|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Tối
Thượng thừa thiền bao gồm tất cả thiền, trừ ra thiền
ngoại đạo, có phải vậy không?
Đáp:
Không
phải vậy, Tổ Sư thiền là pháp thiền trực tiếp không có
cấp bậc, còn tất cả thiền kia (Tiểu thừa, Trung thừa,
Đại thừa) đều có cấp bậc và có giáo lý, theo giáo lý
để thực hành pháp thiền.
Tứ
Niệm Xứ ở trong 37 phẩm trợ đạo của Tiểu thừa, Tiểu
thừa có thiền quán là Ngũ Đình Tâm quán, Tứ Niệm Xứ là
giúp cho thiền quán để được thành tựu, chứ không phải
pháp tu chánh, pháp tu chánh là Ngũ Đình Tâm Quán. Bây giờ
người ta lấy tên Tứ Niệm Xứ để tu, nhưng không phải
Tứ niệm Xứ của Phật. Tứ Niệm Xứ của Phật đều dùng
để phá chấp, còn Tứ Niệm Xứ của người ta thì lại chấp
thêm.
Hỏi:
Có
phải pháp thoại đầu của Ngài Lâm Tế không?
Đáp:
Pháp
tham thoại đầu, công án không phải chỉ thuộc về phái Lâm
Tế hay phái Tào Động, tức là 5 phái (Lâm Tế, Tào Động,
Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng) đều tham thoại đầu, công
án. Từ đời nhà Tống Trung Hoa, bộ Truyền Đăng Lục (lịch
sử Phật giáo đầu tiên) ra đời, lúc ấy niên hiệu Cảnh
Đức đời nhà Tống, nên gọi là Cảnh Đức Truyền Đăng
Lục, tất cả cơ xảo của chư Tổ đều ghi trong đó; hành
giả tham thiền coi rồi, nên cơ xảo của Chư Tổ không dùng
được nữa. Như Tổ đánh, hét cách mấy, nhưng người ta
không phát nghi lên được, vì họ đã biết là cơ xảo. Bất
đắc dĩ chư Tổ mới dạy tham thoại đầu, công án.
Hỏi:
Ngoài
pháp tham thoại đầu, công án, còn có pháp Tối Thượng Thừa
thiền nào khác không?
Đáp:
Không
có pháp Tối Thượng Thừa thiền nào khác, các pháp môn khác
đều cũng có thiền, nhưng chỉ Tổ Sư thiền mới gọi là
Thiền tông, còn các phái kia không được gọi là Thiền tông.
Tối
Thượng thừa thiền là do Lục Tổ nói, kỳ thật không phải
là Tối Thượng Thừa, vì đó là pháp thiền trực tiếp, các
thiền kia là pháp thiền gián tiếp. Nên mới gọi pháp thiền
trực tiếp là Tối Thượng Thừa thiền. Vì không qua giai cấp,
không cần học giáo lý.
Bây
giờ Tổ Sư thiền không có nhiều phái và không có cơ xảo
khác biệt. Hồi đó có nhiều phái là do có nhiều cơ xảo
khác biệt, như Lâm Tế hét, Đức Sơn phản có cơ xảo khác
biệt. Tổ Sư thiền thời này đều tham thoại đầu, công
án.
Hiện
nay tham công án, thoại đầu truyền qua Nhật Bản, Đại Hàn
lại khác. Vì muốn cho bậc trí thức thỏa mãn tìm hiểu,
các Thiền Sư giải đáp công án làm lấp bít cửa ngộ của
người tham thiền, nên người tham thiền không bao giờ ngộ
được nữa.
Nhưng
không cho tìm hiểu công án, vì tác dụng công án là để
ngộ, nếu ngộ không được thì không hiểu nên phải nghi,
giữ cái nghi đó sau này mới được ngộ.
Hỏi:
Trung
thừa dùng kinh nào để tu?
Đáp:
Trung
thừa dùng Thập Nhị Nhân Duyên, nên gọi là Duyên Giác, vì
do nhân duyên mà được ngộ đạo. Lúc không có Phật mà họ
ngộ đạo thì gọi là Độc Giác, họ không cần kinh điển,
họ quán vũ trụ vạn hữu có thành, trụ, hoại, không hay
sanh, trụ, dị, diệt.
-
Thập Nhị Nhân Duyên ở trong kinh nào?
-
Thập Nhị Nhân Duyên không ở trong kinh nào ghi, nhưng tất
cả kinh nào cũng có cái đó. Vì đó là nhân duyên, Phật pháp
là do nhân duyên hợp nên sanh, nhân duyên tan thì diệt. Phật
pháp nói đến nhân duyên, nhưng nhân duyên là tánh không để
phá chấp của ngoại đạo, phá chấp của Tiểu thừa.
Ngưỡng
Sơn thí dụ: Lục căn như cái nhà có 6 cửa sổ, giữa nhà
thắp một cây đèn, ánh sáng rọi ra 6 cửa sổ ra ngoài. Tiểu
thừa đem màng đen che 6 cửa sổ, để cho ánh sáng khỏi tiếp
xúc cảnh ngoài, có khi cũng có thể ánh sáng lọt ra ngoài.
Tối Thượng thừa khỏi cần che cửa sổ, chỉ cần tắt cây
đèn là xong thì đâu còn ánh sáng để tiếp xúc bên ngoài.
Cửa sổ vẫn y nguyên và ánh sáng trong nhà và ánh sáng ngoài
nhà đều giống nhau.
Hỏi:
Nói
là từ không chỗ bắt đầu, rồi đến chỗ không cuối cùng.
Nhưng Phật Giáo chia ra nhiều thừa (Tiểu thừa, Trung thừa,
Đại thừa, Tối Thượng thừa). Như vậy việc ấy như thế
nào?
Đáp:
Phật
thuyết pháp vừa xong liền phủ định không có thừa nào cả.
Thiền Sư Bổn Tịnh nói: “Phật còn không có, Tâm cũng không
có”. Giáo pháp là để hiển bày tâm, nếu tâm còn không
có thì hiển bày cái gì?
Hỏi:
Sư
Phụ nói: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, chỉ có Tối
Thượng thừa tham thoại đầu, công án. Như vậy con thấy
cái nào cũng giống nhau phải không?
Đáp:
Phải,
cuối cùng cái nào cũng đều giống nhau. Vì hỏi sự khác
biệt của các thừa, nên Phật dùng phương tiện để giải
thích, cuối cùng Phật đã phủ định. Nếu đến chỗ cuối
cùng thì chẳng có cái gì, như hư không vô sở hữu dung nạp
tất cả, dùng hư không để thí dụ tâm mình cũng vô sở
hữu. Tâm đã vô sở hữu thì lấy cái gì để lập ra giai
cấp?
Ông
đã có tư tưởng chấp thật, tôi giải thích chỗ cuối cùng
là vô tu vô chứng, Bồ Đề viên mãn thì không tu không chứng.
Không tu làm sao có giai cấp, có bậc Trung thừa, Đại thừa?
Làm sao có tu chứng?
Hỏi:
Vì
các pháp đều giả huyễn, nên chẳng có cấp bậc nào. Vậy
có đúng không?
Đáp:
Nói
giả huyễn cũng không đúng, vì có thật nên mới nói giả
huyễn. Thật không thể thành lập thì giả huyễn làm sao thành
lập? Cho nên, kinh Lăng Nghiêm nói: “Phi huyễn (chẳng phải
huyễn) không thành lập được, vậy pháp huyễn làm sao có?”
Bởi vậy, kinh nói: “Phàm có lời nói đều chẳng có nghĩa
thật”.
Hỏi:
Nếu
đời này tham câu thoại đầu để phát nghi, nhưng đời này
chưa ngộ và nhiều đời sau cũng không ngộ. Vậy người tham
thoại đầu đó sẽ đi về đâu?
Đáp:
Đừng
nói đâu xa, gần đây như: Ngài Lai Quả, Ngài Hư Vân đều
có hình. Ngài Lai Quả mới tịch năm 1953 là người đã ngộ,
Ngài Hư Vân đã tịch năm 1960 là người đã ngộ. Chứ không
phải không có người nào ngộ! Nhưng theo ông nói thì kiếp
này qua kiếp kia không thể ngộ.
