[04] 27/04/93–03/05/93
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Nhất
niệm vô minh và vô thỉ vô minh
Có
thể niệm một câu thoại lần một hạt chuỗi ?
Tu
sĩ không tin tự tâm, không tin Phật là Nhất-xiển-đề
Tụng
kinh, bái sám chẳng phải việc cần của Tu sĩ
Thoại
đầu đề không khởi
Tham
thiền có phải vọng tưởng không?
Thế
nào “Thế giới rộng một trượng thì gương xưa rộng một
trượng?
Bát
nhã vô tri
Chí
đạo vô nan, duy hiềm giản trạch
Phát
chơn nghi
Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức, tức tâm tức Phật
Bổn
lai vốn chẳng vô nhất vật
Bắt
đầu tham thiền là nhập Hạ, đến khi kiến tánh mới giải
Hạ.
Các
Phật sự cứ làm, chỉ đừng quên tham thoại đầu
Kiến
tánh rồi đi về đâu
Sao
người kiến tánh chỉ gọi là Tổ, không gọi là Phật?
Tham
thiền có cần tụng giới không?
Tội
Ba La Di bằng tội tử hình của thế gian
Tánh
giới và giá giới: Tội nhân quả chẳng thể sám hối diệt
tội
Thiền
tông tại sao chú trọng chuyển ngữ?
Ngôi
học còn dính bụi
Tịnh
khẩu có lợi ích gì?
Giới
luật: Người chưa thọ giới không được cử tội người
phạm giới Ba-la-di
Tự
tánh tùy dụng lập danh
Sự
dụng của chư Phật với chúng sanh chẳng khác
Dùng
hương bảng đánh người có tội không?
Hỏi:
Hành giả tham Thiền rất mong có một nơi yên ổn để tu mà
không xen lẩn Tịnh Độ. Nay có người muốn hiến mảnh đất
nhỏ để tạm lập Thiền đường cho chúng về tu trong khi
chờ đợi Sư phụ xây thiền đường, vậy có được không?
Đáp:
Được thì được, nhưng nếu hành giả có ý nghĩ như thế
thì không được. Sự tu phải ở trong hoàn cảnh khó khăn
mà tu được mới mau kiến tánh, tu trong cảnh thuận lại khó
hơn. Cho nên, người tu chỉ sợ cảnh thuận, không sợ cảnh
nghịch; cảnh thuận tự mê lúc nào không hay, cảnh nghịch
mới khuyến khích cho sự tu. Tục ngữ có câu “phú quí học
đạo nan,” người giàu sang học đạo càng khó hơn.
Nay
có nhiều nơi muốn hiến đất, hiến chùa cho tôi, tôi không
chịu nhận, nhiều người lại muốn tự lập chùa tư của
mình. Chánh pháp phải phá ngã chấp, điều kiện trước tiên
của pháp môn Tổ Sư Thiền là vô sở cầu, vô sở đắc,
vô sở sợ, nay nổi ý muốn cầu một chỗ yên ổn để không
bị quấy nhiễu cũng chẳng dễ, vì nếu không phá được
ngã chấp thì chỗ nào cũng khó, đã có sẵn ngã chấp như
thế làm sao kiến tánh? Chớ nói là ở chỗ đông người,
chỉ có hai người là đã có tranh chấp rồi. nếu là người
chơn tu thì bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn nào cũng tu được.
Hỏi:
Đối với những nơi bận rộn thì nói không thể tu, tại
sao đối với những nơi chẳng bận rộn cũng không thể
tu? Ấy có phải chính mình lừa gạt mình không?
Đáp:
Bây giờ hãy cùng nhau nghiên cứu chữ TU, tu là tu cái gì?
Nếu nói theo tự tánh thì vô tu vô chứng. Tại sao? Tôi hỏi
quí vị:
Phật
tánh có thể gián đoạn không?
Không.
Phật
tánh có thể giảm bớt không?
Không.
