðiều-đạt thuê người hại Phật, không an tâm, nên
tổ chức canh giữ khắp nơi trong trú xứ, kể cả nơi đây.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Như
Lai mà bị hoạnh tử là điều không thể xảy ra. Năm hạng
thầy ở đời mới cần sự hộ vệ, chứ Như Lai thì không,
các thầy cứ an tâm đâu về đó, tự bảo hộ lấy tâm mình.
Gián
tiếp không giết được Phật thì phải trực tiếp, Ðiều-đạt
tìm được một người đi với mình rồi cùng leo lên núi
Kỳ-xà-quật. Khi ấy, đức Phật đang kinh hành trên một tảng
đá ở phía dưới núi. Ðiều-đạt nhìn thấy, vội vã sai
người kia xô đá tảng xuống hại Phật nhưng người này
vừa vận dụng tâm xô thì tay chân của y bủn rủn, không
cử động được. Tâm ác của y nhanh chóng đổi thay, ý niệm
lại nghĩ về Phật, về đức độ bao dung to lớn của Ngài.
Với tâm niệm ấy, tay chân ông ta bình phục như cũ. Ðiều-đạt
thấy vậy quát:
- Tại
sao ngươi vô dụng đến thế! Cút ngay cho khuất-mắt ta!
Nhanh
chóng, Ðiều-đạt liền tự tay đẩy một tảng đá lớn xuống
chỗ Phật. Ðá lăn ào ào thì ngay lúc ấy Thần núi tên là
Kim-bính-lô34 xuất hiện, đỡ hòn đá ném ra ngoài xa nhưng
có một mảnh vỡ nhỏ văng trúng ngón chân Phật, làm ngón
chân Ngài chảy máu. Ðức Thế Tôn chứng kiến hành động
như thế, Ngài liền nói với Ðiều-đạt:
- Nay
ông phạm phải việc Vô gián. Nếu ai với ác tâm làm cho thân
Phật bị chảy máu thì chắc chắn đọa vào Vô gián A-tỳ
điïa ngục...
Ðiều-đạt
lại tự nghĩ như vầy: “Ta đã không thể hại được Phật,
nhưng phá hòa hợp Tăng liệu không được sao? Ta thực hiện
được việc này thì dù Phật có đại thần lực, uy danh của
ta lại càng chấn động khắp nơi”. Ðức Phật biết ý đồ
đó, liền chận ngay Ðiều-đạt:
- Ông
chớ nên phá hòa hợp Tăng. Nếu Tăng bị phá và ai có thể
làm hòa hợp lại thì người đó sẽ được sanh lên cõi trời.
Họ nhận lấy một kiếp vui. Còn người nào phá hòa hợp
Tăng thì người đó phải đọa vào địa ngục một kiếp
khổ.
Ðiều-đạt
nghe Phật can răn như vậy, tâm ác của ông chùng xuống và
ý đồ phá Tăng tạm gác lại, nhưng sau một thời gian tâm
ác ấy lại nổi dậy. Ðức Phật lại khuyên can Ðiều-đạt
như trước bằng lời kệ:
Chúng
Tăng hòa hợp vui
Hòa
hợp thường an ổn
Ai
phá hòa hợp Tăng
Một
kiếp địa ngục khổ
Chúng
tăng hòa hợp vui
Hòa
hợp thường an ổn
Hàn
gắng tăng bị phá
Thọ
vui một kiếp trời.
Nếu
chia rẽ riêng biệt
Thường
nói lời bất thiện
Ðể
phá hòa hợp Tăng
Một
kiếp địa ngục khổ.
