Phần
04
Mắc
lừa là phải
Kẻ
ăn, người chịu
Đâu
phải tay vừa
Lời
ác đau lòng người
Đâm
bị thóc thọc bị gạo
Không
nói Pháp quá năm, sáu lời
Chơi
nhau đúng pháp
Chê
không phải cách
Ngủ
ở nhà xí là yên chuyện
Khoe
khoang
Thói
hớt hỏng tọc mạch
Phiền
chi phải học luật
Cấm
chặt phá thảo mộc
Cứ
mãi chọc tức
Từ
và địa
Ý
thức trách nhiệm
Thập
thất quần với lục quần
Một
kiểu xúc não cưỡng bức
Thiếu
hệ niệm
Hậu
quả của tham
Giáo
giới ni không được tăng sai
Oan
cho ni
Tỳ
kheo ni- một vấn đề
Lạy
trời đừng nhận
Hết
ngõ nói
Giặc
trấn lột con
Đại
long, tiểu đức
Trưởng
giả bất ngờ
Khi
Sa môn đại hội
Nhất
túc thực
Bài
học từ khất thực
MẮC
LỪA LÀ PHẢI
Thời
Phật, người thành Xá-vệ coi việc đổi chác mọi thứ như
một hình thức kinh doanh. Có lẽ trong Tăng, Bạt-nan-đà cũng
rất rành việc này. Bao giờ lợi lộc cũng thuộc về Bạt-nan-đà
trong việc đổi chác đó.
Ngày
ấy, có một ngoại đạo nhận được một xấp vải đem đến
nhà người bạn nói:
- May
thành y cho tôi.
Người
bạn ngoại đạo nói thế này:
- Nhà
tôi nhiều việc, không thể may được. Sa-môn Thích tử nhàn
công rỗi việc, lại nhận được nhiều y bố thí, có thể
đến đó nhờ may, hay có thể trao đổi y cho họ, song ông
phải cẩn thận, Sa-môn rất dẻo mồm, nổi tiếng là một
nhà buôn, không khéo là bị mắc lừa ấy.
Theo
lời hướng dẫn, ngoại đạo mang đến nơi Tăng đang cư ngụ,
dò hỏi:
- Ai
có thể nhận may y cho tôi không?
Các
Tỳ-kheo nói không thể may được. Ðương sự lại hỏi ngay
Bạt-nan-đà:
- Tôi
nghe Ðại đức có nhiều y đã may xong, có thể đổi cho tôi
một chiếc được không?
Bạt-nan-đà
vốn không ưa gì ngoại đạo, nói:
- Các
ngoại đạo của ông, tâm không dứt khoát, thay đổi xoành
xoạch, đổi được rồi lại nói tốt, xấu lôi thôi. Nếu
sau khi thỏa thuận đổi rồi, không được ì xèo thì tôi
đổi cho.
Ngoại
đạo nói:
- Người
ta thì có thể đổi ý, còn tôi thì khác, chẳng phải nói
tới, nói lui làm gì cho phiền!
Như
đắc ý vì ngoại đạo rơi đúng vào bẫy của Bạt-nan-đà.
Bạt-nan-đà lấy ngay chiếc y cũ được làm mới bằng cách
nhuộm lại trong nước nhớt kiếp-bối29, rồi nghè nén thật
láng sát mặt, trông như y mới may. Ngoại đạo nhìn thấy
ưng ý, chịu đổi vải lấy y. Ðem về trong chúng ngoại đạo,
liền được đồng bạn hỏi:
- Ðã
may thành y chưa? Sao nhanh thế ông bạn?
Ðương
sự trả lời:
- Ðã
đổi được y rồi.
- Ðâu,
đưa chúng tôi xem với?. - Ðồng bạn hỏi.
Ðương
sự liền đưa mọi người xem. Những người ngoại đạo xem
qua đều lên giọng trách:
- Ối
cha! Ðem tấm vải quý giá mà đổi lấy cái y xấu tệ thế
này, khờ sao là khờ! So ra chênh lệch 5, 6 lần giá trị, đừng
để bị thiệt, đổi lấy vải thôi. Chúng tôi sẽ cùng nhau
bỏ công may cho bạn.
Thế
là người ngoại đạo kia liền mang y trả lại, nói với Bạt-nan-đà:
- Ông
là con nhà Thích tử, tại sao lừa dối tôi, đem cái thứ y
xấu tệ thế này đánh tráo cho người ta? Ðổi lại cho tôi
ngay! Nếu không, tôi rao truyền tiếng xấu của ông đó.
Bạt-nan-đà
cười, nói:
- Tôi
biết tâm ngoại đạo không dứt khoát! Hay nói tới, nói lui,
tôi đã không muốn đổi kia mà! Vì ông đã một lời dứt
khoát, cho nên tôi mới theo ý ông mà đổi. Tại sao bây giờ
lại nuốt lời như vậy?! Ông về đi, tôi không đổi lại
đâu!
Ngoại
đạo liền la lớn, rêu rao báng bổ Bạt-nan-đà. Các Cư sĩ
nghe, hỏi:
- Tại
sao thế?
Ngoại
đạo đem sự thể đã xảy ra phân bua cùng mọi người để
chứng tỏ sự mạt sát của mình là đúng.
Nghe
chuyện, các Cư sĩ đều cơ hiềm, chỉ trích thẳng thừng
rằng:
- Người
đời mua bán qua sáu bảy ngày còn đổi được. Tại sao Sa-môn
mới trong chốc lát lại không cho người ta đổi lại là sao?
Hình thức ăn mặc có khác với người đời, song mua bán thì
quá hơn người! Thật khốn nỗi!
Tiếng
xấu ấy lan ra khắp nơi... Lại một lần nữa, Bạt-nan-đà
nhận tội và đức Phật chế giới cấm các Tỳ-kheo không
được kinh doanh mậu dịch dưới mọi hình thức.
Giới
điều này được Phật nói ra tại thành Xá-vệ.
KẺ
ĂN, NGƯỜI CHỊU
Thời
Phật, tại thành Vương-xá lưu thông các loại tiền bằng
vàng, bằng bạc, bằng tạp vật. Bấy giờ Nan-đà, Bạt-nan-đà
đem các loại tiền mua bán các vật dụng để thu lấy các
loại tiền vàng, bạc này...Thành Vương-xá lúc ấy cũng là
nơi bọn cướp dung thân. Họ thường hay lân la, dò tìm, rình
rập các nhà giàu. Việc làm của Nan-đà, Bạt-nan-đà không
qua được mắt họ. Bọn cướp đi đến kết luận: “Quan
sát kỹ nơi ấp lý này thì không ai giàu hơn Sa-môn Thích tử.
Nhưng ở đây cướp được họ không dễ gì! Chi bằng đến
nơi A-lan-nhã cướp của cải Thích tử, chắc dễ thôi!”
Bọn
cướp đến A-lan-nhã vào hôm sau. Họ rình rập rồi khủng
bố, bắt các Tỳ-kheo nơi đây tra khảo để mong lấy được
vàng bạc và các loại tiền.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Chúng
tôi đã xa lìa vàng bạc và tiền, không thu giữ cất chứa
các thứ bất tịnh ấy.
Bọn
cướp nói:
- Các
ông nói láo. Chính tôi thấy Tỳ-kheo dùng nó để mua bán.
Họ tra khảo Tỳ-kheo một trận nên thân rồi lấy hết y,
bát bỏ đi.
Sau
đó, các Tỳ-kheo A-lan-nhã chuyển lời quở trách Nan-đà và
Bạt-nan-đà như vầy:
- Tại
sao hai thầy cất chứa bảo vật làm chi, để đến nỗi gây
tai họa cho chúng tôi!
Sự
việc này dẫn đến Phật chế cấm: “Tỳ-kheo không được
dùng vàng bạc và các loại tiền để trao đổi mua bán”.
Sau đó, có vấn đề xảy ra gián tiếp là nhờ người khác,
kể cả mống tâm cất giữ tiền, vàng cũng được Phật chế
cấm bổ sung.
ÐÂU
PHẢI TAY VỪA 1
Tỳ-kheo
Sa-lan là một Pháp sư tầm cở, thông minh, biện tài. Người
trong bốn chúng, kẻ ngoại đạo không ai có thể sánh nổi.
Khẩu nghiệp của thầy rất linh hoạt, có thể biến điều
trái thành điều phải và ngược lại, biết thì nói chẳng
biết và ngược lại, nhất là để hơn người. Thầy không
ngại xảo ngôn để thắng, dù vấn đề có thật hay không
thật. Các Tỳ-kheo không ai là không thán phục và trong chỗ
đạo tình, các thầy hỏi:
- Thầy
cùng người biện luận lấy cái sai làm cái trúng, như vậy
trong thâm tâm thầy có cho đó là đúng hay sai?
Pháp
sư Sa-lan nói:
- Thật
ra tôi biết điều đó là bậy, nhưng vì sĩ diện, sợ rơi
vào chỗ thua nên phải khéo nói dối thôi.
Trước
sự thật như thế, như để khuyên bảo, các Trưởng lão nhắc
lại lời Phật dạy:
- Ðức
Phật thường khen ngợi người không nói dối, chỉ bảo người
không nói dối. Nay thầy lại nói dối vì muốn hơn người
là điều không nên, là điều sai trái, không thể chấp nhận.
Sự
việc này sau đó được đưa ra trước Tăng, đức Phật quở
trách Sa-lan và Ngài kiết giới cấm không được cố ý nói
dối. Ðức Phật nói giới này taiï thành Xá-vệ.
LỜI
ÁC ÐAU LÒNG NGƯỜI
Lúc
bấy giờ, đức Phật đang lưu trú tại thành Xá-vệ. Các
Tỳ-kheo sống dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Hòa thượng2,
A-xà-lê3hay bậc tương đồng với Hòa thượng, A-xà-lê, nên
siêng năng học hỏi, tiếp thu không biết mệt mỏi, sớm khuya
tu tập. Nhìn thấy sự tiến bộ này, Lục quần Tỳ-kheo sốt
ruột, nhận định vấn đề: “Nay các Tỳ-kheo sống trong
ý thức tiến bộ này, chắc chắn không bao lâu họ sẽ hơn
ta. Từ đó, họ thấy rõ tội lỗi của ta, tỳ vết của ta
không sao che lấp trước sở học của họ. Chúng ta phải cùng
nhau làm cản trở việc này để họ phế bỏ việc học tập
kia”. Thế là Lục quần trực tiếp quậy phá. Lục quần
chia nhau xúc não các Tỳ-kheo rằng: “Thầy là hạng hà tiện,
thuộc giai cấp tiểu nhơn, hạng thợ thuyền. Các thầy từng
làm những việc đại gian ác, không nhân từ, không có hạnh
lành”. Các yếu điểm như bị đánh trúng, các Tỳ-kheo kia
đâm ra thoái chí, ưu não, sống trong mặc cảm, phế bỏ việc
học hành. Nhìn thấy việc làm của mình có kết quả, Lục
quần dương dương tự đắc với mọi người rằng: “Chính
chúng tôi đã phá hoại được việc đọc tụng, tọa thiền,
hành đạo của họ”.
