Hỏi:
Tại
sao có vật mà Lục Tổ nói “bổn lai vô nhất vật”?
Đáp:
Vì
tại chấp mới có, nên ngài Lâm Tế nói “gặp Phật chém
Phật, gặp ma chém ma”, tại tâm mình chấp Phật nên phải
chém tâm chấp Phật, tại tâm mình chấp ma thì phải chém
tâm chấp ma.
Hỏi:
Thường
5 giờ sáng tụng kinh Lăng Nghiêm, Đại Bi Thập Chú, rồi qua
tháng khác thì tụng kinh Pháp Hoa, Thủy Sám, Vu Lan. Bây giờ
bắt đầu tham thiền không tụng kinh nữa, vậy có lỗi không?
Đáp:
Nếu
như trước kia tụng kinh thì đã có lỗi rồi đó! Tại vì
tụng kinh là tu theo giáo môn, tụng kinh tới đâu là thiền
quán tới đó. Nếu tụng kinh mà không thiền quán, cho người
hiểu lầm tụng kinh có công đức, cũng như câu hỏi đó thì
đã có tội rồi, vì để cho người ta hiểu lầm Phật giáo.
Tham
Tổ Sư thiền phải giữ đúng vai trò hành giả tham Tổ Sư
thiền. Thiền Tịnh Độ phải giữ đúng vai trò thiền Tịnh
Độ. Thiền Tịnh Độ có 3 cách thiền có ghi trong kinh Tịnh
Độ. Nếu tu một pháp môn nào không thành thì có thể tu pháp
môn khác cũng được, chứ làm sao có lỗi?
Trước
kia tụng kinh không đúng theo vai trò tụng kinh là thiền quán
tụng kinh. Theo giáo môn tụng kinh là thiền. Như ngài Đế
Nhàn, mỗi thời kinh phải 2 giờ, một ngày 3 thời kinh. Nếu
tụng kinh không đủ 2 giờ thì ngài quở làm biếng. Vậy người
hỏi tụng kinh có thiền quán không? Nếu không thì đã có
lỗi rồi.
Hỏi:
Người
ăn con nhộng khi kéo tơ tầm hết. Vậy có bị nhân quả không?
Đáp:
Có
sát sanh thì phải đền mạng, ăn cục thịt phải trả cục
thịt, chứ không phải có tội hay không có tội! Đó là việc
nhân quả, tạo nhân nào thì chịu quả nấy. Tôi nói “nếu
không sợ người ta ăn mình thì mình cứ ăn người ta, nếu
sợ người ta ăn mình thì mình đừng ăn người ta”.
Hỏi:
Chúng
con là hành giả mới, kính xin Sư Phụ từ bi phổ biến tài
liệu khoa học và tâm linh trong Phật pháp để chúng con tăng
trưởng lòng tin và dạy lại đường lối tham Tổ Sư thiền?
Đáp:
Tâm
linh và khoa học trong Phật pháp là mục đích tôi muốn hoằng
dương người tây phương, vì người tây phương phải có bằng
chứng cụ thể thấy được họ mới chịu tin, nếu họ không
tin thì không học. Cuốn Tâm Linh và Phật Pháp không bằng
cuốn Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21, cuốn này bao gồm hết. Tôi
đã nói hơn Sinh Lý Giải Phẩu, Tâm Lý Học, Triết Học, Tự
Nhiên Khoa Học của đại học Mỹ, 4 thứ hợp lại giải thích
còn không thông. Cuốn Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 giải thích đầy
đủ trọn vẹn hơn 4 đại học hợp lại.
Hỏi:
Hành
giả tham thiền bị những thử thách đau khổ, có phải đó
là lúc trả nghiệp không?
Đáp:
Làm
sao cứ trả nghiệp trả nghiệp! Ở trong thuận cảnh tu khó
hơn ở trong nghịch cảnh. Như người ta chấp nhập thất,
tự mình nhốt trong phòng không tiếp xúc bên ngoài, nếu lấy
cái đó để tu là có hại chứ không có ích, tại vì không
có tiếp xúc thì không có cảnh để khởi tâm động niệm.
Tôi có kể thằng bé ở trên núi 20 năm, vì không tiếp xúc
thì không khởi tâm động niệm, có tiếp xúc mới gọi là
tu, không tiếp xúc sao gọi là tu? Rồi người ta nói là thử
thách, nói là trả nghiệp! Đó là nói bậy. Vậy như thằng
bé xuống núi thấy người nữ gọi là trả nghiệp sao?
Hỏi:
Chúng
con tham thiền đã lâu, nhưng vẫn thấy những tập khí vẫn
còn nhiều, chỉ bớt chút đỉnh chứ không bỏ hẳn được.
Vậy chúng con phải làm thế nào?
Đáp:
Phải
hỏi và nhìn thì lâu ngày thấy như khờ ngốc, nên tập khí
sẽ bớt dần dần. Nhưng người ta không biết coi người đó
như người khờ ngốc, vì cái gì đều cũng không biết.
Hỏi:
Khi
thiền thì tâm tịnh trở thành không, khi nào nhận biết được
bản lai của mình hiện ra?
Đáp:
Nếu
nói như vậy thì người đó không có tham thiền. Vì tham thiền
là giữ cái không biết. Người đó dùng cái biết để tìm
hiểu tâm tịnh, không những không chấm dứt mà còn kéo dài
phát triển tìm hiểu, như thế là nghịch với tham thiền.
Hỏi:
Khi
thiền tâm tịnh thì cảnh giới Phật được ra, như vậy cảnh
giới Phật thật hay giả? Nếu cảnh thật thì người ngồi
thiền có tiếp nhận được cảnh giới đó không?
Đáp:
Người
đó có thể tẩu hỏa nhập ma, tức là giống ma. Tham thiền
thì không biết, làm sao biết những cái đó? Sao còn đi tìm
hiểu mấy cái đó?
Tâm
tịnh Phật độ tịnh là Tịnh Độ, tức là thật tướng
niệm Phật không cần vãng sanh. Còn Thiền chỉ cần hỏi và
nhìn để giữ nghi tình.
Hỏi:
Tâm
từ đâu ra?
Đáp:
Bây
giờ ông tự hỏi để mà tham! Tâm là một danh từ ai cũng
nói được, nhưng Tâm là cái gì thì ai cũng không biết! Luôn
cả Phật Thích Ca cũng không biết. Nếu tâm bị Phật Thích
Ca biết thì nó thành sở biết. Có sở biết và có năng biết
là nhị. Còn chân tâm bất nhị hay còn gọi là tự tánh bất
nhị. Cho nên, tự tánh không cho ai biết được, tự tánh tự
biết.
Nếu
ông muốn ngộ phải nghi, còn dùng bộ não để tìm hiểu thì
một trăm năm, một kiếp hay hai kiếp, muôn ngàn triệu kiếp
cũng không thể tìm được. Vì bộ não không thể biết được
tự tánh, tại bộ não là vật chất, còn tự tánh không phải
vật chất. Như lục thức phối hợp với lục căn nghe lệnh
của bộ não, đó là vọng tâm tức là bộ não.
Hỏi:
Tu
theo pháp môn Tổ Sư thiền được giác ngộ rồi sẽ trừ
tập khí, sau người ấy chết có đầu thai làm người để
độ chúng sanh không?
Đáp:
Bây
giờ tự lo cho mình được giác ngộ rồi tự biết, nếu dùng
bộ não để đoán mò bậy bạ chỉ là chướng ngại thôi!
Người hỏi có đọc Bát Nhã Tâm kinh: “Vô vô minh diệc vô
vô minh tận, vô lão tử diệc vô lão tử tận”, không có
già không có chết tức là không có sanh tử, đã ngộ không
có sanh tử làm sao đi đầu thai? Nếu còn đi đầu thai thì
chưa ngộ. Ngộ là vốn không có sanh tử gọi là liễu thoát
sanh tử, mà còn hỏi kiến tánh rồi còn đi đầu thai không?
Hỏi gì kỳ vậy!
Hỏi:
Con
chưa hiểu 2 chữ “năng, sở”, kính xin Sư Phụ giải thích?
Đáp:
Ông
có ăn cơm không?
-Có.
-Ông
là năng ăn, cơm là sở ăn. Ông có uống nước không?
-Có.
-Ông
là năng uống, nước là sở uống. Đó là năng sở. Ông thấy
cái bình này không?
-Thấy.
-Ông
là năng thấy, cái bình là sở thấy.
Khóa
bồi dưỡng giảng sư tại văn phòng 2: Từ ngày 10 – 5
=> 19 – 5 – 1999.
Thiền
là gì? Thiền là phương pháp thực hành để vọng tâm lặng
xuống, đạt đến an định. Thường thường chữ “thiền”
đi đôi chữ “định” gọi là thiền định.
Thông
thường dùng công phu thiền quán chiếu gọi là thiền quán.