Khi
tôi hỏi thì quí vị đều biết trả lời như thế, vậy đã
sẵn sàng rồi, đâu phải do tu mới đầy đủ Phật tánh !
Đã đầy đu,û không giảm bớt, gián đoạn, đang hiện hành
đây, cho nên, đến cuối cùng mới biết chẳng phải do tu
chứng. Vì thế, trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận nói “Vô
thượng Bồ đề là qui vô sở đắc.”
Nhưng
cuộc sống hằng ngày của chúng ta lại nghịch với Phật
tánh của mình, cho nên mới có ý niệm cần tìm một nơi vắng
lặng để tu, ấy là cái vọng. Phật tánh bất cứ ở nơi
nào cũng chẳng thêm bớt, tức yên ổn rồi, đâu phải do
tu mới được như thế !
Hỏi:
Phật tánh không thêm bớt, nhưng chính trong lòng chúng con có
tăng giảm thì sao?
Đáp:
Đó là do mình ham suy nghĩ tìm hiểu, Phật tánh đâu cần suy
nghĩ tìm hiểu? Những suy nghĩ tìm hiểu đó chẳng phải Phật
tánh, trong Phật tánh chẳng có những thứ đó. Cũng như tôi
thí dụ hai chân vốn không có cức sình, tại ham đi con đường
cức sình nên bị dính mắc, rồi cho cức sình đó là
của mình, cần phải rửa sạch ! Chỉ cần hai chân
không dẫm lên con đường đó là được rồi !
Cũng
có người nói “nếu không đi lên con đường đó, đâu còn
đường để đi?”
Phật
dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn là tám mươi bốn ngàn con
đường, tại sao không chịu đi? Lại đổ thừa rằng “Sao
chẳng giúp cho tôi phương tiện để không dính mắc cức sình.”
Tại ham đi mới bị dính mắc, chứ đâu có phương tiện gì
!
Chơn
tâm của mình luôn trong sạch, chẳng phiền não vọng tưởng,
cũng chẳng có nghiệp chướng, do tâm suy nghĩ mới
có phiền não nghiệp chướng. Chữ TU của con người là vì
đi trên con đường có cức sình, nhưng chỗ có chỗ không,
chẳng phải đầy khắp con đường, nên phải tránh chỗ có,
đi chỗ sạch, rồi nói “tránh cức sình là tu,” hoặc vừa
đi vừa rửa, đi một đoạn rồi dừng lại rửa … Thôi thì
bỏ con đường đó, đi con đường khác, khỏi cần rửa, khỏi
cần tu, đâu cần đi một đoạn dừng lại rửa !
Hỏi:
Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, chỉ do một niệm vô
minh bất giác thành chúng sanh, vậy tu để làm gì?
Đáp:
Trong Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô lão tử diệc vô lão tử tận,”
vốn chẳng già chết, do sự cảm giác sai lầm cho là có sanh
tử, nên phải tu để giải thoát sanh tử, gọi là Niết bàn.
Thật ra, như Kinh Viên Giác nói “Tất cả chúng sanh đều
đã thành Phật,” Ngoài ra, Đức Phật còn dẫn chứng
thêm với thí dụ quặng vàng:
-
Trong quặng, vàng đã thành sẵn, chỉ là lẩn với đất cát
tạp chất,, nay luyện bỏ đất cát thì vàng thiệt hiện ra.
Nếu trong quặng không có vàng sẵn thì dù luyện thế nào
cũng đâu có?
Ấy
là lời thí dụ phương tiện của Phật, Phật tánh không thể
giảm bớt gián đoạn, thì bây giờ cũng đã sẵn, chỉ đừng
nổi lên tâm này tâm kia như: Muốn tu thành Phật, muốn bỏ
vọng tưởng, muốn trừ nghiệp chướng, chứng Bồ đề…
vì những thứ đó ở trong Thiền tông đều gọi là vọng
tưởng.
Do
vọng tưởng của sư đang suy nghĩ, nên mới có câu hỏi này.