Còn
Ngài Nguyệt Khê đã ngộ và tịch năm 1965, nhục thân hiện
nay để thờ tại chùa Vạn Phật ở Cửu Long, Hồng Kông.
Ở đây cũng có đến đó thăm nhục thân của Ngài Nguyệt
Khê. Nếu theo ông hiểu thì những vị này không ngộ! Phật
pháp không phải nói suông là sự chân thật phải có thực
dụng.
Hỏi:
Thế
nào 4 bài kệ chữ TRI của Ngài Vĩnh Gia?
Đáp:
Bốn
bài kệ chữ “tri” của Ngài Huyền Giác Vĩnh Gia đại sư
dùng cánh tay để thí dụ vô duyên tri của Phật tánh, cũng
gọi là Chánh Biến Tri, cũng là Trí Bát Nhã. Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Tri kiến lập tri, tức vô minh bổn”. Nay Ngài Vĩnh
Gia dùng cánh tay để thí dụ sự tri chẳng kiến lập, vì
có kiến lập thì có nhân duyên đối đãi, chẳng thể gọi
là Vô Duyên Tri. Nói “Vô Duyên” là không có nhân duyên đối
đãi.
Bài
kệ thứ nhất:
Nếu
dùng Tri tri Tịch,
Chẳng phải vô duyên tri.
Như tay cầm Như ý,
Phi tay chẳng như ý.
(Chẳng
phải tay không cầm như ý)
Nếu
kiến lập sở tri, dù sở tri là tịch lặng, những người
tu đến mức độ tịch lặng, cảm thấy thanh thanh tịnh tịnh,
tự cho là mức độ cao lắm mà chẳng biết, hễ kiến lập
sở tri thì có năng sở đối đãi, chướng ngại sự dụng
hoạt bát vạn năng của bản tri (vô duyên tri).
Như
tay cầm như ý thì trụ nơi ngoại cảnh, đánh mất sự dụng
hoạt bát vạn năng của tay. Tay chẳng cầm cây như ý thì
muốn lấy gì cũng được, hễ tay cầm cây như ý rồi thì
lấy gì cũng chẳng được vậy.
Bài
kệ thứ hai:
Nếu
dùng Tri tri Tri,
Chẳng
phải vô duyên tri.
Như
tay chẳng tác quyền,
Phi
tay chẳng tác quyền.
Bài
kệ thứ hai là tiến thêm một bước, dù chẳng lập sở tri,
nhưng biết mình có năng tri, vẫn là kiến lập sự tri. Có
tri thì có bất tri đối đãi, nên chẳng phải vô duyên tri.
Như
tay chẳng cầm vật bên ngoài, mà tự tác quyền (tự làm nắm
tay), tác quyền rồi (tức là trụ nơi cái tri của tự mình
kiến lập) thì mất hết sự dụng hoạt bát vạn năng của
tay, nên chẳng cầm được đồ vật nào cả.
Bài
kệ thứ ba:
Chẳng
dùng Tri tri tịch,
Cũng
chẳng tự tri tri.
Chẳng
phải là vô tri,
Vì
tự tánh rõ ràng,
Chẳng
đồng như gỗ đá.
Vậy
chẳng biết ngoại cảnh, cũng chẳng tự có biết. Người
ta cho như thế là lọt vào vô tri như gỗ đá chẳng biết
gì cả, nên có bài kệ thứ ba: Vì tự tánh rõ ràng, chẳng
đồng như gỗ đá. Thế thì làm sao chứng minh được?
Bài
kệ thứ tư:
Tay
chẳng cầm như ý,
Cũng
chẳng tự tác quyền,
Chẳng
phải là không tay,
Vì
tay vẫn an nhiên,
Chẳng
đồng như sừng thỏ.
Dùng
cánh tay để chứng tỏ: Như tay chẳng cầm vật ngoài, cũng
chẳng tự tác quyền, chẳng phải là không tay. Vì tay vẫn
an nhiên chẳng hề bị mất, nên chẳng đồng như sừng thỏ.
Tại sừng thỏ chỉ có tên gọi, mà chẳng có vật thật vậy.
-
Tham thiền là quét sạch năng sở, nếu có năng tri thì thành
sở tri ngu, mặc dầu có sở tri cao tột.
Lấy
tịch lặng làm sở tri còn không được, huống là lấy cái
vọng làm sở tri!
Nam
Tuyền ngữ lục
Trích
dịch trong Chỉ Nguyệt Lục.
-
o 0 o -
Trì
Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư, người quê Tân Trịnh,
Trịnh Châu, họ Vương theo Đại Huệ Thiền Sư xuất gia, đến
Ung Nhạn thọ giới Cụ Túc, ban sơ theo Pháp Tướng Tông học
giáo lý và giới luật. Sư đi các nơi nghe giảng kinh pháp,
như kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm,… rồi đi sâu vào Trung
Quán Luận, Bách Môn Luận. Sư thấu suốt diệu nghĩa tất
cả kinh luận, sau cùng đến Mã Tổ Đạo Nhất Thiền Sư tham
vấn bỗng nhiên được khai ngộ đắc du hí tam muội. Sư làm
hành đơn (làm việc trong phòng ăn).
Nơi
thiền hội của Mã Tổ, sư đang dọn cháo cho Tăng. Mã Tổ
hỏi: Trong thùng đựng (cháo) là cái gì?
Sư
đáp: Ông Già này bịt miệng đi! Nói lời thế này!
Mã
Tổ bèn thôi, từ đó chẳng ai dám cật vấn sư.
Năm
11 niên hiệu Trinh Quang, Sư làm trụ trì Trì Vương, ba mươi
mấy năm chẳng xuống núi Nam Tuyền. Các Tòng Lâm tôn ngài
là một vị Thiền Sư nổi bậc, dưới núi Nam Tuyền có một
Am Chủ, có người nói với Am Chủ rằng: Gần đây có Hòa
Thượng Nam Tuyền ra đời, tại sao không ra đi để yết kiến?
Am
Chủ nói: Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dẫu cho ngàn Phật
ra đời tôi cũng không đi.
Sư
nghe rồi sai đệ tử Triệu Châu khám xét, Triệu Châu đi từ
đông qua tây, từ tây qua đông, Am Chủ cũng chẳng màng. Châu
nói: “Thảo tặc đại bại”, rồi buông rèm xuống đi về
kể lại với Sư.
Sư
nói: Xưa nay ta nghêu ngạnh.
Ngày
hôm sau, Sư cùng Sa Di đem một bình trà với 3 cái chén đến
am liệng xuống đất, liền nói: Hôm qua đó! Hôm qua đó!
Am
Chủ hỏi: Hôm qua đó là cái gì?
Sư
đánh vào lưng Sa Di và nói: Chớ gạt ta! Chớ gạt ta! Và liền
quay đầu trở về.
Sư
thượng đường rằng: Như Tăng đã nói rồi, nếu như tâm
xuất suy nghĩ sanh ra các pháp đều hư giả chẳng đồng. Tại
sao? Vì tâm còn chẳng có làm sao sanh ra các pháp? Như lấy
huệ nhãn để phân biệt hư không, như lấy âm thanh để trong
rương, như thổi màng lưới muốn cho đầy!
Sư
đem lời Mã Tổ nói: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật”, để dạy các anh em thực hành, căn cứ
lời Phật, Thập Địa Bồ Tát trụ Thủ Lăng Nghiêm tam muội,
các pháp tạng bí mật của chư Phật, tất cả thiền định
giải thoát, thần thông diệu dụng đến tất cả thế giới
thổ địa các âm, khi hiện hành Đẳng Chánh Giác chuyển
đại pháp luân, nhập Niết Bàn như một lỗ chân lông, giảng
một câu kinh trải qua vô lượng kiếp nghĩa cũng chưa hết,
giáo hóa vô lượng chúng sanh đắc vô sanh pháp nhẫn, còn
gọi là sở tri ngu, cực vi tế sở tri ngu thì còn trái với
đạo.
Thật
khó! Thật khó! Trân trọng (cáo biệt). (Nếu chấp theo những
lời kể trên làm sở tri thì bị gọi là sở tri ngu).