Không
chia rẽ riêng biệt
Thường
hay nói lời lành
Ðể
hàn gắn Tăng phá
Thọ
vui một kiếp trời
Ðiều-đạt
nghe rồi, tạm thời bỏ tâm phá Tăng nhưng thời gian sau tâm
ấy lại sống dậy mạnh hơn trước. Các Tỳ-kheo nghe Ðiều-đạt
rấp tâm phá hòa hiệp Tăng, liền đến bạch Phật. Phật
cho tập hợp Tỳ-kheo Tăng khiển trách Ðiều-đạt và lời
khiển trách này được Tăng chuyển đến Ðiều-đạt. Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Nên
sai một Tỳ-kheo thân tình với Ðiều-đạt đến khuyên can
lời như vầy: “Thầy đừng phá hòa hợp Tăng, đừng làm
việc phá Tăng, nên cùng Tăng hòa hợp, Tăng hòa hợp nên được
hoan hỷ không tranh cãi, một lòng, cùng học hỏi như nước
với sữa hòa hợp. Cùng nhau phát huy lời thầy dạy về hạnh
an lạc”. Nếu Ðiều-đạt thuận lòng thì tốt, bằng không
thì sai một số đông đến khuyên can. Nếu Ðiều-đạt không
nghe theo thì Tăng nên đến can gián.
Tăng
thực hiện lời dạy này đến lần thứ ba nhưng Ðiều-đạt
vẫn ngoan cố phá Tăng như nhằm trả đũa lại Phật.
Do
bởi sự ngoan cố này mà điều giới về việc phá hòa hợp
Tăng được Phật tuyên bố trước Tăng nhằm loại trừ, về
lâu về dài, sự phá hòa hiệp Tăng.
MỘT
BÈ GỖ HƯ
Ðiều-đạt
phá hòa hiệp tăng không phải không có bè cánh yểm trợ.
Có một số Tỳ-kheo tại thành Vương-xá đã nói ra lời tán
trợ Ðiều-đạt như vầy: “Những gì Ðiều-đạt nói là
Ðiều-đạt biết, chứ chẳng phải không biết mà nói, nói
đúng pháp chứ chẳng nói phi pháp, nói đúng luật chứ chẳng
nói sai luật. Chúng tôi chấp nhận và vui mừng”.
Các
Trưởng lão Tỳ-kheo nghe luận điệu như vậy đã có lời
quở trách, can gián đôi ba phen nhóm Tỳ-kheo này song các thầy
vẫn ngoan cố. Việc này được các Tỳ-kheo trình lên Phật,
lúc Ngài đang lưu trú tại thành Vương-xá.
Trước
Tăng đức Phật kiết giới như sau:
- Tỳ-kheo
nào yểm trợ việc phá hòa hiệp Tăng, hoặc một, hoặc hai,
hoặc số đông, nói với các Tỳ-kheo rằng: Tỳ-kheo này nói
ra vấn đề gì là biết rõ vấn đề đó chứ chẳng phải
không biết mà nói. Nói đúng pháp chứ không nói phi pháp,
nói đúng luật chứ không nói sai luật. Những gì Tỳ-kheo
này đề cập chúng tôi chấp nhận và vui mừng. Trước luận
điệu này, Tăng phải khuyên bảo Tỳ-kheo ấy: “ Thầy đừng
nói những lời như thế. Vì sao vậy? Bởi vì Tỳ-kheo chủ
trương phá Tăng kia xuyên tạc chẳng nói đúng vấn đề. Nói
không đúng pháp, không đúng luật. Các thầy chớ nên vui thích
yểm trợ Tỳ-kheo kia phá hòa hiệp Tăng, nên vui vẻ yểm trợ
làm cho Tăng hòa hợp. Tăng hòa hợp là có niềm vui có sự
hoan hỷ, không xảy ra tranh cãi. Một lòng cùng nhau học tập
như nước hòa với sữa, cùng nhau mở rộng hạnh an lạc mà
Ðạo sư đã truyền dạy.” Can gián lời như vậy mà đương
sự ngoan cố không sửa đổi thì nên can gián lần thứ hai,
lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián mà bỏ yểm
trợ thì tốt, không bỏ thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa35.
MỘT
XA-NẶC TRỜI ÐẤT
Chuyện
này xảy ra lúc đức Phật lưu trú tại nước Câu-xá-di.
