Hỏi:
Làm
sao mình phát hiện được dụng công sai lạc?
Đáp:
Đường
Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền nói “sơ tham phải có lão
tham hướng dẫn”, là sợ lọt vào lối tẻ mà tự mình không
biết, trong đó có 10 điều kiện; điều thứ nhất là phá
ngã chấp “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, nếu
thực hành điều thứ nhất mới bảo đảm.
Vì
phá được ngã chấp thì không thể lọt vào tà ma, không bị
nhập ma; bị nhập ma là do có ta, nếu ta còn không có thì
ma nhập chỗ nào! Ma nhập là thừa cơ hội mình cầu, ham thích
hoặc sợ. Không đắc, không cầu, không sợ nên ma không có
dịp để nhập.
Hỏi:
Mình
muốn kiến tánh là có sở cầu phải không?
Đáp:
Trong
lúc tham thiền không được muốn kiến tánh, đến khi kiến
tánh mới biết không có Phật để thành, gọi là vô tu vô
chứng. Không phải tu mới thành, không chứng mới đắc; bây
giờ đã thành sẵn, đắc sẵn. Cho nên, tin tự tâm là tin
như vậy. Tôi đã nói có hai điều kiện là tin tự tâm và
khởi nghi tình. Mặc dù, tin pháp môn 100 % mà chưa tin tự tâm
cũng không được, vì chỉ có được phân nửa.
Tôi
hỏi cô: Phật Thích Ca nói “tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh”, vậy cô tin mình có Phật tánh không?
Cô
ấy đáp: Có.
Tôi
hỏi: Phật tánh có thể giảm bớt không?
Cô
ấy nói: giảm bớt.
Tôi
nói: nếu Phật tánh có thể giảm bớt thì Phật tánh cũng
bị luân hồi, nên thành Phật vô dụng; do đó Phật tánh không
thể giảm bớt. Phật tánh có thể gián đoạn không? Nếu
Phật tánh có thể gián đoạn thì Phật tánh sanh diệt. Phật
tánh bị che mờ là do chấp của vọng tâm, Phật nói là vô
thỉ (không có sự bắt đầu), cũng là nghĩa vô sanh (không
có sự sanh khởi), nên người chứng quả ngộ pháp vô sanh.
Nói
con gà có trước trứng gà được không? Không được, vì
không có trứng gà làm sao có con gà! Trứng gà có bắt đầu
được không? Không được, tại không có con gà làm sao sanh
ra trứng gà! Con gà không thể bắt đầu và trứng gà cũng
không thể bắt đầu, gọi là vô thỉ cũng gọi là vô sanh.
Tất cả đều như vậy, chứ không phải chỉ con gà và trứng
gà thôi!
Con
người do cha mẹ sanh gọi là nhân duyên, tức thần thức với
cha mẹ làm nhân duyên sanh ra thân mình. Mình truy cứu sự bắt
đầu con người, như cha mẹ thì có ông bà nội và ông bà
ngoại, ông bà nội cũng có cha mẹ nữa… tính từng đời
không hạn chế, truy cứu cha mẹ đầu tiên được không? Không.
Giả
thiết muôn tỷ kiếp trước có cha mẹ đầu tiên, cha mẹ
đầu tiên có cha mẹ không? Nếu có cha mẹ thì chưa phải
đầu tiên, vậy cha mẹ đầu tiên từ đâu ra? Khoa học nói
là con khỉ tiến hóa, con khỉ do con nào tiến hóa? Do con chó,
con chó do con nào tiến hóa? Do con mèo… hỏi hết động vật
đến con cuối cùng, con nào tiến hóa? Không nói được, vì
không có bắt đầu.
Có
người nói trước kia là do phân tử, điện tử từ từ tiến
hóa hình thành. Tôi xin hỏi, bào thai của con người có 10
tháng sanh ra, 1 tháng có hình 1 tháng, 2 tháng có hình 2 tháng…
đến 10 tháng sanh ra đủ thân thể con người. Nhưng tính từ
điện tử đến thành con người không thể nói là 10 tháng.
Tôi giả thiết là 1 triệu năm phải chia 1 triệu cấp, tức
là cấp thứ nhất là điện tử, cấp thứ 1 triệu là con
người. Bây giờ mình chỉ thấy cấp thứ nhất và cấp 1
triệu, mấy cấp kia không ai thấy.
Có
người nói ông sống mấy chục năm làm sao thấy được 1
triệu cấp? Tôi nói khỏi cần, bây giờ sống 3 năm cũng thấy
được. Tại sao? Vì gần đến 1 triệu, thiếu 3 năm được
1 triệu thì mình phải thấy, bởi thiếu 3 năm biến thành
con người hay thiếu 1 năm thì mình cũng thấy chứ! Nhưng đâu
có ai thấy? Còn bào thai 10 tháng mà ai cũng thấy. Cho nên,
lý thuyết đó không thể thành lập.
Con
khỉ tiến hóa và điện tử đều không thể thành lập sự
bắt đầu, vì không đủ lý do nên Phật nói là vô thỉ. Tuy
nói do nhân duyên sanh, nhưng Phật phủ định nhân duyên. Tại
sao? Vì nhân duyên cũng phải có nhân đầu tiên. Như con gà
và trứng gà làm nhân duyên với nhau, nhưng nhân đầu tiên
không có, nên nhà khoa học cho là tự nhiên.
Sự
thật, chứng tỏ tự nhiên không được, không thể tự nhiên
ở trong hư không sanh ra con gà và trứng gà. Phật nói trong
kinh Lăng Nghiêm “không phải nhân duyên, cũng không phải tự
nhiên”. Thực tế nói không được, phải tự mình tu chứng
ngộ mới biết được; tức là ở trong mở mắt chiêm bao
thức tỉnh, bây giờ còn đang chiêm bao thì tất cả đều
là chuyện chiêm bao.
Tin
tự tâm là tin mình có Phật tánh, tin Phật tánh không thể
giảm bớt thì thần thông, trí huệ bằng Phật Thích Ca, không
có kém hơn Phật Thích Ca một chút. Tại sao? Vì không thể
giảm bớt, nếu kém hơn Phật Thích Ca một chút thì có thể
giảm bớt. Nhưng mình đã tin không thể giảm bớt, mà không
thể gián đoạn vậy bây giờ đang làm Phật, chứ không phải
tu rồi mới thành Phật. Nếu không phải làm Phật thì có
gián đoạn, chư Phật chư Tổ đều chứng tỏ bây giờ mình
có năng lực đầy đủ.
Trong
kinh Lăng Nghiêm chứng tỏ tánh thấy không mất, là dùng thực
tế trước mắt; chứ không phải đem những sự đoán mò để
dạy người ta. Phật không thể nói được thực tế, nhưng
chứng tỏ hiểu biết của mình là không phải thực tế.
Hỏi:
Tự
tâm là bẩm sanh, khi cha mẹ sanh ra thì tự nhiên đi theo đứa
con ra. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Đó
là sản phẩm của bộ óc, vì vô thỉ vô sanh làm sao có bẩm
sanh! Có bẩm sanh thì đã có sanh rồi.