Như tông Thiên Thai gọi là Chỉ quán thiền. Chỉ là định,
quán là đạt đến chỗ định. Định sâu chừng nào thì quán
cao chừng nấy, nên thiền định đi đôi với nhau.
Nguồn
gốc của Phật pháp là Tâm, tức bất nhị. Bây giờ Phật
giáo chia ra nhiều tông phái, làm sao bất nhị được? Chia
nhiều tông phái là giáo pháp, chứ không phải Phạât pháp.
Phật pháp là pháp bất nhị không thể chia, giáo pháp mới
có thể chia. Phật vì để thích ứng căn cơ của mỗi chúng
sanh, mới thuyết 84000 pháp môn.
Phật
pháp là trên phù hợp ý Phật thì không thể chia, dưới khế
hợp đương cơ thì có thể chia. Cách dạy của Phật có 84000
pháp môn thì nhiều mênh mông, nhưng quy nạp lại gồm có tam
thừa (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát). Có người nói Thanh
Văn là Tiểu thừa, Duyên Giác là Trung thừa, Bồ Tát là Đại
thừa. Mỗi thừa có thiền tu tập riêng biệt.
Thừa
Thanh Văn có thiền để tu tập là Ngũ Đình Tâm Quán, Đình
là đình chỉ hoạt động của nội tâm, gọi là Ngũ Đình
Tâm (năm thứ thiền quán). Năm thứ thiền quán là:
- Sổ
Tức Quán.
-
Bất Tịnh Quán.
-
Từ Bi Quán.
-
Nhân Duyên Quán.
-
Lục Thức Quán.
Bây
giờ phần nhiều theo Sổ Tức Quán, có một số ít theo Bất
Tịnh Quán, còn ba thứ kia chưa thấy người ta tu, ấy là thiền
quán của Tiểu thừa. Gọi Tiểu thừa nhưng các nước Tiểu
thừa họ không nhìn nhận và không nhìn nhận Đại thừa.
Thừa
Thanh Văn là nghe thanh giáo của Phật mà ngộ đạo. Mục đích
của Tiểu thừa là diệt lục căn. Vì tất cả phiền não
vọng tưởng là do lục căn tiếp xúc với lục trần mà sanh
khởi. Cho nên, muốn diệt lục căn đối tượng lục trần
là vật chất, theo triết học là Chủ Quan Duy Vật Luận.
Trung
thừa là thừa Duyên Giác, pháp tu là Thập Nhị Nhân Duyên,
Thập Nhị Nhân Duyên bao gồm tam thế (quá khứ, hiện
tại, vị lai).
Tôi
chỉ nói sơ lược nghĩa chữ “Thiền” như vậy thôi.
Theo
triết học thì Thanh văn là Chủ Quan Duy Vật Luận, Duyên Giác
là Chủ Quan Duy Tâm Luận. Tại sao? Vì diệt được lục căn,
nhưng một niệm không diệt được; muốn diệt lục căn thì
phải giữ một niệm. Vậy một niệm đó là nguồn gốc phiền
não.
Nên
Trung thừa muốn diệt được một niệm, nhưng một niệm này
không phải vật chất mà là tâm pháp, theo triết học gọi
là Chủ Quan Duy Tâm Luận. Vậy một niệm phát xuất từ chỗ
nào? Phát xuất từ nguồn gốc vô thỉ vô minh (căn bản vô
minh). Khi đã diệt một niệm rồi thì trở về nguồn gốc
cũng là vô minh (vô thỉ vô minh), chỗ này không có chỗ bắt
đầu.
Bồ
Tát thừa (Đại thừa) thấy diệt lục căn và một niệm chưa
được, nên cần phải phá vô thỉ vô minh. Muốn phá vô thỉ
vô minh thì không diệt lục căn và một niệm vô minh.
Thí
dụ: Muốn diệt những người phản loạn, vua cướp dụ cho
vô thỉ vô minh, tướng cướp và binh lính cùng binh khí của
cướp dụ cho một niệm vô minh.
Như
Tiểu thừa là tịch thu vủ khí của cướp cho là xong, nhưng
họ có thể tạo lại được.
Trung
thừa như giết hết binh lính của cướp, nhưng vua cướp vẫn
còn, rồi ngày nào họ chiêu binh mãi mã, tổ chức lại. Vậy
chưa có triệt để nên phải bắt luôn vua cướp.
Đại
thừa lợi dụng binh lính của cướp, tướng cướp và vủ
khí của cướp để bao vây vua cướp, bắt được vua cướp
thì tất cả đều bình yên; tướng cướp, binh lính của cướp
thành lính chính quy của nhà nước vẫn còn sử dụng, chứ
không diệt họ. Ấy là nghĩa Đại thừa.
Tiểu
thừa là duy vật, Trung thừa là duy tâm, Đại thừa là tâm
và vật hợp một.
Lục
Tổ nói trong Pháp Bảo Đàn: “Ở ngoài tam thừa còn có Tối
thượng thừa”, tức là có 4 thừa. Tối thượng thừa không
ở trong tam thừa nên gọi là phi thừa (không phải thừa),
là pháp Thiền trực tiếp do Phật Thích Ca truyền dạy, vì
đó không phải là thiền gì, mà Phật Thích Ca truyền cho Tổ
Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Diếp truyền cho nhị Tổ A Nan, A Nan truyền
cho tam Tổ Thương Na Hòa Tu, từ Tổ từ Tổ truyền xuống
đến Tổ Đạt Ma thứ 28, rồi mới truyền sang Trung Quốc,
sau này Trung Quốc mới truyền qua Việt Nam. Thiền đó do Tổ
Sư từ đời từ đời truyền xuống, nên mới có tên gọi
là Tổ Sư Thiền.
Nói
đến vọng tâm thì phải có chân tâm. Chữ “Tâm” là một
danh từ ai cũng nói được, nhưng Tâm là cái gì? Không có
ai biết. Tại sao? Vì chân tâm không có hình tướng không có
số lượng, nhưng nó có thực dụng rõ ràng, cái thể mình
không thể thấy được, cái thể không có ai biết, luôn cả
Phật cũng không thể biết.
Tại
sao Phật không biết? Phật đã chứng chân tâm nhưng chân tâm
tự biết. Nếu Phật Thích Ca biết chân tâm thì chân tâm trở
thành sở biết, có năng sở là nhị. Chân tâm là bất nhị,
vì chân tâm không phải sở nên không có ai biết nó, nó tự
biết cao nhất là Diệu giác. Cái biết bây giờ là cái biết
của bộ não, gọi là vọng tâm che khuất cái biết chân tâm.
Cho
nên, các thiền Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối thượng
thừa đều là ngưng hoạt động của bộ não (vọng tâm),
tức là dẹp hết những che khuất thì chân tâm tự hiện.
Chân
tâm và vọng tâm là những danh từ lộn xộn. Vậy làm sao
để phân biệt? Không thể nói, nhưng có thể thí dụ, nên
chư Phật nói “Tâm như hư không” mà thí dụ vậy thì
khó lãnh hội. Tổ 14 của Thiền tông là Long Thọ Bồ
Tát dùng hư không vô sở hữu để thí dụ cho chân tâm của
mọi người.
Theo
chữ Hán, chữ “vô” là không có, không có sở hữu thì
cũng như không có hư không. Mặc dầu nó không có, không có
là lời nói của thế gian, thực tế nó dung nạp và ứng dụng;
mình thấy hư không trống rỗng này, khoa học gọi là không
gian. Mặt trời, mặt trăng, đất đai, núi sông, nhà cửa,
bất cứ cái gì,… đều phải nhờ cái vô sở hữu này dung
nạp và ứng dụng.
Không
có cái nào ở ngoài vô sở hữu này, vô sở hữu tức là
trống rỗng là không có gì hết, nhưng trống rỗng nên nó
dung nạp và ứng dụng. Vì trống rỗng nên không bị không
gian và thời gian hạn chế, nên nó khắp không gian thời gian.
Khắp không gian thì không có khứ lai nên gọi là Như Lai (đúng
như bản lai), khắp thời gian không có gián đoạn thì không
có sanh diệt, nên gọi là Niết Bàn (Niết Bàn là tiếng Ấn
Độ nghĩa là không sanh không diệt).
Vì
trống rỗng thì không có chỗ để trói buộc, nên gọi là
giải thoát, chứ không phải bị trói rồi mới mở trói gọi
là giải thoát, tại bản thể vốn không có trói buộc. Kinh
Duy Ma Cật cũng nói nghĩa này.
Vì
trống rỗng thì không có chỗ để trụ, nên gọi là vô trụ.
Như Lục Tổ nói “lấy vô trụ làm gốc”, kinh Duy Ma Cật
nói “từ gốc vô trụ lập tất cả pháp”, lập tất cả
pháp là cái dụng của vô trụ. Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng
kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
liền ngộ đạo triệt để.
