4-
MỤC ĐÍCH CỦA THAM THIỀN.
Mục
đích của Tham thiền là gì? Là muốn minh tâm kiến tánh. Cái
quả minh tâm kiến tánh như thế nào? Là thấu triệt bổn
nguyên, vượt ngoài tam giới, liễu thoát sanh tử, chẳng thọ
hậu hữu, độ mình độ người, phổ lợi chúng sanh. Ấy
là mục đích cuối cùng của loài người.
Nhưng
muốn minh tâm kiến tánh, trước tiên phải rõ thế nào là
tâm tánh. Tâm tánh là bổn nguyên tự tánh của chúng sanh,
cũng gọi là Phật tánh, hoặc gọi Chơn như, Như lai. Thiền
tông gọi là Bổn lai diện mục, Thanh tịnh pháp thân; Duy Thức
tông gọi là Tự thân tịnh độ, Thường tịch quang tịnh
độ; Tam Luận tông gọi là Thật tướng bát nhã; Luật tông
gọi là Bổn nguyên tự tánh, Kim cang bửu giới; Thiên Thai
tông gọi là Tự tánh thật tướng; Hoa Nghiêm tông gọi là
Nhất chơn pháp giới; Mật tông gọi là Tịnh bồ đề tâm…
danh hiệu dù nhiều, bản thể chỉ một. Duy Thức luận nói:
“Chơn là chơn thật, tỏ chẳng hư vọng. Như là như thường,
tỏ chẳng biến đổi. Nghĩa là cái chơn thật này, nơi tất
cả pháp thường như bản tánh, nên gọi là Chơn như”. Kinh
Duy Ma Cật nói: “Như là chẳng hai chẳng khác”. Kinh Kim Cang
nói: “Như lai là chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu”.
Theo
những kinh luận kể trên, nói “Tâm tánh” là chỉ ngay Chơn
như tự tánh, chẳng phải tâm tánh của người đời. Người
đời nói “tâm” ấy là vọng tâm, tức là vô minh, nay muốn
minh tâm là minh cái tâm chơn thật cùng tột, nên gọi là Chơn
như.
Kinh
Hoa Nghiêm phát huy cái lý Chơn như Phật tánh rất tường tận,
trong phẩm Thập Hồi Hướng nói: “Siêng tu tất cả pháp
xuất thế gian, đối với thế gian vô thủ vô y, đối với
diệu đạo chánh kiến kiên cố, thấu pháp chơn thật, lìa
chư vọng kiến, ví như chơn như, khắp tất cả nơi, chẳng
có ngằn mé; ví như chơn như, chơn thật làm tánh; ví như
chơn như, thường giữ bản tánh, chẳng có biến đổi; ví
như chơn như, nơi tất cả pháp, vô tánh làm tánh… (còn rất
nhiều, nay lược bỏ chẳng kể xiết).
Đây
là cảnh giới chơn như Phật tánh do Phật với Tổ đích thân
chứng nhập, rồi dùng ngôn ngữ phương tiện để khai thị
cho chúng sanh, chúng sanh nghe rồi, hoặc ngơ ngác chẳng hiểu
gì, hoặc biết được đại ý nhưng chẳng thể cho là minh
tâm kiến tánh; nghe rồi được hiểu gọi là giải ngộ, cần
phải tự tham thực chứng, đích thân thấy rõ, mới có thể
gọi là chứng ngộ, sở chứng với Phật chẳng khác, nên
gọi là kiến tánh thành Phật.
Thường
có kẻ thông minh lanh lợi, xem nhiều kinh điển mà được
giải ngộ, giảng giải cho người khác nghe, biện tài như
suối chảy mà thật thì chẳng biết chơn như Phật tánh là
vật gì. Cũng như người chưa từng đến thắng cảnh Tây
Hồ, chỉ xem du ký của người khác, lại diễn tả cho người
khác nghe giống như đã từng đi qua, thật thì chưa từng đích
thân thấy thắng cảnh ấy, nếu gặp người đã từng du lịch
Tây Hồ, hỏi về chơn cảnh ấy thì ngơ ngác chẳng thể trả
lời. Vì thế nên Thiền tông chủ trương chỉ thẳng tâm người,
chẳng lập văn tự là vậy.