-Ấy
là người ta dùng từ ngữ để tạm nói?
-Tạm
nói cũng là lời nói, lời của Phật cũng là lời nói chứ
không phải thực tế, thực tế là tự mình chứng mới được.
Phật đã nói “tất cả lời nói đều chẳng nghĩa thật”,
nên Phật rất sợ người ta chấp vào nói của Phật. Vì vậy
phủ nhận là “ai nói Phật có thuyết pháp là người ấy
phỉ báng Phật”.
Hỏi:
Cái
nào của mình cũng bằng Phật, vậy mình tu để làm chi?
Đáp:
Tu
để hiện bằng Phật, tức là hiện cái dùng bằng Phật;
Phật có đủ thần thông trí huệ, mình có nhưng không dùng
được. Tu là phá ngã chấp của mình, tức “vi kỳ hiện
nghiệp”, cái nào mình thích thì không thích, cái nào chê
không được chê, cái nào ghét nên không ghét. Mình muốn cái
nào phải nghịch lại hiện nghiệp của mình.
Hỏi:
Căn
bản ý thức là khái niệm được hay mất, khái niệm cái
này hoặc cái kia; thông thường một người nhìn cảnh bên
ngoài chưa có ý thức xen vào, nhưng do thói quen ý thức đưa
vào. Vậy phương pháp tham Tổ sư thiền có phải gạt bỏ
sự tham gia của ý thức để nhìn sự vật giống như chưa
có ý thức xen vào phải không?
Đáp:
Đó
cũng đúng phân nửa, cuộc sống hàng ngày đều dùng ý thức,
gọi là nhất niệm vô minh, từ niệm này qua niệm khác. Ý
thức ngày đêm hoạt động không ngừng, ban đêm hoạt động
biến hiện nhắm mắt chiêm bao, ban ngày hoạt động biến
hiện mở mắt chiêm bao, đều do ý thức biến hiện, kinh gọi
là do tâm tạo.
Ban
đêm một mình ý thức biến hiện, gọi là độc đầu ý thức
biến hiện, cũng là tâm tạo. Ban ngày hai thức cùng biến
hiện cũng là tâm tạo. Tâm tạo không thật nên gọi là chiêm
bao, nhưng con người chỉ chấp nhận nhắm mắt chiêm bao, không
chấp nhận mở mắt chiêm bao.
Tâm
có tám thức không phải tám người là chỉ có một người.
Tại sao người ta nhìn nhận nhắm mắt chiêm bao là chiêm bao?
Vì nhắm mắt chiêm bao ngủ đã tự thức dậy thấy thế giới
và thân chiêm bao đều mất, chỉ còn cái thân nằm trên giường
tự mình chứng tỏ (Duy thức gọi là tự chứng phần) là
chiêm bao.
Mở
mắt chiêm bao không bao giờ tự thức tỉnh, phải tu mới thức
tỉnh. Tham thiền đến kiến tánh là trong mở mắt chiêm bao
thức tỉnh. Mình đang chiêm bao dù Phật nói có lý cũng
không tin, như Phật nói trong Tâm Kinh “không có già chết”;
ai cũng già chết mà nói không có già chết, làm sao ai tin được!
Nhưng khi thức tỉnh mới biết không có già chết. Vô thỉ
vô sanh làm sao có già chết! Gọi là ngộ pháp vô sanh, nhưng
chưa ngộ là đang chiêm bao phải chịu già chết.
Người
ta nói biết chiêm bao đừng làm việc chiêm bao. Tôi nói “không
được”, bây giờ ở nhà chiêm bao, mặc áo chiêm bao, ăn
cơm chiêm bao, không làm việc chiêm bao làm sao được! Tất
cả đều phải theo chiêm bao mà làm, chứ không thể tránh.
Ông
nói đương niệm là đã nổi niệm rồi, Lục Tổ nói “vô
niệm niệm là chánh, hữu niệm niệm là tà; tà chánh đều
quét sạch, thanh tịnh đến cùng tột”. Mặc dù, chánh cũng
còn phải quét, huống là chấp cái niệm đó, cái niệm đó
là tà.
Như
công án núi sông: ban đầu đem ý mình cho núi sông là thật,
tu được lúc biết núi sông là giả, sau tiến thêm một bước
không đem ý mình vô là không có núi sông thật hay giả thì
núi sông vẫn là núi sông. Những tương đối trong ý niệm
mình không nổi lên nữa, cho nên núi sông vẫn là núi sông.
Nếu không biết thì thấy câu thứ ba giống như câu thứ nhất,
nhưng rất khác xa. Đó là nghĩa ba câu của kinh Kim Cang.
Nghĩa
ba câu nhà Phật là vô sở trụ, vô trụ là thể và dụng
của tâm; như Ngũ Tổ giảng “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”, Lục Tổ nghe ngộ triệt để. Thí dụ cái tay là tâm
của mọi người hoạt bát vạn năng, lấy mặt kiến, cái
tách, trái cam… đều được.
Nếu
trụ mặt kiến thì hoạt bát vạn năng của tay bị mất, nên
lấy cái tách, trái cam…đều không được. Tay buông mặt
kiến thì khôi phục hoạt bát vạn năng của tay, nên lấy
cái gì cũng được. Mặt kiến này là pháp có, nếu trụ pháp
không, tức tay tự làm nắm tay là trong tay không có gì; nhưng
đã có trụ thì cái dụng cũng bị mất, nên lấy thứ gì
cũng không được. Vậy cái không này cũng phải quét, mới
khôi phục cái dụng của tay.
Kinh
Kim Cang nói “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”, tức là
không trụ có và không, bất cứ cái gì không trụ, cho đến
Phật và Bồ tát cũng không trụ thì được sanh cái dụng
của tâm; mà dụng của tâm luôn luôn không gián đoạn, vì
khắp không gian thời gian. Dụng của tâm gọi là Bát nhã tự
động, khỏi cần tác ý dùng; không phải như ông nói phải
có cái ý vô trong hiện thực, nếu vậy có sở trụ.
Hỏi:
Lấy
một hình ảnh cụ thể để minh họa, trong cái nhà có đèn
sáng dụ cho tánh biết, có sáu cửa sổ dụ cho mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý; ngoài có sáu trần, ánh sáng ở trong không
ngừng chiếu ra qua sáu cửa sổ. Nhưng do mình chỉ chú ý mở
cửa sổ, thực tế là mình trụ vào chỗ đó thì ánh sáng
bị hạn chế. Minh họa như thế có đúng phần nào với ý
tham Tổ sư thiền không?
Đáp:
Đó
là công án của Tổ sư thiền, nhưng ông đã sửa lại nên
không phải.