Nhiều
người nghe đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
thấy còn mơ hồ. Bây giờ tôi dùng cái tay để thí dụ:
Cái
tay hoạt bát vạn năng dụ cho chơn tâm, dùng cái gì cũng được,
lấy cái khăn, lấy cái túi, lấy cái bình,… hoạt bát vạn
năng vì nó vô sở trụ. Nếu có sở trụ rồi, như trụ cái
khăn này thì cái hoạt bát vạn năng bị mất, nên lấy cái
dĩa, cái bình không được. Bản tánh là vô trụ, thể vô
trụ, dụng cũng là vô trụ.
Cho
nên, tôi hoằng pháp Tổ Sư thiền, dùng nghi tình là cái chổi
automatic quét sạch tất cả biết và không biết của bộ não
thì khôi phục lại bản tánh vô trụ hoạt bát vạn năng của
tự tánh.
Nhưng
cái khăn thuộc về pháp có, đối cái có thì phải có cái
không có. Nếu trụ nơi không (ở trong này chẳng có gì), đã
có sở trụ rồi thì đánh mất hoạt bát vạn năng, muốn
lấy cái khăn, cái dĩa, cái bình,… đều không được. Vậy
cái không này cũng phải quét, mới khôi phục cái dụng vô
trụ. Cho nên, nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, sanh
kỳ tâm là dụng vô sở trụ.
Bây
giờ, theo triết học, khoa học của thế gian; đối với vọng
tâm thì khoa học chưa rõ. Tại sao? Quý vị có học Phật học
rồi, biết có 8 thức với lục căn, mỗi căn đảm nhiệm
chức vụ gì? Mỗi thức đảm nhiệm chức vụ gì? Mà nhà
khoa học chưa rõ, nhà khoa học chỉ biết bộ não, lục căn
là hệ thống thần kinh của bộ não, họ chỉ biết có một
cái thức tức là bộ não. Họ không phân biệt rõ ràng mỗi
căn mỗi thức.
Thừa
Thanh văn chỉ biết có 6 thức, không biết có thức thứ 7
và thức thứ 8. Kỳ thật bản thể của vũ trụ và bản thể
của sanh mạng là thức thứ 8, còn gọi là tạng thức (kho
tàng). Tất cả chủng tử thiện ác, phi thiện phi ác đều
ở trong kho tàng đó. Cho nên, thức thứ 8 là bản thể của
vũ trụ, cũng là bản thể của sanh mạng.
Theo
Duy Thức, thức thứ 8 là vô ký chẳng che lấp, còn thức thứ
7 cũng là vô ký có che lấp. Tại sao có che lấp? Vì có tánh
chấp trước, nó luôn luôn ngày đêm chấp thức thứ 8 là
ta. Thức thứ 7 có 2 nhiệm vụ:
- Chấp
thức thứ 8 là ta.
- Truyền
tống thức.
Tại
sao gọi là truyền tống thức? Nó đem thức thứ 6 lãnh đạo
5 thức trước tạo ra thiện, ác, vô ký thành chủng tử truyền
vô thức thứ 8. Thức thứ 7 đem các chủng tử chín mùi ở
trong thức thứ 8, rồi giao cho thứ thứ 6 lãnh đạo 5 thức
trước để thi hành, nên mới có những hiện tượng mình
đang sống đây.
Do
thức thứ 7 chấp thức thứ 8 là ta, thành có ngã chấp, hợp
tác với lục căn rồi nghe theo lệnh bộ não. Thí dụ: Bộ
não là Thủ tướng điều khiển các bộ. Các hoạt động
tạm thời chia ra làm 3 bộ: Bộ tìm hiểu, bộ suy nghĩ, bộ
ghi nhớ.
Theo
bộ ghi nhớ là lục căn và hệ thống thần kinh đều là vật
chất. Nếu dùng kính hiển vi có thể thấy được, nên nhà
khoa học bắt chước cấu tạo bộ ghi nhớ, chế tạo thành
máy vi tính. Máy vi tính nhớ rất hay, bao nhiêu phức tạp đều
nhớ hết cả, bây giờ mỗi ngày đang cải tiến; cải tiến
cách mấy cũng không bằng bộ ghi nhớ của bộ não, nhưng
thực dụng nó hay hơn bộ não. Tại sao? Vì bộ não hay quên,
còn máy vi tính nhớ không quên. Tại sao bộ não hay quên? Vì
bộ não có phần suy nghĩ nên làm nó hay quên.
Đối
với vật chất thì nhà khoa học bắt chước làm được. Cho
nên nhà khoa học tuyên bố rằng: “Bộ tìm hiểu, bộ suy
nghĩ vài năm sau sẽ ra đời”. Vì nó là vật chất nên có
thể bắt chước chế tạo được. Còn 8 thứ thức là thể
tinh thần, không phải vật chất nên nhà khoa học không thể
bắt chước chế tạo được.
Sức
dụng của vật chất bị không gian thời gian hạn chế, còn
phi vật chất thì không bị không gian thời gian hạn chế.
Theo lực học của Einstein nói “vật chất nhỏ nhất chừng
nào thì tốc độ nhanh chừng nấy”, tốc độ nhanh như ánh
sáng thì vật chất càng nhỏ, sự quan hệ không gian và thời
gian cũng thay đổi, lại nói vật chất có thể biến thành
năng lượng.
Năng
lượng không phải vật chất, mà năng lượng có thể biến
thành vật chất, nhưng năng lượng phải từ vật chất mới
biến thành được. Nếu không có vật chất thì không thể
biến ra được năng lượng. Còn phi vật chất khỏi cần vật
chất, nó sẵn sàng có năng lượng đó, mà lại không bị
không gian thời gian hạn chế.
Nhà
Thiên văn muốn diễn tả khoảng cách của không gian, nếu
dùng con số thì không thể thấy được, nên dùng tốc độ
ánh sáng để diễn tả. Tốc độ ánh sáng đi một năm mới
đến thì khoảng cách đó gọi là một quang niên. Ánh sáng
đi một trăm năm mới đến thì khoảng cách đó gọi là một
trăm quang niên.
Ánh
sáng là tốc độ cao nhất, mỗi giây đi được 300.000 cây
số. Nếu ánh sáng đi một trăm năm đến thì tâm mình chỉ
một niệm đến. Ánh sáng đi một triệu năm đến thì tâm
chỉ một niệm đến. Tại sao? Vì nó trống rỗng, không bị
không gian thời gian hạn chế. Nên ngài Long Thọ nói “Tâm
như hư không vô sở hữu”. Mình phải tin sức của tâm mình
đều sẵn có, nhưng không có hiện ra là bị che khuất.
Bây
giờ phải nói chuyện cụ thể để thí dụ. Có người hỏi
tôi: Thầy dạy Tổ Sư thiền là dùng cái không biết để
tu, khi đến thoại đầu có phải sắp biết không?
Tôi
nói: Không phải sắp biết.
Người
ta nói: Nếu vậy thì đâu khác như gỗ đá?
Tôi
nói: Không phải vậy. Tại sao? Vì cái biết chơn tâm không
bao giờ ngưng, nếu nó ngưng rồi biết lại thì mới nói là
sắp biết.
Ông
đổi lại câu hỏi đi! Như hỏi trời gần sáng thì mặt trời
sắp chiếu được không? Không được. Mặt trời không thể
sắp chiếu. Tại sao? Mặt trời đâu có ngưng chiếu hồi nào
mà nói sắp chiếu! Trời đâu phải sáng rồi mới chiếu!
Trời chưa sáng nhưng nó cũng đang chiếu vậy. Không thấy
mặt trời là nó bị che khuất bởi quả đất, mây đen, chứ
đâu phải mặt trời ngưng chiếu.
Cái
biết chơn tâm của mình cũng vậy, nó không bao giờ ngưng
biết. Đã không ngưng biết thì tại sao nói là sắp biết?
Nó chỉ bị che khuất bởi cái biết và không biết của bộ
não, nên nó không được hiện ra.
Pháp
Thiền Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối thượng thừa
đều dẹp hết các thứ che khuất để chơn tâm hiện ra, gọi
là kiến tánh thành Phật.
Vừa
rồi, tôi nói 3 bộ phận biết, các vị học thì phải tìm
hiểu, tìm hiểu rồi thì phải suy nghĩ, mới phân biệt đúng
sai chánh tà, rồi ghi nhớ. Nhưng 3 bộ phận biết này che khuất
chơn tâm, nên cần phải dẹp hết. Các giáo pháp dạy dẹp
những che khuất gọi là pháp thiền.
Tiền
ngũ căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) và tiền ngũ thức thì
cái dụng khác nhau. Năm căn giống như cái đèn chiếu soi,
không có sự phân biệt. Như nhãn căn chiếu soi cảnh rồi,
nhãn thức mới phân biệt đó là tướng gì? Tức là năm căn
dùng cảm giác trực tiếp, theo khoa học thì nhãn căn là thị
giác, nhĩ căn là thính giác, tỷ căn là khứu giác, thiệt
căn là vị giác, thân căn là xúc giác. Đó chỉ là cảm giác
thôi, qua cảm giác của năm căn rồi mới đến năm thức phân
biệt.