Nên
biết, muốn minh tâm kiến tánh toàn nhờ chơn thực tham chứng,
người khác chẳng thể thay thế được, chẳng quí đa văn,
chỉ quí thấy ngay, từ ngoài cửa chẳng phải gia bửu, lời
của người khác nói chẳng dính dáng với mình.
Xưa
kia Hương Nghiêm hòa thượng ở trong hội Bá Trượng, thông
minh lanh lợi, hỏi một đáp mười, bị Qui Sơn hỏi: “Khi
cha mẹ chưa sanh nói thử một câu xem!” liền ngơ ngác chẳng
đáp được. Về liêu phòng tìm tra hết thảy văn tự xem qua,
muốn tìm một câu để trả lời trọn chẳng thể được,
than rằng: “Bánh vẽ chẳng thể cứu đói”, cứ xin Qui Sơn
nói trắng ra. Qui Sơn nói: “Ta nói cho ngươi thì ngươi về
sau sẽ mắng ta; ta nói là việc của ta, chẳng dính dáng với
ngươi!” Hương Nghiêm bèn lấy tất cả ngôn giáo đốt bỏ,
thẳng qua Nam Dương, nghĩ tại di tích của Huệ Trung quốc
sư, tham cứu lâu ngày, một hôm nhổ cỏ, ngẫu nhiên quăng
miễng trúng nhằm cây tre phát ra tiếng, hoát nhiên tĩnh ngộ,
liền về tắm gội đốt nhang, hướng về Qui Sơn lễ bái
rằng: “Hòa thượng đại từ, ân hơn cha mẹ, nếu lúc đó
vì con nói trắng ra thì đâu có việc kiến tánh hôm nay”.
Do
đó, mà xem Thiền tông chẳng lập văn tự, chỉ chú trọng
tham chứng, mà được tôn là phương thuốc hay của minh tâm
kiến tánh, pháp Thiền của Thiền tông được phổ biến khắp
Trung Quốc, đâu phải việc ngẫu nhiên!
5-
CÁC LOẠI THIỀN.
Thiền
là phương pháp tu hành chủ yếu của nhà Phật, các tông Đại,
Tiểu thừa đều có pháp thiền chuyên môn, ngoại đạo tà
sư cũng mỗi mỗi kiến lập pháp thiền của họ, tà chánh
lẫn lộn, tên gọi rất nhiều, cho nên người tu tập pháp
thiền của tông môn, trước tiên phải hiểu rõ pháp thiền
của các tông và phân biệt tà, chánh, chơn, ngụy, rồi mới
chẳng bị lầm vào lối tẻ, phân biệt được trắng đen.
Người xưa vì đáp sai một chữ, đọa thân chồn năm trăm
đời, hành giả nên cẩn thận! Phàm phá ngã chấp là chánh,
chấp ngã là tà; lối tu theo ngã chấp là ngoại đạo, tu đúng
tông chỉ là chơn, không đúng tông chỉ là ngụy, nay đại
khái đưa ra các loại thiền như sau:
1/
Tối Thượng Thừa Thiền:
Hành
giả sau khi chứng ngộ, trong tâm thất thông bát đạt, tùy
tiện đề ra một pháp đều là Phật pháp, nói nghịch nói
xuôi chẳng lìa chơn như, tất cả từ chơn tâm mình chảy
ra, che thiên ngập địa, từ Thế Tôn niêm hoa thị chúng cho
đến Tổ sư hét gậy, chửi, mắng, đều là trực chỉ chơn
như, trọn mâm đem ra, kẻ hoát nhiên kiến tánh thì chẳng
cách tơ hào, nếu còn do dự bèn cách xa muôn dặm, ấy là
Tối thượng thừa thiền.
2/
Như Lai Thiền Với Tổ Sư Thiền:
Như
Lai Thiền là Thiền giáo môn, chứng nhập từng bực như: Thập
tín, Thập trụ, cho đến Thập địa, Đẳng giác, còn có thể
giải thích; Tổ Sư Thiền thì không có thứ bậc, thẳng vào
bản thể Phật tánh chẳng thể giải thích. Người xưa có
một việc chứng tỏ:
Hương
Nghiêm hòa thượng sau khi chứng ngộ, thuyết bài kệ trình
ngài Qui Sơn rằng:
Tiếng
trúc quên sở tri,
Chẳng
cần nhờ tu trì.
Động
dung hiển lối xưa,
Chẳng
đọa nơi vắng lặng.
