|
.
Hoà
Thượng DUY LỰC Khai thị
CUỐI CÙNG
TẠI HOA KỲ
TT.
Thích Đồng Thường Biên Tập Thành Văn Tự
 |
 |
Hỏi:
Hỏi
câu thoại cần phải chú ý mới có nghi tình, hỏi câu thoại
không chú ý không có nghi tình. Vậy phải không?
Đáp:
Tham
thiền không cần tập trung tinh thần và không cần cố gắng.
Bây giờ tôi hỏi cô: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật là gì? Biết không? –Không biết.
“Không
biết” là đúng rồi, làm sao không có nghi tình? Không biết
là có nghi tình thì cú thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư
đều không biết. Nếu biết cú thứ nhất thì biết cú
thứ nhì, cú thứ ba, cú thứ tư với biết tất cả. Nếu
có cái sợ cũng là biết, nên phải vô sở đắc, vô sở cầu,
vô sở sợ, cứ giữ nghi tình miên mật thì tất cả cái gì
đều không biết.
Hỏi:
Khi
hỏi câu thoại mà trả lời không biết thì có đúng không?
Đáp:
Trả
lời “không biết” là tôi dạy như vậy để cho các vị
biết, chứ đâu cần phải trả lời! Vừa hỏi vừa nhìn,
tức là ý thức có thắc mắc không biết làm cho mình khó
chịu.
Nếu
có biết là nghịch với nghi tình, nghi tình không thể hình
dung được. Tôi muốn dạy cho biết nghi tình thì tôi mới
nói là không biết. Tôi không nói làm sao người ta hiểu nghi
tình là gì? Nhưng cái không biết này khác hơn không biết
của người ngủ mê, không biết của người chết giấc, không
biết của người bệnh tâm thần.
Có
thắc mắc không biết khó chịu là đúng, mà muốn tìm thì
không được, vì có nghi tình là chấm dứt tìm hiểu biết,
suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Tất cả cái biết của bộ óc
chấm dứt là do có nghi tình. Nếu có đi tìm là ý thức hoạt
động muốn biết, tuy ý thức hoạt động nhưng chỉ hoạt
động mặt không biết. Mặt biết là tu Như Lai thiền, mặt
không biết là tu Tổ Sư thiền. Bây giờ cứ giữ mặt không
biết.
Hỏi:
Mặt
không biết này có phải xác định là không biết chăng?
Đáp:
Biết
xác định hay biết không xác định thì không có cái nào xác
định được! Bây giờ mình cứ dùng thói quen từ lâu đời
để nghiên cứu tìm hiểu là sai lầm. Tham thiền là giữ nghi
tình (không biết), không phải để nghiên cứu tìm hiểu như
là khoa học hay triết học.
Hỏi:
Thế
nào là Tổ Sư thiền?
Đáp:
Tổ
Sư thiền là do Phật Thích Ca truyền Sơ Tổ Ma Ha Ca Diếp,
rồi sau này từ Tổ từ Tổ truyền xuống, truyền đến ngày
nay, nên gọi là Tổ Sư thiền. Mặc dầu, Phật Thích Ca truyền
nhưng không phải Phật Thích Ca bắt đầu truyền. Phật Thích
Ca tự nói là vô thỉ (chẳng có bắt đầu), nên Phật Thích
Ca nói: “Pháp của tôi thuyết là pháp bản trụ”.
Tuy
lời nói của chư Tổ có khác, nhưng ý của các Ngài không
khác, vì pháp bản trụ vốn bản lai như vậy. Cho nên, gọi
là Như Lai đúng như bản lai.
Hỏi:
Lo
lắng có phải là chấp ngã không?
Đáp:
Đó
là chấp ngã hay không tin nhân quả, nếu tin nhân quả thì
khỏi lo. Chủ yếu không tin tự tâm hoặc tin tự tâm chưa
đầy đủ. Bác sĩ của các nước Aâu Mỹ nghiên cứu các
thức ăn có ảnh hưởng đến tánh tình con người. Nếu sửa
lại thức ăn thì tâm cũng được an ổn tự chủ, nên không
bị hoàn cảnh lôi kéo thì ít lo lắng.
Thức
ăn có quan hệ đến bệnh hay tánh tình, chỉ cần đổi thức
ăn thì những bệnh ung thư, tiểu đường cũng có thể hết.
Nhưng không phải lâu hết bệnh, mà chỉ vài tuần hay một
hai tháng bệnh hết. Những bệnh đó mà các bác sĩ đã chạy,
chỉ cần đổi thức ăn là trị hết bệnh.
Hỏi:
Nếu
làm vườn có giết những côn trùng như con giun con dế, nhưng
lúc đó tâm tham thiền không có nghĩ giết hay không giết thì
nhân quả như thế nào?
Đáp:
Tham
thiền có nghi tình ngày đêm 24/24 giờ thì mới khống chế
tâm, còn biết thì phải có nhân quả. Những người theo tôi
học thiền đã lâu năm, nghe tôi nói nặng một câu cũng còn
không chịu nổi, làm sao khống chế tâm được? Nếu khống
chế tâm không được thì không khỏi bị cảnh lôi kéo.
Sức
tâm của con người nói theo khoa học là từ trường, tức
là năng lượng của tâm thì hơn năng lượng thực vật. Tâm
mình chuyển xuôi thì nó xuôi, muốn ngược thì nó ngược.
Vì sức thực vật yếu hơn tâm mình thì nó phải theo tâm
mình. Khi nào khống chế tâm mình được là không nổi niệm
thì mới tùy theo sức thực vật.
Người
chứng sơ quả thì sâu bọ tự tránh xa, cuốc đất không bị
sát sanh. Nhưng người tham thiền hiện nay chưa làm được
đến mức đó, rõ ràng sự thật đã chứng minh.
Hỏi:
Nghi
tình chưa đầy đủ thì tâm chấp thật vẫn còn, kính xin
Sư Phụ khai thị thêm?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền không cần tập trung tinh thần, không cần cố
gắng, chỉ cần miên mật. Tôi thí dụ: Bắt đầu 1 phút nghi
tình, mà mỗi ngày tăng thêm 1 phút nghi tình thì 1 tháng tăng
được ½ giờ nghi tình, 1 năm tăng được 6 giờ nghi tình,
4 năm tăng 24 giờ trong ngày đêm là đến thoại đầu, đến
thoại đầu là sắp kiến tánh.
Nếu
mỗi ngày tăng ½ phút nghi tình thì 8 năm đến thoại đầu
sẽ kiến tánh. Nếu mỗi ngày tăng ¼ phút nghi tình thì 16
năm đến thoại đầu sẽ kiến tánh. Các thiền khác tập
trung tinh thần cố gắng, còn Tham Tổ Sư thiền khỏi cần
tập trung tinh thần cố gắng, chỉ tiếp tục kéo dài nghi
tình không cho gián đoạn.
Nhưng
bây giờ tham thiền hay gián đoạn nghi tình, vì ban đầu mình
mới tập tham là do tập khí lâu đời nổi lên thì vọng tưởng
và nghi tình xen lộn lẫn nhau, chỉ thấy vọng tưởng mà không
thấy nghi tình, dần dần vọng tưởng bớt mới thấy nghi
tình. Lúc thấy có nghi tình hay buồn ngủ, trải qua giai đoạn
buồn ngủ có thể vài tháng hoặc một năm được tiến lên.
Vì quá trình tham thiền đều phải qua con đường này.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ ví dụ trong động có tịnh?
Đáp:
Cái
bàn này có 2 thứ động:
-
Quả đất xoay xung quanh mặt trời mỗi giờ là 180.000 km.
-
Mỗi hạt nguyên tử ở giữa có một trung tử, chu vi có nhiều
điện tử đang xoay, tốc độ rất nhanh, nhà khoa học tính
ra tốc độ nó xoay 1/3 cho đến ½ tốc độ ánh sáng.
Tốc độ ánh sáng mỗi giây đi 300.000 km. Nhưng mình thấy
cái bàn đang tịnh, mà lại cũng đang động, nó đang động
nhưng cũng đang tịnh. Bây giờ không thể nói nó đang tịnh
hay động đều cũng không được, vì động tịnh là tương
đối.
Tất
cả bản lai của pháp bản trụ vốn như thế, chứ không phải
có ai sai khiến làm như vậy. Nhà khoa học nói thiên nhiên,
tự nhiên; thiên nhiên, tự nhiên đó là chế tạo, chứ không
phải là thiên nhiên thật, tự nhiên thật, chỉ có Phật giáo
hay Phật Thích Ca mới biết thiên nhiên thật, tự nhiên thật.
Kinh
Lăng Nghiên Nói: Không phải nhân duyên, cũng không phải tự
nhiên”, còn tự nhiên của bản lai là pháp bản trụ, không
có bắt đầu và không có cuối cùng, nên không có sanh khởi.
Cho nên, người chứng quả ngộ pháp vô sanh, chứng vô sanh
pháp nhẫn.
Nhưng
nhà khoa học lại muốn tìm sự bắt đầu của vũ trụ và
sanh mạng! Còn Phật biết các pháp không có thể bắt đầu
và cuối cùng. Vì lý do bắt đầu không thể thành lập là
do không có nhân đầu tiên. Nhà khoa học tìm nhân đầu tiên
không ra rồi cho là tự nhiên.
Nhưng
sự thật chứng tỏ tự nhiên không được, nếu tự nhiên
thì không cần nhân duyên. Như con gà không cần trứng nở
ra, trứng gà khỏi cần con gà sanh ra. Sự thật trứng gà là
do con gà sanh ra, con gà thì trứng gà nở ra. Tất cả đã chứng
tỏ không phải tự nhiên.