Chính câu hỏi đã là vọng, nếu tôi giải đáp theo sư thì
câu trả lời cũng sai theo. Nay tham thiền cứ nhìn vào chỗ
chưa nổi một niệm nào hết. Chính do tâm mình cứ nổi lên
niệm này niệm kia, nên trong cuộc sống hằng ngày đều ở
trong nhất niệm vô minh.
Ngài
Nguyệt Khê giải thích thế nào là nhất niệm vô minh: Cho
cái tách này là tách, cũng là nhất niệm vô minh; cho cái bình
này là bình, cũng là nhất niệm vô minh; cho Phật tánh là
Phật tánh, cũng là nhất niệm vô minh; cho chúng sanh là chúng
sanh, cũng là nhất niệm vô minh… chẳng có niệm nào không
nằm trong nhất niệm vô minh.
Khi
chưa khởi một niệm nào, gọi là vô thỉ vô minh. Khi nào
hết nhất niệm vô minh, chẳng còn một niệm nào là lọt
vào vô thỉ vô minh, cũng gọi là thoại đầu, cũng gọi đầu
sào trăm thước, phải từ đầu sào trăm thước tiến thêm
một bước, tư tưởng không còn, mới là triệt để, mới
được gọi là kiến tánh.
Phật
nói “Phàm là lời nói đều không có nghĩa thật,” cho nên,
câu trả lời của tôi cũng là nhất niệm vô minh, nay dẫu
cho bỏ hết nhất niệm vô minh, cũng còn lọt vào vô thỉ
vô minh.
Hỏi:
Vậy theo Sư phụ, muốn bỏ là phải dứt niệm?
Đáp:
Vốn đã sẵn sàng, khỏi cần bỏ, do Sư muốn bỏ cái này
lấy cái kia, nên tôi bảo bỏ, nếu không muốn lấy thì đâu
cần bỏ !
Hỏi:
Sư phụ nói dùng cái không biết chấm dứt tất cả biết,
vậy sao Sư phụ biết nhiều thế? cái biết của Sư phụ là
cái biết của bộ não hay cái biết của Phật tánh?
Đáp:
Cái biết của tôi là muốn chấm dứt cái biết của ông,
chứ chẳng phải có chỗ sanh khởi. Chẳng có chỗ sanh khởi
mới gọi là vô thỉ, cũng là nghĩa vô sanh. Thật ra, bất
cứ cái gì, luôn cả Phật tánh đều chẳng thể có cái lý
sanh khởi, tức không có lý bắt đầu, nên Phật nói vô thỉ.
Theo
người đời, nếu đem những việc không mà nói thành
có, ấy là nói dối, nói bậy; phải không? Vậy nếu có sự
bắt đầu thì phải từ chỗ không biến thành có; nếu bắt
đầu từ chỗ có thì chỗ có đó đã là bắt đầu rồi !
Nếu từ chỗ không mà sanh ra có, thì hiện nay chúng ta đâu
cần tu ! Vì từ không có Phật có thể sanh ra Phật, vậy đâu
cần tu ! Chính không có sự sanh khởi, nên người chứng
quả gọi là ngộ pháp vô sanh, vì không có cái lý sanh khởi,
nên Phật nói vô thỉ.
Hỏi:
Có một vị hành giả tánh hay quên, cứ đề câu thoại đầu
lên rồi quên mất, vậy có thể niệm một câu thoại lần
một hạt chuỗi được không?
Đáp:
Không được. Nếu lần chuỗi quen rồi, sau này không có xâu
chuỗi là không tham được. Vã lại, lúc làm công việc không
có xâu chuỗi thì không tham sao ! Lúc đầu chưa quen thoại
đầu, có thể nhìn vào tờ giấy, cứ niệm cho quen rồi mới
tham.
Hỏi:
Con tin pháp môn tham Thiền 100%, nhưng sao con không thể tin tự
tâm?
Đáp:
Vậy cô tin lời Phật không? Đức Phật nói tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh, tin không?