Công
án này là: Trong một cái nhà có 6 cửa sổ và đốt một cây
đèn, dùng màn che một cửa sổ, còn 5 cửa sổ kia, ánh sáng
vẫn chiếu ra ngoài. Nếu dùng màn che hết 6 cửa sổ thì ánh
sáng không chiếu ra ngoài, nhưng gió thổi bay màn che làm cho
ánh sáng chiếu ra ngoài.
Đối
với Thiền tông không cần che 6 cửa sổ, chỉ cần tắt cây
đèn nên ánh sáng không lọt ra ngoài.
Hỏi:
Thế
nào Lục Diệu Môn của Tiểu thừa?
Đáp:
Lục
Diệu Môn của Tiểu thừa có 6 cấp:
1-Sổ
Tức Môn là khéo điều hòa thân thể (đếm hơi thở), từ
1 đếm tới 10 để nhiếp loạn tâm.
2-Tùy
môn là không miễn cưỡng, chỉ tùy theo hơi thở dài hay ngắn,
hít vào biết vào, thở ra biết ra, dài ngắn, lạnh ấm đều
biết hết.
3-Chỉ
Môn là ngưng tâm (lắng niệm) được an nhàn sáng suốt, không
chút lay động.
4-Quán
Môn là cần phải quán tâm rõ ràng, biết ngũ ấm là hư vọng,
phá tất cả tri kiến điên đảo và chấp ngã…(bây giờ
người ta lại lấy Quán Môn ở chỗ này ngược lại, ban đầu
cũng có dùng Sổ Tức, lấy Tùy môn chút ít).
5-Hoàn
Môn là xoay tâm trở lại chiếu tâm năng quán, biết tâm năng
quán là hư vọng.
6-Tịnh
Môn là tâm chẳng chỗ dựa, chẳng trụ, chẳng khởi, chẳng
chấp trước.
Bây
giờ khởi niệm liên tục tìm hiểu, như nhà khoa học tìm
hiểu vật chất; còn cái này là tìm hiểu tinh thần (ý thức)
càng trói buộc thêm vào sâu luân hồi, mà lại cho ý thức
là bản tâm. Tiểu thừa biết cái này là vọng, nên phá được
ngã chấp. Y theo 6 môn này tu tập sẽ đạt đến diệu cảnh
của Niết bàn Tiểu thừa, nên gọi là Lục Diệu Môn. Đây
chính là của Phật dạy, Tiểu thừa được chứng quả ra
khỏi phần đoạn sanh tử của khổ luân hồi.
Tùy
theo dục vọng của con người, dùng ý thức biết sâu vào;
như khoa học tìm hiểu sâu vào phân tử, nguyên tử, điện
tử, cao phân tử. Phật dạy biết nó vọng nên ngưng lại,
họ không biết tâm niệm của mình sanh diệt từng sát na;
như ngọn đèn đang cháy, ngọn đèn sát na thứ nhất, đến
ngọn đèn sát na thứ nhì không phải ngọn đèn sát na thứ
nhất, ngọn đèn sát na thứ ba không phải ngọn đèn sát na
thứ nhì. Thấy ngọn đèn không sanh diệt, sự thật là nó
đang sanh diệt. Tâm niệm của mình đang sanh diệt, sát na niệm
trước khác sát na niệm sau, sanh diệt liên tục.
Như
A La Hán quán được 80 ngàn kiếp trước và 80 ngàn kiếp sau,
cũng tùy theo sát na mà biến đổi; tức là sát na này quán,
nhân quả sát na này liên tiếp đến 80 ngàn kiếp sau thuộc
về sát na này; sát na thứ nhì là khác, có chỗ biến đổi
chứ không phải sát na trước mà quán, nó cứ thay đổi hoài.
Mặc dù chẳng trụ là bản tánh, để cho nó khởi lên nhưng
mình không có ý niệm dính vào nó, cho đó là thật, cho đó
là giả, cho đó là vui…
Hỏi:
Tại
sao họ chứng quả A La Hán?
Đáp:
Họ
chấp Niết bàn Tiểu thừa, trụ nơi này cho là cứu cánh,
không chịu tiến lên; kinh Pháp Hoa nói là hóa thành, ở nửa
đường cất nhà cho là cuối cùng, không chịu tiến lên bảo
sở (quả Phật). Đại thừa có người phá nhân ngã chấp,
phá pháp ngã chấp, rồi chấp cái không, Phật cũng quở vậy.
Mặc dù, nói đến bảo sở nhưng không có bảo sở, gọi là
“bồ đề viên mãn quy vô sở đắc”.
Hỏi:
Thế
nào là chấp có và chấp không?
Đáp:
Phật
nói chấp có là bệnh nhẹ dễ trị, chấp không là bệnh nặng
khó trị. Vì chấp có thì dùng cái không phá được, chấp
không mà dùng cái có để phá lại khó hơn, cái có là người
ta biết không đúng. Bổn lai diện mục không phải không có
cái gì, nhưng không dính mắc cái gì, gọi là vô sở trụ.
Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ triệt để.
Người
ta khó chấp nhận, vì không có cái gì để cho nắm bắt; có
người nói theo lời Phật dạy, nhưng nghịch lời Phật, vì
phải chìu sự ham muốn của chúng sanh, phải có cái gì để
cho người ta nắm bắt. Tùy duyên đó khác, tùy duyên có cái
bất biến; nếu tùy duyên mà biến thì không được, bổn
lai là bất biến; tùy duyên là ứng phó hàng ngày, chứ không
phải duyên lôi kéo.
Tùy
duyên bất biến là không có chấp, vì có bất biến không
bị duyên lôi kéo. Trong kinh Đại Niết Bàn nói chỉ có thế
thế lưu bố tưởng, không có trước tưởng: như người thế
gian gọi con ngựa, bực thánh cũng gọi con ngựa. Lời nói
của bực thánh giống như lời nói người thế gian là để
cho người thế gian biết. Con ngựa không phải thật, nhưng
người thế gian chấp con ngựa là thật.
Tùy
duyên của bực thánh là không chấp trước, chỉ có thế lưu
bố tưởng, không có trước tưởng. Người thế gian ở nơi
thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, chỉ khác chỗ này
thôi. Bực thánh tùy theo danh từ của người thế gian mà gọi,
khác nhau tâm chấp và tâm không chấp. Không có chấp không
phải không có tâm, tức không khởi niệm cho đó thật, cho
đó giả, sống một cách thoải mái tự tại, không bị một
cái nào dính mắc.
Có
một quan triều đình là người kiến tánh, sống như người
thường, mỗi ngày vẫn ăn cơm bình thường, bồng cháu đi
chơi. Nhưng trong tâm vị quan ấy tự do tự tại khác hơn người
thường, gần lâm chung, từ giả mọi người, rồi ngồi ngay
mà tịch (chết).
Hỏi:
Xin
Sư Phụ kể về Bố Đại Hòa Thượng?
Đáp:
Bố
Đại Hòa Thượng là người kiến tánh, hành vi của Ngài là
muốn cho người khác kiến tánh; chứ không phải Ngài cho bánh
kẹo mấy đứa bé và cùng đùa giởn, đó là người ta thêm
vô. Ngài có túi vải đựng đồ dùng hàng ngày, gặp ở đâu
thì ngủ ở đó.