Tiền
ngũ căn và tiền ngũ thức dễ phân biệt, còn ý căn và ý
thức khó phân biệt. Ý căn là đảm nhiệm suy nghĩ, ý thức
là phân biệt thiện ác đúng sai. Tác dụng năm căn trước
cũng giống, nhưng tác dụng đối với tiền trần (tiền là
trước mắt nên gọi là tiền ngũ căn, tiền ngũ thức).
Còn
ý căn và ý thức là đối với pháp trần, không phải vật
chất, mà cũng có thể là cái sanh diệt của vật chất, nhưng
nó không phải trước mắt. Quá khứ, vị lai cách xa, nếu
dùng ý thức nhớ lại chuyện quá khứ, nhớ lại thân nhân
ở nước ngoài, như nước Mỹ, nước Pháp,… quý vị ngồi
đây có thể nhớ lại cái tủ cái chén để trong nhà của
quý vị, dùng ý thức nhớ lại những thứ ấy, khỏi cần
trước mắt nên gọi là pháp trần, chứ không phải tiền
trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc).
Tôi
đại khái phân biệt lục căn lục thức, nhiệm vụ mỗi căn
mỗi thức đều khác biệt. Nhưng sự luân hồi làm sao giải
thích đây?
-Bát
Thức Quy Củ Tụng có câu “khứ hậu lai tiên tác chủ công”.
Thức
thứ 8 chứa các chủng tử thiện ác nghiệp, khi đầu thai
thì đến trước (lai tiên), khi chết là rời nhục thân sau
cùng (khứ hậu), do tính chấp ngã của thức thứ 7 kết hợp
sinh lý của cơ thể mà làm chủ nơi thân này. Bắt đầu tinh
cha trứng mẹ kết thành thai nhi, nhờ bát thức làm cơ nhân
(DNA) mà dần dần hình thành hệ thống thần kinh của bộ
não, đồng thời cùng khắp các tế bào và lục phủ ngũ tạng
của toàn thân, do bộ não làm thủ tướng.
Do
sự lôi kéo của ngã chấp, khiến lục thức và lục căn hợp
tác mà nghe theo lệnh của bộ não. Nhưng mà, lục căn thuộc
về sắc pháp (thể vật chất), lục thức thuộc về tâm pháp
(thể tinh thần), căn có thể hoại diệt, thức thì không thể
hoại diệt. Nếu tu hành đến kiến tánh thì chuyển được
bát thức thành tứ trí, mà ra khỏi luân hồi; chấm dứt sự
đầu thai chuyển thế, tự do tự tại vĩnh viễn, chẳng còn
tạo nghiệp và bị nghiệp lực trói buộc.
Hỏi:
Vừa
qua nói bản thể sanh mạng theo Duy Thức, hiện tại khoa học
phối thai trong ống nghiệm:
Thứ
nhất đi đến trình trạng vô tính mà nghiệp cảm duyên sanh
luân hồi, thì phải có linh hồn cha mẹ và linh hồn đồng
cảm, mới có một chúng sanh ra đời. Cái này là điều thông
thường, nhưng nó quan trọng vô cùng, những nhà khoa học cho
rằng: “Có thể đảo lộn thế giới”. Bởi vì vô tính
thì không có đồng cảm của linh hồn. Như vậy vật chất
sanh ra con người hay sao? Hay trường hợp này dẫn đến thế
giới hóa sanh?
Nghĩa
là muốn hỏi Hòa thượng giải thích cho chúng con biết là
cái dục phải đi tò mò tọc mạch của thần thức tìm nơi
sáng khi mà phôi thai? Còn vô tính là chỉ có một người đàn
ông thôi, lấy 2 vật chất trong người đàn ông sanh ra đứa
con, chứ không phải do sắc thể của nam và nữ?
Đáp:
Cái
cơ nhân vừa rồi đọc là bao gồm các chủng tử thức thứ
8. Bây giờ khoa học khỏi cần giao phối mà họ cũng tạo
ra được, nhưng phải có cơ nhân, cũng như lấy tế bào của
con dê này làm cơ nhân để trồng vô trứng con dê cái, mới
tạo ra dê con. Họ không có thể tạo ra cơ nhân, cơ nhân đó
là chủng tử thức thứ 8.
Hỏi:
Xin
Hòa thượng giảng rõ thần thức ở chỗ khác, tìm đến đó
để vô thai. Đó là nghiệp cảm duyên sanh ở dạng đặc biệt
hay là nhà khoa học tạo ra một linh hồn?
Đáp:
Không
có tạo được! Vì cơ nhân mà khoa học không thể tạo được.
Ấy chỉ là có sẵn, qua sự sẵn có mà biến đổi thôi, chứ
không phải từ chỗ không có. Tôi xin giảng lời nói của
Phật là “vô thỉ” chứng minh cho quý vị biết.
Tại
sao nói là vô thỉ? Thỉ là bắt đầu, vô là không có; tức
là không có bắt đầu, không có bắt đầu là nghĩa vô sanh,
cũng là không có sự sanh khởi. Vì có sự sanh khởi thì có
sự bắt đầu. Nên người chứng quả là ngộ pháp vô sanh,
cũng gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn.
Tại
sao chắc chắn không có sự bắt đầu? Vì nguồn gốc bắt
đầu chỉ có 2 cái: Bắt đầu chỗ có và bắt đầu chỗ
không có.
Nếu
bắt đầu chỗ có thì không thể nói là bắt đầu, vì cái
có kia đã bắt đầu rồi, tức nói cái cơ nhân vừa nói đã
có sẵn.
Nếu
bắt đầu chỗ không có thì thế giới này loạn hết. Tại
sao? Cây đào khỏi cần cây đào sanh, cây lý khỏi cần cây
lý sanh, con người khỏi cần con người sanh, con dê khỏi cần
con dê sanh. Nhưng nhà khoa học muốn sanh con dê cũng phải lấy
tế bào từ con dê để trồng vô trứng con dê cái, chứ không
phải khi không từ chỗ không có mà tạo ra được!
Nếu
mà chỗ không có tạo ra được thì không có giá trị gì hết,
vì tại không có tạo ra cái gì cũng được, tạo ra con người,
con dê, cây đào cũng được. Như vậy thế giới loạn hết.
Hỏi:
Vừa
rồi Hòa thượng có nói trong kinh Kim Cang là “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”. Vậy một hành giả dụng công phải
nhận biết như thế nào? Bây giờ nhận biết các pháp vô
sở trụ hay chúng ta dụng công phu trên lục căn không trụ
trên lục trần, ấy là nhận vô sở trụ? Hoặc nhận tánh
các pháp vô trụ, rồi mình sống vô trụ đó?
Đáp:
Phật
pháp là muốn hiển bày chơn tâm cũng gọi là tự tánh. Chơn
tâm là bất nhị không có tương đối, không có tương đối
nên không thể dùng lời nói của thế gian để diễn đạt
được. Vì muốn diễn đạt thì phải có tương đối, mà
chứng tỏ cái tương đối đó đúng hay sai gọi là logic, nó
có hai cái mới thành logic được.
Còn
chơn tâm thì không có tương đối là bất nhị, siêu việt
logic, nó không có thể dùng logic để chứng tỏ, vì dùng logic
để chứng tỏ là tương đối rồi. Cho nên, muốn chứng minh
phải qua tự tâm của cá nhân.
Hỏi:
Vậy
người hành giả phải thế nào để trọn vẹn cái nghĩa vô
sở trụ?
Đáp:
Tôi
nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là lời nói của
thế gian. Kinh Duy Ma Cật, kinh Lăng Già, cho đến Đại Thừa
Khởi Tín luận, phải lìa văn tự lìa lời nói, vì lời nói
văn tự không thể diễn tả. Mặc dầu, tôi nói “ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì cái đó cũng là lời nói. Nếu
chấp vào lời nói văn tự thì nghịch ý của Phật.
Hỏi:
Ý
con muốn hỏi là một hành giả đang dụng công, trong kinh Phật
dạy “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, cũng như trước
có nói “bất ưng vị sắc sanh tâm, bất ưng vị thinh sanh
tâm,… mới ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Như vậy một
hành giả nhận theo cái ý, tức là trên lục căn trên lục
trần là đúng hay nhận như thế nào mới gọi là đúng?
Đáp:
Nếu
mà có đúng thì có sai, đúng sai là tương đối.
Hỏi:
Nếu
vậy, mình tiếp xúc trên căn trần không trụ trước, đó
là lối của con tu tập hay là có lối dụng công cao hơn nữa
để dụng công tiến xa hơn?
