Hỏi:
Trong
lúc tụng kinh ta phải tham thiền như thế nào?
Đáp:
Tham
thoại đầu là hỏi câu thoại để kích thích niệm không
biết, khán thoại đầu là nhìn chỗ niệm không biết, cứ
hỏi và nhìn 2 cái đi song song là đủ rồi.
Tụng
kinh đến đâu quán tưởng đến đó là cách tu của giáo môn,
không phải tham Tổ Sư thiền. Đó là Đại thừa thiền có
Sa ma tha, Tam ma bát đề và Thiền na.
Hỏi:
Người
phụ nữ tu thiền chỉ ngồi bán già, không ngồi kiết già,
vì có bệnh của người nữ. Vậy như thế nào?
Đáp:
Tôi
đã nói “không cần nhất định phải ngồi bán già hay kiết
già”, Lục Tổ nói: “Đạo do tâm ngộ bất tại tọa”,
còn nói: “Ngồi lâu trói thân có ích lợi gì!”. Trong Pháp
Bảo Đàn có kệ phá chấp ngồi:
Lúc sống ngồi chẳng nằm,
Khi chết nằm chẳng ngồi.
Vốn là đống xương thúi,
Đâu thể lập công phu?
Vậy
tại sao còn hỏi toàn già, bán già nữa?
Bệnh
của phụ nữ là do sinh lý, đâu phải do cái ngồi! Người
phụ nữ có kinh nghiệm đó, cũng như có kinh nguyệt đều
đều mỗi tháng, nhưng có người trước khi có kinh hay hết
kinh, họ cũng có tâm lý bất thường, như nổi giận, buồn
rầu.
Hôm
trước có người hỏi “tại sao người nam được xuất gia
7 lần, mà người nữ chỉ được xuất gia 1 lần”? Đó cũng
tại sinh lý, như có 5 chúng xuất gia: Bên nam thì Sa Di lên
Tỳ Kheo, chỉ có 2 bực. Còn bên nữ phải có 3 bực: Sa Di
Ni lên Thức Xoa rồi đến Tỳ Kheo Ni.
Ban
đầu Phật cũng chế Sa Di Ni lên Tỳ Kheo Ni, nhưng sau này phát
hiện Tỳ Kheo Ni sanh con, bị người thế gian phê bình công
kích, vì người đó có chồng rồi có thai mà không biết lại
xuất gia, tuy chồng có đồng ý cho xuất gia.
Vì
vậy, Phật mới chế thêm một cấp nữa là Thức Xoa. Thức
Xoa nghĩa là học pháp của Tỳ Kheo Ni, quy định 2 năm mới
được thọ giới Tỳ Kheo Ni. Mặc dầu quy định 2 năm, thật
ra chỉ 12 tháng và thêm một ngày, nhưng cũng tính 2 năm,
cũng như tuổi âm lịch vậy.
Vì
người đàn bà có thai 9 tháng 10 ngày thì đã sanh con rồi,
12 tháng là đủ kiểm tra có thai hay không. Nếu không có thai
thì được thọ giới Tỳ Kheo Ni, ấy là người nữ có sinh
lý khác nên Phật mới chế giới thêm.
Theo
đây mình biết, nếu người nữ hoàn tục một lần có thể
sanh thêm một đứa con, hoàn tục hai lần có thể sanh ra 2
đứa con,… cứ như thế nhiều lần, vậy làm sao xuất gia
thêm được? Cho nên, Phật chỉ cho người nữ xuất gia một
lần thôi.
Hỏi:
Có
người lấy trộm đồ vật của người khác, rồi đem cho
người nghèo để sống. Vậy người lấy trộm có được
phước không?
Đáp:
Họ
không phải tự mình làm ra vật đó, mà lại trộm cướp đem
cho người khác. Vậy làm sao có phước được? Vì đã hại
người mất đồ bị khổ. Cho nên, người trộm cướp đó
bị tội chứ không có phước.
Hỏi:
Hư
Vân lão Hòa thượng thuộc dòng phái nào?
Đáp:
Hư
Vân lão Hòa thượng thuộc dòng phái Lâm Tế. Ở Trung Quốc
có 5 phái thiền là: “Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn,
Quy Ngưỡng”. Hai phái Lâm Tế, Tào Động thì còn tiếp tục
đến ngày nay, còn ba phái kia tuyệt truyền. Ngài Hư Vân muốn
ba phái kia tiếp tục truyền, nhưng rồi cũng không thành.
Hỏi:
Lời
của Phật không có nghĩa thật. Tại sao Hòa thượng dùng lời
của Phật để dẫn chứng? Vậy có phải dùng thuốc giả
để trị bệnh giả có đúng không?
Đáp:
Lời
của Phật gọi là bất định pháp, chỉ là công cụ để
phá chấp. Lời của tôi cũng vậy, tôi cũng bắt chước lời
của Phật Thích Ca dùng công cụ để phá chấp thôi. Nếu
chấp công cụ đó thì Phật không thể giáo hóa.
-Trung
Quán Luận: Phẩm Phá “Hành”.
Hỏi:
Như kinh Phật sở thuyết,
Hư vọng chấp lấy tướng.
Vì vọng chấp chư hành,
Nên gọi là hư vọng.
Đáp:
Kẻ hư vọng chấp lấy,
Trong đó lấy cái gì?
Phật thuyết những việc này,
Muốn hiển bày nghĩa không.
Vì các pháp khác nhau,
Biết đều là “vô tính”.
Tính
vô pháp cũng vô,
Vì
tất cả pháp không.
Đại
Thánh chuyển pháp không,
Vì
lìa chư kiến chấp.
Nếu
lại thấy có không,
Phật
chẳng thể giáo hóa.
Lược
giải:
“Hành” là sự hành vi biến hóa, hành vi biến hóa là sát
na sanh diệt, nên Phật nói chư hành vô thường, vô thường
thì chẳng thật, chẳng thật nên hư vọng. Hư vọng thì chẳng
thể chấp lấy, Phật nói hư vọng chẳng thể chấp lấy là
muốn hiển bày nghĩa không vậy.
Vì
các pháp khác nhau thì mỗi mỗi chẳng có tự tánh. Pháp chẳng
có tự tánh thì pháp chẳng có, nên nói tất cả pháp không,
Phật thuyết pháp không là để dùng phá 62 kiến chấp và
phá phiền não của nghiệp ái vô minh.