Trước
sự việc này, các Trưởng lão hết sức nghiêm khắc phê phán
Lục quần. Sau đó các vị trình lên đức Phật. Trước Phật
và Tăng, Lục quần thú nhận việc làm của mình. Ðức Phật
quở trách họ và nhân đó, Ngài kể một câu chuyện để
giáo hóa Tăng:
Xưa
kia có một thành, tên gọi là Ðắc-xoa-thi-ca4. Bấy giờ, trong
thành ấy có một người Bà-la-môn nuôi một con bò đực,
sức khỏe của nó thật tốt, đi rất nhanh. Lại có một Cư
sĩ cũng nuôi một con bò, thể trạng của nó giống như bò
kia. Hai nhà đem bò đấu sức nhau. Họ thỏa thuận, con nào
thua phải chung 50 tiền vàng. Người Bà-la-môn được 50 tiền
vàng vì bò họ thắng. Ðể rửa nhục, người Cư sĩ tìm mua
con bò khác, dáng vóc sức khỏe hơn hẳn bò trước. Lại đem
đấu với bò của Bà-la-môn, tiền cược bây giờ đặt gấp
bội. Trước khi thỏa thuận, Bà-la-môn hỏi con bò của mình
rằng:
- Mi
có thể địch nổi với con bò của Cư sĩ kia có sức gấp
bội mi không?
- Có
thể. Con bò trả lời.
Khi
bò của hai nhà vào cuộc đấu, Bà-la-môn ngu, sợ bò mình
thua liền đem lời động viên phản tâm lý rằng:
- Sừng
của mi cong cong sao khổ sở thế?! Cổ của mi sao mà yếu đuối!
Thắng sao nổi, vứt đi thôi! Giờ thì dáng kéo mất cả oai
phong rồi!
Con
bò nghe lời chủ phê phán như thế, sức lực liền suy sụp,
dẫn đến thua con bò của cư sĩ. Ngậm đắng trao 100 tiền
vàng cho Cư sĩ rồi, gã gằn hỏi bò:
- Bảo
có thể, giờ thì thua, vì sao vậy?
Con
bò đáp:
- Thật
sự tôi đủ khả năng thắng, nhưng cái kiểu động viên nhục
mạ của ông làm tôi mất hết khí thế, nên nhanh chóng kiệt
sức, kéo hết nổi. Bây giờ thì có thể thách đấu lại,
tiền cược gấp đôi vừa rồi. Khi tôi dốc toàn sức kéo
trăm xe ngược lên triền núi cao thì ông khéo lời khuyến
vỗ tôi, như khen cặp sừng tôi cong vút phi thường, dáng kéo
của tôi ngoạn mục, thể hình tôi lẫm liệt oai phong, dư
sức kéo trăm xe vượt dốc núi như chơi, và điều này sẽ
làm cho ông thắng cuộc. Và quả thật, người Bà-la-môn sau
cùng đã thắng cuộc, bởi khéo dùng lời động viên đầy
khích lệ kia. Nhân việc này, đức Phật liền nói kệ:
Lời
thiện vừa lòng nhau
Lời
ác đau lòng người
Súc
sanh nghe lời khéo
Vui
kéo nặng lên đồi
Vô
địch sức này thắng
Thắng
cuộc rạng lòng vui
Huống
chi đối với người
Khen
chê quyết thành bại
Này
các Tỳ-kheo! Loài súc sanh kia nghe lời hủy báng còn mất sức
kéo, huống là đối với người. Nay Ta chế giới: nghiêm cấm
sự báng bổ nhau.
ÐÂM
BỊ THÓC, THỌC BỊ GẠO
Lúc
bấy giờ, đức Phật vẫn còn lưu trú nơi thành Xá-vệ. Cũng
với tâm địa ích kỷ, Lục quần cứ lo sợ số đông Tỳ-kheo
siêng năng tu học kia, ngày gần đây sẽ hơn mình về nhiều
mặt, cho nên tìm cách gây trở ngại. Lục quần tìm cách đâm
thọc, ly gián. Họ đến Tỳ-kheo này nhỏ to rằng:
- Thầy
với tôi là chỗ quen biết thân tình, cho nên tôi cảm thấy
xấu hỗ khi Tỳ-kheo kia bảo thầy là hạng hạ tiện, con nhà
thợ thuyền, thấp hèn nhỏ mọn, từng làm việc gian ác, không
nhân từ, không có bản chất tốt. Ðánh giá thầy như vậy,
chẳng khác nào họ đánh giá tôi...
Sau
đó, Lục quần đến kết thân với Tỳ-kheo ấy cũng kích
đọâng những lời như vậy. Hai bên nghe như thế, đâm ra
hoang mang, giao động, xao nhãng ngay việc học hành, tu tập.
Các Tỳ-kheo này bắt đầu giận nhau, không buồn đếm xỉa
ngó mặt nhau... Nhìn thấy cảnh lạnh lùng đột biến này,
Tỳ-kheo này hỏi Tỳ-kheo kia:
- Tại
sao thầy xa lánh, không thích nói chuyện với tôi?
Tỳ-kheo
kia trả lời rằng:
- Có
người cho biết, thầy bảo tôi là người xấu đủ điều.
Vị
này gằn hỏi lại:
- Ai
nói vậy?
- Lục
quần bảo thế. - Tỳ-kheo kia đáp lời. Vị kia liền bảo:
- Lục
quần Tỳ-kheo cũng nói rằng các thầy nói tôi xấu chẳng
ra chi!
Các
Trưởng lão nắm được sự việc này, liền khiển trách Lục
quần Tỳ-kheo. Sau đó, vấn đề được bạch lên Phật. Trước
Phật và Tăng, Lục quần thú nhận sự thật ly gián của mình.
Ðức Phật quở trách:
- Các
ông là người ngu si, tại sao cùng sống trong một giáo pháp
mà lại đâm thọc để gây chia rẽ, ly gián nhau?
Nhân
đó, để giáo hóa kẻ ngu, Ngài dẫn chuyện xưa, Ngài nói:
- Thuở
đời quá khứ có một sư tử tên là Thiện Nha và một con
cọp tên là Thiện Trảo, cùng nhau kết bạn thân tình... Có
một con chồn rừng thường đi theo đôi bạn kia để ăn đồ
thừa, nhưng chẳng bao giờ sư tử và cọp nói chuyện với
nó. Một thời gian sau, chồn có nhận xét: “Hai con thú này
rất ái trọng nhau, ta phải tìm cách gây rối để thừa hưởng
thức ăn dư của hai bên được nhiều hơn”. Chồn thực hiện
kế hoạch bằng cách lân la đến cọp, nói kệ rằng:
Thiện
Trảo, ông hùng mạnh
Sắc
tướng lại oai phong
Thiện
Nha nói ông xấu
Tôi
nghe chẳng vui lòng.
Sau
đó, chồn cũng đến bên sư tử nhỏ to vần kệ:
Thiện
Nha, ông hùng dũng
Sắc
tướng lại oai phong
Thiện
Trảo nói ông xấu
Tôi
nghe không vui lòng.
Hai
con thú sau khi nghe lời chồn, đâm ra lạnh lùng với nhau, nhưng
Thiện Nha thông minh hơn, nhìn thấy vấn đề, nên có suy nghĩ:
“Thiện Trảo không chắc đã nói như vậy. Biết đâu chồn
rừng muốn gây đấu loạn nội tình để thủ lợi?”. Thiện
Nha thử khai thác tìm hiểu. Ngày ấy, Thiện Nha bắt được
con trâu nghé, mang đến cho Thiện Trảo. Thiện Trảo im lặng
không nhận ăn. Hiểu được vấn đề, Thiện Nha nói trắng
âm mưu ly gián của chồn để Thiện Trảo hiểu được sự
thâm độc kia, nhằm bảo tồn tình thân ái, bằng lời kệ
như sau:
Mồi
ngon tôi đem biếu
Cớù
sao bạn không dùng?!
Tình
thân không hề lỗi
Sao
xoay mặt buồn ngơ?!
Lời
chồn, kẻ vô tín
Cốt
ly gián tình ta
Tin
theo, ôm tình hận
Rồi
ra thành oán cừu
Việc
này chẳng ai khác
Chính
chồn rừng gièm pha
Kẻ
hèn mọn rối ta
Nay
phải tìm giết vậy.
Ðức
Phật bảo các Tỳ-kheo:
- Súc
sanh còn coi việc gây rối, ly gián là tội ác, huống chi con
người, sao lại làm việc này?! Từ nay, Ta vì các Tỳ-kheo
kiết giới cấm không được nói lời gây rối, đâm thọc.
KHÔNG
NÓI PHÁP QUÁ NĂM, SÁU LỜI
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú nơi thành Xá-vệ. Trong thành
có rất nhiều nhà cư sĩ, nhưng Tỳ-kheo Bạt-nan-đà lại thường
hay lui tới chỉ một nhà Cư sĩ nọ để nói pháp, lo liệu
việc quan, cứu chữa ốm đau, bệnh tật, khổ não...Tuy nhiên,
gia đình này gặp buổi suy tàn, nên một thời gian sau dẫn
đến kiệt quệ, ly tán. Trong nhà chỉ còn lại một mẹ chồng
và một nàng dâu. Vì tình thân hậu, nên Bạt-nan-đà nói pháp
cho mẹ chồng nghe, nhưng khi con dâu đến thì Bạt-nan-đà lại
dừng. Và mỗi khi nói pháp cho con dâu nghe, mẹ chồng đến,
Tỳ-kheo cũng thôi không nói nữa. Ðiều này dẫn đến nghi
kỵ nhau, mẹ chồng nghĩ con dâu có tình ý, thông đồng bất
tịnh với Bạt-nan-đà, và ngược lại cũng thế. Mẹ chồng,
nàng dâu trở nên gay gắt, rêu rao nói xấu sự nghi ngờ ấy
khắp nơi. Những người không có lòng tin kính Phật pháp,
cơ hiềm nói: “Sa-môn Thích tử làm hạnh phi pháp, còn hơn
cả hạng người dâm đãng ở thế gian. Họ không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn”.
Khi
sự việc này được các Trưởng lão trình lên đức Phật,
Bạt-nan-đà bị khiển trách và đức Phật chế cấm trường
hợp nói pháp này.
Sau
đó, giới này được bổ sung bởi nhân duyên sau: Lúc bấy
giờ, có một Tỳ-kheo oai đức vào thành khất thực, đến
nhà một gia đình nọ. Người nữ chủ nhân trải tòa mời
Tỳ-kheo ngồi. Bà thiết cúng một bữa cơm đầy đủ. Sau
bữa cơm, bà ta lấy chiếc ghế gỗ nhỏ ngồi trước Tỳ-kheo,
thưa:
- Xin
Ðại đức vì con nói pháp.
Sau
khi quan sát, Tỳ-kheo biết người nữ này không còn bao lâu
nữa sẽ trúng gió chết, và đọa vào địa ngục. Nếu được
nghe pháp thì bà ta có thể từ chỗ ngồi xa trần lìa cấu.
Biết thế, nhưng nghiệt nỗi, Phật đã chế cấm: “Trước
đối tượng là người nữ, không được thuyết pháp”, cho
nên Tỳ-kheo đành nói lời an ủy, từ chối rồi ra về...