Mỗi
mỗi chẳng dấu tích,
Thanh
sắc ngoài oai nghi.
Người
đạt đạo bốn phương,
Đều
xưng thượng thượng cơ.
Qui
Sơn nghe rồi bảo Ngưỡng Sơn rằng: Ông này đã triệt ngộ.
Sau
Ngưỡng Sơn soát lại, Hương Nghiêm thuyết kệ rằng:
Năm
xưa nghèo chưa phải nghèo,
Năm
nay nghèo mới thật nghèo.
Năm
xưa nghèo còn có đất cắm dùi,
Năm
nay nghèo dùi cũng không.
Ngưỡng
Sơn nói: Như Lai Thiền thì cho sư đệ ngộ, Tổ Sư Thiền
thì chưa.
Hương
Nghiêm lại nói bài kệ khác:
Ta
có một cơ,
Nháy
mắt nhìn y.
Nếu
còn chẳng ngộ,
Chớ
gọi Sa di.
Ngưỡng
Sơn bảo với Qui Sơn rằng: Mừng cho Nhàn sư đệ đã ngộ
Tổ Sư Thiền.
3/
Thiền Na Thiền và Bát Nhã Thiền:
Thiền
Na Thiền là pháp thiền thứ năm trong sáu Ba La Mật, Bát Nhã
Thiền là sau khi đã minh tâm kiến tánh, phát huy đại dụng
để độ người, như việc niêm hoa thị chúng.
4/
Nhất Vị Thiền Và Ngũ Vị Thiền:
Phá
tan hầm sâu vô minh, minh tâm kiến tánh, đốn siêu Phật địa,
vào cảnh giới bất nhị, gọi là Nhất Vị Thiền. Ngoại
đạo thiền, phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa
thiền, Tối thượng thừa thiền, gọi chung là Ngũ vị thiền.
5/
Ba Thứ Tịnh Quán Thiền:
Tức
Sa ma tha, Tam ma bát đề và Thiền na, như kinh Viên Giác có
giải thích kỹ càng về ba thứ thiền quán này.
6/
Khô Mộc Thiền (Thiền Cây Khô):
Những
pháp thiền chấp ngồi suốt ngày đêm chẳng nhúc nhích như
dựng cây khô, cho ngồi lâu là cao, gọi là Khô mộc thiền.
7/
Tham Thiền Lầm Dụng Công Rất Dễ Phạm Những Bệnh Sau Đây:
1.
Chỉ bệnh: Đè nén tất cả tư tưởng miễn cưỡng
dừng lại, như nước biển chẳng nổi sóng, chẳng nổi một
bọt nhỏ. Tiểu thừa đoạn dứt lục căn, Đạo giáo thanh
tịnh quả dục, tuyệt Thánh bỏ trí đều thuộc bệnh này,
Phật tánh thì chẳng hợp với Chỉ.
2.
Tác bệnh: Bỏ vọng lấy chơn, lấy niệm xấu đổi
niệm lành, nghịch trần hợp giác, nghịch giác hợp trần;
phá một phần vô minh, chứng một phần pháp thân; Lão Tử
“Thường vô dục để quán diệu, thường hữu dục để
quán sai”; Khổng Tử “Chánh tâm thành ý”, nhà Nho “Trừ
bỏ ích kỷ của dục vọng, tồn tại chánh tâm của thiên
lý”, ấy thuộc về bệnh này, Phật chẳng do Tác mà đắc.
3.
Nhậm bệnh: Tư tưởng khởi cũng mặc kệ, diệt cũng
mặc kệ, chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu Niết bàn, chẳng
trụ và chấp trước tất cả tướng, chiếu mà thường tịch,
tịch mà thường chiếu, đối cảnh vô tâm, nhà Nho “Lạc
thiên tri mệnh”, Đạo giáo “Trở về tự nhiên”, “Trở
về hài nhi” đều thuộc bệnh này, Phật tánh chẳng do Nhậm
mà có.
4.
Diệt bệnh: Tất cả tư tưởng dứt sạch, mênh mông
trống rỗng đồng như gỗ đá, Trung thừa phá nhất niệm
vô minh, Trang Tử “Tọa vong”, nhà Nho “Ngã tâm vũ trụ”
và chơn lý của sáu thứ ngoại đạo ở Ấn Độ thuộc bệnh
này, Phật tánh chẳng do Diệt mà có.