Tỳ-kheo
Xiển-đà36 là một cự phách trong nhóm “Lục quần”. Có
những đặc điểm như vầy:
-Vào
nhà Cư sĩ mặc tình nằm ngồi không đúng pháp, thiếu tế
nhị.
- Ăn
riêng chúng, ăn phi thời
- Không
cần thưa với thiện Tỳ-kheo khi vào xóm làng.
Các
Tỳ-kheo thấy tế hạnh của Xiển-đà như vậy nên có lời
chỉ trích:
- Thầy
phạm phép tắc như vậy là có tội. Thầy phải nhìn thấy
sự sai phạm của mình mà sửa đổi sám hối, đừng đánh
mất sự thanh tịnh đối với việc tu phạm hạnh. Không lẽ
thấy sống mãi với sự tối tăm, tội lỗi này mà chịu sự
khổ não sao? Sao đành làm cho các thí chủ mất hết công đức?
Xiển-đà
trả lời:
- Ðại
đức! Các thầy không nên dạy tôi, tôi dạy các thầy mới
phải. Tại sao vậy? Tại vì Pháp Vương Thánh Sư (Thế Tôn)
là chủ của tôi, phép tắc tôi rút ra từ đó, không dính
dự gì đến các Ðại đức. Giống như có trận gió lớn
thổi qua, các thứ rác rưởi dơ bẩn tập trung lại một chỗ.
Tất cả các Ðại đức bao gồm nhiều dòng họ, nhiều gia
đình, nhiều quốc gia xuất gia thì cũng tập trung lại nhiều
thứ như vậy. Tại sao các thầy lại muốn răn dạy tôi?!
Này các Ðại đức! Ðừng nói với tôi điều gì, hoặc tốt,
hoặc xấu, tôi cũng không nói điều gì hoặc tốt, hoặc xấu
với Ðại đức.
Các
thầy Tỳ-kheo lại nói với Xiển-đà:
- Thầy
đừng tự cao! Lẽ nào thầy không dùng lời để cộng tác
với chúng tôi. Thầy nên nói với các Tỳ-kheo những chuyện
tốt, xấu. Các Tỳ-kheo cũng nên nói chuyện với thầy những
điều tốt xấu. Sự trao đổi, chỉ giáo cho nhau rộng rãi
như vậy sẽ làm chuyển đổi, loại ra các dạng tội lỗi,
như thế mới có thể làm nên chúng Tăng của đức Như Lai.
Các
Tỳ-kheo can gián, phân giải như vậy, song Xiển-đà vẫn ngoan
cố không bỏ thói xấu ấy, nên các Tỳ-kheo cùng đưa Xiển-đà
đến chỗ đức Phật, trình bày rõ sự việc lên Ngài.
Trước
Tăng, để làm rõ vấn đề, Phật hỏi lại sự việc đã
xảy ra, và được Xiển-đà xác nhận:
- Thưa
Thế Tôn, sự thật con có hành động như vậy.
Ðức
Phật lại quở trách Xiển-đà:
- Ông
là người ngu si, tại sao ông nói không thể dùng lời hợp
tác xây dựng nhau? Các thầy Tỳ-kheo thấy ông phạm tội,
nên không muốn cùng ông Bố tát, Tự tứ, Yết-ma làm công
việc của Tăng. Vì thế, dũ lòng thương quở trách, can gián
ông, tại sao ông không nghiêm chỉnh chấp nhận?!
Sau
khi quở trách, đức Phật kiết giới nhằm chận đứng tội
lỗi, đem lại lợi ích cho chúng Tăng bất luận là thời gian
nào.