Sư
thượng đường rằng: Các ông lão Tăng lên 18 tuổi đã biết
làm kế sống, nay kẻ nào biết làm kế sống thì hãy ra đây
cùng nhau thương lượng! Phải là người trụ núi mới được
(người trụ núi là người sau khi ngộ). Cách một lúc sau,
Sư nhìn khắp đại chúng, nói: Trân trọng! Mỗi mỗi tu hành
đi. Đại chúng đứng yên chẳng giải tán.
Sư
nói: Thánh quả rất đáng sợ, người siêu việt số lượng
còn nhẫn nại hà! Giống như không có cách nào để đối
phó, ta chẳng phải nó, nó cũng chẳng phải ta, nó làm sao
nại hà ta? Những nhà kinh luận nói pháp tâm là cùng tột,
gọi là lý tận tam muội, nghĩa tận tam muội. Như lão Tăng
khi xưa bị tẩy cách phản bổn hoàn nguyên, hiểu theo như
thế là việc tai họa.
Các
anh em! Gần đây Thiền Sư quá nhiều, muốn tìm một người
ngu độn chẳng thể được. Chẳng phải hoàn toàn không có,
nhưng có thì rất ít. Nếu có thì hãy ra đây cùng ta thương
lượng. Dưới thời phong kiến có người tu hành hay không?
Sao chẳng ai đáp? Các ông bình thường lưỡi như dao bén,
nay ta hỏi đều không mở miệng. Tại sao không ra đây nói?
Các
anh em! Chẳng kể việc lúc Phật ra đời, mọi người hiện
nay cứ gánh Phật trên vai mà đi. Nghe lão Tăng nói: Tâm chẳng
phải Phật, trí chẳng phải đạo, bèn rủ nhau suy đoán. Lão
Tăng chẳng có chỗ cho các ông suy đoán. Nếu các ông rút
hư không làm cây gậy đánh được lão Tăng thì mặc kệ cho
các ông suy đoán.
Lúc
ấy, có Tăng hỏi: Từ xưa chư Tổ cho đến Giang Tây Mã Tổ
đều nói: “Tức tâm là Phật, bình thường tâm là đạo”.
Nay Hòa Thượng nói “Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải
Đạo”, khiến học nhân sanh tâm nghi hoặc, xin Hòa Thượng
từ bi chỉ dạy?
Sư
lớn tiếng đáp rằng: Ông nếu là Phật thì còn nghi Phật
như thế! Lão Tăng chẳng phải Phật, cũng chẳng gặp Tổ
Sư. Ông nói như thế! Hãy tìm Tổ Sư đi.
Tăng
nói: Hòa Thượng dạy thế này, bảo học nhân làm sao chỉ
ra được?
Sư
nói: Ông mau dùng tay nâng hư không đi!
Tăng
nói: Hư không chẳng tướng động làm sao nâng?
Sư
nói: Ông nói chẳng tướng đâu đúng! Hư không làm sao biết
nói chẳng tướng động? Đây là kiến giải tình chấp
của ông thôi!
Tăng
nói: Hư không chẳng tướng động còn là tình chấp, vậy
bảo con nâng vật gì?
Sư
nói: Ông đã biết chẳng nên nói nâng còn tính ở đâu hộ
trì nó!
Tăng
hỏi: Tức Tâm là Phật, Tâm ấy làm Phật được chăng?
Sư
đáp: Tức Tâm là Phật, Tâm ấy là Phật thuộc về tình chấp,
nếu do suy tưởng mà thành, Phật là trí nhân, Tâm là chủ,
lúc đối Phật mới có diệu dụng. Đại Đức chớ có nhận
tâm nhận Phật, nếu nhận được là cảnh thì gọi là sở
tri ngu. Nên Giang Tây Mã Tổ nói: “Chẳng phải Tâm, chẳng
phải Phật, chẳng phải vật”, để dạy người đời thực
hành. Hiện nay người học đạo đắp y đi khắp nơi nghi việc
không đáng kể như thế này còn được chăng?
Tăng
nói: Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật;
nay Hòa Thượng còn nói “Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng
phải đạo” thật chưa rõ như thế nào?
Sư
nói: Ông chẳng nhận Tâm là Phật, Trí là Đạo. Lão Tăng
chỉ thì chẳng ra Tâm. Vậy còn dính mắc chỗ nào?
Tăng
nói: Thảy đều không được, đâu khác gì thái hư?
Sư
nói: Đã chẳng phải vật, so thái hư cái gì? Lại bảo khác
hay chẳng khác.
Tăng
nói: Chẳng lẽ cũng không có "chẳng phải Tâm, chẳng phải
Phật chẳng phải Vật" luôn chăng?
Sư
nói: Ông nếu nhận cái này thì lại thành Tâm thành Phật
rồi!
Tăng
nói: Xin Hòa thượng giải thích.
Sư
nói: Lão tăng tự chẳng biết.
Tăng
nói: Tại sao chẳng biết?
Sư
nói: Bảo ta nói gì?
Tăng
nói: Chẳng lẽ không cho học nhân hội đạo?
Sư
nói: Hội đạo nào? Làm sao mà hội?
Tăng
nói: Con không biết!
Sư
nói: Không biết thì tốt. Nếu chấp lấy lời lão tăng thì
gọi là người y thông (y là dựa theo). Nếu gặp Di Lặc ra
đời thì sẽ bị ngài nắm tóc.
Tăng
nói: Làm sao daïy kẻ hậu học đời sau?
Sư
nói: Ông hãy tự khán, chớ lo người đời sau!
Tăng
nói: Hồi nãy không cho con hội đạo, nay lại bảo con tự
khán, thực con chưa rõ.
Sư
nói: Âm thầm hội, diệu hội. Cho ông hội thế này.
Tăng
nói: Thế nào là diệu hội?
Sư
nói: Còn muốn học lời lão tăng! Dẫu nói được, cũng là
lời của lão tăng, ông còn muốn làm sao?
Tăng
nói: Con nếu tự hội được thì chẳng phiền hòa thượng.
Nay con xin hòa thượng daïy bảo.
Sư
nói: Chẳng lẽ chỉ đông chỉ tây để gạt người. Lúc ông
còn mới bập bẹ sao không đến hỏi lão tăng, nay lại làm
tài khôn nói ta chẳng hội, mong muốn cái gì? Ông ló đầu
ra nói ta xuất gia làm thiền sư, vậy lúc chưa xuất gia đã
từng làm cái gì? Hãy thử nói xem, ta sẽ cùng ngươi thương
lượng.
Tăng
nói: Lúc bấy giờ con không biết.
Sư
nói: Đã không biết thì nay nhận được này nọ là phải
chăng?
Tăng
nói: Nhận được đã chẳng phải, chẳng nhận phải chăng?
Sư
nói: Nhận với chẳng nhận là lời nói gì?
Tăng
nói: Đến chỗ này con càng chẳng hội được.
Sư
nói: Ông nếu chẳng hội ta còn chẳng hội hơn.
Tăng
nói: Con là học nhân nên chẳng hội, còn hòa thượng là thiện
tri thức thì phải hội.
Sư
nói: Ông này! Đã nói với ông chẳng hội thì còn ai mà luận
thiện tri thức. Chớ làm tài khôn! Xem khi Mã Tổ còn tại
thế, có một học sĩ hỏi "Như nước không gân xương, nâng
ghe muôn ngàn tấn. Lý này là thế nào? Mã Tổ nói: Ở đây
chẳng nước cũng chẳng ghe, luận gì gân xương." Học sĩ
liền thôi. Như thế phải ít phí sức không? Cho nên ta thường
nói: "Phật chẳng hội đạo, ta tự tu hành, vậy cần biết
làm gì?
Tăng
nói: Thế thì làm sao tu hành?
Sư
nói: Không thể suy lường được. Nói với ngươi tu như vậy,
hành như vậy, thực khó.
Tăng
nói: Vậy còn cho học nhân tu hành hay không?
Sư
nói: Lão tăng chẳng thể chướng ngại ngươi.
Tăng
nói: Con làm sao tu hành?
Sư
nói: Muốn hành thì hành, cứ tìm hỏi người khác.
Tăng
nói: Nếu chẳng nhờ thiện tri thức chỉ thị, làm sao hội
được. Như hòa thượng thường nói tu hành cần phải hiểu
mới được. Nếu không hiểu thì e lọt vào nhân quả, chẳng
có phần tự do. Chưa rõ tu hành thế nào mới khỏi lọt vào
nhân quả.