Tham
thiền lầm dụng công phu nếu phạm bốn bệnh kể trên thì
sẽ lầm Tứ tướng, nay lược giải như sau:
1.
Ngã tướng: Tức là ngã chấp; Tiểu thừa khi đã dứt
lục căn, tiểu ngã đã diệt, lại vào cảnh giới đại ngã,
lúc ấy tâm lượng rộng lớn, thanh tịnh tịch diệt, hình
như đầy khắp vũ trụ. Nhà Triết học Hy Lạp nói “Đại
ngã”, “Thượng đế”, Lão Tử “Nhấp nhoáng trong đó
có tượng, nhấp nhoáng trong đó có vật; sâu xa mịt mù, trong
đó có tinh” đều thuộc về ngã tướng.
2.
Nhơn tướng: Tức pháp chấp, khởi niệm sau để phá
niệm trước, ví như niệm trước có ngã, niệm sau chẳng
nhận là ngã, rồi lại khởi một niệm nữa để phá cái
niệm “chẳng nhận là ngã”, nối liền như thế cho đến
vô ngã, nhưng kiến giải “phá” vẫn còn, ấy là nhơn tướng.
Trang Tử nói: “Ta nay mất ngã” tức là Nhơn tướng.
3.
Chúng sanh tướng: Cũng là pháp chấp, cảnh giới này
ngã tướng, nhơn tướng chẳng thể đến, tức là Chúng sanh
tướng. Nhà Nho nói: “Mừng, giận, buồn, vui khi chưa phát
gọi là Trung”. Thư Kinh nói: “Duy tinh duy nhất, nên chấp
nơi Trung”, chữ Trung này tức là Chúng sanh tướng.
4.
Thọ giả tướng: Tức là không chấp, tất cả tư tưởng
đều đã ngưng nghỉ, tất cả thị phi thiện ác đều đã
quên mất, trong đó trống rỗng chẳng có chi cả, đồng như
mạng căn. Lục Tổ gọi là Vô ký không, Nhị thừa nhận lầm
cho là cảnh giới Niết bàn, kỳ thật chính là vô thỉ vô
minh, Thiền tông gọi là hầm sâu vô minh, “hầm sâu đen tối
mịt mù”, Đạo giáo nói “Vô cực” tức là cảnh giới
này.
Bốn
tướng kể trên đều thuộc pháp hữu vi, đều chẳng cứu
cánh, nên kinh Viên Giác nói: “Chúng sanh đời mạt pháp chẳng
rõ bốn tướng, dù khổ hạnh tu tập trải qua nhiều kiếp,
chỉ gọi là hữu vi, rốt cuộc chẳng thể thành tựu tất
cả Thánh quả”. Kinh Kim Cang nói: “Có ngã tướng, Nhơn tướng,
Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng, ắt chẳng phải Bồ tát”,
là chỉ rõ bốn thứ cảnh giới này đều chẳng phải chánh
pháp. Người trí kém thường nói “Tam giáo cùng nguồn”,
nếu được rõ tinh nghĩa bốn tướng này thì biết Tam giáo
cách nhau như trời với đất.
Vì
phạm bốn bệnh bèn lầm nhận kiến, văn, giác, tri là Phật
tánh:
Huệ
Trung quốc sư hỏi một Thiền giả: Từ đâu đến?
Đáp:
Từ miền Nam đến.
Sư
hỏi: Miền Nam có Thiện tri thức nào?
Đáp:
Tri thức rất nhiều.
Sư
hỏi: Làm sao dạy người?
Đáp:
Tri thức miền Nam khai thị người học “Tức tâm là Phật,
nghĩa Phật là giác, nay ngươi sẵn đủ chánh kiến, văn, giác,
tri, tánh này nhướng mày nháy mắt, vận dụng khứ lai khắp
trong cơ thể, búng đầu đầu biết, búng chân chân biết,
nên gọi là chánh biến tri, ngoài ra chẳng Phật khác; thân
này có sanh diệt, tâm tánh từ vô thỉ đến nay chưa từng
sanh diệt, thân sanh diệt như con rắn lột da, người ra nhà
cũ, thân là vô thường, tánh thì thường”. Sở thuyết miền
Nam đại khái như thế.