ÐUỔI
RA KHỎI ẤP
Lúc
bấy giờ, nơi ấp Kiết-la37, là một ấp ven thành Xá-vệ,
có hai Tỳ-kheo, một người tên là An-bệ, người thứ hai
tên là Phân-na-bà38, làm nhiều việc xấu, không đúng tư cách
của người xuất gia, như: đến nhà ai thì làm cho người
ta mang tiếng xấu, hành động không đúng oai nghi, tự kết
tràng hoa đeo lên mình, hay chỉ cho người kết tràng hoa để
họ đeo lên người, cùng với người nữ ngồi một giường,
ăn một mâm, ăn thịt, uống rượu, ca múa, đờn hát. Lại
giả làm âm thanh các loài chim, giả làm chim đá nhau. Khi thì
bài bạc, khi thì đi ngã nghiêng như người say, khi thì cười
hi hí, khi thì ném bắt, chỉ tay nheo mắt, làm các trò hề
để treo ghẹo người nữ... Thân, khẩu, ý của họ hiện
hành những việc xấu như thế và như thế là phá giới, phá
kiến, phá oai nghi chánh mạng...
Lúc
đó, có 500 Tỳ-kheo oai nghi hoàn hảo từ nước Ca-di đến
ấp này. Ðến giờ trì bát, họ chia nhau vào thôn khất thực.
Thấy các nhà sư, các Cư sĩ cay đắng thốt lên:
- Các
Tỳ-kheo này từ đâu đến? Sao lại cúi đầu làm thinh giống
như hiếu tử, không biết mở miệng giao tiếp với mọi người.
Ở ấp chúng ta đã sẵn có hai người hiền Tỳ-kheo đủ tài,
lắm nghề, khéo làm đẹp lòng người, đâu có phiền gì để
hạng người này ở lại ấp của ta. Dứt khoát không cho họ
thức ăn, để họ mang bát không mà về.
Vào
thời điểm ấy, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên cũng trên đường
từ Ca-di đến ấp này. Hay tin này, bọn An-bệ lo lắng suy
nghĩ: “Hai vị này đến đây ắt phải nghe việc làm ác nổi
tiếng của chúng ta mà cắt đứt sự cúng dường của chúng
ta. Thế là bọn họ đến nói với các cư sĩ:
- Không
bao lâu nữa sẽ có hai Tỳ-kheo đến ấp mình. Một vị tên
là Mục-liên, rất có tài huyễn thuật, biến hóa, hiển hiện
đủ mọi hình thức. Còn vị kia tên là Xá-lợi-phất, rất
giỏi chú pháp, xảo ngôn, khéo mê hoặc thiên hạ. Các Phật
tử nên cẩn thận đừng bị mê hoặc! Chúng tôi sẽ ở lại
đây. Nếu yêu cầu chánh đáng này không đạt được thì
chúng tôi ra đi.
Các
Cư sĩ nói:
- Các
Trưởng lão cứ an tâm, chúng con sẽ không bao giờ bị họ
mê hoặc.
Ngày
đến ấp, hai vị Mục-liên và Xá-lợi-phất được các Cư
sĩ già, trẻ, lớn, nhỏ đều ra nghinh đón, chào hỏi, cung
kính đảnh lễ rồi họ ngồi sang một bên.
Nhân
lúc ấy, Mục-liên hiện thần thông, biến hóa, chia thân ra
làm trăm ngàn rồi hiệp lại làm một, đi xuyên qua vách tường,
đi trên nước như đi trên đất, ngồi nằm trên hư không
như chim bay liệng, thân đến Phạm Thiên, tay sờ mặt trời,
mặt trăng, phần trên thân tuôn ra lửa, phần dưới thân tuôn
ra nước, phần trên thân tuôn ra nước, phần dưới thân tuôn
ra lửa, hoặc hiện nửa thân, hoặc hiện toàn thân, vọt ra
nơi phương Ðông, lặn nơi phương Tây, vọt ra nơi phương
Tây, lặn nơi phương Ðông, vọt ra nơi phương Nam, lặn nơi
phương Bắc, vọt ra nơi phương Bắc, lặn nơi phương Nam,
vọt ra nơi chính giữa, lặn mất vào một bên, vọt ra nơi
một bên, lặn mất vào chính giữa... Hiện thân biến hóa
rồi, Mục-liên trở lại ngồi chỗ