Hỏi:
Khi
nghi tình khởi lên là mình biết có nghi tình, vậy có được
không?
Đáp:
Không
được, đang tập tham thiền thì được; nhưng sự thật cái
biết là không phải nghi tình, nghi tình là không biết.
-
Khi mình khởi câu thoại lên thì mình biết rồi phải không?
-
Phải rồi, bây giờ mình đang tập thì biết khởi lên câu
thoại, đến chừng miên mật thì quên cái biết.
-
Nếu quên cái biết làm sao mình biết nghi tình?
-
Đâu cần biết nó! Như cô Hằng Thiền không cần biết nghi
tình, lại cắt xong cái áo. Nhưng ban đầu, người ta đến
may, cô phải biết đo thước tấc rồi ghi vô sổ. Khi đang
cắt vải thì nổi lên nghi tình cô không biết, mà làm xong
công việc dùng óc.
-
Trong sở con tham thiền và làm việc từ sáng đến chiều,
đến chừng nhớ thì công việc vẫn xong. Vậy có nghi tình
phải không?
-
Phải rồi, làm như vậy là có nghi tình, đến chừng nhớ
lại mới biết, lúc đang tham thiền thì không biết, không
biết mới làm xong công việc.
-
Ngồi thiền biết mình ngồi thiền phải không?
-
Phải rồi, ban đầu mình phải biết, như cô Hằng Thiền
ban đầu cũng phải biết đo thước tấc rồi ghi vào sổ,
đến chừng cắt nửa chừng nổi lên nghi tình mà cô cũng
không biết, vì cô đã tập tham lâu năm, nên nghi tình đã
tự động thì làm việc không qua bộ óc.
-
Như mỗi ngày con đến đây ngồi thiền, con biết con đang
ngồi khởi nghi tình lên, cần làm như vậy hay để tự nhiên?
-
Mình để tự nhiên không cần biết gì hết, vọng tưởng
nổi lên cũng không biết, nghi tình có hay không cũng không
biết, cứ hỏi và nhìn đi song song là được thì nó sẽ tự
nhiên. Nếu dùng tâm để ý để biết là nghịch với tham
thiền.
-
Nhiều khi con làm không biết đúng hay sai?
-
Nếu biết đúng biết sai cũng là biết, vì đúng với sai là
tương đối. Pháp thì vô thỉ vô sanh, làm sao có đúng sai!
Hỏi:
Phật
pháp là một đạo đi ngược dòng phải không?
Đáp:
Phật
pháp không có đi ngược dòng hay xuôi dòng gì cả! Vì Phật
pháp là pháp bản trụ, vốn là vậy. Tất cả do tâm tạo,
vì tâm tạo nên có khác. Nếu tâm mình không tạo thì bản
trụ không có khác, cho nên gọi là bất nhị.
Bây
giờ mới phát minh cách chụp hình, như cái tách này, khi lấy
ra xem thì không có cái tách, nó chỉ có những lằn ngang. Qua
ánh sáng phản xạ của khoa học thì mới hiện ra cái tách,
rồi đem cái phim này cắt thành hai thì hai bên đều có cái
tách này, rồi cắt thành bốn thì bốn miếng đều có cái
tách,… chứng tỏ nó không có vị trí nhất định.
Cho
nên, bản thể của tâm khắp không gian khắp thời gian, không
có chỗ để chỉ. Nếu có vị trí nhất định, đem phim của
cái tách cắt thành hai thì mỗi bên chỉ có nửa cái tách
hay đem cái phim cắt làm bốn thì mỗi miếng phim chỉ có ¼
cái tách. Chứng tỏ là không có vị trí nhất định.
Hỏi:
Khi
tu Tổ Sư thiền có bị gió nghiệp thổi không?
Đáp:
Hòa
Thượng Phật Ấn và Tô Đông Pha là bạn với nhau, Tô Đông
Pha giải ngộ làm bài thơ “Tám ngọn gió thổi không lay động”,
nghĩa là 8 thứ (lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc)
không làm lay động tâm. Hai người ở cách nhau sông Dương
Tử, khi Tô Đông Pha làm bài thơ ấy xong gởi cho Hòa thượng
Phật Ấn xem. Hòa Thượng Phật Ấn xem xong rồi viết trong
thư đó: “địt địt” gởi lại cho Tô đông Pha.
Tô
đông Pha đọc thư trong lòng thấy rất giận, muốn qua Hòa
Thượng Phật Ấn hỏi tại sao có ý khi dễ? Khi qua đến cửa
phòng của Hòa Thượng Phật Ấn thấy hai hàng chữ dán trên
vách:
Tám
ngọn gió thổi chẳng lay động,
Chỉ
hai chữ địt bay qua sông.
Tô
Đông Pha thấy vậy mắc cở âm thầm ra về. Cho nên, thật
tế thì khác, khi nói được nhưng không làm được.
Lời
khai thị:
Tất
cả kinh của Phật để hiển bày cái tâm, nhưng tâm là danh
từ không thể nói được và tâm là cái gì không ai biết,
không những phàm phu đã không biết, luôn cả Phật Thích Ca
cũng không biết. Tại sao Phật đã chứng chơn tâm rồi còn
không biết? Vì chơn tâm là bất nhị, không có đối đãi,
tức là không có năng biết và sở biết.
Biết
là chơn tâm tự biết, không có người khác biết nó. Nếu
Phật Thích Ca biết thì nó thành sở biết, có sở biết thì
không phải chơn tâm. Phật Thích Ca tức là chơn tâm, chơn
tâm tức là Phật Thích Ca. Cho nên, không kiến lập cái biết,
vì cái biết đó sẵn sàng.
Hệ
thống thần kinh (bộ não) gồm có 2 mặt: Dùng mặt biết để
tu gọi là Như Lai thiền, dùng mặt không biết để tu gọi
là Tổ Sư thiền. Hiện nay tôi hoằng dương Tổ Sư thiền,
ví dụ như trên đầu cây viết là thoại đầu, ở dưới
cùng cây viết là thoại vỉ. Khi bắt đầu tham thiền là từ
thoại vỉ đi đến thoại đầu, tức là đã rời thoại vỉ,
đang đi ở giữa đường.
Tham
thiền là không biết của bộ não để chấm dứt cái biết
của bộ não (tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết),
3 cái biết này chấm dứt hết thì đến thoại đầu. Đến
thoại đầu thì sắp kiến tánh, có thể một phút sau kiến
tánh, cũng có thể ở trong một tháng kiến tánh, chứ không
có lâu kiến tánh.
Có
người hỏi: Tham Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để
tu, khi đến thoại đầu thì sắp kiến tánh, sắp biết phải
không?
Tôi
nói: Không phải, không được nói là sắp biết.
Người
ấy nói: Nếu không được sắp biết, vậy thì giống như
gỗ đá sao?
Tôi
nói: Không phải, vì cái biết chơn tâm không có sanh diệt,
không bao giờ ngưng. Nếu ngưng rồi biết lại mới gọi là
sắp biết. Nó không ngưng làm sao nói sắp biết?
Nhưng
người hỏi không hiểu, nên tôi đổi câu khác. Trời gần
sáng, mặt trời sắp chiếu được không? Không được. Mặt
trời không thể nói sắp chiếu! Tại sao? Tại mặt trời đâu
có ngưng chiếu, mà nói mặt trời sắp chiếu? Như đêm hôm
không thấy mặt trời thì đâu có thể nói mặt trời ngưng
chiếu! Vì nó bị che khuất bởi trái đất. Mặt trời luôn
luôn lúc nào cũng chiếu.
Cái
biết chơn tâm của mình cũng vậy, nó không bao giờ ngưng
biết, không thể nói là sắp biết! Không dùng được cái
biết chơn tâm vì nó bị che khuất. Vậy chơn tâm bị cái
gì che khuất? Nó bị cái biết và cái không biết của bộ
não che khuất. Cho nên, Phật Thích Ca dạy tham thiền là để
dẹp những cái che khuất của bộ não.
Đến
thoại đầu thì vẫn còn cái không biết của bộ não, đến
lúc kiến tánh thì cái không biết này cũng chấm dứt luôn,
gọi là phá vô thỉ vô minh (không biết của bộ não), lúc
đó toàn diện chơn tâm hiện ra, diệu dụng khắp không gian
khắp thời gian, tức là khắp không gian thì không có chỗ,
khắp thời gian thì không có lúc. Nếu có chỗ để chỉ thì
không cùng khắp không gian, có lúc để chỉ thì không cùng
khắp thời gian.
Kinh
Lăng Nghiêm giải thích “chơn tâm tồn tại vĩnh viễn”:
Vua
Ba Tư Nặc hỏi Phật: Xưa kia ngoại đạo hỏi Phật “con
người khi sau chết tất cả đều mất không còn cái gì phải
không”?
Phật
nói: Không phải. Cái nào có lay động phải biến đổi, có
biến đổi thì chết mất không còn; còn cái nào không lay
động thì không biến đổi, không biến đổi làm sao chết
mất? Nên nó tồn tại vĩnh viễn. Vậy vua biết có cái không
chết mất không?
Vua
nói: Không biết.
Phật
nói: Để tôi nói cho vua biết.
Phật
dùng tay để đối đáp với A Nan, tay Phật nắm buông rồi
hỏi A Nan: Ngươi có thấy tay ta nắm buông không?
A
Nan đáp: Thấy tay Phật nắm buông.
Phật
hỏi: Thấy tay ta nắm buông hay tánh thấy của ngươi nắm
buông?
A
Nan nói: Tay của Phật nắm buông, còn tánh thấy của con đâu
có lay động mà nói nắm buông!
Tay
của Phật nắm buông, sau khi chết thiêu thành tro, chôn thành
đất. Tánh thấy không lay động làm sao chết mất được?