“Không”
là công cụ dùng để phá chấp, nếu trở lại chấp “không”
thì người ấy chẳng thể giáo hóa. Như có bệnh mới cần
uống thuốc, nếu chấp thuốc thành bệnh thì chẳng thể trị.
Cũng như lửa từ củi ra thì phải dùng cái gì để diệt?
“Không”
dụ cho nước, có thể dẹp tắt những lửa phiền não. Nếu
lại ở nơi “không” mà sanh khởi kiến chấp, hoặc cho là
có cái “không”, hoặc cho là chẳng có cái “không”, vì
tranh chấp “hữu” “vô” lại sanh khởi phiền não nữa.
Nếu
dùng “không” để giáo hóa người này thì họ nói
tôi biết “không” đã lâu. Nếu lìa “không” thì chẳng
có đạo Niết Bàn. Như kinh nói: Không, Vô tướng, Vô tác,
nơi ba cửa này được giải thoát. Đấy chỉ là ngôn thuyết
thôi. (Không, Vô tướng: Thì chẳng thể tu; Vô tác: Thì không
có tu, vậy đâu thể giải thoát).
Lời
nói của Phật không còn cho chấp, huống là lời nói của
tôi! Tôi chỉ là bắt chước lời nói của Phật, chứ tôi
không chấp lời nói của Phật.
Hỏi:
Tứ
pháp y là gì?
Đáp:
Tứ
pháp y là 4 thứ y chỉ ghi ở trong kinh Duy Ma Cật:
1-Y
pháp bất y nhân:
Là
y theo pháp chứ không y theo người, tuy người đó có danh tiếng,
địa vị cao, nếu nói pháp không đúng cũng không nên theo.
Những người nói pháp đúng nhưng không có địa vị cao, không
có danh tiếng nên theo.
2-Y
nghĩa bất y ngữ:
Ngữ
là nói, nghĩa là cái ý. Cũng như lời nói của Phật, mình
không y theo, mình y theo ý của Phật.
3-Y
liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa:
Phật
thuyết pháp có hai thứ: Liễu nghĩa và bất liễu nghĩa, như
kinh Đại thừa là liễu nghĩa, kinh Trung thừa và kinh Tiểu
thừa là bất liễu nghĩa. Mình phải y theo kinh liễu nghĩa,
chứ không y theo kinh bất liễu nghĩa.
4-Y
trí bất y thức:
Thức
thì phân biệt là vọng tâm của bộ não, có phân biệt thì
có tương đối, Tự tánh là bất nhị không có tương đối.
Không phân biệt là trí, không có tương đối.
Hỏi:
Con
ăn mặn tu thiền này được không? Và ngồi như thế nào?
Đáp:
Tất
cả Thiền khác đều chú trọng ngồi, còn Tổ Sư thiền thì
không chú trọng ngồi, không cần ngồi cũng được. Lục Tổ
nói: “Đạo do tâm ngộ bất tại tọa”, ngộ là do ở nơi
tâm, không phải ở chỗ ngồi. Lại nói: “Ngồi lâu trói
thân có ích lợi gì!” Nhưng các Thiền khác lại chú trọng
ngồi, ngồi lâu là cao. Tổ Sư thiền là ngồi lâu trói thân,
chẳng có ích lợi gì!
Có
người ngồi đến 6 giờ bị ói máu, phải chở đi bệnh viện.
Trong Pháp Bảo Đàn có kệ phá chấp ngồi:
Lúc
sống ngồi chẳng nằm,
Khi chết nằm chẳng ngồi.
Vốn là đống xương thúi,
Đâu thể lập công phu?
Cho
nên, hành giả tham Tổ Sư thiền, không muốn ngồi cũng được,
muốn ngồi thì ngồi; đi đứng nằm ngồi đều tham thiền
được. Nếu có ngồi khỏi cần ngồi kiết già, ngồi sao
cũng được. Chỉ cần ở trong tâm hỏi câu thoại và nhìn
thoại đầu.
Hỏi:
Tam
pháp ấn là gì?
Đáp:
Là
3 pháp ấn của Tiểu thừa, còn Đại thừa chỉ có 1 pháp
ấn là Thật tướng vô tướng, tức là không có tướng có,
cũng không có tướng không. Vì có hữu tướng và vô tướng
là tương đối. Thật tướng vô tướng là công cụ để phá
tương đối. Cho nên, hữu tướng cũng phá và vô tướng cũng
phá, chẳng có tướng nào hết thì mới gọi là Thật tướng.
Các
vị đến đây là tham Tối Thượng Thừa thiền thì luôn cả
pháp ấn cũng không có, nên gọi là Tâm ấn. Nhưng tâm như
hư không vô sở hữu, luôn cả tâm cũng không có, vì như hư
không.
Như
Tiểu thừa là duy vật, Trung thừa là duy tâm, Đại thừa là
tâm và vật hợp một, Tối Thượng thừa là phi tâm phi vật
(chẳng phải tâm, chẳng phải vật).
Chúng
ở đây học Tối Thượng thừa là siêu việt Đại thừa,
Đại thừa còn gọi là Bồ Tát thừa. Theo giới luật Bồ
Tát, khi thọ giới Bồ Tát là học đạo Bồ Tát. Nếu còn
dạy người ta học giới Tiểu thừa là phạm giới Bồ Tát,
hay người tu Đại thừa mà còn học giới Tiểu thừa cũng
phạm giới Bồ Tát.
Tại
sao? Tiểu thừa là tiểu học, Trung thừa là trung học, Đại
thừa là đại học, mà bài đại học không học lại học
bài tiểu học, tức là xuống cấp, đáng lẽ phải lên cấp
mới phải, nếu xuống cấp học để làm chi! Người ta học
phải lên cấp, nên giới Bồ Tát không cho người Đại thừa
học Tiểu thừa là vậy. Còn Tiểu thừa học Đại thừa thì
được, vì lên cấp.
Hỏi:
Làm
thế nào công phu được liên tục?