Có
Tăng kiến tánh muốn thử Ngài có phải là kiến tánh không!
Tăng đi trước Ngài, Ngài đánh nhẹ vào vai Tăng, Tăng ngó
lại; Ngài nói: xin một đồng xu?
Tăng
nói: nói được, cho một đồng xu.
Ngài
bỏ túi vải xuống đất và khoanh tay đứng đó. Chỉ vậy
là Tăng biết Ngài đã kiến tánh.
-Tăng
khác hỏi: thế nào là túi vải?
Ngài
bỏ túi vải xuống đất, rồi đứng đó.
Tăng
hỏi: thế nào là việc trong túi vải?
Ngài
mang túi vải đi.
Hỏi:
Ngài
Cao Phong Diệu không phải thấu công án, mà phá công án phải
không?
Đáp:
Mục
đích khán công án giống như khán thoại đầu, chỉ là kích
thích niệm không hiểu không biết; rồi nhìn chỗ không hiểu
không biết. Muôn ngàn công án là mục đích kích thích niệm
không hiểu không biết, chứ không phải các công án có tác
dụng khác nhau.
Thầy
của Cao Phong Diệu hỏi Cao Phong Diệu “Không chiêm bao, không
suy nghĩ, vậy chủ ở đâu?” Lúc đó Ngài mới phá được
Trùng quan, chưa đến cuối cùng là Mạt hậu lao quan.
Các
vị kiến tánh danh tiếng, người ta tin; nhưng đệ tử không
chịu tin. Lúc đó ba anh em Viên Ngộ cho mình là kiến tánh,
thầy là Pháp Viễn không chịu ấn chứng. Ba anh em Viên Ngộ
giận bỏ đi nơi khác. Pháp Viễn nói “các vị bệnh nặng
sẽ biết đến tôi”. Nếu thật ngộ thì sanh tử giải quyết
được, nhưng các vị chưa giải quyết; nên gặp bệnh nặng
rồi dùng cái ngộ của mình đối trị không nổi. Khi hết
bệnh trở về, Pháp Viễn biết trước sẽ trở về.
Hỏi:
Có
phải các Thiền sư không sợ chết chăng?
Đáp:
Không
sợ chết rất dễ! Các dũng sĩ đi chiến trận không sợ chết,
nhưng các người đó không được giải thoát. Những người
cảm tử làm tai hại cho người ta, như người Nhật Bản lái
máy bay cấm vào Hàng không mẫu hạm.
Hỏi:
Tại
sao ba anh em Viên Ngộ không đối phó được sanh tử?
Đáp:
Vì
họ bệnh gần chết, nhưng đem cái ngộ của mình dùng không
được. Thiền là cái tâm, tất cả do tâm tạo. Ba anh em Viên
Ngộ trở về, mà Pháp Viễn đã biết trước. Viên Ngộ về
trước, còn hai người kia về sau. Viên Ngộ trong một tháng
kiến tánh triệt để.
Hỏi:
Đại
Thông Trí Thắng Phật 10 kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp
chẳng hiện tiền, mà chẳng thành Phật đạo?
Đáp:
Đại
Thông Trí Thắng Phật là Bích chi phật, tức là tu thừa Duyên
giác (Trung thừa). Vị này chấp ngồi, chỉ ngộ ở giữa đường
(hóa thành), chưa thành Phật, nhưng chứng được quả Bích
chi phật.
Hỏi:
Tham
Tổ sư thiền có cái gì thúc đẩy để cho mình tinh tấn?
Đáp:
Không
có cái gì đem ý mình để thúc đẩy cho tinh tấn, chỉ cần
đừng nổi lên một niệm nào là đủ rồi. Ngài Trung Phong
nói “ngoài nghi tình, nếu có một niệm nào nổi lên là tâm
trộm cắp”. Người trí thức muốn có sở hữu, muốn có
trí huệ để nhìn biết thế giới này. Nói vô sở hữu là
người ta đã phản đối, như thực tế là vậy, họ không
chịu nhìn nhận thực tế.
Tổ
Ấn Am thăng tòa nói “người tham thiền rất kỵ dùng tâm
sai lầm”:
-Minh
tâm kiến tánh là dùng tâm sai lầm.
-Thành
Phật thành Tổ là dùng tâm sai lầm.
-Xem
kinh, giảng giáo là dùng tâm sai lầm.
-Đi,
đứng, ngồi, nằm là dùng tâm sai lầm.
-Ăn
cháo, ăn cơm là dùng tâm sai lầm.
-Đại
tiện, tiểu tiện là dùng tâm sai lầm.
-Nhứt
động, nhứt tịnh, nhứt vãng, nhứt lai là dùng tâm sai lầm.
-Lại
còn có một chỗ là dùng tâm sai lầm, ta không dám nói trắng
ra. Tại sao? Vì “nhứt tự nhập công môn, cửu ngưu sa bất
xuất” (nói về hình phạt của chính phủ: một chữ ghi vào
công môn, chín con trâu kéo không ra).
Bất
cứ cái gì đều dùng tâm sai lầm, là tâm trộm cắp của
ngài Trung Phong nói. Vì vốn vô sở hữu, nếu có sở hữu
thì sai lầm. Như nói “minh tâm kiến tánh” là sai lầm, có
nổi lên tâm gì đều là sai lầm. Đến chỗ nhứt tâm không
khởi lên vẫn còn vô thỉ vô minh (thoại đầu), nhưng công
phu đến thoại đầu sắp kiến tánh; không nổi niệm gì (vô
tâm), nếu còn ngồi chỗ đó đối với kiến tánh cũng còn
rất xa. Đến chỗ này không còn đường đi, ngài Lai Quả
nói “đến thoại đầu, không muốn kiến tánh cũng không
được”.
Hỏi:
Bổng
nhiên người thấy mất tất cả, sau đó tìm lại bình thường.
Vậy có phải là vô ký không chăng?
Đáp:
Không
phải, đó là cảnh giới của vọng tâm; ý niệm nào nổi
lên đều là dùng tâm sai lầm.
Hỏi:
Năm
xưa nghèo chưa phải thật nghèo,
Năm
nay nghèo mới thật là nghèo.
Năm
xưa nghèo không đất cắm dùi,
Năm
nay nghèo đất dùi đều không.
Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Đây
là công án của Hương Nghiêm, Ngài thông suốt giáo lý; người
ta hỏi một đáp mười, ở dưới thiền hội của Bá Trượng.
Quy Sơn và sư huynh đệ đều kiến tánh, nhưng Ngài chưa kiến
tánh. Khi Bá Trượng tịch, Quy Sơn ra hoằng pháp, Hương Nghiêm
làm đệ tử và theo học.
Một
hôm, Quy Sơn muốn giúp Hương Nghiêm, hỏi: khi cha mẹ chưa
sanh, hãy nói một câu thử xem?