Vì không lay động thì không biến đổi, không biến đổi
thì không chết mất. Tại vì con mắt lay động thì chết mất.
Tánh thấy không lay động thì không chết mất, tồn tại vĩnh
viễn.
Như
vậy, Phật còn chưa thỏa mãn, cái lay động là thân của
Phật, còn tánh thấy không lay động là thân của A Nan, hai
thân khác nhau. Phật muốn trong một thân có cái lay động
và có cái không lay động. Phật mới phóng hào quang bên vai
mặt của A Nan, A Nan ngó qua vai mặt. Phật phóng hào quang vai
trái của A Nan, A Nan ngó qua vai trái.
Phật
hỏi A Nan: Tại sao cái đầu ngươi ngó qua ngó lại làm cho
đầu ngươi lay động vậy?
A
Nan đáp: Đầu của con lay động, còn tánh thấy của con tịnh
còn không có làm sao có động?
Cho
nên, cái đầu lay động thì sau này sẽ chết mất, thiêu thành
tro, chôn thành đất. Còn tánh thấy không lay động, không
biến đổi thì làm sao chết mất được? Không những tánh
thấy không chết mất, mà tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm,
tánh xúc và tánh biết đều tồn tại vĩnh viễn, không chết
mất.
Bây
giờ, nhiều Phật tử đều biết mình có Phật tánh, nhưng
lại không tin. Như tôi hỏi: Ông tin ông có Phật tánh không?
Ông
ấy đáp: Tin có Phật tánh.
Tôi
hỏi: Phật tánh có thể giảm bớt được không?
Ông
ấy đáp: Không, Phật tánh không thể giảm bớt.
Tôi
hỏi: Phật tánh có thể gián đoạn được không?
Ông
ấy đáp: Phật tánh không thể gián đoạn.
Tôi
nói: Như vậy, ông đã tin tự tâm đầy đủ rồi. Tại sao?
Vì Phật tánh không thể giảm bớt, nên Phật tánh của ông
và Phật tánh của Phật Thích Ca bằng nhau; vậy thần thông
của ông và thần thông của Phật Thích Ca cũng bằng nhau,
nếu có kém hơn Phật Thích Ca một chút thì có giảm bớt.
Ông
đã biết không thể giảm bớt thì trí huệ, năng lực của
ông bằng Phật Thích Ca. Phật tánh không thể gián đoạn thì
ông hiện nay là Phật. Tại sao ông không chịu nhìn nhận?
Mặc dầu, biết nhưng không chịu nhìn nhận, thành ra cũng
như không biết vậy.
Có
một vị Tổ Sư làm ra phương tiện, nửa đêm la lên: Ăn trộm!
Aên trộm!
Tăng
chúng thức dâïy hỏi: Ở đâu? Ở đâu?
Tổ
Sư nói: Đây, bắt được rồi.
Tăng
nói: Không phải, con đây.
Tổ
Sư nói: Phải thì phải, vì không nhìn nhận! Thôi đi đi!
(Nếu
nhìn nhận thì đã kiến tánh rồi!)
Trong
Từ Điển Thực Dụng Phật Học, Trí Giả đại sư là Tổ
thứ 3 của tông Thiên Thai đề ra 3 thứ ngoại đạo:
1-
Chánh thức ngoại đạo là thuyết pháp theo ngoại đạo
và hành theo ngoại đạo, nếu tu thành tựu thì thành tiên,
sanh lên cõi trời, họ không có tội địa ngục.
2-
Lấy bản hiệu Phật giáo mà hành theo ngoại đạo, nên họ
có tội địa ngục, vì làm cho người ta hiểu lầm tưởng
là Phật pháp, nhưng sự thật không phải.
3-
Học Phật pháp thành ngoại đạo, những người này không
biết mình là ngoại đạo, họ giảng kinh thuyết pháp giống
như kinh Phật, y văn giải nghĩa, họ cũng hiểu, nhưng họ
chấp lời Phật mà nghịch ý Phật.
Bây
giờ, có người theo tôi học Tổ Sư thiền cũng thành ngoại
đạo, Phật đã thọ ký sau này Phật pháp tiêu diệt là do
những người này. Tại sao? Phật thí dụ con trùng của sư
tử (sư tử là vua của bách thú, cọp, beo… đều sợ nó,
khi con sư tử chết mà các con thú không dám gần để ăn thịt
nó, vì tưởng nó ngủ; khi con sư tử chết thúi tự thịt
của nó biến thành những con trùng mà ăn thịt nó). Tức là
Phật tử tự phá Phật pháp, chứ không phải thiên ma nào
phá nổi!
Vì
những người này thuyết pháp cũng giống như lời Phật, nhưng
không hiểu ý Phật, dẫn người ta đi lẩn quẩn làm hại,
tại những cái ấy là che khuất của bộ não, kinh Lăng Nghiêm
nói: “Kiến lập tri kiến là căn bản vô minh”. Họ cho lời
nói của Phật là Phật pháp của mình để dạy người, nên
họ phải có tội địa ngục, nhưng họ không biết. Cứ nói
“tôi y theo lời của Phật dạy!” nên Trí Giả đại sư
gọi những người này là ngoại đạo thứ 3.
Hiện
nay ở trong chúng mình cũng có hạng người này, tôi không
cách nào để làm cho họ quay về đúng chánh pháp! Cho nên,
tôi cũng đành phải chịu thôi. Họ không phá ngã chấp nên
tham thiền nhiều chừng nào thì ngã chấp lớn chừng nấy,
họ cứ tin theo bộ não, tưởng mình hiểu biết nhiều cho
là hay, nhưng Phật Thích Ca dạy mình dẹp những hiểu biết
đó, tại những cái đó như mây đen che khuất ánh sáng mặt
trời.
Nhưng
họ không chịu tin, tại nói như vậy không ai nghe. Nói theo
ý mình thì người ta cho mình hay, họ thỏa mãn được cái
ngã, vì người ta nghe hiểu liền. Rồi cho mình hay hơn thầy
“thầy nói không có ai hiểu, tôi nói người ta hiểu liền”.
Phật thọ ký cho những người ấy sau này tiêu diệt Phật
giáo.
Hỏi:
Hòa
thượng nói “khi chuyển thức thành trí thì năng lượng lìa
vật chất”. Nhưng bổn lai vô nhất vật thì cái gì để
lìa cái gì?
Đáp:
Ông
coi lại kinh Lăng Già đi! Ông chưa có hiểu, còn chấp lời
nói, không biết những lời nói của Phật là phương tiện,
không được chấp, nên Phật nói rồi phủ nhận liền “tôi
49 năm thuyết pháp mà chưa từng nói một chữ, ai nói Phật
có thuyết pháp thì người ấy phỉ báng Phật”. Vì chấp
lời nói của Phật cho là “Phật học của tôi, tôi biết
được để dạy người ta”.
Hỏi:
Làm
sao biết được người ta dạy pháp đúng hay sai?
Đáp:
Người
chấp ngã là tà, người không chấp ngã là chánh, chấp thật
là tà, phá chấp thật là chánh. Kinh Viên Giác nói: “Cho mình
có thuyết pháp thì đã có ngã chấp, biết mình có sở chứng
thì cũng đã có ngã”. Lục Tổ tự phủ nhận “tôi chưa
chứng đắc”, những người đã chứng ngộ rồi, tự mình
đâu nói mình chứng ngộ!
Bây
giờ ai cũng có cái ngã, nên theo chánh pháp của Phật đều
phá ngã chấp, như Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối
thượng thừa đều phá ngã chấp, phá ngã chấp xong rồi phải
phá pháp chấp. Vừa rồi ông đó ngã chấp chưa phá mà lại
chấp pháp, cho pháp của mình là thật. Tất cả lời nói của
tôi là đàm giải của chư Phật chư Tổ, đâu có cái nào
thật mà lại để chấp! Aáy là phương tiện tạm thời.
Hỏi:
Người
tu hành sau khi chết thiêu có xá lợi và không có xá lợi.
Vậy Hòa thượng giải thích thế nào?
Đáp:
Nếu
giác ngộ thấy không có sanh tử, biết không có sanh tử thì
đã liễu thoát sanh tử. Vì có sanh tử mới thấy xá lợi
của cái xương, sanh tử đã không có làm sao có xá lợi? Thành
ra cái đó cũng là dư thừa. Tâm kinh nói: “Vô lão tử”
tức là không có sanh tử, “vô vô minh” tức là không có
vô minh. Tại người chấp có vô minh có sanh tử.
Nếu
có xá lợi thì chẳng có ích lợi gì! Vì đó chấp có sanh
tử mới có. Những người không có chấp sanh tử thì có xá
lợi hay không cũng không có liên quan, có xá lợi hay không
đều cũng được. Tất cả hiện tượng mình thấy đều là
vọng tưởng của vọng tâm tạo ra.
Hỏi:
Chư
Tổ kiến tánh và chư Thánh chứng quả, có phải sau khi chết
để lại nhục thân không?
Đáp:
Không
phải, có khi người chưa chứng quả cũng có thể để lại
nhục thân. Năm 1974, tôi đi Thái Lan thấy có 10 nhục thân
của người Thái Lan. Cho nên, để lại nhục thân không thể
chứng minh là người đó đã ngộ. Vì người ta chấp mới
có, nếu không chấp thì không có liên quan gì.
Hỏi:
Phật
Thích Ca nhập diệt thiêu có nhiều xá lợi, phân chia bốn
hướng tám phương, việc ấy như thế nào?