Ðúng như điều Tỳ-kheo suy nghĩ, nữ gia chủ ấy không lâu
sau đó trúng phong chết. Trước các Tỳ-kheo, rồi tiếp đến
là Phật, vị Tỳ-kheo oai đức kia trình bày cảnh thương tâm
ấy đã không được cứu độ. Ðức Phật hỏi:
- Nếu
vì phụ nữ đó thuyết pháp, thì ông cần nói bao nhiêu lời
để họ hiểu được vấn đề?
- Chừng
năm, sáu lời5 là họ hiểu được. Bạch Thế tôn!
Do
nhân duyên này, đức Phật chế giới bổ sung, tức cho phép
nói pháp năm, sáu lời. Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa rốt
ráo, chẳng hạn như nói đủ năm, sáu lời mà người nữ
chưa hiểu thì sao? Hay trong số đông nữ có người nam, thì
có cho phép Tỳ-kheo thuyết quá năm, sáu lời không? Giới điều
được Phật nói bổ sung, sau cùng cho thấy sự chặt chẽ
của nó: “Tỳ-kheo nào vì người nữ nói pháp quá năm, sáu
lời, trừ có người nam biết phân biệt được lời nói thiện
ác, phạm Ba-dật-đề 6”.
Cũng
từ trong phần duyên khởi của giới này, đức Phật cho phép:
“Từ nay cho phép người nữ thọ Tam qui, Ngũ giới, Tám phần
giới, vì họ thuyết Mười điều thiện, Mười điều bất
thiện”.
CHƠI
NHAU ÐÚNG PHÁP
Lúc
bấy giờ, đức Phật đang lưu ngụ tại thành Xá-vệ. Một
dạo, Lục quần Tỳ-kheo có được thế thượng phong, còn
các thiện Tỳ-kheo thiếu đi thế mạnh này. Do vậy, Lục quần
Tỳ-kheo thường cản ngăn năm loại Yết-ma: Yết-ma ha trách7,
Yết-ma khu xuất8, Yết-ma y chỉ 9, Yết-ma cử tội10, Yết-ma
hạ ý11. Tỳ-kheo nào bị năm Yết-ma này, Tăng muốn giải
cũng bị Lục quần ngăn chận không cho. Sau đó, Lục quần
Tỳ-kheo mất thế mạnh, các thiện Tỳ-kheo lại có thế thượng
phong. Chúng Tăng có việc, cần Yết-ma, nhân lúc Lục quần
Tỳ-kheo đang may y, các Tỳ-kheo nói:
- Phải
gọi Lục quần Tỳ-kheo đến để cùng Tăng làm Tăng sự.
Nếu các vị bận may y, không đến được thì Chúc thọ12.
Ðiều này cho phép chúng ta được như pháp mà giải quyết
việc.
Khi
Tăng tập, có người đến mời, Lục quần Tỳ-kheo bận việc
may vá nên sai một người đến trước Ðại chúng chúc thọ.
Hội đủ sự hợp pháp, Tăng cần thực hiện 5 thứ Yết-ma,
thì liền cùng nhau tác bạch 5 thứ Yết-ma. Tăng cần giải
5 thứ Yết-ma, thì liền tác bạch giải 5 thứ Yết-ma...Yết-ma
xong, vị Tỳ-kheo chúc thọ kia về lại chỗ Lục quần Tỳ-kheo.
Lục quần hỏi vị ấy:
- Tăng
làm việc gì?
- Tăng
làm việc Yết-ma, Yết-ma điều chúng ta không muốn Yết-ma,
ngược lại điều chúng ta muốn Yết-ma thì Tăng không làm
Yết-ma. Nói khác hơn, Tăng cùng nhau Yết-ma giải quyết những
việc Tăng, theo sự đề xuất của Tăng.
Thua
trí, tìm cách gỡ gạc, Lục quần đến các Tỳ-kheo bị Yết-ma
phân bua:
- Các
thầy đừng lo buồn, chúng tôi sẽ trợ lực cho các thầy.
Vừa rồi, vì chúng tôi không biết các thầy rơi vào trường
hợp bị Yết-ma, nên mới chúc thọ. Nếu biết thế, chúng
tôi bỏ ngay việc mà đến, thì làm gì hội đủ duyên để
Yết-ma thành tựu?!.
Lục
quần lại đến chỗ Tỳ-kheo được giải Yết-ma, nói:
- Tôi
không chấp nhận cho thầy giải Yết-ma, không nhận sự sám
hối của thầy.
Làm
khơi dậy việc Tăng đã giải quyết nhằm gây mâu thuẩn,
đấu tranh của Lục quần Tỳ-kheo đã bị các Trưởng lão
và đức Phật khiển trách một cách nghiêm khắc, và Ngài
chế giới cấm hành động thiếu xây dựng này.
CHÊ
KHÔNG PHẢI CÁCH
Từ
thành Xá-vệ, đức Phật cùng với 500 Tỳ-kheo đến ấp A-trà-tỳ
(A-trà-bệ). Bấy giờ, nơi ấp có một Cư sĩ nọ suy nghĩ:
“Ðức Phật lâu lắm mới đến đây, chưa được gặp thì
Ngài lại sắp đi. Ta nên đến gần gũi các Tỳ-kheo để học
tụng kinh kệ, thưa hỏi những điều chưa hiểu, ngõ hầu,
sau khi Thế tôn đi, ta có chỗ nương tựa”. Cư sĩ liền đến
nơi ngụ của Tỳ-kheo, thưa:
- Ðại
đức dạy cho con đọc tụng kinh kệ.
- Ðức
Phật chưa cho phép chúng tôi hướng dẫn người Cư sĩ tụng
kinh. Các Tỳ-kheo nói.
Việc
này, sau đó các Tỳ-kheo bạch lên Phật và Ngài cho phép.
Sau
khi biết cách đọc tụng, các Cư sĩ hòa âm thật rập ràng.
Nhưng các Tỳ-kheo từ nhiều nước ngồi lại cùng nhau đọc
tụng, vì thổ ngữ không đồng, nên âm thanh chõi nhau, không
ăn rập, các Cư sĩ có phần tự phụ, chê trách rằng:
- Tại
sao các Tỳ-kheo lúc nào cũng gần gũi, chung đụng nhau mà không
phân biệt được giọng nào là giọng nam, giọng nào là giọng
nữ, giọng nào là của kẻ huỳnh môn13, của người hai căn14...
kể cả ngữ pháp tối thiểu cũng chẳng biết!
Các
Tỳ-kheo nghe lời phê phán này rất lấy làm xấu hỗ. Vấn
đề được bạch lên Phật và trước Tăng, sự thật được
xác nhận. Ðức Phật liền cho chuyển lời quở trách của
Ngài đến các Cư sĩ như sau: “Các ngươi là người ngu si,
tại sao lại hiềm trách, chê bai âm ngữ của Tỳ-kheo thuộc
nhiều nước khác nhau, tụng kinh không ăn rập?!”. Ðức Phật
lại dạy các Tỳ-kheo: “Từ nay không được chỉ dạy người
chưa thọ Cụ túc cách đọc tụng”.
Không
lâu sau đó, có Cư sĩ đến xin học cách tụng kinh, các Tỳ-kheo
nói:
- Các
người đã mỉa mai chê trách âm thanh đọc tụng của chúng
tôi, đâu có cần đến học, nay các người đến cầu xin,
chỉ uổng công mà thôi!
- Thưa
Ðại đức! Con không hủy báng Phật pháp, cũng không cầu
phước điền nào khác, lẽ nào vì cái lỗi của người kia
mà không dạy cho con cách đọc tụng! - Cư sĩ thưa.
Lại
một việc khác: Có các Sa-di mong muốn đọc tụng kinh, nên
xin được hướng dẫn. Các Tỳ-kheo nói:
- Chờ
thọ Cụ túc rồi mới dạy cho các ông.
- Chúng
con xuất gia rồi, cần phải biết cách đọc tụng kinh kệ!
Tại sao phải đợi thọ Cụ túc xong mới dạy việc đọc
tụng? - Các Sa-di thưa.
Sau
đó, sự việc này được bạch lên Phật. Trước các Tỳ-kheo,
đức Phật dạy:
- Nay
cho phép dạy người chưa thọ giới Cụ túc đọc tụng kinh,
nhưng không được đồng tụng.
(Thầy
đọc hết một câu, trò mới đọc lặp lại).
NGỦ
Ở NHÀ XÍ LÀ YÊN CHUYỆN
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại ấp A-trà-tỳ. Các Cư sĩ
nghe Phật sắp đi nên đến thăm, tạm nghỉ ở các phòng Tỳ-kheo.
Nơi đây, các Cư sĩ cùng các Tỳ-kheo ngồi thiền, hoặc cùng
kinh hành, đầu đêm cuối đêm không ngủ. Có một Tỳ-kheo
không chuyên cần hệ niệm, nên ngủ say như chết, đạp tuột
chiếc y ra khỏi người, để lộ “cương hình”. Cư sĩ thấy,
lấy y phủ lại. Ðến ba lần như vậy, Cư sĩ bèn nổi giận,
chê trách:
- Những
người này thường nói dục tâm là điều đáng chê trách,
nay để lộ “cương hình” mãi, phải chăng họ không vui
sống với đạo, sao không chịu hoàn tục cho rồi?!
Tỳ-kheo
kia nghe lời này, cảm thấy vừa xấu, vừa nhục. Các Tỳ-kheo
Trưởng lão cũng thấy tàm quí vô cùng. Sau đó, các vị đem
vấn đề và cả đương sự lên trình đức Phật. Trước
Tăng, Tỳ-kheo đương sự thú nhận sự việc ấy là sự thật.
Ngài quở trách Tỳ-kheo rồi nói:
- Ta
thường khen ngợi người ngủ không có tâm tán loạn, thì
không có năm điều xấu xảy ra. Nay ông ngủ, tại sao không
nhiếp niệm? Tỳ-kheo, ở chỗ kinh hành, ngồi thiền, đứng,
ngồi, nằm... chẳng có oai nghi thì người nào trông thấy
hẳn không vui, không sanh lòng tin, hoặc đã có lòng tin thì
lòng tin bị suy thoái. Như vậy, chẳng phải là gương mẫu
làm ánh sáng cho đời?
Ðức
Phật lại dạy các Tỳ-kheo:
- Từ
nay các thầy không cùng với người chưa thọ đại giới ngủ
ở một chỗ.
Do
bởi lý do này, sau đó các Cư sĩ đến chỗ Tỳ-kheo để cùng
ngồi thiền, bị các Tỳ-kheo mời ra, không cho vào phòng. Các
Cư sĩ thưa:
- Chúng
con không muốn thấy Ðại đức xua đuổi như thế! Chúng con
không tìm cầu phước điền nào khác, mà chỉ mong nương nhờ
Ðại đức, không lẽ chỉ một người có lỗi lại đuổi
bao nhiêu người tốt còn lại?!
Do
sự từ chối này, ngày ấy có một số Cư sĩ khỏe mạnh,
tự đột nhập vào phòng Tỳ-kheo. Không ngăn cản được,
các Tỳ-kheo bèn ra ngoài trời ngủ, bị muổi mòng, gió, mưa,
bụi đất làm khổ não.