Hương
Nghiêm không trả lời được, xin Quy Sơn nói trắng ra cho hiểu.
Quy
sơn nói: Tôi không phải làm khó, nhưng sau này ông hiểu rồi
chửi mắng tôi.
Hương
Nghiêm đem tất cả kinh sách đốt hết, từ giả Quy Sơn hành
cước đến một ngôi chùa hoang; cất một cái cốc ở đó,
tự mình trồng trọt nuôi sống. Qua mấy năm, nghi câu hỏi
của Quy Sơn; đang nhổ cỏ, gặp miểng ngói rồi lượm liệng
trúng cây tre kêu “cóc”; Ngài nghe liền ngộ, lúc ấy mới
biết ý Quy Sơn không nói trắng ra. Nếu nói trắng ra, làm
sao có ngày nay ngộ! Biết ơn vô hạn, mà hướng về Quy Sơn
lễ bái làm pháp tử.
Bài
kệ trên của Hương Nghiêm truyền đến, Quy Sơn nói Hương
nghiêm đã ngộ.
Ngưỡng
Sơn đến Hương Nghiêm khám xét hỏi: nghe nói sư đệ ngộ
rồi, có cái gì trình ra xem?
Hương
Nghiêm nói bài kệ:
Năm
xưa nghèo chưa phải thật nghèo,
Năm
nay nghèo mới thật là nghèo.
Năm
xưa nghèo không đất cắm dùi,
Năm
nay nghèo đất dùi đều không.
Ngưỡng
Sơn nói: Sư đệ ngộ Như lai thiền, chứ chưa ngộ Tổ sư
thiền. Bây giờ còn cái gì nói ra thử xem?
Hương
Nghiêm nói bài kệ khác:
Ta
có một cơ nháy mắt nhìn y,
Nếu
mà chưa hội đừng gọi Sa di.
Ngưỡng
Sơn ấn khả “cung hỷ”, mừng cho sư đệ ngộ được Tổ
sư thiền.
Hỏi:
Thế
nào Tổ sư thiền và Như lai thiền?
Đáp:
Tổ
sư thiền không lập giáo lý, Như lai thiền có lập giáo lý;
có giáo lý thì có thể giải thích, như bài kệ “năm xưa
nghèo…” Bài kệ “ta có một cơ…” không có giáo lý,
nên không thể giải thích. Tam thừa đều có giáo lý, và có
pháp thiền để thực hành giáo lý. Tổ sư thiền không có
giáo lý, chỉ có thực hành; tức là tham công án, tham thoại
đầu. Cho nên nói thiền có 4 thừa, giáo lý chỉ có 3 thừa.
Hỏi:
Hiểu
giáo lý rồi tu Tổ sư thiền, giống như nương theo ngón tay
để nhìn mặt trăng. Xin Thầy khai thị?
Đáp:
Tôi
gặp những người hiểu giáo lý lọt vào tà đạo nhiều hơn,
vì họ chấp hiểu biết của mình, họ hiểu sai lầm. Không
những lọt vào sai lầm, mà còn hoằng dương tà đạo. Ngài
Trí Giả nói “học Phật pháp thành ngoài đạo”, tiêu diệt
Phật pháp là do những người này, gọi là con trùng ăn thịt
sư tử. Từ điển Phật Học ghi ngài Trí Giả ngộ Thiên thai
tông, có giải thích 3 thứ ngoại đạo:
1-Chánh
thức ngoại đạo (tu thành sống muôn ngàn năm, có thể sanh
cõi trời).
2-Gắn
bản Phật giáo mà hành ngoại đạo (những người đó dầu
cho tu thành, cũng phải xuống địa ngục).
3-Học
Phật pháp thành ngoại đạo (hiểu lầm ý Phật, đem ý mình
thay thế cho ý Phật để dạy người; tự mình vẫn còn không
biết cho là thông suốt, giảng kinh thuyết pháp. Những người
ấy tiêu diệt Phật pháp, Phật thọ ký là con trùng ăn thịt
sư tử. Bởi vì, sư tử chết mà các con thú khác không dám
đến gần để ăn thịt, phải đợi sư tử chết thúi sanh
ra con trùng ăn thịt của nó. Cho nên, nói những người học
Phật pháp trở thành ngoại đạo tiêu diệt Phật pháp).
Hỏi:
Tại
sao sanh về Bắc Câu Lưu châu thì chướng ngại kiến tánh?
Đáp:
Vì
chỗ này phước nghiệp của mỗi người bằng nhau, sanh ra
tự lớn, quần áo, ăn uống đều tự nhiên; người nào cũng
sống 1.000 năm, họ khỏi cần lo gì hết; muốn cái gì được
cái nấy, muốn ăn thì đồ ăn trước mặt, ăn xong rồi tự
dọn dẹp.
Hỏi:
Tham
Thiền Phổ Thuyết nói “người thích vật hoặc theo tình
cảm, xưng hô lễ phép ấy là tình; lời nói, vấn đáp kiến
giải hiểu biết ấy là thức. Chính tình thức làm cho thiền
đường suy tệ”. Xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Cuộc
sống hàng ngày, tất cả đều dùng tình thức. Kinh Lăng Nghiêm
nói “tình nhiều chừng nào đọa xuống nhiều chừng nấy”,
tình chỉ có đọa, không có lên; tưởng có cái đọa, có
cái lên. Như thiền quán tưởng thì lên, tưởng bậy bạ thì
đọa. Thức là phân biệt, tánh của mình muốn cái tốt chê
cái xấu. Như bây giờ vì phân biệt mà xẩy ra chiến tranh
đổ máu.
Cọp
đối với con nó có tình thương mẹ con, nhưng phân biệt không
phải con của nó, thì xé thịt cho con nó ăn. Người có kiến
giải cao, nhưng ác hơn cọp không biết bao nhiêu lần. Cọp
đói mới ăn thịt loại khác, con người chưa đói lại muốn
hại người khác, vì muốn cho mình có nhiều tiền; do tiền
mà anh em cha mẹ cũng hại được.
Cọp
không bao giờ giết hại đồng loại, vì lợi ích nên con người
giết hại đồng loại; có khi giết một cách thê thảm, đó
là do kiến giải mà ra. Bởi kiến giải, họ tổ chức chính
trị ra lịnh giết biết bao nhiêu triệu người.
Hỏi:
Tại
sao thông minh từ cảnh được?
Đáp:
Cảnh
sanh tâm, tâm sanh cảnh. Bây giờ, nhà khoa học thông minh nghiên
cứu cảnh, phát hiện cảnh chưa phát hiện, cho mình hiểu
biết nhiều hơn, thông minh hơn, nên người ta gọi là nhà
khoa học.
Hỏi:
“Người
hành đạo đời đời kiếp kiếp, trừ cái tu huệ phương
tiện này ra, tất cả đều là hành vi nghiệp. Cho nên, nói
tu phước chẳng tu huệ như bạch tượng đeo chuổi ngọc”.