Sư
nói: Nếu vậy chẳng khác với bọn ngoại đạo tiên ni; họ
nói “trong thân này có một thần tánh, tánh này hay biết
đau ngứa, khi thân hoại thì thần ra đi, như nhà bị cháy
chủ nhà ra đi, nhà là vô thường, chủ nhà là thường”.
Nếu nói như thế thì chẳng phân biệt được tà chánh, lấy
gì làm đúng! Trước kia ta đi du phương gặp nhiều bọn này,
tụ chúng năm ba trăm, mắt ngó mây trời, nói là Tông chỉ
miền Nam, tự sửa đổi kinh Pháp Bảo Đàn, lược bỏ Thánh
ý, thêm vào lời tục để mê hoặc cho hậu học, đâu còn
ngôn giáo! Khổ thay! Mất cả Tông ta! Nếu cho kiến, văn, giác,
tri là Phật tánh thì Duy Ma Cật chẳng nên nói “Pháp lìa
kiến, văn, giác, tri; nếu hành kiến, văn, giác, tri, ấy là
kiến, văn, giác, tri, chẳng phải cầu pháp vậy”.
Huỳnh
Bá Truyền Tâm Pháp Yếu nói: “Cái tâm bổn nguyên thanh tịnh
này thường tự sáng tròn chiếu khắp, người đời chẳng
ngộ, chỉ nhận kiến, văn, giác, tri là tâm; bị kiến, văn,
giác, tri che khuất nên chẳng thấy bản thể tinh minh. Hể
ngay đó vô tâm thì bản thể tự hiện, như mặt trời trên
không, chiếu khắp mười phương chẳng có chướng ngại.Người
học đạo nên ở kiến, văn, giác, tri nhận bản tâm, nhưng
bản tâm chẳng thuộc kiến, văn, giác, tri, cũng chẳng lìa
kiến, văn, giác, tri; chớ nên ở kiến, văn, giác, tri động
niệm, cũng chớ lìa kiến, văn, giác, tri cầu pháp; chẳng
tức chẳng lìa, chẳng trụ chẳng chấp, tung hoành tự tại,
nơi nào chẳng phải đạo tràng!”
8/
Lục Tổ Với Thần Tú:
Thần
Tú nói: “Thân là cây Bồ đề, Tâm như đài gương sáng,
luôn luôn siêng lau chùi, chớ cho dính bụi trần”. Kiến,
văn, giác, tri dụ cho gương sáng, vọng niệm như bụi dính
gương, siêng lau chùi dụ cho dứt sạch vọng niệm, chớ cho
dính bụi là dụ chẳng cho vọng niệm sanh khởi.
Thật
ra kiến, văn, giác, tri vốn hay khởi vọng niệm, là chẳng
thể dứt sạch được, ví như nguồn suối ngày đêm chảy
nước ra, dứt rồi lại chảy nữa vĩnh viễn dứt không được.
Cho nên người nhận kiến, văn, giác, tri là Phật tánh vốn
là sai lầm, tu hành vô ích.
Lục
Tổ nói: “Bồ đề vốn chẳng cây, gương sáng cũng chẳng
đài, vốn là chẳng một vật, nơi nào dính bụi trần”.
Lục Tổ đã minh tâm kiến tánh, nên kệ này hiển thị Phật
tánh chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng
thọ huân nhiễm, bổn lai thành Phật, là đứng trên quả vị
Chơn như mà nói “vốn chẳng một vật” là chỉ thẳng Phật
tánh vốn chẳng khởi vọng niệm, nên biết khởi vọng niệm
là kiến, văn, giác, tri, chẳng khởi vọng niệm là Phật tánh.
Nếu Phật tánh với kiến, văn, giác, tri chẳng phân biệt
rõ ràng thì dụng công học Phật ắt phải sai lầm.
Thần
Tú cho kiến, văn, giác, tri là Phật tánh, nhưng sai lầm ấy
chẳng phải chỉ một mình Thần Tú, sai lầm ấy truyền nhau
từ đời Lục Triều, là chịu sự ảnh hưởng học thuyết
Lão Tử nói “Đạo sanh một, một sanh hai, hai sanh ba, ba sanh
vạn vật, vạn vật sanh cõng âm mà ôm dương, từ âm dương
của vạn vật trở về ba, hai, một rồi tới đạo”. Bên
ngoài thì nói danh từ của Phật pháp, bên trong là lý đạo
của Lão Tử truyền nhau cho đến đời này, chẳng biết lầm
hại cho bao nhiều học Phật với những cao Tăng thông minh,
thật đáng thương xót!