Đáp:
Nếu
mà tự tâm chứng được sẽ biết không có nghĩa lý gì hết,
nếu lập ra nghĩa lý thì có tương đối, có đúng lý và không
đúng lý, hợp lý với không hợp lý. Ở trong tương đối
thì có tranh luận, mỗi người mỗi khác. Còn tuyệt đối
thì không có tương đối, lấy cái gì để tranh luận! Nhưng
cái ấy tự tâm ngộ mới dược, chứ không phải học. Cái
học là phương tiện tương đối, như thầy nói thí dụ, thí
dụ là dùng logic.
Mặc
dầu, Phật dùng đủ thứ thí dụ, nhưng sau khi nói xong đều
phủ định liền. Như ai cũng biết Phật tự phủ định nói
“49 năm thuyết pháp, tôi chưa từng nói một chữ”. Vì không
thể nói, tất cả lời nói là phương tiện tạm thời, chứ
không phải là chơn lý. Lại Phật giáo không kiến lập chơn
lý, tất cả các tôn giáo đều có kiến lập chơn lý.
Cho
nên, cái nào có kiến lập chơn lý thì sẽ bị lật đổ,
còn Phật Thích Ca không thể bị lật đổ, vì không có kiến
lập chơn lý. Tất cả đều không thể kiến lập chơn lý,
nên mới gọi là “vô thỉ vô sanh”. Nếu có kiến lập thì
có “thỉ” (bắt đầu) tức là có sanh rồi, tức là nghịch
với ý Phật.
Bây
giờ danh từ của Phật nói chỉ là phương tiện thôi, chứ
không được cho chấp thật. Như các vị có học Phật pháp,
nói là “thật tướng vô tướng”, tức là thật tướng
thì không có tướng. Chữ “vô” là lời nói của thế gian,
nếu theo thực tế thì hữu cũng vô, mà vô cũng vô. Tức là
phủ định tương đối, hữu và vô đều phủ định, mới
là thật tướng.
Nếu
chấp vô tướng là thật tướng thì lọt vào biên kiến (một
bên). Phật pháp có năm thứ ác kiến, mà biên kiến là
một trong năm thứ ác kiến (thân kiến, biên kiến, tà kiến,
kiến thủ kiến và giới cấm thủ). Nhưng bây giờ nhiều
người lọt vào biên kiến mà tự mình không hay biết. Tức
là chấp vào một bên, không chấp cái có lại chấp cái không.
Vừa
rồi tôi dùng “ưng vô sở trụ” thì không được chấp,
nên cũng phải quét. Vì chơn tâm trống rỗng là vô sở hữu,
không có thể kiến lập, nên Phật mới nói là “vô thỉ
vô sanh”, người chứng quả gọi là ngộ pháp vô sanh hay
là chứng vô sanh pháp nhẫn, nếu có sanh thì không phải.
Nhưng
bây giờ mình thấy có sanh, thấy có bắt đầu; cái bắt đầu
này là bắt đầu từ chỗ có, bắt đầu từ chỗ có tức
là ở chính giữa rồi, không phải là chỗ bắt đầu.
Hỏi:
Có
người tu kinh Kim Cang, cuộc sống hằng ngày họ không trụ
lục căn lục trần, trong lúc tọa thiền không trụ trên pháp
trần. Như vậy công phu dần dần họ đạt đến chỗ lặng
lẽ thường tịch, công phu đó còn tiến thêm lên nữa không?
Đáp:
Cái
tịch lặng này cần phải tiến lên nữa, vì đó là Đại
thừa thôi, chứ chưa phải là Tối thượng thừa. Đại thừa
là tâm vật hợp một, Tối thượng thừa là phi tâm phi vật
(chẳng phải tâm chẳng phải vật).
Hỏi:
Đến
giai đoạn đó thì hành giả phải làm sao để tiến lên?
Đáp:
Đến giai đoạn đó thì hành giả phải dùng cái “không hiểu
không biết” của bộ não để dẹp cái “biết” của bộ
não, gọi là nghi tình. Như dùng câu thoại đầu để hỏi
“khi chưa có trời đất ta là cái gì?” thì khởi lên một
niệm không biết, rồi khán thoại đầu là nhìn chỗ “không
biết”, nhưng chỗ “không biết”, mặc dầu nói chỗ, nhưng
không có chỗ, vì có chỗ là biết rồi.
Không
có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn, không có mục tiêu
để nhìn thì nhìn mãi không thấy gì, chỉ trống rỗng vẫn
còn không biết, chính cái trống rỗng không biết đó, Thiền
tông gọi là nghi tình; cứ hỏi và nhìn hai cái song song để
giữ nghi tình, sẽ đưa hành giả đến thoại đầu, rồi kiến
tánh thành Phật, lúc ấy ngộ rồi tự biết, chứ không phải
do ai phát hiện.
Hỏi:
Nếu
hành giả đến giai đoạn “không biết”, mà vẫn giữ công
phu “không biết” để diệt trừ những cái biết của tâm
thức. Nhưng giai đoạn đó, hành giả vẫn còn ôm lấy công
phu, như vậy có vượt thoát chưa hay còn kẹt trong công phu?
Đáp:
Phải
tới ngộ mới được! Vừa rồi tôi nói là mục đích muốn
đến thoại đầu là căn bản vô minh, cũng là vô thỉ vô
minh, ấy là nguồn gốc của ý thức, Thiền tông gọi là đầu
sào trăm thước. Thầy nói dùng cái biết để tu theo kinh là
Như Lai thiền. Kinh giáo thuộc về giáo môn là Như Lai thiền,
mục đích cũng đến thoại đầu.
Còn
Tối thượng thừa là dùng cái “không biết” để tu, cũng
gọi là tham Tổ Sư thiền. Nếu dùng “không biết” thì không
biết trụ, không biết vô trụ. Biết vô trụ tức là đã
biết rồi, chứ không phải là không biết! Vì không biết
là không có cái gì dính mắc, không có cái trụ và vô trụ
dính mắc.
Hỏi:
Hành
giả còn biết chỗ “không biết” thì sao?
Đáp:
Nếu
còn biết chỗ “không biết” thì không phải Tổ Sư thiền.
Đó là cái biết để tìm hiểu cái “không biết”, chứ
không phải dùng “không biết” để chấm dứt tìm hiểu
biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ biết. Những người đi sai lầm
là dùng cái biết để tìm hiểu cái “không biết”, tức
là không phải Tổ Sư thiền, không có tham thiền.
Hỏi:
Như
vậy, còn dụng công là còn kẹt trong công phu phải không?
Đáp:
Cái
đó gọi là Như Lai thiền, ấy là tùy cái biết mà tiến lên,
tức là có 52 cấp (Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Thập Địa là 50 cấp và Đẳng Giác, Diệu Giác.
Tổng cộng là 52 cấp). Còn Tổ Sư thiền dùng cái “không
biết” là không có cấp nào hết, từ địa vị phàm phu tu
chứng Đẳng Giác.
Hỏi:
Phẩm
Định Huệ của Pháp Bảo Đàn nói: “Định huệ thì đồng
đẳng”, còn kinh khác nói: “Có giới rồi mới có định,
đến sau phát huệ”. Như vậy định huệ đồng đẳng của
Lục Tổ Huệ Năng so với định huệ của kinh điển có khác
nhau như thế nào?
Đáp:
Tự
nhiên hai cái khác nhau rồi, vì định huệ của kinh điển
là dùng cái “biết” của giáo môn. Còn định huệ của
Lục Tổ là Thiền môn dùng cái “không biết” để tu.
Biết
và không biết là hai mặt khác nhau, dùng cái biết thì có
giai cấp, vừa rồi tôi nói có 52 cấp. Còn dùng cái không
biết thì không có giai cấp nào hết.
Hỏi:
Nếu
dùng cái không biết thì Lục Tổ nói “định huệ đồng
đẳng”, vậy ngay khi có định có huệ thì cái huệ có biết
hay không?
Đáp:
Thầy
có đọc 36 pháp đối của Lục Tổ dạy không?
Có.
Người
ta hỏi: Thế nào là sáng? Thì trả lời là: Tối.
Người
ta hỏi: Thế nào là tối? Thì trả lời là: Sáng.
Theo
giáo môn thì đâu có được vậy? Hỏi sáng thì giải thích
có mặt trăng, mặt trời, có đèn mới sáng. Còn Lục Tổ
thì không phải vậy, hỏi tối thì đáp sáng, hỏi sáng thì
đáp tối. Tại sao? Vì sáng với tối làm nhân với nhau, tại
có sáng mới có tối, có tối mới có sáng.
Sáng
tối là hai pháp sanh diệt, đều không phải thực tế là tương
đối mới có. Như con gà với trứng gà, vậy con gà có trước
được không? Không được. Tại sao? Vì không có trứng gà
làm sao có con gà! Trứng gà có trước được không? Không
được. Tại sao? Vì không con gà thì không thể có trứng gà.