Đáp:
Phật
nói: “Tất cả đều là vọng tưởng”, bây giờ mình thấy
người này thấy người kia, thấy có Phật thấy không có
Phật, thấy nhà cửa, cây cối, vũ trụ, vạn vật đều do
vọng tưởng nên mình mới thấy và cộng nghiệp tất cả
chúng sanh đều cùng thấy như vậy. Nhưng ở trong cộng nghiệp
lại có có biệt nghiệp, ở trong biệt nghiệp cũng có cộng
nghiệp. Biệt nghiệp là nghiệp của cá nhân, cộng nghiệp
là chúng ta bây giờ cùng thấy nhà cửa.
Nhưng
sự thật không phải như vậy, nên kinh Đại Niết Bàn nói:
“Nếu ở trong thế lưu bố tưởng mà không sanh ra trước
tưởng là pháp xuất thế gian, cũng gọi là Phật pháp. Nếu
ở pháp thế gian sanh ra trước tưởng là pháp thế gian”.
Như mình nói năng, tiếp khách, làm việc mà không sanh ra trước
tưởng thì tất cả đều là Phật pháp.
Yếu
Chỉ Trung Quán Luận có phá tất cả, hễ bộ não nhận biết
thì phải phá. Nên văn tự lời nói để diễn tả được
đều phải phá. Vì muốn nói phải có tương đối mới nói
được, văn tự thay cho lời nói cũng vậy. Kinh Lăng Già nói:
“Chánh pháp phải lìa văn tự”, tại văn tự không thể
diễn tả, lời nói cũng chẳng thể nói được. Nên Phật
Thích Ca nói: “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một
chữ; ai nói Như Lai có thuyết pháp, người ấy phỉ báng Phật”.
Nhưng
người ta tưởng là có thể nói, có thể diễn tả, cho là
đúng cho là sai. Vì đúng với sai là tương đối, nên nói
lời thuyết pháp là đúng thì cũng không đúng, nói lời thuyết
pháp của Phật không đúng cũng là không đúng. Tại sao? Tại
lời thuyết pháp của Phật muốn lìa đúng và không đúng,
tức là lìa tương đối.
Nếu
đem lời thuyết pháp của Phật cho là đúng và không đúng
thì nghịch với ý Phật. Đúng và không đúng là ác kiến
thuộc 1 trong 5 thứ ác kiến của đạo Phật, vì đúng và
không đúng đều là biên kiến, lọt vào biên kiến mà tự
mình không biết. Đây là nói về Phật pháp chứ không có
ám chỉ ai!
Hỏi:
Phật
tử tại gia phải tu như thế nào?
Đáp:
Lục
Tổ nói có 4 thứ:
-
Thân tại gia mà tâm xuất gia.
-
Thân xuất gia mà tâm tại gia.
-
Thân, tâm đều xuất gia.
-
Thân, tâm đều tại gia.
Nếu
thân tại gia mà tâm xuất gia thì hơn người có thân xuất
gia mà tâm tại gia. Mặc dầu, thân tại gia làm cư sĩ nhưng
tâm của họ xuất gia hành đúng với chánh pháp; còn người
thân xuất gia có hình tướng tu sĩ, nhưng mà tâm tại gia,
cái chấp của người đó nhiều hơn người tại gia hay bằng
người tại gia thì người tại gia cũng tốt hơn người xuất
gia đó. Thân và tâm đều xuất gia là tốt nhất, còn thân
tâm tại gia thì khỏi nói.
Hỏi:
Hành
theo chánh pháp là như thế nào?
Đáp:
Hành
theo chánh pháp là không chấp thật, lại phá chấp thật là
chánh, không chấp ngã, lại phá chấp ngã là chánh; tức là
chấp ngã là tà, phá chấp ngã là chánh, chấp thật là tà,
phá chấp thật là chánh. Bất cứ chấp thật cái nào cũng
là tà, nếu chấp vào lời nói của Phật cũng là tà, tức
là chấp vào một bên thuộc 1 trong 5 thứ ác kiến của nhà
Phật. Cho lời của Phật có đúng sai là ở trong tương đối,
chứ không lìa tương đối.
Hỏi:
Đạo
Phật dạy phá ngã chấp, ngã chấp của mình không biết ở
đâu? Nhờ Hòa thượng chỉ rõ, vì nó thuộc về từ vô minh
vô thỉ. Như con nói nhẹ con của con mà nó cự lại liền,
thấy cái ngã nó lớn quá?
Đáp:
Con
của ông có ngã, nhưng ông cũng có ngã; nếu ông không có
ngã, làm sao ông cho là mấy đứa con là con của ông? Vì có
ông nên mới có con! Đó cũng là tương đối mà trong kinh Lăng
Già nói “tại có tên con nên mới có tên cha”, nếu không
có con thì sao ông gọi là cha? Vì có con nên ông mới được
gọi là cha.
Hỏi:
Có
cách nào để phá ngã chấp?
Đáp:
Ngã
chấp khỏi cần phá, ông chỉ cần hỏi và nhìn; hỏi là kích
thích niệm không biết, nhìn là giữ niệm không biết. Như
hỏi “khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì khởi lên
niệm không biết, rồi khán là nhìn chỗ không biết, nhìn
chỗ không biết là kéo dài niệm không biết, tức là không
có nổi ý phá.
Nếu
có nổi ý phá thì có năng phá và sở phá là nhị rồi, nên
không phải Phật pháp. Cứ hỏi và nhìn thì không phá nó tự
phá. Chỉ có vậy thôi, ngài Lai Quả gọi là “thuốc thoại
đầu trị bá bệnh”.
Hỏi:
Có
phải mình tu rồi thời gian tập khí bớt dần thì chơn tâm
hiện ra?
Đáp:
Phải
rồi, mình dẹp hết che khuất rồi chơn tâm mới hiện ra.
Những che khuất đó là tìm hiểu biết, suy nghĩ biết và ghi
nhớ biết. 3 cái biết này dẹp hết thì đến thoại đầu.
Tìm hiểu, suy nghĩ đều là kiến giải hiểu biết của bộ
não. Nếu lấy cái đó để tranh luận là sai lầm lớn, vì
tranh luận dù có đúng lý cũng là sai, huống là không đúng
lý! Tại đúng với sai là tương đối, bởi vì những người
ngu mới tranh luận những cái đó, do họ không hiểu Phật
pháp, tức là chấp lời nghịch ý, họ không hiểu ý quên
lời.
Hỏi:
Tại
sao tất cả kinh điển đều bắt đầu chữ “như thị”?
Đáp:
Chữ
“như thị” nghĩa là “đúng vậy”. Đó là phương tiện
của mỗi cuốn kinh. Lúc Phật thuyết pháp không có ai ghi,
rồi Phật nhập diệt thì đệ tử của Phật mới tập họp
lại, mời A Nan đọc lại lời thuyết pháp của Phật (A Nan
là thị giả của Phật, mỗi lần Phật thuyết pháp đều
có A Nan nghe nhớ lâu). Cho nên, mỗi cuốn kinh có câu đầu
tiên là: “Như thị ngã văn” nghĩa là tôi nghe đúng như
vầy. Tất cả 500 A La Hán cho là đúng thì được thành tựu.
Hỏi:
Hồi
nhỏ con theo bà nội con đi chùa, rồi bà bảo con lạy Phật
và chào thầy, bà nói: “Tội bất hiếu không thờ cha kính
mẹ vàø không trọng Pháp kính Tăng, nên mày phải xuống địa
ngục”. Vậy cái nào xuống địa ngục trước, cái nào nặng,
cái nào nhẹ? Đến bây giờ không biết bà nội con nói đúng
không?
Đáp:
Lời
của bà nội ông là phân nửa trúng và phân nửa không trúng.
Tại sao? Vì không phải bao gồm tất cả, không phải là chân
lý; vì lời của Phật không phải là chân lý, huống là lời
của bà nội ông! Nhưng dạy con cháu như vậy là đúng, tại
theo sự hiểu biết của bà nội ông. Còn nói theo Phật pháp
thì không đúng.
-
Vậy tội nào nặng nhất phải đọa địa ngục A tỳ?
-
Phỉ báng Phật pháp là tội nặng nhất, vì hại người ta.
Phỉ báng Phật pháp không phải chỉ nói thôi, như Phật tử
tự phá Phật pháp, đó mới là tội nặng.
Hỏi:
Vạn
pháp đều tương đối là huyễn, mà mỗi chúng sanh nhìn có
khác nhau. Như vậy ở trong Phật pháp có cái gì tuyệt đối
không?
Đáp:
Nếu
không có cái gì tương đối thì mới là tuyệt đối, còn
tương đối chưa phải là tuyệt đối. Trong Phật pháp không
có tương đối và không có tuyệt đối, vì tương đối với
tuyệt đối cũng là tương đối. Cho nên, tất cả tương đối
và tuyệt đối không còn nữa.
-
Như vậy mình tu để đạt cái gì?
-
Không có tu, không có chứng. Khi ngộ rồi mới biết “không
phải tu mới thành, không phải chứng mới đắc”. Tại nó
đã thành sẵn rồi. Kinh Viên Giác nói: “Tất cả chúng sanh
đều đã thành Phật”. Phật dùng quặng vàng để thí dụ:
Trong quặng vàng tuy chưa thấy vàng thật, nhưng vàng thật
đã thành sẵn, vì vàng thật lộn với đất cát tạp chất
nên không thấy vàng thật.
Vậy
cần phải luyện đất cát tạp chất thì vàng thật mới hiện
ra được. Nhưng không phải luyện ra vàng, luyện thí dụ là
tu, không phải tu mà thành Phật, vì Phật đã thành sẵn. Nếu
trong quặng vàng không có vàng thành sẵn thì luyện cách mấy
cũng không ra vàng được. Chúng sanh cũng vậy, Phật tánh của
chúng sanh đã thành sẵn. Khi thành vàng thật thì không bao
giờ thành quặng nữa! Cũng như chúng sanh thành Phật rồi,
không còn trở lại làm chúng sanh.