Kính xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Huệ
không phải trí huệ bộ óc của thế gian, huệ là tự tánh
sẵn có; bây giờ nói tu huệ là nói theo thế gian, kỳ thật
tu là hiện trí huệ sẵn có, không phải do tu được trí huệ
đó. Những người tu phước được phước báo, phước báo
hết đọa theo nghiệp.
Tiền
thân voi trắng tu phước không tu huệ, nên đầu thai thành
voi trắng không có trí huệ; nhưng được nhà vua thương mến,
cho người chăm sóc kỹ lưỡng.
Hỏi:
Đoạn
văn trong Tham Thiền Phổ Thuyết “Thường trụ thật là khó
làm. Như chỗ rạp hát rất là vui vẻ hấp dẫn, ở mười
ngày hai mươi ngày còn lưu luyến, chứ ở lâu thì chẳng chịu
nổi. Sao vậy? Chỗ không vừa ý, khó trụ là lẽ đương nhiên,
tại sao chỗ vừa lòng mà cũng chẳng thường trụ? Trong đó
có cái việc kỳ đặc mà phàm chẳng thể hiểu, Thánh chẳng
thể hội. Kỳ đặc ra sao? Một niệm ban đầu của chúng ta
y vào gốc vô trụ mà sanh huyễn trụ, như chẳng thể thường
trụ là chẳng phải hiện tại chẳng thường trụ.
Thế
giới có tướng thành, trụ, hoại, không; con người có tướng
sanh, già, bệnh, chết; tâm có tướng sanh, trụ, dị, diệt,
đều chẳng phải tướng thường trụ. Mọi người đều theo
tướng này sanh, theo tướng này diệt, chẳng thể nào chạy
ra khỏi tướng này một bước. Cho nên nói: ‘Pháp đó trụ
ngôi pháp, tướng thế gian thường trụ’. Ngộ được tướng
này, tất cả các tướng đều thường trụ”. Kính xin Sư
Phụ khai thị?
Đáp:
Thường
trụ ở đây nói là Tự tánh, Tự tánh thì bất động (như
như bất động). Kinh Lăng Nghiêm nói “tất cả có lay động
nên biến đổi”, có biến đổi phải chết mất. Cái nào
không lay động thì không biến đổi, nên không chết mất
(thường trụ). Thường trụ này là Tự tánh không thay đổi
(không lay động), nhưng tất cả lay động là cái dùng của
nó.
Như
Lục Tổ nói “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn
động, mà tâm của ông động”. Nói tâm của ông động,
không phải tâm có động nhưng là cái dùng của tâm, làm cho
phướn động, làm cho gió động. Khoa học bây giờ cũng chứng
tỏ, họ không nói là năng lượng của tâm.
Tánh
con người ham thích, tương đối là chán nản; như nghe nói
tuồng hát hay liền đi coi, coi hai ba lần là chán nản; bảo
đi coi nữa thì không muốn đi, nhưng lần đầu rất ham thích.
Thường trụ này là bản tâm của mình, tánh vốn là vậy.
Tự
tâm là như như bất động, nói theo lời thế gian là thường
trụ. Nhưng cái dụng vô trụ, nếu cái dụng mà trụ thành
chấp, bản thể vô trụ. Như tấm gương không động, dụng
chiếu soi, người nam đến hiện hình người nam, người nữ
đến hiện hình người nữ… bất cứ gì đến cũng hiện.
Hiện là cái dụng của tấm gương, nhưng nó chỉ có một
mặt, mặt sau không dùng được.
Cho
nên, hình dung bản tâm là Đại viên cảnh trí, là cái gương
tròn; tức chiếu soi hết mười phương, không chỗ nào thiếu
sót nhưng chẳng động. Ngài Long Thọ giải thích hư không
vô sở hữu, tất cả đều ở trong vô sở hữu và hiển bày
cái dùng. Vô sở hữu không động, nhưng tất cả đều động;
mà trụ cái động nào, gọi là vô trụ. Nếu trụ một cái
động nào là chướng ngại cái dùng.
Nếu
theo tướng thế gian thì sanh diệt, không có thường trụ;
nhưng trụ theo ngôi pháp là thường trụ, như giấy trụ nơi
ngôi pháp giấy, đem giấy đốt thì ngôi pháp giấy mất, thành
ngôi pháp tro trụ ngôi pháp tro. Tùy theo pháp sanh trụ nơi
pháp sanh, pháp diệt trụ nơi pháp diệt; tức là không đem
ý mình vô trong pháp đó, tất cả đều y như cũ; không đem
ý mình cho thật hay giả, không xen ý mình vô là vô trụ. Pháp
nào trụ theo pháp đó gọi là thường trụ.
Có
người dịch là “tướng thế gian thường còn” thì sai nghĩa.
“Thường trụ” không thể dịch là “thường còn” được,
nghĩa thấy giống nhưng ý lại khác. Nếu “thường trụ”
dịch là “thường còn” thì “chẳng trụ” phải dịch
là “chẳng còn”, vậy “chẳng còn” không thể được.
Cho nên, thường trụ chẳng phải chẳng còn, chẳng trụ chẳng
phải chẳng còn.
Hỏi:
Tại
sao số lượng chúng sanh chẳng thể biết?
Đáp:
Vì
không có ngã, nên không kiến lập đơn vị; do đó Phật nói
vô thỉ vô sanh. Nếu có đơn vị thì bây giờ hết chúng sanh,
tất cả đều thành Phật. Kinh nói một đại kiếp có một
chúng sanh thành Phật, nếu chúng sanh có đơn vị thì Phật
cũng có đơn vị; chúng sanh bớt một ngàn thì Phật tăng thêm
một ngàn. Chúng sanh có số lượng, còn thời gian không có
số lượng. Một đại kiếp trước bớt hết một ngàn chúng
sanh, một đại kiếp trước nữa bớt hết một ngàn chúng
sanh nữa… dần dần chúng sanh sẽ hết.
Vì
chúng sanh không có số lượng, nên Phật cũng không tăng thêm,
chúng sanh cũng không bớt, tận cùng vị lai cũng bao nhiêu chúng
sanh đó. Tại sao? Vì chúng sanh chẳng phải chúng sanh, Phật
chẳng phải Phật. Do tâm chấp thành chúng sanh, hết tâm chấp
gọi là Phật. Nhưng chấp và không chấp là hư vọng. Bát
Nhã Tâm Kinh nói “vô lão tử diệc vô lão tử tận”, không
có già chết, cũng không có hết già chết; tức là không có
sanh tử thì không có Niết bàn.
Nhưng
bây giờ thấy sanh tử rõ ràng, do tâm mình hoạt động. Như
thân mình xoay thấy căn nhà xoay, tâm ngưng hoạt động thì
sanh tử hết, thân ngưng xoay nên căn nhà hết xoay. Xoay dụ
cho luân hồi, ngưng xoay dụ cho Niết bàn. Căn nhà vốn không
có xoay, mà nói là căn nhà ngưng xoay!