Phàm
dụng công tu hành, cần phải phá vô thỉ vô minh, kinh Hoa Nghiêm
nói: “Phá vô minh đen tối”. Kinh Viên Giác nói: “Vô thỉ
huyễn vô minh”. Kinh Thắng Man nói: “Đoạn vô thỉ vô minh”.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Pháp trần u nhàn”, Tổ sư Thiền tông
gọi là vô ký không, hầm sâu vô minh, đáy thùng sơn đen,
đầu sào trăm thước, hang quỉ núi đen; Giáo môn gọi là
nguyên phẩm vô minh, căn bản vô minh, bạch tịnh thức… Các
kinh Lăng Già, Niết Bàn, và lịch sử Thiền tông như Chỉ
Nguyệt Lục, Truyền Đăng Lục, Ngũ Đăng Hội Nguyên, trong
đó nói về dụng công phá về vô thỉ vô minh rất nhiều,
chưa thể kể hết.
9/
Tham Thiền Lầm Nhận Hầm Sâu Vô Minh Là Phật Tánh Như Thái
Cực Đồ Thuyết Của Châu Liêm Khê:
Châu
Liêm Khê là Tổ sáng lập lý học của nhà Nho đời Tống,
soạn Thái Cực Đồ Thuyết, cho Đạo là trước vô hậu hữu
làm căn bản, phối hợp với lý âm dương ngũ hành để thuyết
minh thế hệ của vũ trụ vạn vật trở đi trở lại, tuần
hoàn hóa sanh mãi. Cái nghĩa “Vô cực thái cực” với học
thuyết “Vô danh là bắt đầu của thiên địa, hữu danh là
mẹ của vạn vật” và “Vô vi mà vô bất vi” của Lão
Tử đồng một ý chỉ. Nhà Nho vốn chỉ nói Thái cực, hai
chữ “Vô cực” là học thuyết của Đạo giáo, Lão Tử
Trí Hùng Chương nói: “Trở về nơi vô cực”, Trang Tử Đại
Tông Sư Thiên nói: “Yểu đào vô cực”, Khắc Ý Thiên “Đạm
nhiên vô cực”, Tại Hựu Thiên “Dạo nơi đồng vô cực”,
trong Đạo Tạng có Thái Cực Tiên Thiên Đồ, tác giả là
Trần Đồ Nam, người Đạo giáo, ấy là một sản phẩm hỗn
hợp với Nho và Đạo. Châu Liêm Khê từng theo học với Thích
Thọ Nhai ở Hạc Lâm Tự, được bản Thái Cực Tiên Thiên
Đồ, rồi sửa lại theo ý mình để kiến lập thế hệ Lý
học.
Theo
quan điểm của nhà Phật, vô cực tức là vô thỉ vô minh,
thái cực tức là nhất niệm vô minh. Tại sao? Vô cực vốn
vô mà sanh ra hữu, nhất niệm đã sanh tức là thái cực, niệm
có động tịnh thì phân thành âm dương, âm dương phân thì
lưỡng nghi lập, biến hợp mà sanh ngũ hành. Tinh diệu của
lưỡng nghi hợp nhau mà có Càn nam, Khôn nữ, nhị khí (âm
dương), ngũ hành hóa sanh vạn vật, rồi vạn vật trở về
nơi ngũ hành, ngũ hành trở về âm dương, âm dương trở về
thái cực, một lên một xuống, trở đi trở lại tức là
pháp luân hồi sanh diệt, bắt đầu khởi từ vô minh, cuối
cùng cũng trở lại nhập nơi vô minh, giống như Thập Nhị
Nhân Duyên của thừa Duyên giác. Theo Thập Nhị Nhân Duyên
chỉ nói về tác dụng luân hồi của vô thỉ vô minh với
nhất niệm vô minh, nói cách khác tức là tác dụng của bộ
não suy nghĩ, chẳng thể thuyết minh tác dụng Phật tánh, Phật
tánh siêu việt luân hồi sanh diệt, vô nhân vô duyên, chẳng
động chẳng tịnh, bổn lai vô sanh nên vô diệt, bổn lai chẳng
hữu nên chẳng vô, sự hữu vô sanh diệt là do tác dụng tương
đối của bộ não, chẳng dính dáng với bản thể chơn như.