Đáp:
Khi
tham thiền cảm thấy làm biếng thì ngưng tham, nghĩ lại việc
sanh tử của mình; cũng như mình đang còn sống, không biết
giờ nào chết, có khi tối ngủ chết luôn cũng không chừng,
chết rồi thì tham thiền đâu có được!
Cho
nên, người phát tâm xuất gia, cũng như phát tâm tham thiền
phải có chánh nhân là muốn giải thoát sanh tử. Có chánh
nhân mới có chánh quả, còn những người không có chánh nhân,
cũng như vợ chồng gây lộn rồi đi tu thì không phải chánh
nhân, hay sự nghiệp thất bại rồi bỏ đi tu cũng không phải
chánh nhân.
Như
thấy Thiền thất đông người, mình cũng bắt chước tham
thiền, chứ không phải vì giải quyết vấn đề sanh tử.
Vì hứng thú mà tu nên ngài Hư Vân nói “năm đầu thì sơ
tham, năm thứ hai là lão tham, năm thứ ba không tham”, vì họ
hết hứng thú thì không tham.
Nếu
sanh tử chưa giải quyết thì phải tiếp tục tới chừng nào
được giác ngộ, giải thoát được sanh tử mới thôi. Vì
vậy mình phải vì sanh tử mà tham thiền, gọi là sanh tử
thiết tức là thiết tha giải quyết sanh tử.
Hỏi:
Người
chưa ăn chay, có tu Tổ Sư thiền được không?
Đáp:
Ai
cũng tu Tổ Sư thiền được. Theo nhân quả là “ăn cục thịt
phải trả cục thịt, giết một mạng phải trả một mạng”.
Có người hỏi: Tham thiền cần ăn chay không?
Tôi
nói: Cần và không cần là tương đối. Tham thiền là phá
tương đối. Nếu ông sợ người ta ăn mình thì đừng ăn
người ta, không sợ người ta ăn mình thì cứ ăn người ta.
Kiếp trước mình ăn người ta thì kiếp sau người ta ăn lại
mình, tức là thay phiên ăn với nhau. Thay phiên ăn với nhau
làm sao giải thoát được sanh tử?
Hỏi:
Lục
Tổ dạy: Dụng tánh chứ không dụng thức là sao?
Đáp:
Lục
Tổ không nói dụng tánh, vì tánh không thể chỉ chỗ nào.
Trí thì đối với thức. Vừa rồi nói “y trí bất y thức”
là dùng trí không dùng thức, vì thức là phân biệt tương
đối, trí không phân biệt phá tương đối.
Hỏi:
Tham
Tổ Sư thiền tu thêm Bát Quan Trai giới được không?
Đáp:
Bát
Quan Trai giới là giới cấm chứ không phải pháp tu, cũng như
các vị xuất gia là Sa Di thọ 10 giới, Bát Quan Trai là thọ
9 giới của Sa Di, chỉ bỏ không cầm tiền bạc. Vì người
tại gia được phép cầm tiền bạc. Theo giới luật nhà Phật
không cho Tu sĩ cầm tiền bạc, phải giao cho cư sĩ giữ, gọi
là tịnh thí.
Tức
là Tu sĩ thí tiền cho cư sĩ, nhưng cư sĩ không được dùng
tiền đó, chỉ là giữ giùm, Tu sĩ muốn dùng tiền thì phải
hỏi cư sĩ. Tịnh thí là thí cái tên, cư sĩ đã giữ tiền
rồi thì Tu sĩ cũng không dám dùng bậy, vì dùng bậy thì cư
sĩ biết, phải vì Phật sự mới được dùng.
Bát
Quan là giới, chỉ tập tu một ngày một đêm, còn Sa Di, Sa
Di Ni, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni phải giữ giới suốt đời. Vậy
họ tham thiền không được sao? Giới là giúp cho sự tu.
Có
thiền thì mới có tu, thiền Tiểu thừa, thiền Trung thừa,
thiền Đại thừa và thiền Tối Thượng thừa. Tịnh Độ
cũng có 3 thứ thiền: Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng
niệm Phật, Trì danh niệm Phật.
Hỏi:
Trong
lúc tu tập thiền định, Ngài có gặp những chướng duyên
nào?
Đáp:
Tu
là sửa chướng duyên, chướng duyên là nghiệp giúp cho mình
tu, còn thuận duyên có thể hại cho mình tu. Tại sao? Vì thuận
duyên là mình ham thích thỏa mãn dục vọng, không còn nhớ
đến việc tu nữa. Có chướng duyên là kích thích mài giũa
cho mình tu thêm. Cho nên, người tu không sợ chướng duyên
mà sợ thuận duyên.
Hỏi:
Thuận
duyên nào mà Ngài có?
Đáp:
Thuận
duyên là mình muốn việc gì thì được đáp ứng việc ấy.
Như muốn nhà cửa thì có nhà cửa, muốn ruộng đất thì
có ruộng đất, muốn xe cộ thì được xe cộ,…
Còn
tôi ăn, mặc, ở đều của Thí chủ ủng hộ, tự mình tôi
không có tiền. Có bài kệ:
Hạt gạo của Thí chủ,
Lớn bằng núi tu di.
Nếu không tu giải thoát,
Mang lông đội sừng trả.
Tu
sĩ ăn gạo của Thí chủ không dễ gì ăn! Nếu không tu giải
thoát thì phải đầu thai trâu ngựa để trả nợ cho Thí chủ.
Hỏi:
Phiền
não rất nhiều, có phương pháp nào để tu giải thoát?
Đáp:
Một
kỹ sư rất thông suốt giáo lý tam thừa, cũng là nhà khoa
học. Một ngày y nói với tôi: Con phiền não rất nhiều, nghiệp
chướng nặng quá, thầy có cách nào dạy cho con bớt phiền
não?
Tôi
hỏi: Có phải phiền não của ông chăng?
Kỹ
sư đáp: Phải.
Tôi
hỏi: Phiền não của ông từ đâu có? Như tiền trong túi của
ông thì ông biết từ đâu mà có rồi!
Kỹ
sư nghĩ đi nghĩ lại một hồi nói không ra, tôi nói: Bây giờ,
ông khỏi nói, tôi nói cho ông biết, phiền não của ông là
do tâm ông suy nghĩ mà ra, tâm của ông là năng suy nghĩ, phiền
não là sở suy nghĩ, sở thì không phải năng, năng thì không
phải sở. Như ăn cơm, tôi là năng ăn, cơm là sở ăn. Vậy
tâm của ông không có phiền não, vì ông suy nghĩ nên mới
có.