Sư
nói: Chẳng cần thương lượng. Nếu nói đi tu hành, chỗ nào
không đi được.
Tăng
nói: Làm sao đi được?
Sư
nói: Chẳng lẽ tùy người mà tìm được.
Tăng
nói: Hòa thượng chưa nói, bảo con làm sao tìm?
Sư
nói: Dẫu cho nói, đi chỗ nào tìm? Như ông từ sáng tới chiều
đi đông đi tây, thương lượng với ai? Được hay không được.
Người khác làm sao mà biết.
Tăng
nói: Lúc đi đông đi tây đều không suy nghĩ, phải chăng?
Sư
nói: Lúc ấy ai nói phải với chẳng phải.
Tăng
nói: Hòa thượng thường nói "Ta ở tất cả nơi mà vô sở
hành, tất cả nơi câu thúc ta chẳng được, gọi là biến
hành tam muội, phổ hiện sắc thân", tức là lý này chăng?
Sư
nói: Nếu kẻ tu hành chỗ nào chẳng đi được, chẳng nói
câu với bất câu, cũng chẳng nói tam muội.
Tăng
nói: Vậy khác gì có pháp để đắc bồ đề đạo?
Sư
nói: Chẳng kể khác hay chẳng khác.
Tăng
nói: Cái thuyết tu hành của hòa thượng siêu việt và khác
với đại thừa, chưa rõ thế nào?
Sư
nói: Chẳng quản khác hay chẳng khác. Ta chưa từng học. Nếu
muốn xem giáo thì có tọa chủ, kinh luận. Các nhà giáo môn
thật rất đáng sợ. Ông hãy đi nghe tốt hơn.
Tăng
nói: Rốt cuộc khiến học nhân làm sao mà hội.
Sư
nói: Theo sự hỏi của ông vốn chỉ ở bên nhân duyên, thấy
ông còn chẳng nại hà. Duyên là nhận được vật trên sáu
cửa. Ông hãy hội bên Phật rồi đến thương lượng với
ta. Chớ truy tìm thế này, chẳng phải thế này, chớ lấy
lời cổ nhân hành hạnh bồ tát. Duy có một người hành thiền,
ma Ba Tuần lãnh các quyến thuộc thường theo dõi sau lưng Bồ
Tát, tìm chỗ tâm hành khởi lên liền chộp ngã.
Nhưng
trải qua vô lượng kiếp tìm chỗ một niệm khởi cũng chẳng
thể được, mới cùng quyến thuộc lễ tạ, tán thán cúng
dường, ấy còn là cấp bậc tiến tu, người trung hạ căn
lại chẳng nại hà, huống là chỗ tuyệt công dụng, như Văn
Thù, Phổ Hiền thì khỏi cần nói. Thế nào là đạo hành
của ông? Là có hay không? Tìm người hành một ngày cũng chẳng
thể được. Hiện nay cứ từ đầu năm đến cuối năm đi
khắp nơi chỉ là tìm cứu cánh làm cái gì? chỉ là đầu
môi chót lưỡi sinh ra kiến giải.
Tăng
nói: Lúc bấy giờ chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh, khiến
con làm sao suy nghĩ thực hành.
Sư
nói: Ông nói chẳng tên Phật chẳng tên chúng sanh đã là suy
nghĩ rồi, cũng là nhớ lời người khác.
Tăng
nói: Nếu như thế tất cả đều thuộc về việc lúc Phật
ra đời, chẳng thể không nói.
Sư
nói: Ông làm sao nói?
Tăng
nói: Giả sử nói, nói cũng không tới.
Sư
nói: Nếu nói là nói không tới, là lời tới. Ông uổng công
truy tìm, ai làm cảnh cho ông tìm.
Tăng
nói: Đã không vì làm cảnh, ai là người bên kia?
Sư
nói: Nếu ông không dẫn chứng giáo lý thì nơi nào để luận
Phật. Đã chẳng luận Phật, lão tăng luận với ai mà nói
bên đây bên kia.
Tăng
nói: Quả dù chẳng trụ đạo, nhưng đạo hay làm nhân, là
nghĩa thế nào?
Sư
nói: Ấy là lời cổ nhân. Hiện nay không thể không trì giới.
Ta chẳng phải nó, nó chẳng phải ta. Cứ làm theo như con trâu
con chồn! Hễ nổi lên một niệm thấy khác thì khó mà tu
hành.
Tăng
nói: Một niệm thấy khác thì khó mà tu hành là thế nào?
Sư
nói: Mới một niệm thấy khác liền có hai gốc tốt xấu.
Chẳng phải tình kiến đuổi theo nhân quả họ, lại còn có
phần tự do gì?
Tăng
nói: Thường nghe hòa thượng daïy Báo thân Hóa thân đã chẳng
phải Phật thật, vậy Pháp thân là Phật thật chăng?
Sư
nói: Đã là Ứng thân rồi!
Tăng
nói: Nếu như thế này thì Pháp thân cũng chẳng phải Phật
thật.
Sư
nói: Pháp thân là thật hay chẳng thật, lão tăng không lưỡi,
không nói được, ông bảo ta nói là được thì được.
Tăng
nói: Ngoài lìa tam thân, pháp nào là Phật thật.
Sư
nói: Ông này! Cùng ông già tám chín chục tuổi chửi lộn,
nói với ông rồi đó, còn hỏi gì lìa, chẳng lìa, bộ muốn
đem đinh đóng hư không hay sao?
Tăng
nói: Theo kinh Hoa Nghiêm là Pháp thân Phật thuyết, là thế
nào?
Sư
nói: Ông vừa nói lời gì?
Tăng
nhắc lại.
Sư
nhìn qua nhìn lại rồi than: Nếu là Pháp thân thuyết, ông
hướng vào chỗ nào để nghe?
Tăng
nói: Con chẳng hội.
Sư
nói: Thực khó, thực khó. Ông xem Tọa chủ Lượng là người
Tứ Xuyên biết giảng ba mươi hai bộ kinh luận, lúc đang giảng
ở tỉnh Giang Tây, có dịp đến tham vấn Mã Tổ trong Khai
Nguyên Tự. Mã Tổ hỏi: "Nghe nói Tọa chủ hay giảng kinh,
phải chăng?" Tọa chủ nói: "Không dám". Mã Tổ nói: "Đem cái
gì để giảng?" Tọa chủ nói: "Đem tâm để giảng". Mã Tổ
nói: "Tâm như người múa rối, ý như người hòa nhạc, làm
sao giảng được?" Tọa chủ nói: "Vậy có lẽ hư không giảng
được chăng?" Mã Tổ nói: "Đúng là hư không giảng được".
Tọa chủ quay lưng đi liền. Mã Tổ lớn tiếng gọi: "Tọa
chủ!" Tọa chủ quay đầu lại.
Mã
Tổ lớn tiếng: "Là cái gì?", tọa chủ liền khai ngộ. Ông
xem thử, mau không?
Tăng
nói: Căn cứ lời Hòa thượng tức là Pháp thân thuyết pháp.
Sư
nói: Nếu hội như thế đã là Ứng thân rồi.
Tăng
nói: Đã là Ứng thân há chẳng có người thuyết pháp?
Sư
nói: Ta không biết.
Tăng
nói: Con không hội.
Sư
nói: Không hội thì tốt, khỏi cùng nó phân giải nữa.
Tăng
hỏi: Trong kinh nói chỗ Pháp thân Đại Sĩ hội ngộ tức thấy
Pháp thân Phật. Địa vị Bồ tát tức thấy Báo thân Phật.
Nhị thừa chỉ thấy Hóa thân Phật là lý này chăng?
Sư
nói: Mắt ta chưa từng xem kinh giáo, lỗ tai cũng chưa từng
nghe. Ông tự xem lấy. Nếu ghi nhớ như thế thì sau này mới
chẳng nại hà. Giống như người chơi hạt châu, nói ánh sáng
hạt châu chiếu cùng khắp, có đĩa vàng thì phản chiếu được,
bỗng bị lấy mất đĩa vàng thì chỗ nào chơi châu, chỗ
nào tìm ánh sáng khắp với chẳng khắp.
Tăng
lễ bái.
Sư
cười rằng: Thực khó, thực khó. Cổ nhân mắng ông là hạng
thợ săn ngư phủ, cũng là người đem phẩn vào. Trân trọng.