Cho
nên, trứng gà và con gà mà tương đối mới có, thì sáng
với tối cũng vậy, hữu vô cũng vậy, tất cả tương đối
đều là vậy. Chỗ thật tế (thật tướng) thì phủ nhận
tương đối. Không có tương đối thì không thể dùng lời
nói để diễn tả.
Kết
luận của Vũ Trụ Quan: (Trang 3).
----------------------------------------------------------
Ở
trên là vai trò của người thế gian, như vai trò cha, mẹ,
vợ, chồng, con cái. Tu sĩ có vai trò của người Tu sĩ, tức
là Sa Di phải giữ đúng vai trò của Sa Di, Tỳ Kheo phải giữ
đúng vai trò Tỳ Kheo, Sa Di Ni phải giữ đúng vai trò của
Sa Di Ni, Tỳ Kheo Ni phải giữ đúng vai trò Tỳ Kheo Ni, mỗi
mỗi đều giữ đúng vai trò của mình thì tự nhiên tập khí
sẽ dứt dần dần.
Cũng
như vừa nói “vì đói khát ăn uống thì cứ ăn uống, đừng
nghĩ cái khác. Vì che thân chống lạnh cần mặc áo thì cứ
mặc áo, đừng nghĩ cái khác”. Cần nhất là “đừng nghĩ
cái khác”, tại mình ham nghĩ cái khác nên tập khí không
dứt được. Cứ giữ đúng vai trò của mình, đói bụng thì
ăn cơm, lạnh mặc thêm áo, nực cởi áo ra. Cho nên Phật pháp
chỉ là vậy thôi.
Hỏi:
Chúng
con biết Hòa thượng là bậc tu thiền, xin Hòa thượng chỉ
dạy, tại sao những vị tu thiền bị tẩu hỏa nhập ma? Xin
chỉ dạy phương pháp điều thân điều tâm như thế nào?
Đáp:
Người
tu bị nhập ma vì có ngã, tức là có cái ta nên ma mới nhập
được. Tham Tổ Sư thiền có 10 điều kiện, điều thứ
nhất có 9 chữ “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”
là phá ngã chấp. Ban đầu tôi nói “vô sở sợ”, họ nói
không được, phải nói là “vô sở úy”, tôi nói phải “vô
sở sợ”, tại sao? Vì tôi nói “vô sở sợ” là 10 người
thì 10 người đều hiểu, còn nói “vô sở úy” là 10 người
thì chỉ 5 người hiểu. Thành ra, tôi muốn 10 người đều
10 người hiểu, nên mới nói như vậy.
Nếu
thực hành được “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”
thì không bị ma nhập. Tham đúng Tổ Sư thiền thì ma làm sao
nhập? Chỉ các Thiền khác có ngã chấp nên ma mới nhập được.
Như kinh Lăng Nghiêm có 50 thứ ma ngũ ấm, do người đó có
mong cầu, nên ma thừa mong cầu mà nhập vào; muốn đắc thì
ma hóa ra có sở đắc để nhập, có sở sợ cũng vậy.
Chánh
pháp Phật giáo đều phá ngã chấp, mới giác ngộ ra khỏi
sanh tử luân hồi; tất cả các tôn giáo khác không phá ngã
chấp, nên không được giải thoát cái khổ sanh tử luân hồi.
Hỏi:
Ngày
xưa, Tổ Huệ Năng nói với các Thiền giả rằng: “ Các vị
tu thiền phải làm sao cho nhân tâm tử thì đạo tâm mới trường
tồn”. Chúng con thấy chánh pháp này là pháp giải thoát,
nhưng nó gắn liền với pháp thế gian. Đối với thế gian
pháp, mà các lãnh đạo của chúng ta hết sức bâng khuâng
việc này.
Vì
tâm sanh nên các pháp sanh, tâm diệt nên các pháp diệt; mà
nhân tâm không chịu tử, làm sao đạo tâm trường tồn được?
Chỗ này con thấy các ban trị sự, ban đại diện, giữa Tăng
Ni, giữa tự viện, nhân tâm sao không biết mà nó xảy ra những
chuyện va chạm với nhau, thậm chí thưa kiện đến chánh quyền
này nọ.
Đây
là những vướng mắc của các giảng sư sắp đến các vùng
sâu. Nhờ Hòa thượng chỉ cho con, làm sao cho nhân tâm này
tử, không cho các tâm sanh thì các pháp không sanh, tất nhiên
mọi việc sẽ được êm đẹp?
Đáp:
Thế
gian pháp tức là Phật pháp, chứ không phải ngoài thế gian
mà có Phật pháp.
Thế
lưu bố tưởng và trước tưởng (trích từ kinh Đại Niết
Bàn):
Hỏi:
Ở
nơi thế gian Thánh phàm khác biệt, phàm phu ngoài tâm chấp
pháp, vọng lập kiến văn, bậc Thánh đã ngộ nhất tâm, tại
sao còn tri kiến như phàm phu?
Đáp:
Bậc
Thánh dù có tri kiến nhưng thấu rõ vật hư như huyễn, chẳng
sanh chấp trước.
Như
kinh Đại Niết Bàn nói: “Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật: Thế
Tôn, nếu như phiền não sanh bởi điên đảo tưởng thì tại
sao tất cả bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng mà
chẳng có phiền não?
Phật
bảo: Sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?
Bồ
Tát Ca Diếp bạch Thế Tôn: Tất cả bậc Thánh cũng gọi con
trâu là trâu, gọi con ngựa là ngựa và gọi nam nữ, lớn
nhỏ, nhà cửa, xe cộ… ấy tức là điên đảo tưởng.
Phật
bảo: Thiện nam tử, tất cả phàm phu có hai thứ tưởng: Thế
lưu bố tưởng (thế gian đã phổ biến lưu hành) và trước
tưởng. Phàm phu chấp trước, ở nơi thế lưu bố tưởngg
sanh trước tưởng. Bậc thánh chỉ có thế lưu bố tưởng,
khéo giác quán nên ở nơi thế lưu bố tưởng chẳng sanh trước
tưởng. Cho nên, phàm phu gọi là điên đảo tưởng, bậc thánh
dù tri mà chẳng gọi điên đảo tưởng. Lại, do cảnh vốn
tự không, đâu cần hoại tướng! Do linh tâm tự chiếu, đâu
nhờ cảnh sanh! Nên chẳng như phàm phu chấp trước năng sở
tri kiến vậy”.
Triệu
Luận nói: “Hễ có sở tri thì có sở bất tri. Do Thánh tâm
vô tri nên vô sở bất tri”. Cái tri của bất tri là nhất
thiết tri, nên kinh nói: “Thánh tâm vô tri mà vô sở bất
tri” thật đáng tin vậy. Cho nên bậc Thánh trống rỗng nơi
tâm mà thật tế chiếu soi suốt ngày tri mà chưa từng (cho
là) tri, như nước lắng soi bóng, há có lập tâm năng sở;
cảnh trí đều sáng, đâu có tư tưởng giác tri ư!
Theo
sự hình thành trên đây (kinh Đại Niết Bàn) thì biết: Ở
nơi thế gian chẳng sanh khởi trước tưởng tức là pháp xuất
thế gian, cũng là Phật pháp. Chứ không phải ngoài pháp thế
gian mà có pháp xuất thế gian đặc biệt gọi là Phật pháp
vậy.
Nói
tóm lại, đối với cuộc sống hằng ngày, đói thì ăn, khát
thì uống, lạnh thì mặc thêm áo, nóng thì cởi bớt áo ra,
cho đến nói năng tiếp xúc, làm việc… đủ thứ pháp thế
gian đều chẳng sanh khởi trước tưởng, tức là Phật pháp
vậy. (Chẳng đem chủ quan của mình xen vào sự vật của thế
gian tức là chẳng sanh trước tưởng, cũng chẳng có “cho
là” để lọt vào nhị biên đối đãi vậy).
Hỏi:
Hòa
thượng dạy chúng con nhận thức điểm đó, con suy nghĩ nghiệp
vụ hoằng pháp như ở đây thì rất dễ vì là giáo hội.
Giáo hội thì có hành giáo và thiền giáo, mà pháp môn Hòa
thượng giảng từ sáng đến giờ là tu để cầu giải thoát.
Nhưng con thấy Phật pháp đã đi sâu vào xã hội để phổ
hoá độ sanh, để vượt qua khổ não trần lao. Phải nhờ
pháp môn giải thoát này để trấn an cho pháp thế gian. Vì
vậy chúng con nhờ Hòa thượng khai thông những giới xuất
gia của Phật.
Hai
chúng xuất gia cũng còn bất đồng quan điểm với nhau, đi
đến chỗ cho giáo hội phải nhọc nhằn. Đây là công tác
trước mắt của các giảng sư về những vùng sâu đến các
vị trụ trì. Hòa thượng cho con biết thêm làm sao nhân tâm
tử thì đạo tâm mới trường tồn? Nếu nhân tâm không tử
thì vạn pháp thế gian sanh mãi mãi, làm cho Phật pháp khó
thực hiện ở thế gian?