Tâm
như như bất động, vì vọng chấp thành cái tình; chỉ là
tình chấp, không phải sự thật; tức ở trong chiêm bao. Lúc
thức tỉnh chiêm bao thì việc chiêm bao hết, bản thể vẫn
y như cũ. Khi chiêm bao mà bản thể không thêm, lúc thức tỉnh
rồi bản thể không bớt. Do chiêm bao thấy mọi vật, thức
tỉnh không còn thấy nữa.
Hỏi:
Có
người hỏi đức Phật: người chứng quả A La Hán rồi sẽ
đi về đâu?
Đức
Phật đáp: ví như một đốm lửa tắt rồi sẽ đi về đâu?
Kính
xin Thầy khai thị?
Đáp:
Bản
tâm cùng khắp hư không, nếu có chỗ trở về thì không cùng
khắp. Bây giờ, nhà khoa học cũng chứng tỏ ánh sáng cùng
khắp hư không. Nếu cùng khắp hư không, cây đèn tắt rồi
ánh sáng đi về đâu! Làm sao có chỗ về!
Hỏi:
“Chúng
sanh không có duyên thì không thể độ, định nghiệp chúng
sanh không thể chuyển”. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Phải
rồi, không phải tuyệt đối. Sau khi kết duyên độ được,
không có duyên tạm không độ được. Định nghiệp chỉ một
lúc nào thôi, chứ không phải vĩnh viễn. Như định nghiệp
kiếp này, nhưng kiếp sau lại khác. Từng sát na khác nhau,
tâm mình thay đổi nên nghiệp cũng thay đổi.
A
La Hán chỉ biết 8 muôn kiếp sau, biết cái nghiệp sát na này
kéo dài 8 muôn kiếp sau, sát na kéo dài 8 muôn kiếp sau đã
thành khác, có cái vẫn còn y vậy, có cái do tâm biến đổi.
Như sát na trước còn ác, sát na sửa lại thiện thì nghiệp
đã biến đổi rồi. Các vị ấy thấy suốt 8 muôn kiếp trước,
mà căn cứ sát na hiện nay chứ sát na sau không được.
Hỏi:
Đoạn
văn trong Tham Thiền Phổ Thuyết nói:
“Như
người đời ngày đêm dụng tâm bận rộn công việc gia đình,
chẳng từng nói đến tâm thì đâu thể được sự thôi nghĩ
của nó. Người học đạo hàng ngày bị vọng lôi đi, khởi
rồi lại dừng mà chẳng biết chỗ dừng, dừng rồi lại
khởi mà chẳng biết chỗ khởi, vì chưa kịp để ý đến
chỗ này.
Phải
biết vọng không có nguyên nhân, như sóng đuổi theo nhau, gió
dừng thì sóng lặng, khi biển yên sóng lặng quay đầu lại
tức là giác. Người trong ngoài lay động, biết rồi lại
mất, thấy rồi lại dời, làm sắc làm không, hoặc ẩn hoặc
hiển, man mác chẳng thật, nói chung đều là vọng. Đã biết
được vọng ắt phải biết chân, nay cho nhiều tâm là vọng,
một tâm là chân, đã kiến lập một tâm, ắt phải trừ vọng.
Phương
pháp trừ vọng quý ở tham thiền. Hằng ngày có thiền thì
tự có thể thôi vọng. Người xưa nói: “Cuồng tâm ngưng
nghỉ, ngưng nghỉ tức Bồ đề”. Cổ nhân ngay dưới chữ
Bồ đề quở là “thằng chết”, đến đây một tâm cũng
bất khả đắc. Đã là Bồ đề, tại sao nói là “thằng
chết”?
Kính
xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
“Thằng
chết” thí dụ tâm ngưng hoạt động, tức bộ óc ngưng hoạt
động không còn vọng tưởng. Tâm vốn không thể chết, vì
tồn tại vĩnh viễn. Không những bản tâm tồn tại vĩnh viễn,
mà cái dụng của bản tâm (tánh thấy, tánh nghe, tánh biết…)
đều tồn tại vĩnh viễn (kinh Lăng Nghiêm chứng tỏ).
Hỏi:
“Nhân
niệm Phật là cảm quả vãng sanh Tây Phương”. Kính xin Sư
Phụ khai thị?
Đáp:
Niệm
Phật phải đúng tông chỉ Tịnh độ mới được vãng
sanh Tây Phương, tham thiền cũng phải đúng tông chỉ,
nếu không đúng sẽ lọt vào tà ma. Tu theo pháp môn nào, phải
đúng theo tông chỉ của pháp môn đó, nếu không đúng thì
không được.
Hỏi:
Tu
Tịnh độ phải phát đại nguyện, tin cõi Phật A Di Đà và
nguyện về cõi Ngài. Nhưng cuộc sống này còn trong tình trong
thức, nên vẫn còn phân biệt. Trong kinh Di Đà không nói chỗ
nào ăn chay?
Đáp:
Không
phải nói ăn chay, mà nói về nhân quả là nhân nào quả nấy
“ăn cục thịt trả cục thịt, giết một mạng trả lại
một mạng”. Cho nên, tiểu nguyện trái với nhân quả, không
được vãng sanh. Tiểu nguyện chỉ cầu một mình vãng sanh,
đại nguyện là cầu tất cả chúng sanh được vãng sanh. Phải
thực hành đại nguyện của mình phát, nếu chỉ miệng nói
tâm nghĩ là nguyện suông, nguyện giả thì không được vãng
sanh.
Hỏi:
Thọ
Bát Quan Trai cảm quả đạo tràng rồi phải không?
Đáp:
Không
phải, Tòng Lâm thì khác, Tòng Lâm tựu chúng nhiều chuyên
tham Tổ sư thiền. Trung Quốc có Tòng Lâm lớn dung nạp 3.000
ngàn người. Thầy của tôi tu tại Phước Kiến, ở đó có
200 Tỳ kheo tu trong Thiền đường nhỏ. Tất cả người tham
thiền ăn uống, ngủ nghỉ… đều ở trong Thiền đường,
trong đó có nhiều bộ phận như: bệnh viện, tòa án…
Thọ
Bát Quan Trai là cái cầu nối đưa đến xuất gia, thực tập
xuất gia một ngày một đêm là gieo nhân xuất gia, để sau
này có duyên xuất gia.
Hỏi:
Thọ
Bát Quan Trai và người ở Tòng Lâm khác nhau như thế nào?
Đáp:
Thọ
Bát Quan Trai thuộc về bên Giáo môn, họ chưa thể giải thoát.
Ở Tòng Lâm tham thiền giải thoát ngay chỗ đó. Đả thiền
thất ở Tòng Lâm có 10 thất liên tiếp và thêm ngày đầu
ngày cuối, tổng cộng 72 ngày. Nhiều vị Tổ trong thất thứ
nhất kiến tánh, có người thất thứ nhì kiến tánh, có người
thất thứ ba kiến tánh, có người thất thứ tư kiến tánh.