Tâm
là danh từ không nói được, không có ai biết. Mặc dầu,
y là kỹ sư nhưng nói đến tâm lại mơ hồ, vì không có hình
thể, không có số lượng để nắm.
Tôi
mới thí dụ cái khác, ông có hai chân là năng đi, con đường
đầy gai gốc cứt sình là sở đi của hai chân, tại vì hai
chân của ông ham đi con đường đó nên bị dính cứt sình.
Rồi nói với tôi: “Cứt sình đó của tôi”.
Tôi
nói: Đâu phải! Cứt sình là sở đi của hai chân ông, rồi
nhờ tìm cách rửa hết cứt sình. Khỏi cần, thúi cách mấy
mặc kệ nó. Đừng có biết tới, chỉ cần hai chân của ông
không giẫm lên con đường đó thì không bị dính.
Như
tâm không suy nghĩ làm sao có phiền não, tại ông ham suy nghĩ
mới sanh ra phiền não. Cho nên, mình cần hỏi và nhìn, giữ
cái “không biết” làm sao có phiền não được? Tìm hiểu,
ghi nhớ đều ngưng hết làm sao có phiền não và nghiệp chướng?
Hỏi:
Ăn
chay mà ăn trứng gà công nghiệp có được không?
Đáp:
Trứng
gà không có trống là không có sanh mạng thì không có sát
sanh. Mục đích ăn chay là tránh sát sanh, trứng gà đó không
phải thịt, con gà đẻ trứng gà thì con gà vẫn còn sống,
nếu để trứng lâu ngày trứng cũng thúi hư. Vậy ăn trứng
gà đâu khác gì ăn cứt gà!
Để
biết gà có trống hay không trống, chỉ cần đem trứng gà
trước ngọn đèn thấy chấm đen thì trứng đó có trống,
còn không có chấm đen thì trứng đó không có trống.
Hỏi:
Ngài
có những chướng duyên nào trong lúc thiền định? Và khắc
phục như thế nào?
Đáp:
Tâm
là danh từ mà ai cũng nói được, nhưng tâm là cái gì thì
chẳng ai biết? Luôn cả Phật Thích Ca cũng không biết nữa!
Nếu Phật Thích Ca biết thì nó thành sở biết. Vừa rồi
tôi nói năng sở, ông có hiểu không?
Chân
tâm không phải sở biết, nên không bị ai phát hiện. Nếu
bị ai phát hiện thì nó thành sở, nên Phật chỉ nói “Tâm
như hư không” mà không thể giải thích.
Ngài
Long Thọ là Tổ 14 Thiền tông nói: “Tâm như hư không vô
sở hữu”, hư không vô sở hữu là không có hư không. Mặc
dầu không có hư không, nhưng nó dung nạp và ứng dụng. Như
mặt trời, mặt trăng, đất đai,… bất cứ cái gì, luôn
cả ông đều ở trong cái vô sở hữu này.
Vô
sở hữu này cũng là tâm của ông, nhưng tại ông không biết
lại cho là chướng duyên và không có chướng duyên! Aáy là
ông bị trúng độc tri chướng mới nói như thế đó! Kỳ
thật, vô sở hữu thì không có chướng duyên, vì ông có bệnh
chấp nên mới thấy có chướng duyên.
Vô
sở hữu là trống rỗng, trống rỗng thì không có chỗ trói
buộc tức là giải thoát. Đâu phải có sự trói buộc chướng
duyên để mở trói mà được giải thoát! Nó vốn không có
trói buộc, vì nó trống rỗng.
Ông
ở thế gian học hết lớp nào? Nếu học hết đại học thì
ông biết toán học. Định lý của toán không có số nhỏ
nhất và lớn nhất phải không? Không có số nhỏ nhất nên
vô thỉ (không có bắt đầu), nếu có số nhỏ nhất thì có
bắt đầu.
Toán
học là công cụ của khoa học, nếu không có toán học thì
không có khoa học. Toán học chứng tỏ là không có sự bắt
đầu, không có sự bắt đầu là nghĩa vô sanh tức là không
có sanh khởi, nếu có sanh khởi là có sự bắt đầu. Cho nên,
người chứng quả thì ngộ pháp vô sanh, cũng gọi là chứng
vô sanh pháp nhẫn.
Hỏi:
Có
phải Hòa thượng an trú trong cõi Thánh Tăng, còn con ở trong
phàm nhân?
Đáp:
Ông
cũng biết giáo lý, Phật tánh của mỗi chúng sanh đều bằng
nhau. Tôi hỏi ông thì trả lời ngay, đừng có suy nghĩ, trả
lời có hay không có, phải hay không phải.
-Ông
tin ông có Phật tánh không?
-Có
Phật tánh.
-Phật
tánh có giảm bớt được không?
-Giảm
bớt.
-Nếu
Phật tánh giảm bớt thì ông khỏi cần tu, vì tu rồi Phật
tánh vẫn còn sanh diệt! Tu là muốn hiện ra Phật tánh, Phật
tánh thì không thể tăng giảm, nó mới tồn tại vĩnh viễn.
Nếu Phật tánh giảm được thì sẽ hết, nó thành pháp sanh
diệt rồi, nên đâu phải là Phật tánh! Phật tánh là không
sanh không diệt tức là Niết Bàn.
Nếu
ông không hiểu Phật tánh thì những câu hỏi của ông đều
là dư thừa. Bây giờ, ông nói “Phật tánh không có tăng
giảm” là đúng rồi.
-Phật
tánh có gián đoạn không?
-Không
có gián đoạn.
-Đúng
rồi, nếu Phật tánh không gián đoạn thì bây giờ thần thông,
trí huệ, năng lực của ông bằng Phật Thích Ca. Vừa rồi
ông nhìn nhận Phật tánh không có gián đoạn thì hiện nay
ông đã là Phật, sao ông còn cho ông còn phàm phu! Phải mâu
thuẫn không?
Hỏi:
Thiền
là gì?