Hỏi:
Lúc trước thì con tin, sao bây giờ con không tin nỗi !
Đáp:
Vậy làm sao nói là tin lời Phật? Làm sao gọi là tin pháp
môn? Vì pháp môn là do Phật truyền, và người không tin lời
Phật là Nhất-xiển-đề ! Bất cứ pháp môn nào, thế gian
hay xuất thế gian, ngay từ ban đầu phải có chữ TIN đi trước,
nếu không tin làm sao thành tựu được? Nay nếu cô đã không
tin lời Phật thì chẳng những phải bỏ pháp môn này, mà
luôn cả đạo Phật cô cũng phải bỏ, chẳng thể tiếp tục
mặc áo tu sĩ nữa.
Hỏi
: Bạch Sư phụ, vậy có cách nào không?
Đáp:
Chỉ có cách lột áo Cà sa ra, không theo đạo Phật nữa. Ngoài
ra chẳng còn cách khác.
Hỏi:
Con ở trong chùa Tịnh độ, mặc dù theo pháp môn Tổ sư Thiền,
nhưng ở chùa phải theo chúng tụng kinh, bái sám, đi đám,
vì việc này cũng cần cho Tu sĩ. Cho nên, sự tham của con không
được liên tục,, những lúc con đang công phu, lại xen lẫn
những câu kinh kệ nổi lên, khiến công phu chẳng đắc
lực, vậy có cách nào không?
Đáp:
Sư nói tụng kinh, bái sám, đi đám là việc cần cho Tu sĩ,
ấy là sai. Đó chỉ do người đời sau bày đặt ra, thời
Phật đâu có ! Sở dĩ công phu chưa được, là vì công việc
hằng ngày đã quen, còn câu thoại đầu thì mới lạ, nên
cứ bị xen lẫn. Nên ngài Lai Quả nói phải tập dần, hễ
thoại đầu quen được một ngày, thì cái kia sẽ lạ đi một
ngày.
Nay
thí dụ bằng con số: Những cái kia là số một triệu, thoại
đầu chỉ là số một; thoại đầu quen dần thì cái kia phải
bớt, khi thoại đầu lên đến một triệu thì cái kia sẽ
hết.
Hỏi:
Xin Sư phụ chỉ cách cho con tin tự tâm triệt để?
Đáp:
Nay tôi hỏi cô: Có Phật tánh không?
- Dạ có.
- Phật tánh có gián đoạn không?
- Dạ không.
- Phật tánh có thêm bớt không?
- Dạ không.
Đáp:
Nếu Phật tánh không gián đoạn thêm bớt, thì Phật tánh
của cô, thần thông trí huệ đầy đủ bằng Phật Thích Ca,
đang hiện hành, chỉ là cô ứng dụng hằng ngày mà chẳng
tự biết, còn của Phật thì khắp không gian thời gian, chẳng
chỗ nào không biết, chẳng lúc nào không biết. Chỉ xê xích
như vậy thôi.
Hỏi:
Nhưng tại sao có lúc công phu của con rất tiến bộ, có lúc
lại thối lui?
Đáp:
Thế nào gọi là tiến bộ, thế nào gọi là thối lui?
Hỏi:
Lúc con mới bắt đầu tập tham, đề câu thoại đầu lên;
lại có một lúc công phu đề mãi không lên, bị thối lui
hoài.
Đáp
: Ngài Lai Quả trong Thiền Thất Khai Thị Lục nói, công
phu của Ngài đôi khi đề lên không nỗi trong vòng một –
hai ngày, nhưng đề không lên cũng phải đề, chẳng có nghi
tình cũng phải đọc, vì nghi tình là dấu hỏi, đọc mãi
thì nghi tình sẽ có trở lại, ấy cũng chẳng phải là lui
sụt.
Hỏi
: Cuộc sống hằng ngày là sống trong vọng tưởng, vậy
tham thiền có phải vọng tưởng không?
Đáp
Tại sao cô nói cuộc sống hằng ngày là sống trong vọng tưởng?