Đáp:
Quí
vị đều là giảng sư, đi giảng cho mọi người nghe, tạo
cho xã hội được hạnh phúc, cũng như tất cả ngành nào
cũng muốn cho nhân loại được hạnh phúc. Kinh Viên Giác nói
vấn đề thuyết pháp:
-
Bạch Thế Tôn! Nếu giác tâm này bản tánh trong sạch, vì
sao bị ô nhiễm, khiến những chúng sanh mê muội chẳng thể
ngộ nhập? Xin Như Lai vì chúng con khai thị pháp tánh, để
làm đạo nhãn cho tương lai, khiến cho đại chúng trong hội
này và chúng sanh đời mạt pháp dễ được ngộ nhập.
Ngài
Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát nói xong, 5 vóc gieo sát đất,
đảnh lễ thưa thỉnh 3 lần như vậy.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tịnh Chư Nghiệp chướng Bồ Tát rằng:
- Lành
thay! lành thay! Thiện nam tử! Ngươi khéo vì các Bồ Tát và
chúng sanh thời mạt pháp, hỏi Như Lai về những phương tiện
như thế. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà thuyết.
Khi
ấy Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát và đại chúng hoan hỷ
vâng lời Phật dạy, im lặng mà nghe.
-
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, vọng
chấp thật có 4 tướng: Ngã, nhân, chúng sanh, thọ mạng, nhận
lầm 4 tướng điên đảo là thật thể của mình, do đó liền
sanh 2 cảnh yêu ghét, vậy nơi thể hư vọng lại chấp thêm
một lớp hư vọng nữa. 2 thứ vọng nương nhau sanh ra vọng
nghiệp, vì có vọng nghiệp nên vọng thấy có luân hồi; kẻ
nhàm chán luân hồi lại liền thấy có Niết Bàn, do sự
chấp thật ngã tướng này nên chẳng thể ngộ nhập được
bản giác trong sạch. Chẳng phải bản giác chống cự với
những kẻ năng nhập, vì có kẻ năng nhập (ngã tướng) thì
chẳng phải bản giác vậy.
Cho
nên, động niệm và dứt niệm đều là mê muội. Tại sao?
Vì có bổn khởi vô minh đã làm chủ cho mình từ vô thỉ
rất khó đoạn trừ, phải có huệ nhãn mới trừ được.
Vì tất cả chúng sanh, sanh ra chẳng có huệ nhãn, hiện tiền
các tánh thân tâm đều là vô minh, vô minh chẳng thể tự
dứt vô minh, cũng như người có sinh mạng, sinh mạng chẳng
thể tự dứt sinh mạng vậy.
Vậy
ngươi nên biết, có người yêu ta tùy thuận với ta thì tâm
sanh hoan hỉ, người chẳng tùy thuận thì liền sanh oán ghét.
Có tâm yêu ghét để nuôi dưỡng vô minh, làm cho vô minh
tương tục mãi, nên cầu đạo chẳng thể thành tựu.
Thiện
nam tử! Thế nào là ngã tướng? Những chúng sanh tu hành, tâm
biết có sở chứng đều thuộc về ngã tướng.
Thiện
nam tử! Ví như có người cơ thể điều hòa thư thái, tay
chân thư giãn, bỗng quên mất thân ta, vì ăn uống thất thường
sanh bệnh hoạn, nhờ thầy thuốc châm cứu thấy đau mới
biết có ta còn đây, cho nên người chấp có sở chứng mới
hiện ra ngã tướng.
Thiện
nam tử! Nếu tâm liễu tri rốt ráo biết có sở chứng, dù
chứng đến thanh tịnh Niết Bàn của Như Lai đều thuộc về
ngã tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là nhơn tướng? Như những chúng sanh tâm
có sở chứng, cho kẻ năng chứng là ta, nay tiến thêm một
bậc, ngộ biết chứng chẳng phải là ta, ngộ này siêu việt
tất cả chứng, nhưng còn giữ tâm ngộ tức là nhơn tướng.
Thiện
nam tử! Những tâm biết có năng sở đều thuộc về ngã,
tâm dù chỉ còn chút năng ngộ để chứng lý cùng tột của
Niết Bàn đều gọi là nhơn tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là chúng sanh tướng? Chỗ này là những chúng
sanh có tâm biết năng chứng năng ngộ đều chẳng thể biết.
Thiện
nam tử! Ví như có người nói rằng: “Ta là chúng sanh”,
thì biết kẻ nói chúng sanh kia chẳng phải ta cũng chẳng phải
ngươi. Sao nói chẳng phải ta? Vì “ta là chúng sanh” thì
chẳng phải ta, sao nói chẳng phải ngươi? Vì nói “ta là
chúng sanh” thì chẳng phải ngươi cũng chẳng phải ta vậy.
Lược
giải:
Nói
“ta là chúng sanh” vì chúng sanh là nhiều người nhiều loài.
Nay nói “ta” chỉ có một mình ta, như thế thì chúng sanh
chẳng phải “ta”; nói ngươi cũng vậy, nghĩa là chỉ có
một mình ngươi chẳng phải nhiều chúng sanh, nên nói “ta
là chúng sanh” thì chẳng phải “ngươi” cũng chẳng phải
“ta” vậy.
(lược giải hết).
Thiện
nam tử! Nếu những chúng sanh có tâm biết năng chứng năng
ngộ đều là Ngã tướng, Nhơn tướng. Nay tiến thêm một
bậc, liễu tri chỗ này là Ngã tướng, Nhơn tướng chẳng
thể đến, nhưng còn có sở liễu tri, biết có năng chứng
năng ngộ để lìa, nên gọi là Chúng sanh tướng.
Thiện
nam tử! Thế nào là Thọ mạng tướng? Những chúng sanh tiến
thêm một bậc nữa, tâm quán chiếu sáng tỏ chiếu soi tâm
liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ còn một giác thể trong
sạch; giác thể này tất cả nghiệp trí trong luân hồi đều
chẳng thể tự thấy được, cũng như con mắt chẳng tự thấy
mắt, tất cả tịch diệt. Vì trụ nơi tịch diệt thì mạng
căn chưa dứt, nên gọi là Thọ mạng tướng.
Thiện
nam tử! Nếu tâm chiếu soi thấy tất cả người giác tri và
cấu bẩn của trần lao. Có năng giác sở giác là chẳng lìa
được trần lao. Ví như nước canh làm băng tan, nước canh
là năng tan, băng là sở tan; khi băng đã tan thì nước canh
và băng đều thành nước, năng tan (nước canh) sở tan (băng)
đều diệt, nếu còn có kẻ biết băng tan thì còn cái năng
biết, cái biết đó là ngã. Nói “còn Thọ mạng tướng”
thì nghĩa cũng như vậy.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng không
thật, dù trải qua nhiều kiếp siêng năng khổ hạnh tu hành,
chỉ gọi là pháp hữu vi, rốt cuộc chẳng thể thành tựu
tất cả Thánh quả (pháp vô vi), cho nên gọi là “chánh pháp
trong đời mạt pháp”. Tại sao? Vì lầm nhận tất cả ngã
tướng cho là tướng Niết Bàn; cho có chứng có ngộ mới
gọi là thành tựu. Cũng như có người nhận giặc làm con
thì tài sản nhà họ chẳng thể thành tựu. Tại sao? Như có
người luyến ái ngã, cũng luyến ái Niết Bàn, đè nén gốc
luyến ái ngã trở thành tướng Niết Bàn; có người chán
ngã, cũng chán sanh tử, chẳng biết gốc luyến ái ấy mới
thật là chơn sanh tử vậy. Nay có tâm nhàm chán sanh tử, nên
gọi là chẳng giải thoát.
Tại
sao biết được pháp ấy chẳng giải thoát?
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ đề, cho sự
chứng của mình tự trong sạch, chứng được chút ít cho là
đủ, chưa dứt sạch cội gốc của ngã tướng nên chẳng
giải thoát. Nếu có người tán thán pháp mình thì liền sanh
tâm hoan hỉ, muốn cứu độ họ; nếu phỉ báng pháp sở đắùc
của mình thì liền sanh tâm sân hận. Vậy thì biết cái tâm
chấp ngã tướng rất kiên cố, tiềm ẩn trong tạng thức,
gặp ngoại cảnh kích thích thì phát khởi hiện hành nơi các
căn, mãi chẳng gián đoạn.