Hỏi:
Tu
pháp môn nào để cho con làm vua làm giàu?
Đáp:
Phật
dạy mình là để ngộ bản tâm của mình, chứ không phải
muốn mình làm vua hay muốn mình làm những sự nghiệp thành
công!
-
Có phải buông bỏ hết không?
-
Không phải, không có cái gì để buông bỏ, tại mình chấp
nên mới có cái để bỏ. Nếu không chấp thì không có gì
để bỏ. Chỉ ngộ được tâm như hư không vô sở hữu (trống
rỗng), nhưng trống rỗng là cái thể cũng là cái dụng thì
rõ ràng hư không trống rỗng này dung nạp và ứng dụng thì
nó là thực dụng, nhưng thể thì không thể thấy mà dụng
mình thấy rõ ràng, mình đang nhờ cái trống rỗng này để
dùng.
Như
mình đang nói chuyện, phải nhờ không gian trống rỗng này,
mình mới nói chuyện với nhau được. Mình nhờ thấy nhau
cũng phải nhờ không gian trống rỗng này, mình mới nhìn thấy
nhau được. Không gian trống rỗng chính là tâm của mọi người,
cũng là thể và dụng của tâm mình, chứ không phải người
khác. Tại mình không chịu nhìn nhận. Khi nào mình ngộ mới
biết tất cả là vậy.
Hỏi:
Vạn
pháp do tâm tạo thì tất cả vạn pháp là tương đối. Như
vậy cái tâm đó có tương đối không?
Đáp:
Tâm
đó là sanh diệt của bộ não, nên Phật dạy mình dẹp cái
đó, tại cái đó che khuất chơn tâm.
-
Tâm của mỗi người thì ở trong bộ óc của mỗi người,
bao gồm hết không gian vũ trụ này. Vậy làm sao dẹp được?
-
Tại ông muốn dùng bộ óc để dẹp bộ óc thì đâu được!
Dùng cái biết bộ óc để dẹp cái biết bộ óc thì cái biết
bộ óc lại kéo dài, làm sao dẹp được? Ông phải dùng cái
không biết của óc mới dẹp được cái biết của bộ óc.
Cho nên, Phật dạy tham Tổ Sư thiền là dùng cái không biết.
Nếu ông không biết thì những lời nói này làm sao có! Tại
ông dùng cái biết nên mới có.
-
Như vậy tâm có trước chư Phật hay chư Phật có trước tâm?
-
Nói như vậy, mà ông vẫn còn tiếp tục dùng cái biết của
bộ não để hỏi! Nếu ông dùng không biết thì đâu có gì
để hỏi. Vì dùng cái biết thì cái biết kéo dài, đã không
dẹp mà lại kéo dài nữa. Cái biết là căn bản của vô minh,
cũng là sở tri chướng, cũng là nuôi dưỡng luân hồi. Nếu
giữ được không biết thì khỏi cần buông mà nó tự buông.
Như có ý muốn buông thì chấp rồi.
Hỏi:
Cái
biết của mình thì không nên giữ, còn cái biết của chư
Phật thì như thế nào?
Đáp:
Cái
biết của ông là cái biết của bộ não thì phải chấm dứt.
Lời nói của Phật là chỉ dùng để phá chấp, khi nào mình
hiểu thì Phật lại tự phủ nhận tôi không nói cái đó,
vì sợ mình chấp cái đó phải bị mắc kẹt.
Cho
nên, Phật nói: “49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một
chữ, ai nói Phật có thuyết pháp thì phỉ báng Phật”, như
vậy đã biết Phật nói xong rồi phủ nhận liền.
Hỏi:
Đức
Phật nói thuyết luân hồi, con người cứ lẩn quẩn đầu
thai từ chỗ này qua chỗ kia, như côn trùng con dế,… còn
có đạo khác nói là “con vật để dưỡng nhân”. Vậy việc
luân hồi như thế nào? Như con người nếu chết hết đầu
thai thành con thú, làm sao có con người?
Đáp:
Việc
ấy là vọng tưởng của ông, không có chuyện đó. Đến khi
ông kiến tánh thì mới biết là ở trong chiêm bao mới thấy.
Bây giờ ông hỏi đều là những chuyện trong chiêm bao, tại
ông hiện nay vẫn còn trong mở mắt chiêm bao, ông coi lại
bài nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao. Khi ông kiến
tánh thì những cái này tự tiêu mất.
Toán
là công cụ để nghiên cứu khoa học, nên những người khoa
học phải giỏi toán thì khoa học mới tiến bộ được. Có
người nước Anh, khoa học giỏi nhất trên thế giới, ông
đang dạy toán ở hai đại học Luân Đôn danh tiếng nhất
thế giới, ông đó bị bệnh các cơ rút lại, nên bây giờ
phải ngồi xe lăn, nói chuyện phải qua cái máy mới ra tiếng.
Chính
ông dạy toán mà lại nghịch với định lý toán. Tại sao?
Vì định lý toán là không có số cực nhỏ, tức là không
có bắt đầu, Phật nói là vô thỉ, cũng là vô sanh (không
có sự sanh khởi). Tại có sự sanh khởi thì phải có sự
bắt đầu, nên người chứng quả là ngộ pháp vô sanh, gọi
là chứng vô sanh pháp nhẫn.
Chính
định lý của toán chứng tỏ là không có sự sanh khởi, vì
không có bắt đầu, nên con số chia mãi vẫn còn con số, chứ
không có con số nhỏ nhất. Không có con số cực lớn là cuối
cùng. Đó là định lý của toán.
Ông
ấy còn đề ra 2 câu hỏi: Vũ trụ có bắt đầu chăng? (Muốn
tìm bắt đầu của vũ trụ), con gà có trước hay trứng gà
có trước? (Muốn tìm bắt đầu của sanh mạng). Như vậy
nghịch với định lý toán, tại toán không thể bắt đầu.
Vì
ông đã tin quen bộ não đã từ lâu đời, lại quên định
lý của toán là không có sự bắt đầu. Trái lại, tìm sự
bắt đầu của vũ trụ và sanh mạng, theo lập trường của
Phật gọi là si mê. Nhưng các nhà khoa học trên thế giới
đều tôn sùng ông là nhà khoa học hạng nhất trên thế giới
này.
Hỏi:
Bây
giờ người ta đang chờ ngày hội Long Hoa. Vậy Hòa thượng
nghĩ thế nào là ngày hội Long Hoa?
Đáp:
Việc
đó tại biết mới có, đã như hư không vô sở hữu, làm
sao có hội Long Hoa có trước có sau? Kinh Viên Giác nói: “Có
trước, có sau, có tựu, có tán,… đều là việc luân hồi”.
Bây giờ mình chưa ra khỏi luân hồi, dùng tri kiến luân hồi
để tìm Viên Giác thì Viên Giác thành luân hồi, mà Viên Giác
là bản giác không có luân hồi.
Thức
tỉnh rồi, mới biết vừa rồi mình ở trong chiêm bao; còn
người trong chiêm bao, làm sao biết được việc thức tỉnh?
Hỏi:
Chúng
con đã trải qua bao nhiêu kiếp luân hồi, làm sao dùng cái
không biết của bộ não để chấm dứt cái biết của bộ
não?
Đáp:
Phật
pháp là muốn mình ngộ biết mình, cái biết chơn tâm
đã sẵn sàng không cái nào mà chẳng biết! Biết và không
biết là của bộ não, chứ không phải là cái biết của chơn
tâm, cái biết chơn tâm gọi là bất nhị, không có tương
đối; không có tương đối thì không có biết và không biết.
Phật Thích Ca dạy mình để hiện cái biết của chơn tâm,
nhưng muốn hiện chơn tâm thì phải dẹp cái che khuất biết
và không biết của bộ não.
Tham
thiền là tham thoại đầu và khán thoại đầu. Thí dụ: Trên
đầu cây viết là thoại đầu, ở dưới đuôi cây viết là
thoại vỉ. Khoảng giữa từ thoại vỉ đến thoại đầu là
hệ thống thần kinh biết và không biết của bộ não. Theo
cái biết của bộ não để tu gọi là Như Lai thiền, dùng
cái không biết của bộ não để tu là Tổ Sư thiền, mục
đích đều đến thoại đầu.
Sao
gọi là thoại đầu? Là đầu tiên lời nói tức chưa có ý
niệm muốn nói, không có niệm nào hết gọi là thoại đầu;
nếu mình đã khởi niệm muốn nói mà chưa nói ra miệng thì
gọi là thoại vỉ. Tham thiền là dùng ý niệm không biết
thì đã có khái niệm không biết rồi, chứ không phải là
thoại đầu.
Nhưng
mục đích muốn đến thoại đầu, cho nên mới gọi là tham
thoại đầu khán thoại đầu. Tham là hỏi câu thoại để
kích thích niệm không biết, khán là kéo dài niệm không biết,
Thiền tông gọi là nghi tình. Hỏi và nhìn, 2 cái một lượt
đi song song để giữ cái niệm không biết (nghi tình), nghi
tình này sẽ đưa hành giả đến thoại đầu.
Tại
sao? Tại nhờ không biết của bộ não để dẹp cái biết
của bộ não (tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết),
3 cái biết này dẹp hết thì sẽ đến thoại đầu. Nhưng
vẫn còn cái không biết che khuất, nên giờ phút cuối cùng
là đầu sào 100 thước (thoại đầu) tiến lên một bước
thì cái không biết cũng tan rã, tức là nghi tình bùng nổ,
biết và không biết của bộ não được sạch, cái biết chơn
tâm hiện ra khắp không gian và khắp thời gian không chỗ nào
không biết, không có lúc nào không biết.