Bấy
giờ, đức Phật từ ấp A-trà-tỳ đến nước Câu-xá-di,
Ngài ngụ lại ở vườn Cù-sư-la15. Riêng La-hầu-la, một mình
đến một căn phòng nơi Ba-kỳ-la, dọn dẹp, rưới nước,
lau quét sạch sẽ, trải tọa cụ, lấy nước để dùng, đâu
đó tươm tất, La-hầu-la đóng cửa lại rồi đến chỗ Phật.
Căn phòng này, sau đó được Tỳ-kheo quản lý giao lại cho
một vị khác. Tỳ-kheo này nhận ở. La-hầu-la đầu đêm nghe
pháp xong, trở về lại căn phòng đã bỏ công dọn dẹp trước
đó. Nghe tiếng động, Tỳ-kheo ấy hỏi:
- Ai
đó?
La-hầu-la
trả lời:
- Tôi
là La-hầu-la.
- Ông
đến đây có việc gì?
- Phòng
này là của tôi.
- Tỳ-kheo
quản lý đã giao cho tôi rồi. - Tỳ-kheo kia bảo thế.
- Phòng
này trước đây tôi đã thu dọn làm vệ sinh,trải sẵn ngọa
cụ... Tôi chỉ tạm đến chỗ Phật nghe pháp, trước mắt
nó là sở hữu của tôi, xin trả lại cho tôi!. - La-hầu-la
nói.
- Tuy
ông đã dọn dẹp đâu vào đó, song tôi là Thượng tọa nên
phòng này tôi được ở. - Vị Tỳ-kheo ấy nói.
- Thưa,
tôi có thể cùng ở tạm được không?. - La-hầu-la hỏi.
- Không
được. - Vị ấy trả lời.
La-hầu-la
xin ngồi, đứng trong phòng, hay ở tạm ngoài hành lang đều
không chấp nhận. Trong thế cùng này, La-hầu-la nảy ra ý nghĩ:
“Ta đến phòng nào khác, rồi cũng như vậy, chỉ còn cách
là đến ngủ nơi nhà vệ sinh là yên chuyện”. Nhưng chuyện
không yên với sự chọn lựa đơn giản này của La-hầu-la.
Trong nhà vệ sinh có một con rắn mun đang sống trong ngõ ngách
ở đây... Do thiên nhãn của Phật, Ngài thấy được hành
động của La-hầu-la, liền có suy nghĩ: “Nếu Ta không đến
thì chỉ trong chốc lát, La-hầu-la sẽ bị rắn cắn chết”.
Ðức Phật liền đến nhà vệ sinh, khảy móng tay, tằng hắng.
La-hầu-la cũng khảy móng tay, tằng hắng.
- Ai
đó?. - Ðức Phật hỏi.
- Thưa,
con là La-hầu-la.
- Tại
sao con ở nơi đây?. - Ngài hỏi.
La-hầu-la
liền kể lại sự việc đã xảy ra để trả lời câu hỏi
của Phật. Biết rõ sự việc như vậy, đức Thế tôn dẫn
La-hầu-la về phòng của Ngài... Sáng ngày, Ngài cho tập Tăng
và xác minh rõ sự việc. Thượng tọa kia thú nhận:
- Thưa
Thế tôn, sự thật đúng như vậy.
Ðức
Phật nghiêm khắc quở trách:
- Ông
là người ngu si, làm sao con cáo rừng có thể xua đuổi nổi
con sư tử. Sau khi khiển trách, đức Phật kết hợp với chuyện
Cư sĩ vào phòng, Tỳ-kheo ra ngoài trời ngủ, Ngài kiết giới
không cho phép Tỳ-kheo cùng với người chưa thọ đại giới
ngủ quá hai đêm16 trong phòng Tỳ-kheo.
KHOE
KHOANG
Mùa
An cư năm ấy, toàn thành Tỳ-xá-ly gặp phải nạn hạn hán
mất mùa, đói kém xảy ra. Các Tỳ-kheo, tùy theo chỗ quen biết,
phân tán mỏng để có thực phẩm tối thiểu dùng vào việc
tu tập, an cư. Riêng các Tỳ-kheo an cư ven sông Bà-cầu-mạt17
thì rất đầy đủ, sung túc nhờ thủ thuật khen nhau mình
chứng quả này, quả nọ...trước những người Phật tử
ở đây. Nhưng sự thật này, sau mùa an cư lại phơi bày bởi
sự thú nhận của chính các Tỳ-kheo ấy trước Phật và Tăng.
Ðức Phật hết sức nghiêm khắc quở trách sự hư dối này,
và dù có chứng quả đi nữa cũng không nói ra sở đắc ấy
trước người chưa thọ đại giới. Ðức Phật chế giới
cấm này tại thành Tỳ-xá-ly.
THÓI
HỚT HỎNG TỌC MẠCH
Lúc
bấy giờ, có các Tỳ-kheo phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa18, hoặc
vì cố ý xuất bất tịnh, hoặc rờ rẫm người nữ, hoặc
trước người nữ nói lời thô tục, hoặc tự khen mình để
chiếm cảm tình người nữ, mong họ hiến dâng thân xác. Trong
số các Tỳ-kheo phạm tội, có người đến Tăng xin Biệt
trú19, Tăng cho Biệt trú, hoặc thi hành Ma-na-đỏa20 hoặc hành
Bổn nhật21, hoặc có người xuất tội22. Trong chúng, Lục
quần Tỳ-kheo châm biếm các vị này, khiến các vị này càng
thêm tủi nhục, xấu hỗ...
Nhưng
chưa hết, Lục quần không buông tha. Ngày ấy, có người Ðàn-việt
mời Tăng thọ trai. Người gia chủ này lại rất trọng một
vị Tỳ-kheo phạm tội cố ý xuất bất tịnh, đã bị Tăng
cho Biệt trú, nên trải riêng cho vị này một tọa cụ tốt.
Lục quần đến sớm hơn, lại ngồi ngay lên tọa cụ ấy.
Gia chủ liền thưa:
- Xin
đừng ngồi lên tọa cụ này vì chỗ này tôi chỉ dành riêng
cho một vị Tỳ-kheo quen thân của tôi rồi.
Lục
quần Tỳ-kheo liền bảo:
- Tỳ-kheo
kia không nên ngồi vào chỗ ngồi này.
- Nên
hay không nên tôi tự biết được điều đó. - Cư sĩ thưa.
- Vị
kia, trước đây thì nên ngồi chỗ này, còn bây giờ thì lại
phải ngồi vào chỗ thấp nhất. - Lục quần Tỳ-kheo nói.
- Vì
lý do gì vậy? - Cư sĩ lại hỏi.
- Tỳ-kheo
ấy có tội. - Lục quần nói.
- Phạm
tội gì? - Cư sĩ lại hỏi.
-Tội
cố ý xuất bất tịnh. - Lục quần đáp.
Cư
sĩ thất vọng cơ hiềm, mỉa mai:
- Các
Sa-môn này thường ba hoa rằng: Trừ bỏ tư tưởng dục,chấm
dứt lửa dục, cắt đứt cảm giác dục, nay lại như thế
này thì còn gì để nói. Họ làm ô uế đạo, không có hạnh
Sa-môn, phá pháp Sa-môn.
Lời
cơ hiềm này không mấy chốc đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo,
và các Ngài đã quở trách thói xấu này của Lục quần. Sau
đó, sự việc được bạch lên Phật. Lại một lần nữa,
trước Tăng, đức Phật nghiêm khắc khiển trách Lục quần
và Ngài chế giới. Giới này sau đó được hai lần bổ sung
mới hoàn chỉnh như sau: “Tỳ-kheo nào biết Tỳ-kheo khác
phạm tội Thô ác (Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa) mà nói cho người
chưa thọ giới Cụ túc biết thì phạm Ba-dật-đề”.
PHIỀN
CHI PHẢI HỌC LUẬT
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Trước Tăng,
Ngài rất khéo léo khen ngợi Tỳ-ni, khen ngợi người tụng
Tỳ-ni, khen ngợi người cẩn trọng gìn giữ Tỳ-ni. Ngài khen
ngợi Ưu-ba-ly trì luật nên có được 5 công đức:
1-
Tự mình kiên cố hộ trì giới phẩm.
2-
Có khả năng giải tỏa nghi ngờ của người biết tàm quí.
3-
Tự mình có chỗ đứng tốt trong chánh pháp.
4-
Khi cần nói giữa Tăng thì rất bản lĩnh.
5-
Hàng phục được oán địch.
Qua
sự khen ngợi này, các Tỳ-kheo lại có ý nghĩ: “Ðức Phật
đã vì chúng ta mà dạy như vậy, tại sao chúng ta không siêng
năng đọc tụng, học hỏi Tỳ-ni?”. Bởi thế, đêm ngày
các Tỳ-kheo dốc sức tụng tập rất chuyên cần.
Thấy
thế, Lục quần Tỳ-kheo sanh lòng đố kỵ, tự nghĩ: “Nay
các Tỳ-kheo siêng năng học hỏi, đọc tụng Tỳ-ni, chắc
chắn họ hiểu rõ các tội tướng, thấy cái lỗi của chúng
ta, cuối cùng làm tổn hại ta. Nay ta hợp tác, tìm cách chê
bai Tỳ-ni, chỉ trích người học Tỳ-ni, khiến họ mất hết
cảm hứng, xao nhãng việc học tập, nghiên cứu này”. Lục
quần bèn đến các Tỳ-kheo hỏi:
- Thầy
đọc tụng thứ gì đó?
- Ðọc
tụng Tỳ-ni. - Các thầy trả lời.
Lục
quần phê phán:
- Phiền
gì phải học tập, đọc tụng các giới linh tinh ấy? Sao không
đọc tụng 5 ấm, 6 nhập v.v... và các nghĩa của kinh? Ðọc
tụng Tỳ-ni thì bất quá cũng chỉ bốn việc, mười ba sự,
hai pháp bất định, chẳng cần phải biết nhiều làm gì!
Biết nhiều càng mang phải cái tội nghi ngờ kẻ khác mà thôi!
Như
đánh đúng chỗ yếu, các Tỳ-kheo đồng ý: “Biết nhiều,
nghi nhiều, chúng tôi cũng thấy như vậy!”
Chất
xúc tác này liền có hiệu lực, các Tỳ-kheo ấy chểnh mảng,
thôi không tụng tập nữa. Lục quần Tỳ-kheo tự mãn, bảo
nhau:
- Chúng
ta đã thắng lợi, sự an lạc sẽ đến với chúng ta, kết
quả thật thỏa mãn...
Hành
động này của Lục quần Tỳ-kheo được đưa ra trước Tăng
phê phán, xử lý. Sau đó, đức Phật chế giới cấm chỉ
việc làm tiêu cực này.
CẤM
CHẶT PHÁ THẢO MỘC
Từ
nước Câu-tát-la, đức Phật cùng 500 Tỳ-kheo đi về ấp A-trà-tỳ.