Triệu
Châu hỏi: Đạo chẳng phải ngoài vật. Ngoài vật chẳng phải
đạo. Thế nào là đạo ngoài vật?
Sư
liền đánh. Triệu Châu nắm lấy gậy rằng: Về sau chớ đánh
lầm người.
Sư
nói: Rồng rắn dễ phân biệt. Nạp tử (tu sĩ) khó lừa gạt.
Bình:
Tuyết
Đậu Hiển thiền sư nói: "Triệu Châu như rồng không sừng,
như rắn có chân. Lúc ấy không kể "tận pháp vô dân", cần
phải cho ăn gậy rồi đuổi ra".
*
* *
Lúc
đang thưởng trăng, Tăng hỏi: Bao giờ được giống như cái
này?
Sư
nói: Vương lão sư hai mươi năm trước cũng như thế này.
Tăng
nói: Vậy hiện nay thì làm sao?
Sư
bèn về phương trượng.
*
* *
Một
hôm sư hỏi Huỳnh Bá: Vàng vòng làm thế giới. Bạc trắng
làm vách tường. Đấy là chỗ người gì ở?
Bá
nói: Là chỗ thánh nhân ở.
Sư
nói: Còn có một người ở quốc độ nào?
Bá
Khoanh tay đứng yên.
Sư
nói: Nói chẳng được sao không hỏi Vương lão sư?
Bá
hỏi lại: Còn có một người ở quốc độ nào?
Sư
nói: Đáng tiếc thay!
*
* *
Sư
hỏi Huỳnh Bá: Định huệ đẳng học, minh kiến Phật tánh,
lý này thế nào?
Bá
nói: Trong mười hai thời chẳng y dựa một vật.
Sư
nói: Ấy là chỗ thấy của Trưởng lão chăng?
Hoàng
Bá nói: Không dám.
Sư
nói: Tiền nước tương tạm gác một bên. Tiền dép cỏ bảo
ai trả?
Bình:
Diệu
Hỷ Đại Huệ thiền sư nói: Không thấy lời rằng "Lộ phùng
Kiếm Khách tu trình Kiếm, Bất thị thi nhân mạc hiến thi".
*
* *
Sư
tham vấn Bá Trượng Niết Bàn hòa thượng. Trượng hỏi: Từ
xưa chư thánh còn có pháp nào chẳng vì người mà thuyết
chăng?
Sư
nói: Có.
Trượng
nói: Thế nào là Pháp chẳng vì người mà thuyết?
Sư
nói: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật chẳng phải Vật.
Trượng
nói: Đã thuyết rồi đó.
Sư
nói: Con chỉ biết như thế. Hòa thượng làm thế nào?
Trượng
nói: Ta chẳng phải Đại thiện tri thức, đâu biết thuyết
hay chẳng thuyết.
Sư
nói: Con chẳng hội.
Trượng
nói: Ta đã quá sức vì ngươi mà nói rồi vậy.
Bình:
Tuyết
Đậu Hiển thiền sư tụng rằng:
Phật
Tổ từ xưa chẳng vì người.
Nạp
tăng xưa nay đua nhau chạy.
Trên
đài gương sáng tượng khác biệt
Mỗi
mỗi hướng Nam nhìn Bắc Đẩu
Chuôi
Bắc Đẩu
Không
chỗ thảo (thảo nghĩa là tìm lấy)
Bắt
được lỗ mũi lại mất khẩu
*
* *
Sư
và Lỗ Tổ, Qui Tông, Sam Sơn bốn người lìa nơi Mã Tổ, mỗi
người đều muốn đi tìm nơi ở. Nửa đường chia tay, Sư
cắm cây gậy xuống nói: Nói được cũng bị cái này chướng
ngại, nói không được cũng bị cái này chướng ngại.
Qui
Tông nhổ cây gậy lên, đánh Sư rồi nói: Cũng chỉ là Vương
lão sư này thôi. Nói gì ngại, chẳng ngại.
Lỗ
Tổ nói: Chỉ một lời nói này, truyền bá khắp thiên hạ.
Qui
Tông nói: Còn có kẻ không truyền bá chăng?
Lỗ
Tổ nói: Có!
Qui
Tông nói: Thế nào là kẻ không truyền bá. Lỗ Tổ làm thế
muốn bạt tai.
*
* *
Sư
cùng Lỗ Tổ, Sam Sơn, Qui Tông đang uống trà. Lỗ Tổ giơ
chén trà lên nói: Lúc thế giới chưa thành đã có cái này.
Sư
nói: Người thời nay chỉ biết cái này, chưa biết thế giới.
Qui
Tông nói: Phải!
Sư
nói: Bộ Sư huynh đồng ý kiến này chăng?
Qui
Tông lại nâng chén trà lên nói: Hướng vào lúc thế giới
chưa thành, nói được chăng?
Sư
giơ tay làm thế muốn bạt tai. Qui Tông đưa mặt làm thế
muốn nhận.
*
* *
Ma
Cốc cầm tích trượng đến Chương Kỉnh, nhiễu thiền sàng
ba vòng rồi dộng tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng
thẳng. Chương Kỉnh nói: Phải! Phải!
Bình:
Tuyết
Đậu nói: Sai!
Ma
Cốc lại đến chỗ Sư, cũng nhiễu thiền sàng ba vòng rồi
cũng dộng tích trượng một cái, nghiêm mặt đứng thẳng.
Sư nói: Chẳng phải! Chẳng phải!
Bình:
Tuyết
Đậu nói: Sai!
Ma
Cốc nói: Chương Kỉnh nói phải, tại sao hòa thượng lại
nói chẳng phải?
Sư
nói: Chương Kỉnh thì phải, là ông chẳng phải. Đó là sức
gió sở chuyển, chung qui bại hoại.
Bình:
Tuyết
Đậu tụng:
Này
sai kia sai
Rất
kî liệng bỏ
Bốn
biển sóng yên
Trăm
sông triều xuống
Cổ
sắc phong cao thập nhị môn
Môn
môn hữu lộ không tiêu điều.
Phi
tiêu điều
Trăm
năm ham cầu thuốc không bịnh
*
* *
Viên
Ngộ Cần thiền sư rằng: Cần phải nhận lấy hai "Sai" mới
được. Tuyết Đậu muốn đề chỗ hoạt bát nên như thế.
Nếu mà thằng dưới da có máu, tự nhiên chẳng hướng vào
ngôn cú để hiểu. Có người nói Tuyết Đậu thay cho Ma Cốc
dùng hai chữ "Sai" này, có dính dáng gì đâu! Đâu biết cổ
nhân dùng lời nói là khóa chặt quan ải. Bên đây cũng phải,
bên kia cũng phải, rốt cuộc chẳng ở hai đầu này.
Khánh
tạng chủ nói: Cần tích trượng nhiễu thiền sàng như phải
và chẳng phải đều sai. Kỳ thực ý cũng chẳng ở đây.
Quy
Sơn Mai thiền sư rằng: Chương Kỉnh nói "phải" cũng lọt
vào trong vòng của Ma Cốc.
Nam
Tuyền nói "chẳng phải" cũng lọt vào trong vòng của Ma Cốc.
Đại
Quy thì không như vậy.
Bỗng
có người cầm tích trượng, nhiễu thiền sàng ba vòng, nghiêm
mặt đứng thẳng, chỉ hướng họ rằng: Khi chưa đến đây,
nên cho ba chục gậy.
*
* *
Diêm
Quan thiền sư daïy chúng rằng: Hư không làm trống, tu di làm
chùy. Người nào đánh được?
Không
ai trả lời.
Có
tăng kể lại với Sư. Sư nói: Vương lão sư không đánh cái
trống bể này!
Bình:
Pháp
Nhân thiền sư nói cách khác rằng: Vương lão sư không đánh.
Huỳnh
Long Tâm thiền sư rằng: Nam Tuyền Pháp Nhân chỉ biết nhìn
trước, chẳng biết dòm sau. Cũng như Diêm Quan nói hư không
làm trống Tu Di làm chùy, chỗ nào là chỗ bể. Còn kiểm điểm
ra được chăng? Dẫu cho kiểm điểm được chỗ bể rõ ràng,
ta còn muốn hỏi ngươi tìm trống đó!