Thái
Cực Đồ Thuyết nói vô cực sanh thái cực, thái cực lại
sanh âm dương vạn vật, vì có sanh nên có diệt, có sanh diệt
tức là luân hồi, có luân hồi thì chẳng phải tuyệt đối.
Nên biết lý vô cực, thái cực là do kiến, văn, giác, tri
quán xét hiện tượng biến hóa của vũ trụ mà kiến lập
giả thiết, phàm chỗ quán xét có thể đến là quyết định
chẳng phải bản thể tuyệt đối. Bản thể chơn như tuyệt
đối là “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, chẳng
thể dùng suy nghĩ đo lường, cũng chẳng thể dùng ngôn ngữ
tỏ bày, chỉ có người trực tiếp chứng nhập mới biết
được. Kẻ được chứng nhập thì không còn sanh tử luân
hồi, nên gọi là kiến tánh thành Phật, sau khi thành Phật
thì chẳng biến lại chúng sanh, chẳng chịu lại luân hồi,
mà thái cực thì luân hồi chẳng dừng.
10/
Tham Thiền Nhận Lầm Học Thuyết Của Vương Dương Minh Là
Thiền Tông:
Có
người cho học thuyết Dương Minh là Phật pháp, thật là lỗi
lầm lớn. Học thuyết Dương Minh có bốn lời để làm cương
yếu, tức “không thiện không ác là thể của tâm, có thiện
có ác là động của ý, biết thiện biết ác là lương tri,
làm thiện bỏ ác là cách vật (đủ tư cách làm người)”.
Bốn lời này tức là vô thỉ vô minh với tác dụng của nhất
niệm vô minh, so với thể dụng của Phật tánh còn xa lắm.
Học thuyết Dương Minh chưa thể vượt qua phạm vi vô minh,
vẫn còn ở trong luân hồi, cái bệnh ấy là do dùng bộ não
suy xét đo lường, bộ não vốn huyễn hóa chẳng thật, chẳng
phải thể dụng chơn thật cùng tột.
Chơn
như Phật tánh chẳng phải suy nghĩ đo lường có thể đến,
chẳng thọ huân nhiễm, chẳng có biến đổi, chỉ có kẻ
chứng với kẻ chứng mới biết nhau được. Nhà Phật lấy
chơn như Phật tánh làm cội nguồn, mà nhà Nho lấy vô thỉ
vô minh làm cội nguồn, vì cội nguồn chẳng đồng nên chẳng
thể đến với nhau. Nhiều người chưa rõ sự khác biệt giữa
Phật tánh với vô thỉ vô minh, lại lầm nhận vô thỉ vô
minh là Phật tánh, nói Nho, Phật cùng nguồn, ấy là một sự
lỗi lầm rất lớn. Hoặc cho “chẳng thiện chẳng ác thể
của tâm” tức chơn như Phật tánh của nhà Phật, “có thiện
có ác động của ý” tức vô minh phiền não của nhà Phật,
ấy là sai. “Chẳng thiện chẳng ác thể của tâm” tức
vô thỉ vô minh, “có thiện có ác động của ý” tức nhất
niệm vô minh, “biết thiện biết ác là lương tri” tức
kiến, văn, giác, tri, “làm thiện bỏ ác là cách vật” tức
là tác bệnh trong bốn thứ thiện bệnh, đều là linh tánh
của bộ não, chẳng dính dáng với Phật tánh.
Vô
thỉ vô minh bổn lai ám muội chẳng sáng, vô tri vô giác nên
chẳng phân biệt thiện ác, khi bị kích thích sanh khởi nhất
niệm vô minh, mới có kiến, văn, giác, tri, phân biệt được
thiện, ác, tốt, xấu, người có ý thức đều biết thiện
biết ác, “lương tri” của Dương Minh là tác dụng của
bộ não, tác dụng của bộ não đều lấy vô minh làm chủ,
chẳng phải Phật tánh. Nhất niệm vô minh có hai mặt: tịnh
và nhiễm. Thiện là tịnh duyên, ác là nhiễm duyên, chẳng
thể cho tịnh duyên là Phật tánh, nhiễm duyên là chúng sanh
vậy.
Xem
Tiếp: Trang
02-3