Hay tin Phật sắp đến, các Tỳ-kheo có suy nghĩ: “Trong ấp
này, các Cư sĩ không có lòng tin kính Phật pháp, lại không
có giảng đường. Phật và Ðại chúng về đây sẽ ở nơi
đâu?”. Các vị liền họp lại để có quyết định chung,
ấy là cùng chung sức tìm kiếm các vật liệu, kể cả đốn
cây, cắt cỏ để xây dựng một ngôi nhà lớn. Việc làm
này vấp phải sự chỉ trích của Cư sĩ rằng:
- Chúng
ta là Cư sĩ, đốn phát cây cỏ còn không nỡ lòng, huống
hồ người xuất gia, lẽ nào làm như vậy? Bọn người này
thường nói từ tâm, kham nhẫn, hộ niệm chúng sanh, nay lại
chặt phát cây cỏ, làm cái việc tổn thương, vô đạo. Họ
đánh mất hạnh Sa-môn, phá pháp Sa- môn.
Sau
khi đến ấp, đức Phật vào nhà giảng đường mới cất,
rồi ngồi vào tòa. Ngài hỏi các Tỳ-kheo:
- Nhà
này ai đứng ra xây dựng?
- Chúng
con tự xây dựng. - Các Tỳ-kheo thưa.
- Ai
chặt phát cây cỏ? - Ðức Phật lại hỏi.
- Chúng
con tự chặt. - Các Tỳ-kheo thưa.
Ðức
Phật liền nghiêm khắc quở trách:
- Các
ông là người ngu si! Các ông không nên làm việc này, sanh
mạng trong cây cỏ thiết tưởng cũng giống như sanh mạng
con người. Các ông làm việc này chẳng khác nào gieo cái ác
vào lòng người.
Ðức
Phật nghiêm cấm Tỳ-kheo làm việc này. Ngài nói giới bổ
sung như vầy: “Tỳ-kheo nào, tự mình sát hại sự sống cây
cỏ, hoặc sai bảo người đốn chặt, phạm Ba-dật-đề”.
Việc
lại xảy ra, vào dịp nọ, các Tỳ-kheo có ý định làm phòng
xá mới. Ý định này như hội đủ, vì có Cư sĩ đến xem
xét chỗ xây cất, nói với Tỳ-kheo:
- Lành
thay! Ðại đức, vật liệu làm phòng xá này con xin cúng hết.
Các vị nên sớm hoàn thành việc xây cất để chúng con được
phước cúng vật dụng.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Ðức
Phật không cho phép chúng tôi đích thân, hoặc nhờ người
chặt cây cỏ, thì làm sao hoàn thành sớm nỗi?!
Bởi
thế, Tỳ-kheo rất thiếu thốn nhà ở, còn trong vườn, ngoài
sân cỏ tốt lút đầu... Không những thế, tăm xỉa răng lấy
từ cây cỏ cũng bị ảnh hưởng, không có dùng. Khi vấn đề
bạch lên đức Phật, Ngài liền cho tập Tăng rồi bảo:
- Có
4 loại mầm sống: Mầm sống do gốc, mầm sống do nhánh, mầm
sống do lóng, mầm sống do hạt. Phàm các loại cây cỏ đều
do bốn loại mầm sống này mà sinh trưởng. Nếu Tỳ-kheo cần
dùng loại cây cỏ nào thì nói với Tịnh nhơn như vầy: “Người
biết việc này cho”. Nếu Tịnh nhơn không hiểu ý nghĩa,
nên lập lại: “Người xem cho việc này”. Nếu cũng không
hiểu thì lập lại: “Tôi cần việc này”. Nếu không hiểu
nữa thì nói: “Cho tôi việc này”. Từ nay giới này được
nói như sau: “Tỳ-kheo nào tự mình chặt phá “quỉ thôn”23
hoặc sai khiến người, nói: “Chặt cái này” thì phạm Ba-dật-đề”.
CỨ
MÃI CHỌC TỨC
Lục
quần Tỳ-kheo, gần như lúc nào cũng phạm tội, phá vỡ oai
nghi, muốn sao thì làm vậy. Khi lên giường, khi xuống giường
không đúng pháp. Lúc nào ăn cũng được, ăn biệt chúng. Vào
xóm làng không đúng lúc, lại cũng không thưa báo với thiện
Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo thấy vậy khuyên bảo:
- Các
thầy chớ nên liên tiếp phạm những tội như vậy. Nên thấy
tội của mình để đến các Thầy xin sám hối, đừng nên
phụ lòng tín thí để rồi nhiều kiếp phải gánh lấy cái
khổ.
- Tôi
phạm tội à?! Tội gì?. - Lục quần Tỳ-kheo hỏi.
Các
thầy liền vạch các tội như vậy, như vậy... cho Lục quần
Tỳ-kheo thấy. Lục quần Tỳ-kheo không phủ nhận, mà cũng
không công nhận, lại nói lãng sang chuyện khác. Các Tỳ-kheo
lại bảo:
- Tại
sao thầy không trả lời thẳng vấn đề là phạm hay không
phạm, mà lại tránh né nói sang chuyện khác, không đúng trọng
tâm điều chúng tôi muốn hỏi?!
- Tôi
biết các thầy không hỏi việc đó, mà tôi tự nói ra, có
sao đâu!. - Lục quần Tỳ-kheo nói.
Các
Tỳ-kheo bằng nhiều hình thức khác nhau quở trách Lục quần
Tỳ-kheo, rồi đưa các đương sự lên gặp Phật, trình bày
đầy đủ sự việc đã xảy ra. Trước Phật và Tăng, Lục
quần Tỳ-kheo cúi đầu chịu tội. Vì 10 điều lợi ích, đức
Phật chế giới cấm hành động không tùy thuận này.
Tánh
nào tật ấy, Lục quần Tỳ-kheo lại tái phạm các tội như
trước. Các Tỳ-kheo bảo sám hối, Lục quần Tỳ-kheo không
thèm ư hữ, lặng thinh. Các Tỳ-kheo nói:
- Ðức
Phật chế giới phải tùy thuận trả lời, trao đổi với
nhau. Tại sao các thầy lại cố tình im lặng?
Lục
quần Tỳ-kheo nói:
- Ðức
Phật cấm như thế nhưng nay tôi không nói thì có tội gì?
- Nói
loanh quanh với không hé miệng có khác gì nào? - Các Tỳ-kheo
nói.
Sự
việc lại đưa ra giữa Tăng. Sau khi quở trách, đức Phật
chế giới đầy đủ như sau: “Tỳ-kheo nào cố ý không trả
lời đúng câu hỏi, phạm Ba-dật-đề”. Giới này đức Phật
nói tại thành Xá-vệ.
TỪ
VÀ ÐỊA
Lúc
bấy giờ, đức Phật đang lưu trú tại thành Vương-xá. Tỳ-kheo
Từ, Ðịa lại chỉ trích Tỳ-kheo Ðà-bà quản lý công việc
tùy theo cảm tính: thích, giận, si, sợ. Rõ ràng, trong chúng
Tăng đều cho lời này là lời vu khống của Từ và Ðịa.
Sự thật khi đưa ra trước đức Phật, Từ và Ðịa đã thú
tội:
- Thật
sự chúng con có nói lời vu cáo ấy.
Như
vậy, trước mặt bị cấm vu khống, thì sau lưng mình vu cáo.
Rồi Từ và Ðịa ở chỗ không có ai, tự mình vu cáo rằng:
- Tỳ-kheo
Ðà-bà, tùy tiện điều hành việc Chúng theo sở thích, giận
hờn, si mê và sợ hãi.
Lẽ
đương nhiên Tỳ-kheo Từ và Ðịa bị các Trưởng lão - sau
đó là đức Phật - quở trách nặng nề. Giới này lại nói
như vầy: “Tỳ-kheo nào vu cáo người được Tăng sai, phạm
Ba-dật-đề”.
Ý
THỨC TRÁCH NHIỆM
Bấy
giờ đức Phật lưu trú tại Tỳ-xá-ly. Nơi đây, có một
trú xứ nằm ở chỗ ẩm thấp. Khi nhận phòng ở, Tỳ-kheo
đem ngọa cụ ra ngoài chỗ đất trống phơi cho bớt ẩm. Ðến
giờ, Tỳ-kheo đắp y bưng bát vào thành khất thực. Không
lâu sau khi ra đi, trời đổ ập mưa, nước ngập thoát nhanh,
ngọa cụ phơi bị trôi mất. Sau mưa, Tỳ-kheo trở về đi
tìm ngọa cụ thì cũng tìm thấy các vật dụng khác như giường,
mền, ghế, câu nhiếp24... trôi tấp đó đây. Ðể xảy ra
sự việc này là do Tỳ-kheo thiếu đề phòng, không cẩn trọng
thu xếp trước khi ra đi, nên các Trưởng lão Tỳ-kheo quở
trách Tỳ-kheo kia rằng:
- Thầy
làm điều phi pháp! Khó khăn lắm Tăng mới có được ngọa
cụ. Ðem ra phơi, tại sao không đem vô? Ðến giờ đi cũng
không thu dọn, đến nỗi nước mưa cuốn trôi đi cả! Vật
dụng, tư cụ mất thì phòng lại trống không!
Các
Trưởng lão đem sự việc này bạch lên Phật. Ðể có trách
nhiệm gìn giữ vật dụng của Tăng, đức Phật chế giới:
“Tỳ-kheo đích thân đem phơi ngọa cụ của Tăng mà không
thu cất trước khi đi, pham Ba-dật-đề”.
Nhìn
thấy kẽ hở của điều cấm, Lục quần Tỳ-kheo sai bảo
Sa-di hay người giữ vườn đem phơi ngọa cụ nơi đất trống,
rồi bỏ mặc cho mưa, gió, chim, chuột cắn phá... làm hư hoại.
Khi bị quở trách, Lục quần Tỳ-kheo trả lời rằng:
- Tôi
sai người khác trải phơi thì không trái lời Phật dạy.
- Ðích
thân, và sai người khác trải thì khác nhau chỗ nào? - Các
Tỳ-kheo vặn hỏi lại.
CácTỳ-kheo
đem sự việc bạch Phật, đức Phật dạy: “Tỳ-kheo nơi
đất trống, tự mình trải ngọa cụ của Tăng, hoặc sai người
trải, hoặc người khác trải, mình ngồi nằm lên đó, khi
đi không tự thu dọn, không bảo người dọn, không dặn người
dọn, phạm Ba-dật-đề”. Ngoài ra, còn nhiều cách xử lý
vấn đề này, được đức Phật chỉ bày cặn kẽ, nhằm
giáo hóa Tăng chúng giữ tròn mọi oai nghi của mình, trước
những ân nặng mà người xuất gia bao giờ cũng phải ghi nhớ.
THẬP
THẤT QUẦN VỚI LỤC QUẦN
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Thập thất
quần Tỳ-kheo25 trở về trú xứ và nhận được phòng ốc
để ở. Sau đó, Lục quần Tỳ-kheo đến, liền hỏi Tỳ-kheo
cựu trú:
- Theo
thứ bậc, chúng tôi ở phòng nào?
- Các
thầy thích ở phòng nào?
- Chúng
tôi muốn ở phòng của Thập thất quần đang ở.
Tỳ-kheo
cựu trú phân theo ý muốn Lục quần. Lục quần Tỳ-kheọ
đến phòng ấy nói:
- Các
thầy đi ra! Chúng tôi được phân ở phòng này.