Vậy,
người ta đã hỏi tôi: “Mình dùng cái không biết để tu
đến thoại đầu thì sắp kiến tánh (đến thoại đầu có
thể 1 phút sau kiến tánh hay 1 tháng sau cũng kiến tánh), sắp
kiến tánh thì phải sắp biết phải không?
Tôi
nói: Không thể nói là sắp biết.
Người
ấy nói: Không thể sắp biết thì không biết như gỗ đá
sao?
Tôi
nói: Không phải như vậy, tại cái biết chơn tâm không bao
giờ ngưng, nếu có ngưng mới nói sắp biết.
Nhưng
người hỏi chưa hiểu, nên tôi phải đổi câu hỏi: “Trời
gần sáng, mặt trời sắp chiếu được không”? Không được,
mặt trời không thể nói sắp chiếu. Tại sao? Vì mặt trời
đâu có ngưng chiếu mà nói sắp chiếu! Mặt trời đâu phải
sáng bắt đầu chiếu, mà nói sắp chiếu! Ban đêm mặt trời
cũng chiếu, không thấy được mặt trời là bị trái đất
che khuất.
Tâm
mình cũng vậy, đâu phải có ngưng biết mà nói sắp biết!
Nhưng
ai cũng biết mặt trời bị mây đen hay trái đất che khuất.
Vậy cái biết của chơn tâm bị cái gì che khuất? Là bị
cái biết và không biết của bộ não che khuất. Cho nên, Phật
Thích Ca dạy mình tham Tổ Sư thiền. Đầu tiên dùng cái không
biết làm công cụ để dẹp cái biết của bộ não. 3 cái
biết này dẹp hết thì sẽ đến thoại đầu, cuối cùng cái
không biết của bộ não cũng dẹp luôn, gọi là kiến tánh
thành Phật.
Kiến
tánh là chơn tâm hiện, nhưng chơn tâm là danh từ ai cũng nói
được, tâm là cái gì mà không có ai biết? Mà luôn cả Phật
Thích Ca cũng không biết nữa! Tại sao? Nếu chơn tâm bị Phật
Thích Ca biết được thì chơn tâm thành sở biết. Có sở
biết thì có năng biết là nhị, tức là tương đối thì không
phải chơn tâm.
Tại
sao Phật Thích Ca đã chứng quả mà không biết? Vì chơn tâm
tức là Phật Thích Ca, Phật Thích Ca tức là chơn tâm, chứ
không phải là hai. Mình kiến tánh thành Phật cũng vậy, mình
tức là chơn tâm, chơn tâm là mình. Đâu phải có năng biết
để biết chơn tâm!
Hỏi:
Chơn
Tâm hiện ra rồi, có phải đổi thành Đại Viên Cảnh Trí
không?
Đáp:
Thí
dụ Đại Viên Cảnh Trí là Chơn Tâm, theo Duy Thức là thức
thứ 8 (A lại da thức). Trong cuốn Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21,
tôi theo kinh Lăng Già giải thích, từ căn từ thức khác nhau.
Nhà khoa học chỉ biết có 1 cái thức là hệ thống thần
kinh (nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn).
Họ không biết mỗi căn mỗi thức khác nhau.
Tại
sao mỗi căn mỗi thức khác nhau? Như nhãn căn chỉ chiếu soi
(giống như cây đèn) thấy được cảnh vật, như thấy trái
xoài, trái nho,… rồi nhãn thức phân biệt đây là trái nho
trái xoài. Nếu không có nhãn căn chiếu soi thì không thể
thấy được. Vậy làm sao phân biệt? Như trời tối đốt
đèn lên mới thấy được, tác dụng của cây đèn chỉ là
chiếu soi.
Nhĩ
căn chiếu soi âm thanh, nhưng không biết âm thanh gì? Nên phải
nhờ nhĩ thức phân biệt được âm thanh này là tiếng người
già, tiếng người trẻ, tiếng đàn ông, tiếng đàn bà hay
là tiếng chim, tiếng chó,…
Ý
căn khó phân biệt, ý căn đảm nhiệm suy nghĩ, qua ý thức
mới phân biệt được biết đúng hay sai, thiện hay ác, tốt
hay là xấu. Mỗi căn mỗi thức đảm nhiệm đều khác nhau,
nhưng Phật giáo Tiểu thừa chỉ biết lục căn lục thức,
còn thức thứ 7 và thức thứ 8 mà Tiểu thừa không biết.
Thức
thứ 7 (Mạt na thức) có 2 nhiệm vụ:
-
Chấp thức thứ 8 (bản thể sanh mạng, bản thể vũ trụ)
là ta.
-
Đem thức thứ 6 lãnh đạo 5 thức trước, làm thiện thì có
hạt giống thiện, làm ác thì có hạt giống ác, làm việc
gì không thiện không ác thì có hạt giống vô ký, rồi đưa
vô trong kho (thức thứ 8); đến khi chủng tử chín mùi đưa
ra giao cho thức thứ 6 lãnh đạo 5 thức trước đi làm. Đưa
ra đưa vô gọi là truyền tống thức.
Thức
thứ 8 chỉ có nhiệm vụ là kho tàng, nên gọi là tạng thức.
Chủng tử thiện ác do thức thứ 7 đưa vô đều chứa,
khi chủng tử thiện ác chín mùi thì thức thứ 7 truyền ra,
nó không có tác dụng gì hết.
Mỗi
thức của 8 thức có nhiệm vụ đặc biệt của nó. Tuy chia
nhiệm vụ có 8 thứ, nhưng thức thứ 6, thức thứ 7 và 5 thức
trước đều bao gồm trong thức thứ 8, chứ không phải 8 thức
là 8 thứ. Vì bản thể là thức thứù 8. Phật ở trong kinh
Lăng Già giải thích rất kỹ, tôi căn cứ kinh Lăng già mới
làm ra cuốn Vũ trụ Quan Thế Kỷ 21.
Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, Yếu Chỉ Phật Pháp, Vũ Trụ Quan Thế
Kỷ 21, bất cứ ai đề ra câu hỏi nào thì trong 3 cuốn này
đều có giải đáp, tức là tất cả Phật pháp đều bao gồm
trong đó. Vũ trụ vạn vật đều trong thức thứ 8, bất cứ
cái gì đều ở trong thức thứ 8, không có cái gì ở ngoài.
Vì thức thứ 8 trống rỗng, không có bản thể nhưng hiển
bày cái dụng. Trống rỗng nên Phật pháp gọi là tánh không,
tại ‘không’ mới dùng được.
Như
bây giờ mình thấy hư không trống rỗng, vũ trụ vạn vật,
bất cứ cái gì đều phải nhờ cái không trống rỗng này.
Quý vị ngồi cũng phải nhờ cái không trống rỗng mới có
chỗ ngồi được, cũng như mình nói chuyện với nhau cũng
phải nhờ cái không trống rỗng mới nói chuyện với nhau
được. Cuộc sống hàng ngày ở chân trời gốc biển đều
cũng nhờ cái không trống rỗng này.
Hỏi:
Có
phải Đại Viên Cảnh Trí khắp cùng hết không?
Đáp:
Đại
Viên Cảnh Trí là tâm của mình (trống rỗng), tôi vừa nói
là không có đặc biệt, mà 7 thức kia đều ở trong đó, bây
giờ mình nói chuyện với nhau hay ông đi đến chân trời gốc
biển đều cũng ở trong đó, không ở ngoài được. Vì nó
không có biên giới, không có cái ngoài hư không. Nhưng hư
không này là tâm mình.
Tâm
có nhiều danh từ gọi như: Vì trống rỗng không có chỗ để
trói buộc nên gọi là giải thoát, chứ không phải bị trói
rồi mở trói gọi là giải thoát! Vì trống rỗng không có
khứ lai nên gọi là Như Lai. Vì khắp không gian tự nhiên khắp
thời gian không có gián đoạn nên gọi là Niết Bàn (không
sanh không diệt), có gián đoạn thì phải sanh diệt.
Có
nhiều danh từ đủ thứ ở trong Phật pháp đều là cái trống
rỗng này, như : Đại Viên Cảnh Trí, Chơn Tâm, Diệu Giác,
Tánh Không, Như Lai, Niết Bàn,… Tuy có nhiều tên khác nhau
nhưng vẫn là nó, nên gọi là bất nhị.
Hỏi:
Tại
sao trong Phật học lại có nhiều cái ‘không’?
Đáp:
Đó
là tùy theo chấp của chúng sanh, Phật muốn phá nên Phật
mới lập ra nhiều cái không. Chúng sanh chấp cái nào thì Phật
phải phá cái nấy, như chúng sanh chấp Phật thì Phật cũng
phá Phật, cho nên gặp Phật chém Phật là chém cái tâm chấp.
Không
có cái gì gọi là Phật pháp, vì tất cả thế gian pháp đều
là Phật pháp. Nếu chấp thì pháp thế gian, không chấp là
pháp xuất thế gian. Bậc Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng,
không có trước tưởng là pháp xuất thế gian; phàm phu ở
nơi thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng gọi là pháp
thế gian.
Nếu
không sanh trước tưởng thì ăn cơm, mặc áo, nói năng, tiếp
khách,… đều là pháp xuất thế gian, chứ không phải đặc
biệt có pháp xuất thế gian mà khác pháp thế gian!