*
* *
Sư
với Qui Tông, Ma Cốc cùng nhau đi tham lễ Nam Dương quốc sư.
Sư ở trên đường vẽ một vòng tròn, rằng: Nói được thì
đi.
Qui
Tông liền ngồi trong vòng tròn Ma Cốc bèn lạy kiểu người
nữ. Sư nói: Thế này thì không đi.
Qui
Tông nói: Là tâm hạnh gì?
Sư
liền rủ tất cả quay về, không đi tham lễ quốc sư nữa.
Bình:
Tuyết
Đậu tụng rằng:
Dưỡng
Do Cơ bắn vượn
Nhiễu
cây sao quá thẳng!
Ngàn
con và muôn con
Ấy
là ai bi trúng?
Gọi
nhau, rủ nhau
Đi
về đi!
Trên
đường Tào Khê chớ leo dốc.
Lại
nói đường Tào Khê bằng phẳng
Tại
sao chớ leo dốc.
*
* *
Có
một tọa chủ từ giã Sư. Sư hỏi: Đi chỗ nào?
Đáp:
Đi dưới núi.
Sư
nói: Đệ nhất không được báng Vương lão sư?
Đáp:
Đâu dám báng hòa thượng!
Sư
làm bộ hắt xì, hỏi: Bao nhiêu?
Tọa
chủ bèn ra đi.
Bình:
Vân
Cơ Ân thiền sư rằng: Phi Sư bổn ý
Tiên
Tào Sơn rằng: Lì!
Thạch
Sơn thiền sư rằng: Chẳng vì người thương lượng.
Trường
Khánh thiền sư rằng: Xin lãnh lời.
Vân
Cơ Tích thiền sư rằng: Tọa chủ lúc ấy ra đi là hội hay
chẳng hội?
*
* *
Ngài
khai thị rằng:
-
Chân lý nhất như (bất nhị) mạc hạnh, mạc dụng, chẳng
có người biết gọi là vô lậu trí, cũng là tánh bất động,
vô lậu bất khả tư nghì, tánh không v.v...
Chẳng
phải dòng sanh tử, đạo là đại đạo vô ngại niết bàn,
diệu dụng tự đầy đủ mới được chỗ hành khắp nơi
mà được tự tại. Nên nói nơi chư hành xứ mà vô sở hành,
cũng gọi là biến hành tam muội, phổ hiện sắc thân.
Chỉ
vì chẳng có người biết chỗ dụng của nó vốn chẳng có
tông tích, chẳng thuộc kiến văn giác tri, chân lý tự thông,
diệu dụng tự đầy đủ. Đại đạo vô hình, chân lý vô
đối, nên chẳng thuộc kiến văn giác tri, chẳng có tư tưởng
thô hay tế, như nói chẳng nghe mà nghe là đại niết bàn.
Cái việc này chẳng phải nghe hay không nghe.
Tăng
hỏi: Đại đạo chẳng thuộc kiến văn giác tri, vậy làm
sao khế hội (lãnh hội).
Ngài
đáp: Cần âm thầm khế hội thì tự thông. Cũng nói liễu
nhân chẳng từ kiến văn giác tri mà có, kiến văn giác tri
thuộc về duyên, đối vật mới có, Đại đạo linh diệu,
bất khả tư nghì, chẳng phải có đối nên nói diệu dụng
tự thông, chẳng y dựa vật nào, cho nên đạo thông chẳng
phải y thông. Y thông phải nhờ vật mới được sự thấy,
đại đạo thì chẳng nhờ vật.
Nên
nói đạo chẳng phải pháp sáng tối, lìa có lìa không, lý
tiềm ẩn âm thầm tự thông, chẳng có người biết, cũng
nói thầm hội chân lý, chẳng phải kiến văn giác tri. "Tâm
ngưng (thôi nghỉ) đặc bổn nguyên, nên gọi như như Phật,
là người tự tại cứu cánh vô y cũng gọi là bổn quả,
chẳng từ nhân sanh mà sanh. Văn thù nói: "Chỉ (duy nhất) liễu
nhân mà liễu, chẳng từ nhân sanh mà sanh" (liễu nhân là chẳng
có nhân sanh khởi, sanh nhân là có cái nhân sanh khởi).
Sư
Nam Tuyền nói tiếp: Từ xưa đến nay chỉ bảo người ngộ
đạo, chớ nên cầu cái khác. Nếu suy nghĩ ra được đạo
lý cao siêu đều thuộc về cú nghĩa (nghĩa chữ).
Nghĩa
lý tam thừa ngũ tánh là chỗ hành, nói chỗ thọ dụng hằng
ngày đầy đủ thì được, nói đạo thì chẳng phải. Nếu
chấp thật thì bị ý thức trói buộc, gọi là thế gian trí.
Theo giáo môn nói: Nếu học giả cứ chấp thật tam tạng giáo
điển (kinh luật luận) thì thành thợ săn, ngư phủ vì lợi
dưỡng mà tổn hại đại thừa, cũng là tập khí tham dục.
Cho nên Cổ Đức nói: Phật chẳng hội đạo ta tự tu hành,
ta tự có diệu dụng cũng gọi là chánh nhân, liễu sáu ba
la mật đều không, cảnh vật lôi cuốn ta chẳng được.
Tổ
Sư từ Tây Trúc đến, e sợ các ngươi mê chấp nhân quả,
địa vị, nên "Truyền pháp cứu mê tình, đốn ngộ hoa tình
vĩ (vĩ tức là xong)". (Tánh là chủng tánh hoa, cũng là bồ
đề hoa), nên Mã Tổ nói: Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật; dù Tổ trước kia từng nói: Tức tâm, tức
Phật. Ấy là lời phương tiện tạm thời như dùng nắm tay
không, lá cây vàng để dụ con nít nín khóc.
Nhưng
hiện nay có người gọi Tâm là Phật, gọi trí là Đạo, cho
kiến văn giác tri cũng là đạo. Nếu hội đạo như thế khác
gì Diễn Nhã Đạt Đa mê đầu nhận bóng, phát điên bỏ chạy.
Dẫu cho nhận được bóng cũng chẳng phải cái đầu bổn
lai của mình. Nên Duy Ma Cật quở Ca Chiên Diên dùng tâm sanh
diệt thuyết pháp thực tướng, ấy đều là tình chấp kiến
giải.
Nếu
nói: Tức tâm tức Phật, cũng như nói: Thỏ ngựa có sừng;
nói: Phi tâm phi Phật, như nói trâu dê không sừng. Tâm ngươi
nếu là Phật, thì đâu cần phải "tức nó hay là phi nó".
Hình tướng có hay không, lấy tướng gì làm đạo? Nên Giáo
môn cũng chẳng cho.
"Thà
làm thầy cho tâm, chẳng cho tâm làm thầy". "Tâm như đóng
vai chánh, ý như đóng vai phụ", nếu nói Phật có tâm đạo,
ấy là chẳng lìa được kiến văn giác tri, là do nhân duyên
mà có, đều là soi vật mới có chẳng thể thường soi, cho
nên tâm trí đều chẳng phải đạo, lại đại đạo chẳng
phải pháp sáng tối, lìa số hữu vô, số lượng chẳng thể
đến, như lúc kiếp không (chưa có trời đất), chẳng có
tên Phật, chẳng có tên chúng sanh, ngay lúc ấy chính là đạo.
Chỉ là không ai biết, không ai thấy, số lượng chẳng tiếp
xúc nó được, gọi là vô danh đại đạo. Nói vậy đã lọt
vào danh cú rồi!
Cho
nên chân lý nhất như, chẳng có tư tưởng, vừa có tư tưởng
liền bị ấm (ngũ ấm) trói, sau đó mới có tên chúng sanh,
mới có tên Phật. Phật ra đời gọi là tam giới trí nhân,
khi Phật chưa ra đời gọi là gì? Phật ra đời chỉ khiến
người ngộ đạo, bản thể chẳng phải thánh phàm, gọi là
"hoàn nguyên qui bổn, thể giải đại đạo". Hôm nay đã ngộ
đạo như thế, tức từ vô lượng kiếp đến nay, lục đạo
tứ sanh đều có khứ lai, là chỗ hành tạm thời.
Bản
Hành Tập của bậc Thánh xưa có nói: Ta vô sở bất hành.