Thập
thất quần Tỳ-kheo liền đề nghị:
- Phòng
này khá lớn, quý thầy có thể ở cùng với chúng tôi.
Lời
đề nghị này khiến Lục quần phân vân, suy nghĩ: “Nhóm
Tỳ-kheo này có tàm quí, siêng học giới pháp, đầu đêm cuối
đêm không ngủ, không nằm, chắc họ thấy rõ lỗi của ta”.
Không thể chấp nhận, nên Lục quần Tỳ-kheo bảo:
- Chúng
tôi không thích ở chung, các thầy nên chuyển sang phòng khác.
Thập
thất quần Tỳ-kheo thưa:
- Nếu
không thích ở chung, thì quý Thượng tọa ở nhà trước, chúng
con ở phòng sau.
- Cũng
không được. - Lục quần Tỳ-kheo nói.
Thập
thất quần xin ở ngoài chái, ngoài sân, nơi chỗ trống, nhưng
cũng không được chấp thuận. Nhưng dù có chấp nhận hay
không chấp nhận, Thập thất quần Tỳ-kheo cũng không đi.
Lục quần Tỳ-kheo dùng sức mạnh cưỡng bức, lôi họ ra
khỏi phòng. Thập thất quần kêu la, các Tỳ-kheo ùa ra hỏi:
- Việc
gì mà phải ầm ĩ đến thế?!
- Lục
quần Tỳ-kheo cưỡng bức kéo chúng con ra khỏi phòng! - Thập
thất quần thưa.
Việc
này
trước hết bị các Tỳ-kheo Trưởng lão chê trách... Sau đó,
trước Tăng, đức Phật bằng nhiều lời lẽ khiển trách
Lục quần Tỳ-kheo, và Ngài đã chế giới nghiêm cấm hành
động lôi kéo này. Về sau, xảy ra vài việc có liên hệ,
nên giới điều được Phật bổ sung hoàn chỉnh.
MỘT
KIỂU XÚC NÃO CƯỠNG BỨC
Lưu
trú tại nước Câu-tát-la, đức Phật và đầy đủ số Tỳ-kheo
Tăng một ngàn hai trăm năm mươi vị. Với số đông như vậy,
nhưng việc phân phối ngọa cụ vẫn đầy đủ, hoặc ở trong
phòng, hoặc dưới tàng cây, các Tỳ-kheo đều có chỗ trú
ngụ. Lục quần Tỳ-kheo đến giờ đắp y bưng bát vào thôn
khất thực. Sau khi thọ thực, Lục quần đến các trục đường
ngã tư la cà với các Cư sĩ ngoại đạo, Sa-môn, Bà-la-môn
để bàn tán chuyện vua, chuyện đánh giặc, việc lợi hại,
không việc nào của thế tục lại không bàn. Các hạng người
trên, đều cơ hiềm chỉ trích:
- Chúng
Ta là người thế tục, vì gia đình,vợ con, miếng cơm manh
áo, vì kế sanh nhai ở đời nên bàn tán chuyện này, chuyện
nọ. Còn Sa-môn Thích tử cũng la cà bàn luận việc đời,
thì họ đâu có khác gì với ta? Nếu có khác chăng là cái
đầu tròn áo vuông...
Cứ
mãi mê hý luận như thế, đến chiều tối Lục quần Tỳ-kheo
mới về đến trú xứ. Lục quần lại tiếp tục chuyện trò
với Sa-di, với người giữ vườn... cho đến khi gần đi ngủ.
Bấy giờ, Lục quần đến một phòng nọ, hỏi các Tỳ-kheo
trong phòng:
- Các
ông bao nhiêu tuổi?
- Tôi...
tuổi. - Tỳ-kheo kia thưa.
- Như
vậy là nhỏ tuổi, ông nên nhường phòng, đi ra. Thượng tọa
là ở chỗ này. - Lục quần nói.
Các
Tỳ-kheo vặn hỏi:
- Trưởng
lão đến khuya như thế, chắc là có mục đích phải không?
- Tôi
đi theo sau Phật, đến muộn. - Lục quần nói.
Các
Tỳ-kheo đáp lại:
- Tôi
cũng đi theo Phật nên đến muộn. Nếu bây giờ, tôi đến
xin phòng khác thì làm phiền Tỳ-kheo ở đây, cũng như trước
mắt Trưởng lão đang xúc não tôi.
Không
trả lời, Tỳ-kheo Lục quần lấy ngọa cụ trải chen vào
giữa chỗ các Tỳ-kheo đang nằm, rồi nằm ngay lên đó. Ðầu
đêm, cuối đêm cao tiếng tụng kinh, vấn nạn nhau, nửa đêm
ngủ ngáy rì rầm, gây trở ngại cho các Tỳ-kheo ngồi thiền,
hành đạo... Hành động này bị các Trưởng lão hết lời
khiển trách Lục quần:
- Các
thầy cố ý gây não các Tỳ-kheo mà chẳng đau thương cho Phật
pháp sao?!
Vấn
đề sau đó bạch lên Phật, Ngài lại quở trách và kiết
giới cấm hành động này. Và giới này, sau đó được bổ
sung vì có sự việc xảy ra liên hệ.
THIẾU
HỆ NIỆM 26
Trong
thành Xá-vệ, ở một trú xứ nọ có một nhà gác nhiều tầng,
Tỳ-kheo được chia nhau ở trên dưới. Có một tầng gác đặt
cái giường chân nhọn27, nên giường lỏng lẻo, dễ gãy hay
sút chân, trên giường trải phu cụ. Tỳ-kheo ở đây, vì luôn
hệ niệm khi nằm ngồi, nên chẳng có gì xảy ra.
Dịp
nọ, có một Tỳ-kheo khách là bậc Thượng tọa đến, nên
vị kia nhường chỗ. Tỳ-kheo này thân thể ồ ề, lại thiếu
cẩn thận, ngồi thịch xuống giường, quả nhiên giường
bị gãy, chân sút ra, rơi xuống tầng dưới, trúng ngay đầu
một Tỳ-kheo ở đây. Vị này đau quá, kêu lớn lên, vị Tỳ-kheo
khách vội xuống xin lỗi. Tỳ-kheo bị thương liền quở trách:
- Trước
đây, vị Tỳ-kheo ấy ở, tôi không hề nghe một tiếng động
khi nằm ngồi, còn bây giờ thầy mới đến lại gây ra cơ
sự này! Thế Tôn dạy Tỳ-kheo luôn hệ niệm, thầy quên mất
điều đó rồi sao?
Tỳ-kheo
khách này, sau đó lại nhận sự quở trách của các Trưởng
lão rồi của Thế tôn. Ngài chế giới nhằm làm cho oai nghi
của Tỳ-kheo ngày một tốt đẹp hơn. Ngài nói giới này tại
thành Xá-vệ.
HẬU
QUẢ CỦA THAM
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu ngụ tại nước Câu-xá-di. Như đã
biết, Tỳ-kheo Xiển-đà có tài lo việc cho người, nên trở
thành ân nhân nhiều người. Sư muốn gì thì liền được
thân chủ cúng dường, hỗ trợ. Vào thời gian ấy, Xiển-đà
muốn cất một nhà ở. Sau khi chọn được địa điểm tốt,
vật liệu được kẻ chịu ân giúp ngay, Xiển-đà trực tiếp
chỉ đạo việc xây cất. Cất xong, ngôi nhà chẳng giống
ai, không tuân thủ theo nguyên tắc xây dựng, móng thì quá
yếu không chịu lực, trong lúc tường vách vì ham hố xây
đắp nên dày dục, cộng với bên trên mái lợp không biết
bao nhiêu lớp, cho nên lực rất lớn so với móng. Ngôi nhà
không mấy chốc đỗ sập toàn bộ, gây thiệt hại lớn cho
người. Ruộng lúa của Bà-la-môn sát cạnh bị hư hại nặng
nề. Ông ta nổi giận quát tháo, xỉ vã:
- Bọn
Sa-môn này muốn sống trọn đời, trọn kiếp, muốn truyền
tử, lưu tôn hay sao mà xây cất kiểu ấy, lợp một, hai lớp
cũng đủ sống trọn đời rồi, chuyện gì phải tham lam lợp
nhiều lớp như vậy, móng nào chịu cho nổi, sụp đổ là
đáng kiếp!.
Họ
lại cay nghiệt nói:
- Bọn
này tiêu phí của cải của kẻ khác, chứ đâu phải của
cha mẹ họ, nên họ tha hồ làm ác theo ý muốn của họ. Họ
chẳng tiếc thương mồ hôi, nước mắt của kẻ khác. Họ
không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn...
Ðức
Phật quở trách và kiết giới, quy định rõ việc xây cất
này.
Cũng
tại nước Câu-xá-di, cũng lại Tỳ-kheo Xiển-đà, ông ta lại
xây dựng phòng ốc lớn, sử dụng nước có trùng trộn hồ,
tưới lên cỏ, cũng sai bảo người tưới trộn. Cạnh ấy,
Ưu-đà-di dùng nước có trùng để ăn uống, giặt giũ, tắm
rửa. Các Cư sĩ thấy việc làm này không mấy bằng lòng.
Bữa nọ, Tỳ-kheo đem nước mời Cư sĩ uống, Cư sĩ nói:
- Nước
này có trùng.
- Chỉ
uống nước, chứ đâu uống trùng. -Tỳ-kheo trả lời.
- Ðại
đức! Uống nước là đã uống trùng! -Các Cư sĩ nói.
Tỳ-kheo
không thèm trả lời. Các Cư sĩ cơ hiềm, chê trách rằng:
- Các
Sa-môn này thường nói từ mẫn hộ niệm chúng sanh, nay lại
sử dụng nước có trùng để tưới trộn hồ, ăn uống, tắm
rửa, không chút lòng thương xót. Họ không có hạnh Sa-môn,
phá pháp Sa-môn.
Lời
chỉ trích này đến tai các Trưởng lão, các vị quở trách
rồi bạch lên Phật. Trước Tăng, sự việc được xác nhận
đúng sự thật. Ngài kiết giới ngăn chận việc này.
GIÁO
GIỚI NI KHÔNG ÐƯỢC TĂNG SAI
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu trú tại thành Xá-vệ. Có sự việc
xảy ra như vầy: Các Tỳ-kheo không nhận làm người giáo hóa
Tỳ-kheo ni, không vì họ nói pháp, do đó ni không có chỗ đắc
chứng, lại mắng họ rằng:
- Do
các ngươi nên giáo pháp của Phật giảm bớt 500 năm, khiến
mọi người không kính Sa-môn, khinh tiện Tỳ-kheo, không cúng
dường...
Khi
ấy, Tỳ-kheo ni Ma-ha Ba-xà-ba-đề cùng 500 Tỳ-kheo ni đến
chỗ đức Phật. Trước Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ sát
chân Phật rồi đứng lui ra một bên. Ðức Phật hỏi Cù Ðàm
di:
- Các
Tỳ-kheo Thượng tọa có hay thuyết pháp cho Tỳ-kheo ni, để
được sở đắc không?