Mới vừa nói Phật tánh đang hiện hành, thì Phật tánh đâu
phải vọng tưởng? Vọng tưởng của cô xuất phát từ chỗ
nào?
-
Từ ý thức phân biệt.
-
Ý thức phân biệt xuất phát từ chỗ nào?
-
Không biết.
Đáp:
Nếu không biết thì tại sao biết hằng ngày sống trong vọng
tưởng? Nếu không biết tức không vọng tưởng. Vọng tưởng
của cô chỉ là sở biết, sở suy nghĩ của tâm cô; sở là
ở ngoài tâm, chẳng phải của cô, còn tâm của cô, tức năng
suy nghĩ, năng biết đó, mới là của cô, chẳng có vọng
tưởng.
Nói
cuộc sống hằng ngày là sống trong tâm thì được, nói sống
trong vọng tưởng là không thể được, nhưng vì tâm chẳng
hình tướng số lượng, nên chẳng thể tự thấy biết. (Sư
phụ dẫn dụ về hai chân dính cức sình, lược qua).
Hỏi:
Ngày thường chúng con ở chùa vẫn tu, đến kỳ Thiền thất,
chúng con cứ vẫn tu tại chùa hay đến dự Thiền thất? Dự
Thiền thất có tốt hơn không?
Đáp:
Dĩ nhiên là dự thiền thất tốt hơn, đông người khích lệ
lẫn nhau, lười biếng không được, cũng như Tu sĩ sống
trong chúng tốt hơn một mình ở cốc riêng. Việc tu là việc
của mình, mọi người đến dự là vì sự sanh tử của mình,
chứ chẳng phải vì Thiền thất.
Chữ
tu là sửa đổi hành vi của mình. Như tôi vừa nói, đường
gai gốc cức sình không nên đi, pháp môn dạy của Phật là
những con đường trong sạch nên đi.
Hỏi:
Thế nào là Nghĩa Khẩn - chánh - miên mật – dung hoát của
ngài Bác Sơn?
Đáp:
Khẩn là thống thiết vì sanh tử, Chánh là đúng với tông
chỉ “vô sở cầu, vô sở đắc, vô sở sợ”của Thiền
tông, Miên mật là vừa nhìn vừa hỏi câu thoại đầu, chẳng
có gián đoạn, chẳng kẻ hở cho phiền não nổi lên; Dung
là dung thông, Hoát là trống rỗng, là chỗ thoại đầu chẳng
một niệm sanh khởi. Hễ nổi lên một niệm, bất cứ biết
cái gì; dù là biết Phật, biết Bồ tát vẫn là không dung
hoát, nổi lên một niệm “không biết”cũng là không dung
hoát.
Hỏi:
Thế nào là “thế giới rộng một trượng thì gương xưa
rộng một trượng; gương xưa rộng một trượng thì lò lửa
rộng một trượng”?
Đáp:
Ấy là nghĩa tất cả đều bằng nhau, cũng là nghĩa bất nhị.
Hễ một chơn thì tất cả đều chơn; một giả thì tất cả
đều giả, nhưng không có chơn cũng không có giả.
Hỏi:
Có người nói “Bát nhã vô tri”là chẳng sanh tâm phân biệt,
kể cả việc thiện việc ác, kể cả dùng những thức ăn
dơ bẩn mà chẳng thấy ghê tởm, phải không?
Đáp:
Nói như thế đã là phân biệt rồi! Hễ nổi lên một niệm
đã là chẳng phải, huống là nhiều niệm ! Tham thiền nói
“nhìn”là nhìn chỗ một niệm chưa sanh khởi, nói “tham”cũng
là tham chỗ một niệm chưa sanh khởi. Bây giờ lại nổi niệm
cho là làm việc thiện việc ác, ăn đủ thứ dơ bẩn … Thiền
tông nói: “Ăn gậy của Diêm La Vương thì có phần của ông
!”