Vua Ung Chính thất thứ nhì kiến tánh, nhưng kiến tánh vẫn
làm vua.
Hỏi:
Làm
sao biết mình kiến tánh?
Đáp:
Kiến
tánh gọi là chánh biến tri, tức khắp không gian thời gian,
không có cái nào mà không biết. Nói về thời gian, ngủ mê
bộ óc không biết, chết giấc không biết, chết rồi không
biết. Còn cái biết Phật tánh (chánh biến tri), chết giấc
cũng biết, chết rồi cũng biết. Nếu chết rồi không biết
thì có gián đoạn, không cùng khắp thời gian. Không những
kiếp này, mà những kiếp trước kiếp sau đều biết, vì
cùng khắp thời gian. Kiến tánh thì mình tự biết, bản thể
vốn là vậy; bản thể hiện lên, vì bản thể khắp không
gian thời gian; không gian thời gian đều ở trong đó.
Hỏi:
Thọ
Bát Quan Trai là trồng nhân xuất gia, vậy Phật có muốn cho
mọi người xuất gia không?
Đáp:
Đức
Phật không phải muốn mọi người xuất gia, mà muốn mọi
người kiến tánh. Cho nên Tòng Lâm khỏi cần xuất gia vẫn
kiến tánh, cư sĩ, ông vua, thừa tướng, bà già bán rong ngoài
đường đều có thể kiến tánh.
Lục
Tổ kiến tánh lúc còn cư sĩ, sau 15 năm mới xuất gia; vì
để có hình tướng oai nghi dễ hoằng pháp nên Lục Tổ xuất
gia. Trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có 3 bé
gái không phải người xuất gia mà kiến tánh, lại còn con
nít (Long Nữ 8 tuổi, cô họ Trịnh 13 tuổi, cô họ Tô 15 tuổi).
Hỏi:
Có
phải xuất gia dễ ngộ hơn không?
Đáp:
Lục
Tổ nói “thân tại gia mà tâm xuất gia, hơn thân xuất gia
mà tâm tại gia”. Không phải xuất gia hay tại gia, do tại
tâm. Cho nên, nói “đạo do tâm ngộ bất tại tọa” (đạo
do tâm ngộ, chẳng ở chỗ ngồi). Xuất gia không tu đàng hoàng
bị mắc nợ thí chủ, xét theo giới luật có nhiều người
mắc nợ phải đọa địa ngục, từ địa ngục ra còn phải
trả nợ cho thí chủ.
Hỏi:
Tham
thiền dành cho người khờ ngốc phải không?
Đáp:
Không
phải, người thông suốt giáo lý cũng kiến tánh, người khờ
ngốc cũng kiến tánh; hai người ấy có khả năng kiến tánh
bằng nhau.
Hỏi:
Sao
tham thiền thấy như khờ ngốc?
Đáp:
Ấy
là công phu của người ta đến mức đó, bên ngoài người
ta thấy như khờ ngốc; nhưng sự thật không phải, vì công
phu đó cao.
Hỏi:
Đoạn
văn trong Tham Thiền Phổ Thuyết nói “Điều thiết yếu là
chẳng nên chấp lý mà bỏ sự, Thiền tông quở là kẻ vác
bảng, cũng chẳng nên chấp dụng hoặc nguyên thể bị mắng
là kẻ đột phá. Thiên về tánh là chỉ chứng nhị thừa,
thiên về tướng thành phàm phu; cần phải tánh tướng song
hành, sự lý vô ngại mới được pháp thể trang nghiêm vậy”.
Kính xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Đó
đem giải thích là vậy. Tự tánh, Phật tánh đều là bản
tánh của tâm. Đem tướng chia ra làm 4 cấp: ngã tướng, nhân
tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Đến khi kiến
tánh không còn phân biệt tánh và tướng, gọi là thật tướng.
Kinh Viên Giác giải thích có 2 thứ 4 tướng:
Bốn
tướng của phàm phu: Chấp thân này là ngã tướng, tiến lên
tất cả nhân loại là nhân tướng, tiến lên nữa là chúng
sanh tướng, nhưng còn chấp tất cả trong thời gian là thật,
gọi là thọ giả tướng.
Bốn
tướng của bực thánh đã chứng quả: Chấp cái ngộ của
mình chứng gọi là ngã tướng; tiến lên một bước biết
cái ngộ đó không có ngã (chứng tỏ không thành lập cái
ngã), nhưng có năng chứng sở chứng, thuộc về nhân tướng;
tiến lên một bước nữa, liễu tri ngã tướng nhân tướng
không thể thành lập, nhưng có năng liễu tri sở liễu tri,
nên gọi là chúng sanh tướng; rồi tiến lên một bước nữa
là chứng Niết bàn không có ngã tướng, nhân tướng, chúng
sanh tướng, nhưng ôm Niết bàn cho là ta chứng, gọi là thọ
giả tướng.
Cái
của Phật là Bồ đề viên mãn quy vô sở đắc, không có
đắc, không có chứng, luôn cả Niết bàn cũng không có. Vừa
rồi nói, hư không vô sở hữu, nếu còn sở hữu thì không
được. Mặc dù, cái sở hữu là Niết bàn cũng không được,
cái sở hữu đó là Phật cũng không được. Nếu có sở hữu
thì còn có tướng là chướng ngại. Vì thật tướng là vô
tướng, nếu có tướng không phải là thật tướng.
Hỏi:
Tại
sao tu nhân khổ hạnh cảm quả phước đức?
Đáp:
Phật
không có chủ trương khổ hạnh, nên người chấp khổ hạnh
là còn cái ngã; muốn dùng khổ hạnh mài giũa cái ngã. Nhưng
cái nhân là ngã, không phải bôi xóa cái ngã.
Hỏi:
Huệ
trì nhập định trong bọng hơn 700 năm, vậy Ngài có biết
gì không?
Đáp:
Ngài
nhập định hơn 700 năm, theo cảm giác của Ngài biết có một
chút xíu. Cho nên, ngài hỏi “sư huynh của tôi có khỏe không?”
Người ta tính ra là Ngài nhập định hơn 700 năm.
Hỏi:
Diệt
tận định là sao?
Đáp:
Diệt
tận định của cõi trời cao nhất, còn có ngã chấp chưa
ra khỏi luân hồi. Diệt tận định của A La Hán phá được
nhân ngã chấp, ra khỏi lục đạo luân hồi. Giáo môn giải
thích là dứt được phần đoạn sanh tử, nhưng chưa dứt
được biến dịch sanh tử. A La Hán còn có sở đắc, phải
cần tiến lên đến Diệu giác (quả Phật) được vô sở
đắc.
Hỏi:
“Phải
biết tự mình hành đạo là công nhỏ, khuyên người hành
đạo là công to, thế nên cái đạo lợi hành vô tận”. Kính
xin Sư Phụ khai thị?
Đáp:
Phải
rồi, tự mình là cái ngã; Bồ tát hành đạo quên mình vì
người khác.