- Bạch
Thế Tôn, không có. Do không có Tỳ-kheo giáo giới, không được
nghe pháp nên Tỳ-kheo ni không sở đắc được điều gì! -
Cù-đàm di thưa.
Bà
cũng nhắc lại lời mắng mỏ của các Tỳ-kheo.
Ðức
Phật vì các Tỳ-kheo ni nói pháp, chỉ bày sự lợi ích và
điều hoan hỷ, rồi khiến họ trở về trú xứ. Nhân việc
này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, và sau khi xác định
rõ sự việc, Ngài dạy:
- Không
nên mắng như vậy. Nếu vi phạm, phạm tội Ðột-kiết-la.
Từ nay các Tỳ-kheo nên giáo giới Tỳ-kheo ni, nên vì họ thuyết
pháp.
Lời
dạy này được các Tỳ-kheo thực hiện nghiêm túc, các Tỳ-kheo
ni có được chỗ sở đắc. Một thời gian sau, Lục quần
Tỳ-kheo lại cũng đến trú xứ Tỳ-kheo ni, bảo:
- Các
cô tập hợp lại, tôi sẽ giáo giới, nói pháp để tiếp
thu học hỏi.
Các
Tỳ-kheo ni được tập trung lại. Trước Tỳ-kheo ni, Lục quần
Tỳ-kheo thuyết những lời xấu, thô tục, dâm dục... Trong
số Tỳ-kheo ni, những vị đắc các Thiền giải thoát, Chánh
thọ Tam-muội28, thì đều không chấp nhận những lời lẽ
như thế. Còn đối với Lục quần Tỳ-kheo ni thì khen ngợi
như vầy:
- Các
Tỳ-kheo này khéo nói lời giáo giới, chẳng ai bằng!
Trước
sự thể như thế, Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề lại cùng 500 Tỳ-kheo
ni đến chỗ Phật. Ðức Phật hỏi Cù Ðàm di:
- Các
Tỳ-kheo có giáo giới, nói pháp cho Tỳ-kheo ni không?
Cù-đàm
di thưa:
- Thoạt
đầu, Tỳ-kheo thực hiện tốt lời dạy của Ngài, Tỳ-kheo
ni có nhiều tiến bộ, được nhiều lợi ích. Sau đó, Lục
quần Tỳ-kheo lại đến bảo ni tập hợp lại để giáo giới,
nhưng nói những điều thô ác, dâm dục. Ðã vậy, Lục quần
Tỳ-kheo ni lại khen, cho là hay không ai bằng.
Ðức
Phật vì các Tỳ-kheo ni thuyết pháp, rồi khiến họ trở về
trú xứ. Nhân việc này, đức Phật cho tập Tăng. Trước Tăng,
Lục quần Tỳ-kheo thú nhận sự thật. Ðức Phật quở trách
rồi dạy:
- Tăng
không sai thì không được đến giáo giới ni.
Lợi
dụng kẽ hở Tăng sai, Lục quần Tỳ-kheo quậy tiếp... Vì
thế, dẫn đến Phật quy định cụ thể: Tỳ-kheo được Tăng
sai phải thành tựu 10 pháp, ấy là:
1-Thành
tựu giới, thành tựu oai nghi, thường sợ những lỗi nhỏ.
2-Ða
văn, thường lắng nghe, hiểu rõ thấu đáo vấn đề, nhận
thức được lời Phật dạy: sơ, trung, hậu đều thiện. Ðầy
đủ hình tướng thanh bạch, phạm hạnh.
3-Có
khả năng tụng tốt 2 bộ giới luật và lý giải thấu đáo.
4-Có
khả năng thuyết giảng, trình bày nghĩa lý phân minh.
5-Từ
con nhà vọng tộc xuất gia, các căn đều có nét đặc thù.
6-Ở
trong Phật pháp, hoàn toàn không uế trược.
7-Cử
chỉ nhã nhặn, thân đoan nghiêm, đĩnh đạc, mặc pháp phục
thanh khiết, tề chỉnh.
8-ChúngTỳ-kheo
ni kính trọng.
9-Có
khả năng tùy thuận để nói pháp, chỉ bày sự lợi ích và
điều vui mừng.
10-
Có đủ, hay hơn 20 tuổi hạ.
Lại
nữa, Tăng không sai Tỳ-kheo có 5 khiếm khuyết sau:
1-Tụng
kinh hay giới mà có chỗ quên sót.
2-Các
căn không đầy đủ,
3-Nhiều
tham dục.
4-Biểu
hiện tướng ác.
5-Bày
vẻ Tỳ-kheo ni gần gũi với kẻ xấu.
Rõ
ràng, từ đây, Lục quần Tỳ-kheo không còn đủ điều kiện
để Tăng sai giáo giới.
OAN
CHO NI
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu ngụ tại thành Xá-vệ. Theo lời
dạy của Phật, Tỳ-kheo được phân bố thứ tự đến giáo
giới Tỳ-kheo ni. Xong lượt của mình, Tỳ-kheo kia nói với
Tỳ-kheo ni rằng:
- Sáng
mai tới phiên Ban-đà29giáo giới, các cô đến đó thọ lãnh
giáo pháp.
Sau
khi về lại trú xứ, vị này nói với Ban-đà :
- Sáng
mai đến lượt thầy giáo giới Tỳ-kheo ni
Sáng
ngày ấy, đến giờ, Trưởng lão Ban-đà mặc y, bưng bát vào
thành khất thực. Sau khi ăn, trở về chỗ trú, Ban-đà quét
dọn trong ngoài, lấy nước sạch, đặt sẵn khăn lau tay, lau
chân, bày tòa ngồi nơi đất trống, tự lấy giường dây30
để bên cạnh ngồi thiền.
Sau
đó, các Tỳ-kheo ni đến trú xứ Ban-đà, đầu mặt kính lễ
sát chân Trưởng lão. Lễ xong, các ni đến chỗ ngồi. Bấy
giờ, Trưởng lão Ban-đà hỏi các Tỳ-kheo ni:
- Các
cô từng nghe Tám kỉnh pháp chưa?
- Chúng
con đã nghe rồi. - Các cô thưa.
Trưởng
lão bảo:
- Các
cô nghe lại. Hãy nghe đây:
1-
Chúng Tỳ-kheo ni, mỗi nửa tháng nên đến chúng Tỳ-kheo thỉnh
vị giáo giới.
2-
Chúng Tỳ-kheo ni phải nương theo Tỳ-kheo Tăng để an cư.
3-
Chúng Tỳ-kheo ni, khi Tự tứ nên bạch nhị Yết-ma sai Tỳ-kheo
ni đến chúng Tỳ-kheo thỉnh tội thấy, nghe, nghi.
4-
Thức-xoa-ma-na hai năm học sáu pháp rồi, nên đối trước
hai bộ chúng cầu thọ giới Cụ túc.
5-
Tỳ-kheo ni không được mắng Tỳ-kheo, không được nói với
Bạch y tội phạm giới, phạm oai nghi, tà kiến, tà mạng của
Tỳ-kheo.
6-
Tỳ-kheo ni không được cử tội Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được
quở trách Tỳ-kheo ni.
7-
Tỳ-kheo ni phạm thô tội, nên đến hai bộ Tăng cầu nửa
tháng hành Ma-na-đỏa, hành A-phù-ha-na31, và đến trước 20
vị Tỳ-kheo và 20 vị Tỳ-kheo ni xuất tội.
8-
Tỳ-kheo ni tuy thọ giới Cụ túc trước một trăm năm, song
nên lễ bái Tỳ-kheo mới thọ giới.
Nói
Tám kỉnh pháp xong, Ban-đà nói kệ:
Muốn
tâm được tốt đừng phóng dật
Cần
học pháp lành của Thánh nhân
Nhất
tâm ấy là người trí tuệ
Họa
ưu sầu đâu nữa phải lo
Nói
kệ xong, Ban-đà nhắm mắt ngồi thẳng. Khi ấy, các Tỳ-kheo
ni trộm lời với nhau: “Tỳ-kheo này chỉ biết có mỗi một
bài kệ, làm sao có thể giáo giới chúng ta?!”. Ban-đà nghe
thế liền suy nghĩ: “Các Tỳ-kheo ni này khinh dễ ta”. Ban-đà
liền vụt bay lên hư không, hiện một thân thành vô số thân,
rồi từ vô số thân hiện thành một thân. Ði xuyên qua vách,
đi trên nước như đi trên đất, vào trong đất như vào trong
nước; hoặc hiện nửa thân, hoặc hiện toàn thân; hoặc thân
trên tuôn ra khói, thân dưới tuôn ra lửa, hoặc thân trên
tuôn ra lửa, thân dưới tuôn ra khói, hoặc thân trên tuôn
ra nước, thân dưới tuôn ra lửa, hoặc thân trên tuôn ra lửa,
thân dưới tuôn ra nước, hoặc nằm, ngồi trên hư không như
chim dang hai cánh, hoặc lấy tay rờ mặt trời, mặt trăng,
hoặc thân đứng thẳng đến trời Phạm tự tại... Hiện
thần biến như vậy rồi, Ban-đà trở về chỗ cũ, nói lại
bài kệ như trên. Các Tỳ-kheo ni thấy các thần biến này,
tâm rất hoan hỷ, thưa rằng:
- Bạch
Ðại đức! Xin Ngài hãy dùng thần túc để giáo hóa.
Liền
khi ấy, Ban-đà hiện ra nơi phương Ðông, chìm mất vào phương
Tây, hiện ra nơi phương Tây, chìm mất vào phương Ðông. Các
phương khác cũng vậy. Hiện tất cả thần biến như vậy
rồi trở về chỗ cũ, lại nói bài kệ trên cho đến mặt
trời lặn, Ban-đà mới cho các Tỳ-kheo ni ra về.
Bấy
giờ, trời đã xẩm tối, cửa thành vừa đóng. Ðến đây,
các Tỳ-kheo ni gõ cửa thành xin vào. Người giữ cửa hỏi:
- Các
người là ai?
- Chúng
tôi là Tỳ-kheo ni. - Các ni đáp.
- Ði
đâu mà về tối thế? - Người giữ cửa lại hỏi.
- Tôn
giả Ban-đà mãi giáo giới chúng tôi, nên phải về trễ! -
Các Tỳ-kheo ni trả lời.
- Có
thể quay về lại chỗ cũ, chứ dù có vua đến, tôi cũng không
dám mở. - Người giữ cửa nói.
Các
Tỳ-kheo ni đành tạm nghỉ lại ngoài thành, bên cửa, bên
hào, bên mương hoặc dưới gốc cây... tựa lưng, suốt đêm
bị mòng, muổi, gió, bụi gây não.
Sáng
ra cửa thành mở, các ni vào thành trước mọi người. Các
Cư sĩ thấy cảnh ít xảy ra này, nghi ngờ bảo nhau rằng:
- Các
Tỳ-kheo ni này từ đâu đến mà vào thành sớm hơn cả mọi
người?
Trong
số họ có người bảo:
- Biết
đâu các ni này đi tìm đàn ông, trở về!
Còn
những người không có lòng yêu mến Phật pháp thì miệt thị,
nói xấu:
- Chúng
ta là Bạch y, không tu phạm hạnh... chứ bọn Tỳ-kheo ni này,
đầu cạo trọc, mặc áo hoại màu mà cũng làm chuyện như
vậy ư?!!...