Tất cả chúng sanh dù đang ở chỗ hành như thế vì không
biết liễu nhân, nên sinh ra tham dục, đó chỉ là tạm thời
lạc đường ở nơi trói buộc, chẳng được tự tại. Thật
ra cũng như thấy mây trôi cho là trăng động, thấy thuyền
xuôi cho là bờ chuyển. Chúng sanh vọng tưởng, vật vốn vô
trụ, huống là có lý hay biến đổi. Nay đã ngộ như thế,
cứ theo đó thực hành, chẳng giống như lúc xưa, vì nay đã
ngộ liễu nhân bản quả, nên liễu được ngũ ấm không,
thập bát giới không, sáu ba la mật đều không, cho nên được
tự tại.
Nếu
chẳng theo đó thực hành, làm sao thải trừ năm thứ tham,
hai thứ dục. Chẳng trụ thanh văn, chẳng tùy số kiếp, vì
chư Phật, Bồ Tát đầy đủ phúc trí. Do liễu nhân, liễu
sáu ba la mật không, theo thọ duïng này, chẳng còn tri kiến
mới được tự tại.
Nếu
có tri kiến thì lọt vào địa vị (có giai cấp), bèn có ngằn
mé của tâm lượng, bị nhân quả ngăn cách, gọi là thù nhân
đáp quả Phật, chẳng được tự tại. Đại thánh quở là:
Nội kiến ngoại kiến, tình lượng chưa sạch. Kẹt nơi nhị
chướng nhị ngu, cho nên dòng sông kiến chấp hay trôi hương
tượng; chân lý vô hình làm sao thấy biết, đại đạo vô
hình, lý tuyệt suy lường.
Hôm
nay hành sáu ba la mật, trước tiên dùng liễu nhân ngộ bản
quả, biết liễu vật này chỉ là phương tiện thọ dụng,
mới được tự do, đi ở tự tại vô chướng ngại, cũng
gọi là phương tiện cần trang nghiêm, cũng là vi diệu tịnh
pháp thân, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, chỉ là không
cho có ngằn mé của tâm lượng.
Nếu
chẳng có tâm như thế thì tất cả chỗ hành, cho đến búng
tay hiệp chưởng đều là chánh nhân, muôn thiện thảy đồng
vô tắc, vậy mới được tự tại, cho nên thiên ma ngoại
đạo tìm ta chẳng thể được, gọi là vô trụ tâm, cũng
là vô lậu trí, diệu dụng tự tại bất khả tư nghì, bồ
đề niết bàn đều là cảnh giới của người tu hành đều
thuộc danh cú.
Nếu
ngộ bổn lai chẳng phải vật phàm, thì như nước chẳng thể
rửa nước. Tại sao vậy? Vì vốn chẳng có vật. Như kinh
nói: Trong kho vua thật chẳng có dao này; cũng nói: Đối với
công đức thiên, hắc ám nữ, vị chủ nhân có trí, cả hai
đều không nhận. Vì đạo chẳng phải sáng tối, nên nói
tánh phải chẳng hải giác hải, giác hải thuộc duyên cần
phải đối vật, tánh hải luôn luôn diệu dụng chẳng có
ai biết, gọi là cực vi tế thấu kim sắc thủy trần (nghĩa
là không bị vật nào chướng ngại).
Sở
nhân của Bồ Tát gọi là đồ thọ dụng, nếu nước chẳng
rửa nước, tức bản thể chẳng phải sáng tối, cũng gọi
là vô lậu trí, vô ngại trí. Nếu như thế thì chỗ nào cũng
câu thúc ta chẳng được.
Hiện
nay lại đuổi theo tri giải ngữ ngôn, kiến lập nghĩa cú
để tìm hơn thua, cho là chúng sanh hạ liệt, nói có Phật
Thánh cứu độ chúng sanh, cho đến cầu Phật Bồ đề, đều
thuộc tham dục, cũng là tỳ kheo phá giới, cách xa với đạo.
Đại đạo chẳng có sáng cũng chưa từng có tối, chẳng thuộc
tam giới, chẳng quá khứ hiện tại vị lai. Như lai tạng thực
chẳng che lấp, sư tử đâu từng ở hang, ngũ ấm vốn không,
đâu có xứ sở, lại pháp thân vô vi, chẳng đọa số lượng.
Pháp
chẳng lay động, chẳng dựa lục trần, nên kinh mới nói:
Phật tánh là thường, tâm là vô thường, cho nên trí chẳng
phải đạo, tâm chẳng phải Phật. Nay chớ nên gọi tâm là
Phật, chớ hiểu theo kiến văn giác tri. Vật này vốn chẳng
danh tự, diệu dụng tự thông, số lượng hạn chế nó chẳng
được, gọi là đại giải thoát. Đạo nhân tâm vô sở trụ,
dấu tích chẳng thể tìm, nên gọi vô lậu trí là trí bất
tư nghì.
Thôi
Sứ Quân hỏi Ngũ Tổ rằng: "Năm trăm tăng chúng tại sao chỉ
có Huệ Năng đại sư được truyền y bát, còn những người
khác đều chẳng được?" Ngũ Tổ đáp: "Bốn trăm chín mươi
chín người kia đều hiểu Phật pháp, chỉ có Huệ năng là
người siêu việt số lượng nên được truyền y bát". Thôi
nói: Vậy nên biết đạo chẳng trí ngu và liền bảo đại
chúng: "Trọn phải ghi nhớ!"
Ngài
Nam Tuyền nói: "Ghi nhớ thuộc thức thứ sáu, dùng không được!"
Lại nói:
-
Tạm thời đắp y cấu bản, vì các ngươi nói trắng ra, chẳng
phải vật thánh phàm, đâu có làm nhân cho người cũng đâu
có làm quả cho người. Nếu làm nhân cho người thì chẳng
tự tại, bị nhân quả trói buộc, chẳng được tự do. Khi
Phật chưa ra đời không ai hiểu được, sau Phật ra đời
mới cho hiểu được ít phần, hễ thầm hội chí lý thì vô
sư tự thông, biết vốn tự vô vật, nếu hiểu theo kiến
văn giác tri, tức là báo thân hóa thân, vì có ba mươi hai
tướng khác nhau. Nếu báo, hóa đều lìa hết, chẳng còn chỗ
kiến lập, tức đồng Như Lai.
Thực
chẳng phải không cho kiến lập, cũng như Di Lạc trở lại
làm phàm phu, nhưng Ngài vẫn hành sáu ba la mật, gặp cái nào
cũng chẳng chướng ngại, sao mà chẳng cho kiến lập? Ngài
chưa từng kẹt nơi thánh phàm, ở bên kia ngộ rồi qua bên
này thực hành mới được phần tư do. Hiện nay người học
Phật phần nhiều xuất gia không chịu nhập gia, chỗ tốt
thì nhận, chỗ xấu thì không nhận, như thế làm sao được!
Bồ
Tát hành nơi phi đạo, ấy là thông đạt Phật đạo. Họ
đi ở tự do là thế nào? Nếu biết thì bị chỗ biết sở
trói, nếu không như vậy thì làm sao chẳng cho! Cái định
của họ không có biến đổi. Nếu không định thì thuộc
về tạo hóa rồi! Vì ta không bao giờ biến đổi nên mười
hai phần giáo quyết định chẳng phải ta, nhưng ta lại hướng
vào mười hai phần giáo mà thực hành. Nếu mười hai phần
giáo là ta thì phải chịu biến đổi rồi!
Nói
đại đạo nhất như, vô sư tự như thế, vì như như bất
biến nên chưa từng mê, báo thân hóa thân chẳng phải chân
Phật, chớ lầm nhận pháp thân. Quả báo thánh phàm đều
là bóng, nếu nhận lấy thì thuộc sanh diệt vô thường rồi.
Theo thô tế mà nói thì mảy may chẳng lập. Lý cùng tánh tận
thì tất cả đều không, như lúc thế giới chưa thành, hư
vô trống rỗng, chẳng tên Phật, chẳng tên chúng sanh.
Như
vậy mới có phần tương ứng, ở bên kia ngộ rồi thì ở
bên nầy thực hành, chẳng chứng quả thánh phàm. Theo căn
bản mà nói, thực chẳng có pháp nào để đắc, huống là
có những tên gọi sai biệt như tam thừa ngũ tánh ư! Hễ có
nhân có quả đều thuộc sanh diệt vô thường, tâm như cây
khô mới có ít phần tương ưng.