Hỏi:
Vị đó còn dẫn chứng những việc làm của Hòa thượng Tế
Điên, cho làm như thế là giải thoát tự tại?
Đáp:
Có dẫn chứng đều là sai. Như Phật nói “phàm là lời nói
đều chẳng có nghĩa thật,” “Ai nói Như Lai có thuyết pháp
là phỉ báng Phật,” “Vô pháp khả thuyết mới gọi là
thuyết pháp”…, những lời trên sao ông đó không dẫn chứng?
Nay
bất cứ dẫn chứng cách nào đều là niệm, đều có sanh
khởi, Phật nói vô thỉ, cũng là nghĩa vô sanh. Nếu có sanh
khởi tức có bắt đầu, nhưng bất cứ dùng nghĩa lý cao siêu
nào cũng chẳng thể thành lập lý bắt đầu, nên nói vô sanh.
Trước
kia tôi có giảng cuốn Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, Tịch
là phủ định, là quét sạch, phàm có nghĩa giải đều không
đúng. Do người đời dẫn chứng cuốn Tín Tâm Minh để luận
đàm, nghịch với ý chỉ Tín Tâm Minh, tức phỉ báng Tổ Tăng
Xán, nên ngài Trung Phong mới viết bài Tịch Nghĩa Giải. Vì
con người ham nghĩa giải, nên ở Nhật có cuốn Thiền Học
Đại Thành, chỉ trích ra các đoạn nghĩa giải, còn phần
tịch nghĩa giải thì không in ra, ấy là nghịch với ý của
Tổ vậy.
Ví
dụ: Câu đầu tiên của bài Tín Tâm Minh là: “Chí đạo vô
nan, duy hiềm giản trạch.”
Nghĩa
giải rằng: Chí đạo là tự tánh, tức đạo cùng tột của
Phật tánh. Muốn đạt đến đạo cùng tột của Phật tánh
chẳng phải là khó, chỉ do lựa chọn nên mới thành khó.
Trên đây là giải thích theo mặt chữ.
Bốn
câu kệ kết thúc của ngài Trung Phong:
Chí
đạo chớ nên chê lựa chọn,
Chớ
cho lựa chọn đọa phàm tình.
Cần
phải đâm mù mắt mẹ đẻ,
Ban
ngày đốt đèn đọc bài Minh.
Đâu
có gì để cho giải thích suy nghĩ ! Nay tôi đang dịch cuốn
Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải, sau này xuất bản, để cho quí
vị thấy được bản lai diện mục của Tín Tâm Minh.
Hỏi:
Tham Thiền Cảnh Ngữ nói “Khi nghi tình phát khởi, tương
ưng với lý pháp thân,” tại sao lại phải cắt đứt mạng
căn?
Đáp:
Tham Thiền Cảnh Ngữ nói “phát chơn nghi”tức đến được
thoại đầu, mới là phát chơn nghi, chưa đến thoại đầu
là chưa phát được nghi tình. Sự thật, nếu công phu đến
thoại đầu thì câu thoại tự mất. Còn nói đến pháp thân
thì người nào cũng đầy đủ pháp thân, đâu có mất, đâu
có ngưng? Vì con người ham dùng tâm suy nghĩ so đo, cho là phải
như vậy và chẳng phải như vậy, tức tự làm ra dây trói
buộc mình. Cho nên, phải nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh
khởi.(Sư phụ giảng về cuộc sống trong nhất niệm vô minh,
xem trang 57 .)
Hỏi:
Giáo môn nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức biến hiện,”
còn Thiền tông nói “Tức tâm tức Phật,” hai nghĩa này
có giống nhau không?
Đáp:
Không khác. Có người hỏi Mã Tổ, Tổ trước thì đáp “Tức
tâm tức Phật,” sau thì nói “Phi tâm phi Phật,” rồi một
vị Tăng hỏi: “Sao trước nói tức tâm tức Phật, sau nói
phi tâm phi Phật?”Mã Tổ trả lời: “Vì muốn gạt cho con
nít nín khóc.”