Sự
việc này đồn ầm lên, đến tai các Trưởng lão Tỳ-kheo...
Trước Phật và Tăng, Ban-đà nhận khuyết điểm này. Ðức
Phật chế giới không cho phép giáo giới ni cho đến chiều
tối.
TỲ-KHEO
NI - MỘT VẤN ÐỀ
Lúc
bấy giờ, đức Phật lưu ngụ tại thành Xá-vệ. Nhờ các
Tỳ-kheo lần lượt giáo giới Tỳ-kheo ni, nên các ni đạt
đến sở đắc của mình, như được các thiền giải thoát,
chánh định. Ðối với Lục quần Tỳ-kheo, tuy không được
Tăng sai nhưng vẫn đến giáo giới, các thầy chỉ nói những
lời thô ác, bất thiện. Các Tỳ-kheo ni Trưởng lão im lặng,
tỏ vẻ không phục. Ngược lại, Lục quần Tỳ-kheo ni32 thì
khen ngợi rằng:
- Lành
thay! không ai hơn được.
Với
sự việc như vậy,Tỳ-kheo ni Ba-xà-ba-đề cùng với 500 Tỳ-kheo
ni đến chỗ đức Phật, báo lên Ngài... Ngài cho tập Tăng,
trước Phật và Tăng, Lục quần Tỳ-kheo thú nhận việc đã
xảy ra. Ðức Phật cấm Tỳ-kheo không được đến trú xứ
Tỳ-kheo ni nếu không được Tăng sai.
Qua
việc cấm này, nên dù có việc muốn đến trú xứ ni, Tỳ-kheo
cũng rất ái ngại không đến... Bấy giờ, Tỳ-kheo ni Bạt-đà
lâm bệnh, sai người tin cậy đến bạch Tôn giả Xá-lợi-phất,
mời Tôn giả đến để thuyết pháp lần cuối cùng. Tôn giả
nói:
- Ðức
Phật không cho phép Tăng không sai mà cố ý vào trú xứ Tỳ-kheo
ni, dù để giáo giới.
Bởi
thế, Tôn giả từ chối lời mời. Qua sự việc này, sau đó
trước Tăng, Ngài chế giới bổ sung: “Trừ khi ni bị bệnh
thì có thể đến thăm, thuyết pháp”.
Ðể
đáp lại sự ân cần giáo giới của các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo
ni thường hay cúng dường, như biệt thỉnh cúng, hoặc cúng
tư cụ như: đãy đựng bát, dây lưng, y phục, thuốc thang...
Lục quần Tỳ-kheo thấy vậy, nói với các Tỳ-kheo:
- Có
thể sai chúng tôi làm người giáo thọ.
Các
Tỳ-kheo nói:
- Theo
lời Phật dạy thì người thành tựu 10 pháp mới sai. Các
thầy không đạt được thì làm sao sai?!
Lục
quần Tỳ-kheo bèn nói:
- Các
Tỳ-kheo giáo giới Tỳ-kheo ni vì lợi lộc cúng dường.
Lời
xuyên tạc này đã khiến Lục quần bị khiển trách. Ðức
Phật nghiêm cấm Tỳ-kheo phát ngôn sai sự thật.
Ðức
Phật chế cấm để ngăn ngừa sự gần gũi giữa Tỳ-kheo
và Tỳ-kheo ni, song sự gần gũi vẫn xảy ra nơi chỗ vắng.
Từ đó, sanh nhiễm tâm, không vui sống phạm hạnh, có kẻ
hoàn tục, có người làm ngoại đạo. Các Cư sĩ thấy sự
bại hoại này, liền chỉ trích thẳng:
- Những
Sa-môn này cùng Tỳ-kheo ni, riêng tây ngồi nơi chỗ vắng,
chẳng khác nào bạch y đối với dâm nữ. Ăn của tín thí
mà làm việc như thế, họ là kẻ không có hạnh Sa-môn, phá
pháp Sa-môn...
Lại
một lần nữa, đức Phật chế giới nghiêm cấm Tỳ-kheo gần
gũi Tỳ-kheo ni nơi chỗ vắng vẻ. Giới này được đứùc
Phật chế cấm tại thành Xá-vệ.
LẠY
TRỜI ÐỪNG NHẬN
Tại
thành Xá-vệ, đức Phật đang lưu trú ở đây. Có một Tỳ-kheo
A-lan-nhã sống nơi A-lan-nhã. Thoạt đầu, không thân quen bất
cứ ai. Nhưng một hôm vào buổi sáng, Tỳ-kheo này mặc y, bưng
bát vào thôn khất thực. Trên đường đi gặp hai Tỳ-kheo
ni. Ni này liền nói với ni kia:
- Nay
tôi muốn làm quen với Tỳ-kheo kia, cô đồng ý không?
- Tốt
lắm! - Ni kia trả lời.
Khi
Tỳ-kheo ấy đến, cô ni tác lễ, Tỳ-kheo im lặng không nói
một lời. Hai cô ni lại bàn với nhau:
- Tỳ-kheo
này không muốn chúng ta làm quen giữa đường. Chúng ta nên
đến trú xứ của Tỳ-kheo để bái chào.
Sáng
hôm sau, hai ni thực hiện đúng như ý muốn, trước Tỳ-kheo
A-lan-nhã, hai ni bái chào, lạy một lạy, lạy hai lạy... Tỳ-kheo
không nói một lời, đến lạy thứ ba, Tỳ-kheo mới đáp lời:
“Lão thọ” (Cầu chúc tốt lành). Hai Tỳ-kheo ni tác lễ
xong ra về.
Sau
đó, Tỳ-kheo kia vào thôn khất thực, hai Tỳ-kheo ni lại gặp
thầy nơi đường hẻm, liền lễ bái hỏi chào rồi trao đổi
chuyện... Hai Tỳ-kheo ni bèn dùng một đoạn vải và chỉ may
nhuộm rồi, cúng cho Tỳ-kheo. Tỳ-kheo chịu nhận. Hai cô ni
lại thưa:
- Ðại
đức có mỏi mệt, xin mời đến trú xứ của chúng con tạm
nghỉ một chút, rồi sẽ đi khất thực.
Tỳ-kheo
nhận lời và đến nơi đó nghỉ. Sau khi nghỉ, gần đến
giờ khất thực, Tỳ-kheo ni lại thưa:
- Trú
xứ con có đủ rau tương, nếu có thức ăn rồi, xin mời thầy
về lại đây thọ thực.
Tỳ-kheo
nhận lời, không phải một mà đến nhiều lần như vậy.
Khi thì Tỳ-kheo khất thực về trước, đợi Tỳ-kheo ni. Khi
thì Tỳ-kheo ni khất thực về trước lại chờ Tỳ-kheo. Từ
đó họ thường khen ngợi lẫn nhau, khi đến với gia đình
nào đó. Một hôm, Tỳ-kheo nhận được một tấm vải may
y tốt, bèn có ý nghĩ không lành mạnh, rằng: “Nay ta đem
vải y này biếu cho Tỳ-kheo ni kia, ắt cô ta không nhận, như
thế ta sẽ nhận được cái ân huệ cho nhiều hơn nữa”.
Với ý đồ như thế, nên việc trước hết là đến các Tỳ-kheo
ni, đem lời khen ngợi Tỳ-kheo ni kia rằng:
- Tỳ-kheo
ni... là con nhà vọng tộc xuất gia có lòng tin kiên định,
chánh trực, ít ham muốn, biết vừa đủ.
Các
Tỳ-kheo ni nói:
- Người
xuất gia như vậy là đáng khen.
Làm
theo ý nghĩ, sau đó, Tỳ-kheo A-lan-nhã đem y cho Tỳ-kheo ni kia.
Chữ ngờ không đến, Tỳ-kheo ni kia nhận vải y ngay. Không
đúng với mưu đồ nên ôm lòngï não hận, Tỳ-kheo Lan-nhã
đổi ý, liền đến các Tỳ-kheo nói:
- Tỳ-kheo
ni... thôi rồi, tín tâm mỏng lắm, cô ta thật ra nhiều ham
muốn, không biết tự đủ là gì!
Các
Tỳ-kheo liền hỏi lại:
- Mới
đó, thầy bảo cô ta nào là tri túc, nào là thiểu dục, còn
bây giờ sao lại chê trách hết cở vậy?
Như
đánh trúng vào “tử huyệt”, đành phải bày tỏ cái lắc
léo của lòng mình, Tỳ-kheo Lan-nhã thú thực ý đồ: “Cho,
nhưng lạy trời đừng nhận”. Dù vậy, cũng bị đồng phạm
hạnh chê trách:
- Tại
sao tâm thầy không xả vật, đã hứa cho người mà còn tính
đến việc người ta không nhận. Mua chuộc cảm tình người
khác bằng sự hư dối, vọng ngữ như vậy sao?!.
Việc
này được các Trưởng lão bạch lên đức Phật, và sau khi
được xác minh, Ngài chế giới cấm Tỳ-kheo đem y cho Tỳ-kheo
ni. Giới này, sau đó được bổ sung hoàn chỉnh qua các sự
việc xảy ra liên hệ, chẳng hạn như đem y cho ni bà con thì
không phạm.
HẾT
NGÕ NÓI
Lúc
bấy giờ, đức Phật ở tại thành Xá-vệ. Ở đây, có một
Tỳ-kheo ni ít người quen biết, nhận được vải y nhưng không
biết may y phải nhờ Tỳ-kheo ni khác may giúp.Các Tỳ-kheo ni
nói:
- Chúng
tôi bận nhiều việc không thể may được, cô có thể đến
trong chúng Tỳ-kheo thưa với quý thầy, chắc quý thầy dũ
lòng thương sẽ may cho cô.
Nghe
theo lời, cô ni này đến chúng Tỳ-kheo thưa:
- Con
nhận được vải y, nhưng con lại không biết may, người thân
thì chẳng có ai, xin quý thầy thương xót may giúp cho con!
Dù
vậy, các Tỳ-kheo đều từ chối vì nhiều lẽ... Như sực
nhớ ra, cô đến chỗ Trưởng lão Ưu-đà-di thưa như trên.
Ưu-đà-di bảo:
- Tôi
có thể may được, nhưng đừng hối thúc tôi, để tùy tôi
may xong khi nào cũng được. Có đồng ý như vậy, tôi mới
may cho.
- Tùy
Trưởng lão, may xong khi nào cũng được. - Cô ni thưa.
Ưu-đà-di
nhận vải, và vải cứ để đó, Ưu-đà-di chẳng buồn cắt
may. Qua một thời gian khá lâu, không thấy giao y, Tỳ-kheo ni
đến hỏi:
- Thưa
Ðại đức, thầy đã may y cho tôi xong chưa?
Ưu-đà-di
nói:
- Trước
đây tôi đã giao hẹn như vậy, tại sao nay lại hối thúc?
- Con
đến hỏi để biết, chứ không dám hối thúc. - Cô ni thưa.
Cô
ni rút lui êm. Sau đó, Ưu-đà-di cắt may, thầy dùng các loại
chỉ đủ màu thêu hình nam nữ giao hội trên một