Tại
sao ăn cơm là pháp xuất thế gian? Có trước tưởng là cơm
này ngon hay không ngon thì thành pháp thế gian, còn ăn cơm thì
ăn cơm là pháp xuất thế gian; mặc áo cũng vậy, cho áo này
đẹp cho áo kia xấu là pháp thế gian, mặc áo thì cứ mặc
áo là pháp xuất thế gian, vì không có phân biệt. Cho nên
nói: “Phân biệt là thức, không phân biệt là trí”.
Hỏi:
Ý
tưởng này có phải ở trong ngũ uẩn không?
Đáp:
-
Sắc là vật chất; thọ, tưởng, hành, thức là thể tinh thần
không có vật chất.
-
Thọ là lãnh thọ tức là lục căn cảm nhận được, như
nhãn căn và nhãn thức cảm nhận đẹp, xấu,… nhĩ căn và
nhĩ thức cảm nhận khen, chê,… gọi là thọ ấm.
-
Tưởng chỉ có ý căn và ý thức.
-
Hành là biến hóa hành vi, mình không thấy nhưng nó đang biến
hóa, như tóc, móng tay mình đang dài; tế bào, lục phủ
ngũ tạng đều cũng vậy, nó đang thay đổi không bao
giờ ngưng, như cha mẹ sanh ra con nít, rồi thành người lớn,
thành người già, không bao giờ ngưng biến hóa gọi là hành
ấm.
-
Thức thì phân biệt là thể tinh thần không phải vật chất.
Hỏi:
Sắc
tức là không, không tức là sắc, nghĩa như thế nào?
Đáp:
Nếu
không chấp sắc là thật thì sắc tức là không, không chấp
cái không là thật thì không tức là sắc. Vì nó vốn không
có tương đối, tại có sanh ra trước tưởng nên có tương
đối, tất cả đều do tâm thức mình biến hiện. Mở mắt
chiêm bao và nhắm mắt chiêm bao có giải thích cái đó.
Vì
chưa tin tự tâm nên phải đọc ngữ lục và kinh Đại thừa
để tăng cường lòng tin tự tâm rồi tham thiền, khi tham thiền
được thì dẹp những che khuất (tìm hiểu biết, suy nghĩ
biết, ghi nhớ biết).
Không
có cái gì để cao thấp! Vì nó trống rỗng, nếu nói dễ
thì thật dễ, còn nói khó thì nó thật khó (khó tin). Do mình
tin theo bộ não nên mới thấy khó dễ, nếu hiểu được nguồn
gốc như hư không vô sở hữu thì không có nghĩa lý gì, làm
sao có khó dễ!
Hỏi:
Có
phải đọc sách của thầy xong rồi, khỏi cần đọc các sách
khác phải không?
Đáp:
Không
phải, phải lòng tin 100%, nếu có 99% tin tự tâm thì cũng phải
đọc ngữ lục để tăng cường, tức là ông không còn cái
gì để hỏi thì khỏi đọc. Vì ông có nhiều vấn đề thắc
mắc cần để hỏi thì đọc để hiểu sau này khỏi hỏi.
“Không”
là hư không vô sở hữu chẳng có gì hạn chế, rồi bộ não
đem hạn chế lại mới sanh ra nghĩa lý, như hạn chế cái
không thành cái tách; giả sử cái tách này bít hết thì không
đựng nước được, vì có cái không (trống rỗng) nên mới
đựng được. Cái nhà, cái bàn, cái tủ, cái tách, cái bình,…
đều cũng vậy.
Nhưng
“không” bị hạn chế thì mới sanh ra nghĩa lý muôn ngàn
thứ khác biệt, nên cái không của cái tách khác với cái
không của cái bình, khác với cái không của cái tủ,…
Sự thật cái không thì không có khác, tại cái thứ đó cùng
chung một cái không.
Nếu
không có cái không sẵn sàng thì không thể dựng nhà lên được!
Không có cái không sẵn sàng làm sao có cái không của cái
tách? Kỳ thật, ở trong tách ở ngoài tách, ở trong nhà ở
ngoài nhà đều cùng một cái không. Tại do bộ não con
người bày đặt nên mới có khác, có nghĩa lý mới sanh ra
tranh cải. Cái không sẵn sàng không có nghĩa lý thì lấy gì
để tranh cải?
Hỏi:
Các
hành tinh nương theo cái không mà hoạt động. Vậy cái không
nương vào đâu?
Đáp:
Cái
không chẳng có nương ở đâu, vì nó vốn không có. Tất cả
nương ở bộ não, tại bộ não cho là có mới thành chướng
ngại. vậy cái không chẳng thể kiến lập, nên Phật nói
là vô thỉ (không có bắt đầu), không có bắt đầu thì nương
vào đâu được? Vô thỉ cũng là nghĩa vô sanh (không có sanh
khởi), tại có sanh khởi thì phải có sự bắt đầu. Cho nên,
người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh hay chứng vô sanh
pháp nhẫn.
Toán
học là công cụ của khoa học, định lý của toán chứng
minh có sự sanh khởi. Tại sao? Vì không có con số cực nhỏ,
như mình cứ chia mãi thì con số chỉ nhỏ, chứ không có cực
nhỏ được! Tức là cái nghĩa vô thỉ. Không có số cực
lớn gọi là vô chung. Vậy toán học đã chứng minh được.
Hỏi:
Ngoại
đạo tin có một ông trời sắp đặt tất cả. Vậy đó như
thế nào?
Đáp:
Đó
là bày đặt bậy bạ, vì nó không có gì sanh khởi! Như cha
mẹ sanh ra cho là bắt đầu, chết rồi nói là cuối cùng,
nhưng Trung Quán Luận phá sanh tử: “Nếu nói sanh bắt đầu
thì khỏi cần chết có sanh, không cần chết mà có sanh thì
cái sanh phải lìa chết”, tức là không còn chết.
Sự
thật, chứng tỏ không được! Hễ có sanh thì phải chết,
không có cái sanh nào mà không chết? Sanh không thể độc lập.
Tại sanh không thể lìa chết. Còn nói chết bắt đầu thì
ai cũng hiểu, vì không có sanh làm sao có chết? Nhưng người
ta cứ cho sanh là bắt đầu!
Hỏi:
Tại
sao còn phá luôn Niết Bàn?
Đáp:
Vì
không có sanh thì không có Niết Bàn.
-
Sao nói Niết Bàn là không sanh không tử?
-
Cái không sanh không tử của ông nói là của ngoại đạo.
Sanh tử đã không có thì lấy cái gì để không sanh không
tử! Tại có sanh rồi mới nói không sanh không tử.
-
Như vậy, phá Niết Bàn tức là phá luôn Phật rồi phải không?
-
Không phải là phá, vì bộ óc chấp mới cần phá; nếu không
chấp thì lấy cái gì để phá? Tại nó trống rỗng, ông còn
nhiều thắc mắc nên cần phải coi kinh. Nếu ông không có
gì để hỏi thì đã tin tự tâm 100% nên không cần coi kinh
nữa.
Hỏi:
Sao
nói là chơn không diệu hữu?
Đáp:
Nếu
không có tương đối thì sao có chơn không diệu hữu? Vì không
có chơn không thì phải có giả không. Không thể kiến lập
tức là vô thỉ cũng là vô sanh, đã không có sanh khởi làm
sao sanh khởi diệu hữu chơn không?
Phật
không thể kiến lập có biên hay không biên, phàm có tương
đối là không đúng với thực tế, tại thực tế không có
tương đối.
Hỏi:
Phật
thuyết pháp cho chúng sanh nghe, như nắm lá trong rừng cây.
Vậy như thế nào?
Đáp:
Chơn
tâm bao gồm tất cả, mà Phật cũng không thể biết được.
Nếu Phật biết được chơn tâm thì chơn tâm thành sở biết,
chơn tâm chỉ là trống rỗng; đã trống rỗng thì lấy cái
gì để biết? Không có gì để biết tức là biết tất cả.
Hỏi:
“Có
nhiều xá lợi, không bằng trả lời được câu chuyển ngữ
của tôi”. Câu trên nghĩa như thế nào?
Đáp:
Có
một Thiền Sư kiến tánh ở núi bên nay, có một vị ngoại
đạo có thần thông ở núi bên kia. Đệ tử của Thiền Sư
thấy vị ngoại đạo biến hóa, rồi mới kể lại cho Thiền
sư nghe. Thiền Sư nói: “Ngoại đạo biến hóa không bằng
tôi không thấy không nghe”, vì không thấy không nghe là thấy
nghe không mất, còn khi họ chết rồi biến hóa cũng sẽ hết.
Ngoại
đạo chết đem thiêu có nhiều xá lợi. Đệ tử của Thiền
Sư kể lại cho Thiền Sư nghe. Thiền Sư nói: “Có nhiều xá
lợi, không bằng trả lời được câu chuyển ngữ của tôi”.
Trả lời được tức là kiến tánh (ở trong mở mắt chiêm
bao thức tỉnh). Có biến hóa giỏi vẫn còn ở trong sanh tử
luân hồi tự làm chủ không được. Vậy có nhiều xá lợi
đâu có liên quan gì!
Xá
lợi của Phật, nếu mình không chấp thì có giá trị, còn
chấp thì không có giá trị. Xá lợi không có cố định, tùy
theo người thấy lớn nhỏ nhiều ít, mà tôi đã chứng tỏ.
Năm
1974 tôi và thầy tôi đi Thái Lan gặp vị sư người Singapo
ở trong hang không nói chỉ dùng viết thay cho lời nói. Vị
sư này trước kia chưa xuất gia từ một người nghèo, đến
khi ông được 50 tuổi là một nhà tư bản giàu có, sau đó
ông cưới vợ nhỏ hơn ông 25 tuổi, nhưng được khoảng thời
gian một năm, giao tài sản cho vợ rồi phát tâm xuất gia và
phát nguyện đi bộ đến cây bồ đề của Phật thành đạo,
đi đến chân ra máu mà ông vẫn cố gắng đi, khi đến cây
bồ đề thì ông ngày đêm lạy được 49 ngày hiện ra có
xá lợi.