Phải
biết từ vô lượng kiếp đến nay tánh không biến đổi tức
là tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ là hạnh Bồ Tát. Thông
đạt các pháp không, diệu dụng tự tại là sắc thân tam
muội, luôn luôn hành sáu ba la mật không, nơi nào cũng vô
ngại, dạo nơi địa ngục cũng như vườn hoa, chẳng thể
nói họ không có tác dụng.
Chúng
sanh từ vô lượng kiếp đến nay, mê tự bản tánh, chẳng
tự liễu ngộ, bị mây trần che khuất, dính mắc các thứ
ác dục, cũng như thấy mây bay cho là trăng động, thấy thuyền
xuôi cho là bờ chuyển, tạm thời lạc đường chẳng được
tự tại, chịu đủ thứ khổ mà chẳng tự biết. Nay nếu
ngộ được thì bản tánh xưa nay chẳng khác.
Ngài
sắp tịch, thủ tọa hỏi: Hòa thượng trăm năm sau đi về
đâu?
Ngài
nói: Đi dưới núi làm một con trâu.
Thủ
tọa nói: Con theo hòa thượng đi được chăng?
Ngài
nói: Nếu theo ta thì phải ngặm một cọng cỏ lại đây!
Xong,
Ngài thị hiện có bệnh, ngày 25 tháng chạp, năm Giáp Dần,
thuộc năm thứ tám niên hiệu Đại Hòa. Tảng sáng, bảo môn
đồ rằng: "Cái thân huyển hóa đã lâu rồi, đừng cho ta
có khứ lai!" Nói xong, Ngài liền tịch, tuổi đời tám mươi
bảy, tuổi tăng năm mươi tám.
Hỏi:
Khi
có câu thoại đầu thấy mình còn tỉnh, như vậy đúng hay
sai?
Đáp:
Có
cái biết thì sai, như Thập Địa Bồ Tát có cái biết cũng
còn gọi là sở tri ngu, nếu biết chút xíu cũng là cực vi
tế sở tri ngu, vì thuộc về sở tri chướng.
-
Vậy làm sao mình thoát khỏi những cái biết đó?
-
Khỏi cần làm sao, chỉ giữ niệm không biết. Tổ Sư thiền
là dùng niệm không biết để tu. Hỏi câu thoại kích thích
lên niệm không biết, khán là nhìn niệm không biết, giữ
niệm không biết gọi là nghi tình. Khán chỗ không biết thì
không có chỗ, khán không thấy cái gì.
-
Khi nổi lên nghi tình thì mình đã biết là sao?
-
Bây giờ mới tập tham, tập tham một thời gian lâu không có
mục tiêu để nhìn, vì có năng nhìn mà không có sở nhìn,
sở nhìn đã mất thì năng nhìn cũng phải mất. Nếu năng
sở đều mất thì sẽ đến thoại đầu.
-
Khi mình khởi câu thoại đầu mà nhìn nó thì mình nhìn câu
thoại đầu, vậy là sao?
-
Vì cô còn muốn giữ cái năng biết, như bài kệ của Ngài
Vĩnh Gia là “dùng cái biết để biết tịch lặng thì không
được” và “dùng cái biết để biết mình có cái biết,
tức là không có tịch lặng để làm đối đãi sở biết,
nhưng có năng biết vẫn không được”. Có sở biết như
tay cầm đồ vật, không có sở biết như tay tự làm nắm
tay, tức là không có cảnh để làm tương đối, nhưng tự
cho ta có cái biết thì so cái biết tịch lặng cao hơn một
bước.
Nếu
không cầm vật bên ngoài và không tự làm nắm tay, không phải
là không tay. Như không biết tịch lặng và không tự mình
có cái biết, không phải là không biết. Đây là cái biết
của bản lai diện mục.
Đến
thoại đầu là đến chỗ nguồn gốc ý thức, nên cần phải
lìa ý thức mới gọi là kiến tánh thành Phật. Cho nên, có
một chút xíu biết gọi là cực vi tế sở tri ngu, nên vẫn
còn chướng ngại.
Hỏi:
Tham
câu thoại đầu là đã khởi nghi tình phải không?
Đáp:
Hỏi
câu thoại là kích thích niệm không biết chưa phải nghi tình,
đến chừng nhìn chỗ không biết không thấy gì vẫn còn không
biết mới gọi là nghi tình. Cho nên, cái không biết đó khác
với cái không biết của người ngủ mê, chết giấc, bệnh
tâm thần (cái không biết này là không biết chết).
Vì
cái không biết (nghi tình) là muốn biết, biết không nổi.
Nhưng không cho tìm hiểu, không cho có sở biết, mà lại không
cho có năng biết. Chỗ này người ta cho là mâu thuẩn, nhưng
phải thực hành thì mình mới được tự ngộ.
Hỏi:
Cách
đi kinh hành tham thiền như thế nào?
Đáp:
Ngồi
cũng hỏi và nhìn song song, đi cũng hỏi và nhìn song song. Ngồi
và đi là để điều thân, tức là đi mỏi chân thì ngồi,
ngồi tê chân rồi đi. Nhưng đông người phải có quy định
thời giờ, ngày xưa đốt một cây hương đi, hết cây hương
đi rồi đốt cây hương để ngồi. Cho nên, lúc ngồi gọi
là tọa hương, lúc đi gọi là đi hương.
Vua
Ung Chính dự thiền thất trong hoàng cung 2 ngày được kiến
tánh, ông đọc ngữ lục Ngọc Lâm Quốc Sư (thầy của vua
cha ông là Khang Hy), lúc này Ngọc Lâm đã tịch rồi, không
có người kiến tánh để kế thừa. Vua Ung chính hạ lịnh
toàn quốc tìm đệ tử Ngọc Lâm để kế thừa. Cuối cùng
gặp Tổ Thiên Triệt, công phu đến mức nhưng chưa kiến tánh.
Tổ
Thiên Triệt được vua mời vào cung thành tham vấn, khi vua
Ung chính hỏi thì mới biết Tổ Thiên Triệt chưa kiến tánh.
Vua Ung Chính rút kiếm ra nói: “Mời ông vô Thiền Đường,
hẹn cho ông 7 ngày phải biết ý của Tiên Sư, nếu 7 ngày
ông không biết ý của Tiên Sư thì cây kiếm này sẽ chém
đầu ông”.
Vua
Ung Chính sai người đến nhắc chừng Tổ Thiên Triệt: Hôm
nay còn có 6 ngày nha! Rồi ngày mai nói: Hôm nay chỉ còn 5 ngày
nha! Cứ nhắc như thế, cuối cùng còn 1 ngày thì mỗi tiếng
đồng hồ cảnh cáo: Bây giờ, còn có 23 tiếng nha! Rồi cách
một tiếng mà nói: Chỉ còn 22 tiếng nha! Đến chừng còn
7 tiếng cũng chưa kiến tánh. Lúc ấy, tâm của ông không còn
biết ngoại cảnh, đang lúc đi thật nhanh tự mình cũng không
biết, đụng vào cây cột thì được kiến tánh.
Tổ
Thiên Triệt gặp Vua, Vua hỏi thì biết Tổ Thiên Triệt đã
kiến tánh, mới nói là: “Như ý, như ý”. Rồi mời ông
làm trụ trì chùa Cao Mân.
Vua
Khang Hy đến Thiền Đường Cao Mân 3 lần dự thiền thất,
lần thứ 3 đang tọa hương, lúc đó Trụ Trì và Duy Na đều
kiến tánh, Duy Na cầm hương bản đến đánh Vua 3 cái, Vua
nổi giận không nói là muốn giữ quy cũ.
Khi
hết giờ tham thiền Vua mới nói Trụ Trì: Vừa rồi Duy Na
sao dám đánh Trẫm?
Rồi
mời Duy Na lại hỏi: Tại sao khi không đánh vua?
Duy
Na nói: Vừa rồi tôi thấy vua không có tham thiền, mà nghĩ
nhớ đến cung phi, nên tôi muốn giúp vua. Vua nghe nói vậy,
Duy Na nói rất đúng, không trách mà kính phục.
|