Đáp:
Thiền
không phải là gì, nếu là gì thì không phải thiền, thiền
là công cụ để dẹp loạn tâm, tức là đình chỉ vọng tâm.
Hỏi:
Tánh
thông là gì?
Đáp:
Thông
là trống rỗng, như hư không trống rỗng là thông, không có
chướng ngại.
Hỏi:
Thường
trụ Tam bảo là gì?
Đáp:
Thường
trụ Tam bảo gồm có: Tượng Phật thay cho Phật bảo, kinh
của Phật thay cho Pháp bảo, Tăng chúng thay cho Tăng bảo, Tăng
là hòa hợp chúng là từ 4 người thanh tịnh sắp lên mới
gọi là Tăng.
Hỏi:
Làm
thế nào để khai thác điều kỳ diệu của tâm?
Đáp:
Tham
Tổ Sư thiền như hỏi câu thoại đầu “khi chưa có trời
đất ta là cái gì?” là khởi lên niệm không biết, gọi
là tham thoại đầu; đồng thời khán là nhìn, nhìn chỗ không
biết, chỗ không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì
không có mục tiêu để nhìn, cho nên nhìn đi nhìn lại không
thấy gì vẫn còn không biết, cái vẫn còn không biết đó,
Thiền tông gọi là nghi tình.
Cứ
hỏi và nhìn một lượt 2 cái đi song song, đồng thời giữ
cái không biết đó được kéo dài, cái không biết này sẽ
đưa hành giả đến thoại đầu, rồi sẽ kiến tánh thành
Phật.
Hỏi:
Khi
tham thoại đầu, nhìn chỗ thùng sơn đen không đáy và đề
thoại đầu trong lúc lái xe đi đường, phải làm như thế
nào cho tương ưng như lúc ngồi ?
Đáp:
Mới
tập tham thiền mà chưa tự động nghi tình khởi lên, nên
ngưng tham thiền trong lúc lái xe hay làm việc, khi không có
việc gì thì mới tập tham thiền; tập quen trong lúc không
làm việc rồi, tự động trong lúc làm việc hay lái xe thì
nghi tình khởi lên, lúc đó không thấy xe cộ mà không bị
đụng xe.
Hỏi:
Chúng
con học Phật pháp và tham thiền làm sao không trở thành ngoại
đạo?
Đáp:
Phá
ngã chấp thì không thành ngoại đạo, vì ngoại đạo không
phá ngã chấp. Chánh pháp phá ngã chấp, như tham thiền điều
thứ nhất trong Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền là
“vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ”. Tất cả các pháp
môn khác của Phật dạy đều phải phá ngã chấp mới được
giải thoát.
Hỏi:
Sự
lợi ích của quy y Tam bảo là gì?
Đáp:
Quy
y Tam bảo là để cho mình có lòng tin. Tăng bảo là trực tiếp
đem Pháp bảo trực tiếp truyền dạy cho chúng sanh. Những
người đã quy y là đệ tử của Tam bảo, được sự giáo
hóa của Tam bảo, tu đúng theo lời Phật dạy được giải
thoát tự do tự tại vĩnh viễn.
Hỏi:
Tâm
là danh từ chỉ bản tánh, kể cả Phật Thích Ca không giải
thích được, nên con dùng “Tâm là cái gì?” làm câu thoại
đầu để tham. Vậy có được không?
Đáp:
Tâm
không có bản thể, ai cũng nói được, nhưng tâm là cái gì
thì không có ai biết. Vì bản thể trống rỗng, nên chỉ nói
là “Tâm như hư không vô sở hữu”. Mặc dầu, nói vô sở
hữu là không có nhưng có thực dụng, như nhà cửa, đất
đai, cây cối,… bất cứ cái gì đều phải nhờ vô sở hữu
này dung nạp và ứng dụng.
Chư
Phật chư Tổ dùng lời nói diễn đạt là muốn mình hiểu
theo ý. Vì vậy 49 năm thuyết pháp, cuối cùng Phật dạy pháp
môn Tổ Sư thiền để cho mình khởi nghi tình, tức là từ
nghi đến ngộ.
Tất
cả các công án là muốn cho người ta ngộ, không phải muốn
cho người ta hiểu. Mình cứ hỏi và nhìn để đạt đến
ngộ, tức là dùng cái không biết của bộ não để chấm
dứt tất cả biết của bộ não, cái biết của bộ não gồm
có tìm hiểu biết, suy nghĩ biết và ghi nhớ biết, 3 thứ
biết này hết thì đến thoại đầu.
Thoại
đầu là chưa khởi ý niệm, nếu có khởi ý niệm là thoại
vỉ. Tuy nói tham thoại đầu nhưng vẫn còn khởi ý niệm,
nên chưa phải đến thoại đầu. Bắt đầu tham thiền là
rời thoại vỉ, đang đi giữa đường đến thoại đầu.
Những
người tìm hiểu nghi tình là sai lầm lớn, vĩnh viễn không
đến thoại đầu được. Vì tham thiền là muốn chấm dứt
tìm hiểu, suy nghĩ và ghi nhớ; trái lại không chấm dưtù
mà tìm hiểu, muốn tìm hiểu nghi tình như thế nào là đại
nghi hay tiểu nghi? Vậy làm sao chấm dứt được cái biết?
Hỏi:
Có
người cho rằng: “Thời gian có tánh co giãn”, nghĩa này
như thế nào?
Đáp:
Thời
gian đâu phải vật chất mà có tánh co giãn! Đặt ra thời
gian là do cảm giác sai lầm của bộ não. Không gian, thời
gian, tất cả hiện tượng vũ trụ chỉ là cảm giác của
bộ não hiện ra. Bộ não là vọng tâm tạo ra, gọi là “nhất
thiết duy tâm, vạn pháp duy thức”.
Tâm
tạo thì không phải thật, không phải thật nên gọi là chiêm
bao. Có 2 thứ chiêm bao: Mở mắt chiêm bao và nhắm mắt chiêm
bao. Tôi đang nói và các vị đang nghe là mở mắt chiêm bao.
Chiêm bao thì không phải thật, không phải thật nên khỏi
cần tìm hiểu.