Thiện
nam tử! Người tu hành vì chẳng dứt sạch ngã tướng nên
chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Nếu biết ngã tướng vốn không, thì chẳng có cái
bản ngã để cho họ tán thán và phỉ báng; nay thấy “có
ta thuyết pháp” thì ngã tướng chưa dứt, nhơn tướng, chúng
sanh tướng, thọ mạng tướng đều cũng như thế.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chưa dứt ngã tướng,
cho sự thuyết pháp là “do ta thuyết”, nên pháp của họ
thuyết là cái bệnh của ngã tướng, chẳng phải thuyết cái
pháp của Niết Bàn vậy, cho nên gọi là kẻ đáng thương
xót! Dù siêng năng tinh tấn, chỉ tăng thêm các pháp bệnh,
nên chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp vì chẳng thấu rõ 4 tướng
kể trên, chấp chỗ hành và kiến giải của Như Lai cho là
kiến giải của mình, vì chẳng phải do tự mình tu chứng,
nên rốt cuộc chẳng thể thành tựu. Hoặc có chúng sanh chưa
đắc nói đắc, chưa chứng nói chứng, thấy người hơn ta
thì sanh ganh tỵ, ấy là do chúng sanh chưa dứt ngã kiến, nên
chẳng thể ngộ nhập bản giác trong sạch.
Thiện
nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn tu thành đạo, chớ
nên sanh tâm cầu ngộ; người sanh tâm cầu ngộ thì muốn
học rộng nghe nhiều để hiểu thêm giáo lý, vậy chỉ thêm
đa văn tăng trưởng ngã kiến, chẳng phải người chơn tu.
Người
chơn tu chỉ nên tinh tấn hàng phục phiền não, khởi tâm đại
dũng mãnh: Niết Bàn chưa đắc khiến cho đắc, phiền não
chưa dứt khiến cho dứt. Những tâm tham, sân, si, mạn, siểm
khúc, ganh tỵ đối cảnh chẳng sanh, ân ái giữa mình và người
tất cả đều tịch diệt, Phật nói người ấy sẽ dần dần
thành tựu Thánh quả. Nương theo nhân địa này tu hành để
cầu thiện trí thức thì chẳng đọa tà kiến, nếu có sở
cầu khác với nhân địa phát tâm kể trên, lại sanh lòng
yêu ghét thì chẳng thể ngộ nhập biển giác trong sạch.
Lúc
ấy Thế Tôn muốn giảng lại nghĩa này mà thuyết kệ rằng:
Tịnh
Nghiệp Chướng nên biết,
Tất
cả những chúng sanh,
Đều
do chấp ngã tướng,
Luân
hồi từ vô thỉ.
Chưa
dứt sạch bốn tướng,
Chẳng
được thành Bồ Đề.
Yêu
ghét sanh nơi tâm,
Siểm
khúc giữ trong niệm.
Cho
nên bị mê muội,
Chẳng
thể vào giác thành.
Nếu
muốn về cõi Phật,
Phải
bỏ tham sân si,
Tâm
chẳng luyến ái pháp
(pháp
Niết Bàn),
Dần
dần được thành tựu.
Thân
ta vốn chẳng có,
Yêu
ghét do đâu sanh?
Cầu
thầy bạn chánh tu,
Thì
chẳng đọa tà kiến.
Nếu
tâm cầu pháp khác,
Rốt
cuộc chẳng thành tựu.
“Ta
đã chứng Niết Bàn” thì Thiền tông gọi là mạng căn chưa
dứt, cũng còn ngã tướng. Trong kinh Viên Giác diễn tả: “Ngã,
Nhân, chúng sanh, thọ mạng”, còn kinh Kim Cang nói: “Ngã,
nhân, chúng sanh, thọ giả”. Vì nhận lầm 4 tướng này, nên
tu hành không dứt được ngã kiến.
Hỏi:
Ngài
Hương nghiêm nói với một vị Tăng rằng: “Có người ngậm
một cành cây, dưới cây có một hố sâu, có một người
đi ngang qua hỏi: Thế nào là Phật? Người ấy trả lời liền
mất mạng. Nếu không trả lời thì phụ câu hỏi của người
kia. Ngưỡng mong Hòa thượng khai thị cho chúng con rõ?
Đáp:
Ông
Newton thấy trái bôm ở trên cây rơi xuống đất, ông phát
nghi tại sao trái bôm không rơi lên trời, mà lại rơi xuống
đất? Từ đó ông mới dùng bộ não đi nghiên cứu tìm hiểu,
cuối cùng ông ngộ được hấp dẫn lực của quả đất,
rồi đến ngộ hấp dẫn lực vạn hữu.
Pháp
thiền của Phật cũng từ nghi đến ngộ, nhưng không phải
tìm hiểu; tìm hiểu không thể ngộ được, vì tìm hiểu là
sản phẩm của bộ não, bộ não là che lấp chơn tâm, nên
Phật dạy phương pháp dẹp nó.
Nếu
tiếp tục tìm hiểu thì giống như mây đen nhiều thêm che
lấp ánh sáng mặt trời không hiện ra được. Cho nên công
án là để cho mình ngộ, chứ không cho mình tìm hiểu; còn
những người không ngộ tất nhiên là không hiểu, nhưng giữ
cái không hiểu đó (nghi tình), sau này sẽ được ngộ.
Hỏi:
Lúc
tham thiền bị hôn trầm thì phải làm sao? Và tán loạn thì
phải như thế nào?
Đáp:
Nếu
hôn trầm thì phải mở mắt to ra, mở mắt to mà còn hôn trầm
thì lấy nước lạnh rửa mặt, rửa mặt bằng nước lạnh
mà còn hôn trầm thì phải đứng dậy đi kinh hành hay kiếm
công việc làm, cũng phải tiếp tục thiền nữa. Nếu có tán
loạn thì phải nhắm mắt lại.
Hỏi:
Thiền
sư Duy Tính nói: “Lão Tăng 30 năm trước, khi chưa có vào
đạo, thấy núi là núi, thấy nước là nước; sau này được
Thiện tri thức dẫn cho lối vào thì thấy núi không phải
núi, thấy nước không phải nước. Rồi sau này ngộ nhập
thiền rồi, thấy núi là núi, thấy nước là nước”. Vậy
cái đầu tiên thấy núi là núi, thấy nước là nước và
cái sau cùng thấy núi là núi, thấy nước là nuớc, khác nhau
chỗ nào?
Đáp:
Đó
là nghĩa ba câu của kinh Kim Cang, tôi có dịch kinh Kim Cang,
trong đó giải thích rất kỹ càng. Nhưng bây giờ có câu hỏi
rồi thì tôi giải thích.
Kinh
Kim Cang từ đầu đến cuối đều là nghĩa ba câu. Như Phật
nói: “chúng sanh, tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh. Thế
giới, tức phi thế giới, thị danh thế giới. Đệ nhất ba
la mật, tức phi đệ nhất ba la mật, thị danh đệ nhất ba
la mật”, đều là nghĩa ba câu.
Vừa
rồi thầy hỏi, ban đầu thấy núi sông thì chấp thật có
núi sông, khi tu đến giai đoạn thấy núi sông không phải
thật tức là phi (chẳng phải) núi sông; sau cùng đã ngộ
rồi thấy núi sông vẫn là núi sông.
Câu
thứ nhất “núi sông” là giả danh, câu thứ nhì “phi núi
sông” cũng giả danh, câu thứ ba “thị danh núi sông” cũng
giả danh. Tức là chẳng trụ nơi câu thứ nhất, chẳng trụ
nơi câu thứ nhì và chẳng trụ nơi câu thứ ba. Ấy là nghĩa
“vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của kinh Kim Cang.
Khai
thị Thiền thất ngày 15-5 =>21-5-1999 tại chùa Hưng Phước.
Hỏi:
Con
tham Tổ Sư thiền khoảng 2 tháng, khi tham một tháng bắt đầu
quen; con ăn rồi tắm, chừng nửa giờ sau, không biết mình
ăn và đã tắm xong; lúc ấy con đi chợ mua đồ, đưa tiền
cho người bán, người bán thối tiền, con cũng không nhớ;
hiện tại con dọn dẹp đồ đạc trong nhà không biết cất
ở đâu, sự sinh hoạt của con hằng ngày có phần xáo trộn.
Vậy cái quên của con có tương ưng với công phu không?
Đáp:
Nếu
tham Tổ Sư thiền, hỏi và nhìn mà quên như vậy là hiện
tượng tốt, không có ảnh hưởng đến sự sống; nếu sự
tu tiến bộ như cảnh giới này thì dùng tiền đâu có thể
mua được!
Tham
thiền quên mọi cảnh xung quanh là tốt, nếu là bệnh tâm
thần mà quên thì không được. Như Truyền Nam mua bán không
để ý đến tiền, người ta trả bao nhiêu thì lấy, mỗi
ngày bán bao nhiêu lời lỗ không cần biết! Nhưng thật sự
công phu đến mức này mới được.
Hỏi:
Tham
thiền đang đi ở ngoài đường, đến mức độ quên không
biết về nhà. Có trường hợp này không?
Đáp:
Có
chứ, nhưng không hại gì hết, cũng có người như vậy, như
Trương quốc Anh tham thiền trong lúc đi về nhà mà không biết
vô nhà.