Thầy
ông khuyên ông nên xa gia đình để tu, ông nghe lời rồi sang
Thái Lan vào ở trong một cái hang. Chúng tôi ở đó một đêm,
vị sư này cho tôi 5 hạt xá lợi và cho thầy tôi cũng 5 hạt
xá lợi. Tôi thấy 5 hạt xá lợi rõ ràng, mà sao tôi đem về
Việt Nam thấy có 7 hạt? Sau này tôi cho người ta hết, vậy
chứng tỏ xá lợi có thể thêm bớt.
Hỏi:
Trí
huệ và từ bi, vậy cái nào quan trọng hơn?
Đáp:
Tôi
hỏi ông: Từ bi và bác ái có khác hay là giống?
-
Giống nhau.
-
Sự thật hai thứ này khác nhau, không có một chút nào giống.
Vì bác ái có ngã chấp, còn từ bi là phá hết ngã chấp.
Trí huệ của bộ não là vọng tưởng si mê, còn trí huệ
của chơn tâm không gọi là trí huệ mà gọi là Bát Nhã.
Từ
bi và Bát Nhã không có cái nào quan trọng! Bát Nhã là hiển
bày cái dụng của chơn tâm automatic ngày đêm không ngưng.
Từ bi là không có ta thì lấy cái gì để nói! Tức là không
có từ bi mới gọi là từ bi.
Hỏi:
Bây
giờ mình chưa thực hiện được từ bi, vì còn có ngã chấp;
trong sinh hoạt hàng ngày người ta cần có sự giúp đỡ, nếu
học theo Thiền tông cứ lo tu. Như vậy mình nên an tâm để
tu hay là để thời gian giúp người ta?
Đáp:
Không
có nên hay không nên, tại Thiền tông là tùy duyên bất biến,
bất biến tùy duyên. Tu là bất biến, còn cảnh đến là tùy
duyên; duyên đến mình làm không có sắp đặt trước, cũng
như thình lình gặp người ta bị chết đuối, nếu mình biết
bơi thì nhảy xuống cứu. Vậy đâu nói là nên hay không nên!
Duyên đến thì làm, chứ không nghĩ là nên hay không nên, cũng
không phải bỏ việc tu.
Hỏi:
Mình
là đứa con trong nhà, nếu mình có gia đình là người vợ
người mẹ; mức độ mình lo gia đình phải là căn bản hay
là mức chu đáo. Nếu lo gia đình mức chu đáo thì phải bận
rộn, còn lo căn bản thì mình có nhiều thời giờ rảnh thì
bị người ta chê hay chồng con nói không lo chu đáo. Vậy phải
làm cách nào?
Đáp:
Vì
cái đó là có ngã chấp, nếu mình theo Phật pháp thì phải
tin nhân quả. Như cha mẹ không thể ăn no giùm con cái, mặc
dầu thương cách mấy. Con cái có hiếu với cha mẹ cũng không
ăn giùm cho cha mẹ được, ai ăn nấy no.
Nếu
mình tin nhân quả thì khỏi cần ăn no giùm cho cha mẹ, để
cha mẹ tự ăn, mình khỏi lo; cha mẹ tạo nhân gì thì chịu
quả nấy, mình muốn sửa đổi cũng không được. Như Mục
Kiền Liên đã chứng quả A La Hán muốn cứu mẹ cũng không
được. Mỗi người làm nhân gì thì phải chịu quả đó.
Trong
Phật pháp chuyên tu gọi là đại hiếu, còn những người
ở nhà phụng sự nuôi dưỡng cha mẹ là hiếu nhỏ, vì có
nuôi cha mẹ đến chết cũng không giải thoát được, rồi
đi đầu thai phải chịu khổ. Đại hiếu là cảm hóa được
cha mẹ tu giải thoát thì vĩnh viễn không bị khổ nữa. Vậy
đại hiếu mà hiếu thảo của người thế gian không bằng
được.
Như
Phật Thích Ca trước kia đi xuất gia phải bỏ gia đình, sau
ngày thành đạo trở về độ hết cả gia đình. Phật Thích
Ca thị hiện như vậy cho mình biết.
Hỏi:
Như
vậy có phải mình kiến tánh rồi mới độ gia đình không?
Đáp:
Không
phải, mình tùy duyên không phải tính làm, không thể nói nên
hay không nên. Duyên đến thì làm, không có duyên đừng cố
ý muốn làm. Tức là việc đã qua không ghi nhớ, vị lai không
sắp đặt, hiện tại chẳng trụ.
Hỏi:
Phật
Thích Ca bỏ hoàng cung đi tu, vì hoàng cung của Phật đầy
đủ vàng bạc; còn những người nghèo bỏ đi tu thì con cái
ra sao?
Đáp:
Đứa
con cũng có nghiệp riêng của nó, rồi cũng lớn lên. Bây giờ
thấy có nhiều người như vậy, mình lo là ngã chấp.
Hỏi:
Khi
mình tu giải thoát thì bỏ gia đình phải không?
Đáp:
Không
phải bỏ và cũng không phải lấy, nếu mình biết nguồn gốc
là tâm như hư không vô sở hữu thì không có cái gì để
bỏ và không có cái gì để lấy. Các kinh Đại thừa liễu
nghĩa nói: “Bây giờ mình thấy có Phật có chúng sanh, có
cái này cái kia là do con mắt bệnh mới thấy vậy”.
Mình
đã tin bộ não nên khó sửa, Phật có giải thích rất kỹ
nhưng người ta khó tin, những Pháp Sư giảng kinh cũng không
tin. Như Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Không có vô minh, không có
già chết”, vậy đâu có ai tin! Nếu không có già chết thì
không có sanh tử, không có sanh tử làm sao có chuyện để
cho mình nói? Không có sanh tử làm sao có cha mẹ anh em? Có
cái nào để mình lo và có hiếu hay bất hiếu?
Tất
cả đều do sanh tử mới có, nên nói: “Sanh tử là việc
lớn”. Tu là ngộ vốn không có sanh tử thì tất cả đều
giải quyết xong. Mình còn chấp có sanh tử thì có đủ thứ
chuyện, như hiếu, bất hiếu, thị phi, tốt xấu, thiện ác,…
tất cả đều giải quyết xong gọi là liễu thoát sanh tử.
Tức
là ở trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh thì ra khỏi chiêm
bao. Bây giờ mình đang nói chuyện là đang ở trong chiêm bao,
mình cho chiêm bao đó là thật, đến chừng mình thức dậy
thì mới biết những chuyện đó là chiêm bao, sanh tử cũng
là chuyện chiêm bao.
Hỏi:
Có
hy vọng mọi người trên thế giới được giác ngộ hết
chăng?
Đáp:
Mình
phải hiểu tất cả đều như không có, như hư không trống
rỗng. Nếu vậy mình còn lo cái gì nữa!
Có
người hỏi: Nếu tất cả mọi người đi xuất gia thì ai
sanh con để truyền nhân loại? Nhưng rồi nhân loại lại tăng
thêm, lương thực không đủ dùng, luôn cả nước sanh hoạt
cũng không đủ. Ở Trung Quốc chỉ cho hai vợ chồng sanh một
đứa con, nếu sanh hai đứa là bị phạt, ở Việt Nam chỉ
cho sanh hai đứa.
Nếu
hai người chỉ sanh một đứa con, rồi như vậy cứ bớt
dần, bớt đến cuối cùng thì hết. Nhưng không phải vậy,
con người lại còn thêm chứ không có bớt!
Hỏi:
Muốn
xuất gia phải có điều kiện gì?
Đáp:
Phải
có chánh nhân xuất gia là giải quyết vấn đề sanh tử, nếu
trong gia đình cải lộn hay sự nghiệp thất bại hoặc
thất tình đi xuất gia thì có hại cho Phật giáo. Cho nên,
giải quyết vấn đề sanh tử thì tất cả đều được giải
quyết, vì tất cả đều do sanh tử mới có.
Hỏi:
Những
người tu pháp môn khác, họ muốn phục vụ chúng sanh nhiều
hơn giải thoát sanh tử. Như vậy là như thế nào?
Đáp:
Vì
không hiểu là vốn không có chúng sanh để độ. Bát Nhã Tâm
Kinh nói: “Không có vô minh, không có già chết”, không có
già chết, làm sao có chúng sanh để độ? Nên kinh Kim Cang nói:
“Độ hết tất cả chúng sanh, nhưng không thấy một chúng
sanh được độ”.
Vì
những người đó có ngã cho ta để độ chúng sanh, có chúng
sanh để cho ta độ. Kinh Lăng Già nói: “Cho ta thuyết pháp,
cho ta chứng quả đều là cái ngã, dẫu cho chứng đến Niết
Bàn cũng là cái ngã”. Ngã chia làm 4 giai cấp: Ngã tướng,
nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng.
Hỏi:
Sư
Phụ ngồi đây thuyết pháp cho mọi người nghe tức là đã
độ chúng rồi phải không?
Đáp:
Đó
là phương tiện.
-
Người ta cũng dùng phương tiện để độ chúng sanh, tại
sao không được?
-
Vì người đó dùng phương tiện mà chấp phương tiện, chấp
có chúng sanh để cho ta độ thì không phải là phương tiện.
Đây mình biết là không có chúng sanh để cho mình độ, không
có mình để độ chúng sanh, nên mới gọi là từ bi. Tức
là không có người từ bi và không có người để nhận từ
bi, không thấy có vật để cho mình làm từ bi gọi là
“tam luân thể không”.
|