Nhưng
các vị đề ra câu hỏi, tôi lại giải đáp. Tại sao? Vì
tôi giải đáp là không phải cho hiểu giáo lý, mà muốn các
vị giải tỏa cái nghi để tăng thêm tin tự tâm. Nghi lý,
nghi sự, nghi pháp, nghi thầy, các vị có hỏi đều ở trong
5 thứ nghi này. Nếu còn nghi thì tin tự tâm chưa đầy đủ
100%, làm chướng ngại việc tham thiền, nên tôi mới cho các
vị hỏi.
Chỗ
thực tế như hư không vô sở hữu thì đâu có cái gì cao
siêu! Chư Phật chư Tổ muốn mình ngộ, chứ không muốn mình
hiểu, vì không có cái gì để hiểu. Chính cái hiểu đó làm
chướng ngại, gọi là lý chướng. Tức là có nghĩa lý thành
chướng ngại, tất cả hiểu biết của bộ não là sở tri
chướng.
Nhưng
hằng ngày mình phải dùng bộ não để ứng phó cuộc sống.
Nếu nói vậy mình khỏi sống sao? Không phải vậy. Mình sống
theo phương pháp do Phật dạy, như mình vì sự đói khát ăn
uống thì cứ ăn uống, chứ đừng suy nghĩ cái khác; vì che
thân chống lạnh cần mặc áo thì cứ mặc áo, chỉ cần đừng
nghĩ cái khác. Vậy đâu bỏ cuộc sống!
Mỗi
mỗi chức nghiệp làm theo vị trí vai trò của mình, nên cha
giữ đúng vai trò của cha, mẹ giữ đúng vai trò của mẹ,
con cái giữ đúng vai trò của con cái, chồng giữ đúng vai
trò của chồng, vợ giữ đúng vai trò của vợ, Tu sĩ giữ
đúng vai trò của Tu sĩ.
Vậy
mỗi mỗi giữ đúng vai trò của mình thì được an cư lạc
nghiệp, thiên hạ thái bình. Đâu phải mình bỏ nghề! Vẫn
sống bình thường, làm cái nghề gì thì cứ làm, chỉ cần
mình đừng có suy nghĩ bậy bạ, suy nghĩ cái khác.
Hỏi:
Từ
vô thỉ các loài hữu tình do đâu mà có?
Đáp:
Đã
là vô thỉ thì vô sanh rồi, công cụ của khoa học là toán
học, nếu không có toán học thì không có khoa học. Những
người nghiên cứu khoa học thì phải giỏi toán, nhưng định
lý của toán thì không có số cực nhỏ, tức là không có
bắt đầu, nên Phật Thích Ca gọi là “vô thỉ”. Không có
bắt đầu thì vô sanh là không có sự sanh khởi.
Tại
sao? Vì có sự sanh khởi phải có sự bắt đầu. Tại không
có bắt đầu thì không có sanh, nên người chứng quả ngộ
pháp vô sanh, gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn. Pháp vô thỉ
vô sanh mà sao còn hỏi nữa!
Hỏi:
Ngài
Triệu Châu nói: “Một chữ Phật không thích nghe”, nghĩa
đó như thế nào?
Đáp:
Vì
người ta chấp Phật, như Lâm Tế nói: “Gặp Phật chém Phật,
gặp ma chém ma”, tức là chém tâm chấp.
Nghĩa
chữ “Phật” là giác ngộ, không phải là một thần linh.
Nhiều người mê tín cho Phật là một thần linh, người nào
giác ngộ thì người ấy là Phật.
Hỏi:
“Duy
tuệ thị nghiệp” là gì?
Đáp:
Trí
tuệ này không phải trí tuệ của bộ não, mà là trí tuệ
của Phật tánh gọi là bát nhã. Trí tuệ của bộ não thì
phải qua suy nghĩ tác ý mới dùng ra được, còn trí tuệ của
bát nhã không qua bộ não suy nghĩ, nó tự động luôn luôn
khắp thời gian. Bây giờ mình học Phật là để phát huy trí
của Phật tánh, lấy cái đó để làm sự nghiệp.
Hỏi:
Con
đến tịnh Xá có vị sư hỏi con: “Ông từ đâu đến, rồi
sẽ về đâu”? Con ngơ ngác không hiểu. Xin Sư Phụ từ bi
khai thị?
Đáp:
Thì
ở nhà đến đây, chút nữa từ đây về nhà. Đó là việc
thế gian, tại sao không biết?
Chân
tâm của mình khắp không gian khắp thời gian, khắp không gian
không có khứ lai gọi là Như Lai. Đã không có khứ lai mà
còn hỏi đi về đâu? Người hỏi câu đó sai lầm thì đâu
cần phải trả lời!
Hỏi:
Khoa
học ngày nay có đưa ra lý thuyết, nếu có 2 người cùng 20
tuổi, một người lên phi thuyền bay bằng vận tốc ánh sáng
một năm, khi quay về thì 21 tuổi, còn người ở lại quả
đất thì 60 tuổi. Chúng con không hiểu nghĩa này như thế
nào? Như vậy thời gian có phụ thuộc vào lực từ trường
vận tốc đó không?
Đáp:
Theo
lý luận của Einstein: Vận tốc gần bằng ánh sáng thì quan
hệ không gian và thời gian có sự biến đổi, vật chất nó
càng biến nhỏ. Einstein nói: “Vật chất có thể biến thành
năng lượng, năng lượng có thể biến thành vật chất”,
nhưng tất cả năng lượng cũng phải có vật chất mới biến
ra năng lượng được.
Lực
học Thích Ca Mâu Ni ngoài vật chất biến ra năng lượng, còn
có năng lượng phát từ phi vật chất (không phải vật chất),
thuộc về phạm vi Tâm pháp, vật chất thuộc về sắc pháp,
vì thế nó không bị thời gian không gian hạn chế. Vì bây
giờ dùng cảm giác của bộ não thì mỗi mỗi có cảm giác,
nên có tranh cãi, vì người này cho thế này, người kia cho
thế kia.
Tất
cả nhà khoa học khắp thế giới đều công nhận định luật
của Newton là đúng. Nhưng sau này Einstein lật đổ lý luận
của Newton cho là không đúng. Tức là lý luận của nhà khoa
học A, tất cả nhà khoa học thế giới công nhận là đúng,
sau này nhà khoa học B phát minh cái mới lật đổ lý luận
nhà khoa học A cho là không đúng. Sau này nhà khoa học C phát
minh cái mới lật đổ nhà khoa học B cho là không đúng.
Cứ
lý luận sau lật đổ lý luận trước, định luật cho người
ta sau này lật đổ, vậy làm sao định luật đó đúng được?
Vì lập ra cái lý thì có thể bị lật đổ. Còn lực học
của Thích Ca Mâu Ni thì không có lý, nên không có cái nào
lật đổ được? Tại nó không có cái để lật đổ được.
Nó vốn trống rỗng không có gì hết thì lật đổ cái gì!
Trong
Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21: Năng lượng phát từ vật chất thì
Newton từ 0 đến 50, Einstein từ 0 đến 50 rồi 50 đến 100
là cùng tột. Vật chất nhỏ nhất gọi là quang tử là tổ
chức thành ánh sáng thì vận chuyển ánh sáng nhanh nhất, tức
1 giây đi 300.000 km là cao nhất.
Nhưng
năng lượng phát từ phi vật chất thì tốc độ ánh sáng
là thấp nhất. Chơn tâm của mình là phi vật chất. Phàm vật
chất thì có thể biến mất. Nhưng nhà khoa học cũng dẫn
chứng vật chất không có biến mất, nó chỉ chuyển biến
thôi, như nước mình dùng, nó vĩnh viễn còn hoài, số lượng
bao nhiêu vẫn còn bấy nhiêu, không có mất, các vật chất
khác cũng vậy.
Nó
chuyển biến là ảo tượng, cũng nói về không gian: Ánh sáng
đi một ngàn năm hay một triệu năm, như tâm mình chỉ một
niệm đến. vật chất thì có tốc độ nên có thời gian,
còn phi vật chất không có tốc độ nên phi thời gian. Nếu
không có thời gian làm sao nói là bao nhiêu tuổi?
Tại
vì có cảm giác chấp thật của bộ não, nên mới nói có
tuổi, tức là sanh cái lý thì phải có sự tranh chấp. Cuốn
Yếu Chỉ Trung Quán Luận phá tất cả tương đối, không có
cái gì để thành lập được. Hữu vi pháp, vô vi pháp đều
phá, vì không thể kiến lập nên gọi là vô thỉ vô sanh.
Pháp không thể kiến lập làm sao kiến lập cái lý cho là
cái tuổi có xê xích, thời gian có xê xích!
Cũng
như tương đối luận của Einstein nói về cảm giác của thời
gian, có thí dụ: Có ý trông chờ thì cảm thấy 1 ngày như
1 năm, như chơi với người yêu cảm thấy 1 ngày như tên bắn
(thấy rất mau), 3 năm thì giống như 1 ngày.
Thực
tế thì không gian và thời gian không thành lập được. Tại
sao? Căn cứ quả đất xoay xung quanh mặt trời là 1 năm bằng
365 ngày 4 giờ và mấy phút. Cho nên, dương lịch 4 năm phải
thêm 1 ngày. Người ta đem 1 ngày đêm chia ra làm 24 lần cho
là 24 giờ. 1 giờ chia làm 60 phút, 1 phút chia làm 60 giây, 1
giây nhà Phật chia làm 60 sát na. Sát na đó mình có thể tưởng
tượng được.
Nếu
đem chia 3 lần theo toán học, 1 sát na chia làm 60 A, 1 A chia
làm 60 B, 1 B chia làm 60 C. Tôi nói chưa dứt lời thì đã qua
hết bao nhiêu C rồi, tức là hiện tại không thành lập được.
Nếu tôi đem chia 30 lần, 300 lần, 3.000 lần thì con số vẫn
còn biểu thị thời gian đó, nhưng thời gian do con số biểu
thị đó, thực tế ra sao!
Tôi
chỉ chia 3 lần mà hiện tại không thành lập được, huống
là 30 lần, 300 lần, 3.000 lần! Con số vẫn còn, nhưng thời
gian làm sao nói? Bây giờ nói hiện tại cũng không được,
nói quá khứ cũng không được, nói vị lai cũng không
được. Quá khứ không thành lập, hiện tại không thành lập,
vị lai cũng không thành lập. Vậy tuổi thọ làm sao thành
lập?
Tôi
dùng toán là chứng tỏ đúng theo khoa học, vì toán là công
cụ của khoa học, muốn nghiên cứu khoa học thì phải giỏi
toán. Định lý của toán là không có số cực nhỏ, tức là
không có sự bắt đầu, cũng là nghĩa vô thỉ, vô sanh của
nhà Phật vậy. Nhưng những người si mê đó lại tìm bắt
đầu của vũ trụ, sanh mạng!
Như
nhà khoa học hạng nhất ở Luân Đôn dạy toán, ông có đề
ra 2 câu hỏi: Vũ trụ có bắt đầu chăng? (Muốn tìm bắt
đầu của vũ trụ). Con gà có trước hay trứng gà có trước?
(Muốn tìm bắt đầu của sanh mạng). Thực tế con gà có trước
không được và trứng gà có trước cũng không được, hai
cái đều không thể bắt đầu, tức là nghĩa vô sanh của
nhà Phật.
Mỗi
mỗi theo nhận biết của bộ não đều phải theo tương đối
mới có thể thành lập, chứ không thể độc lập được.
Tại mình có tư tưởng chấp thật, cha mẹ sanh ra mình đã
dạy mình chấp thật rồi, đi học ở trường thầy cô giáo
cũng dạy mình chấp thật, ra xã hội thì xã hội cũng dạy
mình chấp thật, nên chấp thật đã thành sẵn.
Nhưng
chấp thật không đúng với thực tế, vì không đúng thực
tế nên Phật mới phá, nên dùng hiểu biết của mình để
biết sự hiểu biết là không đúng.
(Giảng
tánh thấy kinh Lăng Nghiêm- trang 204)
Vì
tánh thấy là tâm pháp thuộc thể tinh thần, thể vật chất
là lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) sẽ chết mất;
còn lục thức thì tồn tại vĩnh viễn, không thể chết mất,
vì nó không lay động nên không có biến đổi.
Mấy
năm trước tôi đi nước Úc thuyết pháp đến chỗ này, có
một Phật tử hỏi tôi: Thầy nói tánh của con tồn tại vĩnh
viễn, không có chết mất. Vậy sau khi con chết thì tánh thấy
con ở đâu?
Tôi
nói: Bây giờ, tôi chưa chết, ông cũng chưa chết, chuyện
sau khi chết làm sao nói được? Ông ngồi đây cùng nhiều
người và bàn, ghế, bình, tách,… có phải do tánh thấy của
ông thấy không?
Ông
ấy đáp: Phải.
Tôi
hỏi: Vậy ông còn sống hãy tự chỉ ra tánh thấy của ông
ở đâu?
Ông
ấy ngó qua ngó lại chỉ không ra. Tại sao chỉ không được?
Vì cùng thấy một lượt, cũng như 100 người cùng thấy một
lượt, nếu chỉ tánh thấy ở người này thì 99 người kia
không có tánh thấy. Vậy làm sao chỉ một lượt? Đâu phải
thấy người này, rồi đến người kia, thấy từng người
rồi mới chỉ được?
Nếu
chỉ ra được thì tánh thấy chỉ có tiếp xúc một người,
còn 99 người kia không có tiếp xúc.Vậy làm sao tiếp xúc
thấy một lượt? Cho nên có chỗ thì không cùng khắp, vì
tánh thấy cùng khắp nên không có chỗ để chỉ.
Cùng
khắp không gian thì không có chỗ để chỉ, cùng khắp thời
gian thì không có lúc để chỉ. Nếu có lúc để chỉ thì
không cùng khắp thời gian, có chỗ để chỉ thì không cùng
khắp không gian. Nhưng tất cả tâm pháp của mình (tánh thấy,
tánh nghe, tánh ngửi, tánh xúc, tánh nếm, tánh biết) đều
cùng khắp không gian và thời gian.
Hỏi:
Tổ
Trúc Lâm nói: “Đói thì ăn, buồn ngủ thì ngủ”, và Linh
Chiếu cũng nói: “Đói thì ăn, buồn ngủ thì ngủ”. Vậy
ý trên như thế nào?
Đáp:
Vũ
Trụ Quan Thế Kỷ 21 nói: “Tất cả đều là Phật pháp”
và không dùng 2 chữ “cho là”, tức thế lưu bố tưởng
không sanh ra trước tưởng là Phật pháp. Nếu sanh ra trước
tưởng là thế gian pháp điên đảo tưởng, vì có cho “cho
là”, cho là đúng, cho là sai, cho là có, cho là không,… đều
thuộc chủ quan của mình xen vào sự vật.
Nếu
không có chủ quan thì đói cứ ăn, khát thì uống, lạnh mặc
thêm áo, nóng cởi bớt ra. Tất cả ăn uống, nói năng, tiếp
khách, làm việc đều là Phật pháp. Còn sanh trước tưởng
thành điên đảo tưởng (kinh Đại Niết Bàn).
Lời
tác bạch của Thượng tọa Minh Hiền đại diện cho hành giả
tham Tổ Sư Thiền dự Thiền thất tại chùa Hưng Phước, Quận
3.
Nam
mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ngưỡng
bạch Hòa thượng viện chủ chùa Hưng Phước.
Ngưỡng
bạch Sư Phụ.
Con
xin thay lời hành giả tham Tổ Sư thiền, ngưỡng bạch Hòa
thượng và Sư Phụ. Vì sự cần cầu tu tập của chúng con,
Hòa thượng đã từ bi cho chúng con tu tập thời gian qua, trong
khi chúng con tham thiền có điều gì sơ sót, ngưỡng mong Hòa
thượng từ bi cho chúng con được sám hối. Và Sư Phụ tuổi
già sức yếu, vì thương tưởng chúng con mà khai thị để
cho chúng con trên đường tu tập được lợi ích. Vậy chúng
con hôm nay xin đầu thành đảnh lễ Hòa thượng và Sư Phụ.
Nam
mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ngưỡng
mong Hòa thượng và Sư Phụ chứng minh cho.
Lời
đáp từ của Hòa thượng viện chủ chùa Hưng Phước.
Nam
mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
-Ngưỡng
bạch Hòa thượng Thiền sư.
-Kính
thưa Đại đức Tăng Ni và đạo hữu hành giả Thiền thất.
Chúng
tôi hết sức hoan hỷ, bởi vì từ xa xôi cũng nghĩ nhớ đất
nước là nói chung, nhớ đến Phật tử nói riêng, Hòa thượng
cũng có quan tâm về đây, có những hoàn cảnh điều kiện
họp các Phật tử lại sinh hoạt về tu tập thiền định,
rồi chúng ta thực hiện, như vậy đã qua 3 thiền thất. Chúng
tôi hết sức cảm kích với tinh thần cao cả truyền pháp
của Hòa thượng hết sức cao quý.
Cho
nên, tôi nghĩ rằng công đức này, các Phật tử chúng ta ghi
tâm khắc cốt, riêng chùa của chúng tôi thì thấy quá nhỏ
chật hẹp, những chỗ nghĩ ngơi và chỗ ăn uống chưa được
chu đáo. Nghĩ rằng vì tánh chân tình mến mộ Phật pháp mà
quý vị quan tâm thực hiện được 3 thiền thất. Như vậy
tôi nghĩ công đức này hết sức lớn lao, vì mỗi ngày chúng
ta tu hành như thế! Chư Phật long thần hộ pháp hết sức
hoan hỷ và ghi nhận công đức của chúng ta.Việc chùa thiếu
thốn như vậy, các vị cũng niệm tình hoàn cảnh, vì đạo
pháp mà bỏ qua cho những gì thiếu sót.
Chúng
tôi kính chúc Hòa thượng được nhiều sức khỏe và tăng
cường đạo lực, trí tuệ được trang nghiêm, cũng cầu chúc
cho Tăng Ni và Phật tử trong lớp tu thiền của chúng ta được
đạt nhiều kết quả và tạo những thắng duyên sau khi lâm
chung thị hiện Niết Bàn.
Và
một lần nữa gởi đến lời cầu chúc gia đình quý vị được
an khang, tu hành tinh tấn mau gặp được Phật pháp, để hổ
trợ chúng ta trong việc tu hành được nhiều kết quả.
Nam
mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.