Bây
giờ nói muôn pháp duy tâm hay muôn pháp duy thức cũng vậy.
Trong
Phật tánh của mình tất cả đều sẵn sàng mà không có mấy
thứ này, do con người bày ra những thứ này mới che khuất
Phật tánh, gọi là “ứng dụng hằng ngày mà chẳng tự biết.”
Vì đã dùng cái biết của nhất niệm vô minh, thì làm sao
hiển bày cái biết của Phật tánh !
Hỏi:
Khi con nhìn vào chỗ không biết, thì rõ ràng là “bổn lai
vô nhất vật,” chẳng có vọng tưởng, cũng chẳng có vọng
niệm, phải không?
Đáp:
Không phải. Bất cứ thấy cái gì đều không phải. “Bổn
lai vô nhất vật”của Lục Tổ là để phá bài kệ của
Thần Tú, chứ bổn lai vốn chẳng phải vô nhất vật,
cũng chẳng phải hữu nhất vật. Hữu vô là tương đối,
cái bổn lai chẳng phải tương đối; đã có một niệm thấy
“bổn lai vô nhất vật”là niệm đã biết rồi, chứ chẳng
phải là không biết.
Hỏi:
Hàng xuất gia chúng con cứ mỗi năm nhập Hạ thì được một
tuổi Hạ, vậy tuổi Hạ này ai chứng minh cho chúng con?
Đáp:
Đâu cần ai chứng minh, vào kiết Hạ đã là chứng minh rồi!
Sở dĩ nhập Hạ là vì trong mùa Hạ có nhiều côn trùng ở
trên đường, nếu chúng ta đi, dễ đạp nhằm chúng khiến
sát sanh. Lại nữa, mùa Hạ ở Ấn độ quá nóng bức, bất
tiện cho việc đi khất thực. Do nhiều nguyên nhân, nên Đức
Phật cho ba tháng hạ cấm túc, ấy là thích ứng ở Ấn độ,
nhưng vì Phật đã cho thực hiện như thế, đã ghi vào giới
luật thì nơi khác cũng thực hiện theo.
Hỏi:
Vậy tham Tổ Sư Thiền không nhập Hạ thì không có tuổi hạ
ư?
Đáp:
“Hạ”cũng là tuổi Lạp, thọ giới được một năm thì
được một tuổi hạ. Tất cả Tu sĩ đều phải nhập Hạ,
cũng có một số du Tăng ngày thường đi khắp mọi nơi, không
tụ tập một chỗ, chỉ có ba tháng Hạ là tụ chúng chuyên
tu, bắt buộc phải tu trong ba tháng Hạ, ấy cũng là một việc
hữu ích để nhắc nhở cho sự tu.
Hỏi:
Con tưởng là phải nhập Hạ rồi mới có tuổi hạ?
Đáp:
Nếu là người chơn tu thì ngày nào cũng như ngày nấy, suốt
năm đều là Hạ. Cũng như hành giả tham Thiền, chẳng phải
chỉ có chín mươi ngày là Hạ, Tổ sư nói “Ngay từ bắt
đầu tham là nhập Hạ, đến khi kiến tánh mới giải Hạ.”
Nếu chưa kiến tánh thì chưa giải Hạ.
Hỏi:
Con vốn chuyên tu niệm Phật trì chú, cũng tham thiền “Lục
Diệu pháp môn”do Thượng Tọa Thanh Từ hướng dẫn, nhưng
cũng gặp những chướng ngại về sự ma chay do nhu cầu của
Phật tử xin tụng kinh bái sám. Vậy không biết khi thực hành
theo Pháp môn Tổ Sư Thiền, có gặp phải những trở ngại
như trên không?
Đáp:
Các Phật sự cứ việc làm, bất kể làm nghề nghiệp gì
cứ làm, trong lịch sử Thiền tông, ông vua kiến tánh vẫn
làm vua, Thừa tướng kiến tánh vẫn làm Thừa tướng, bộ
trưởng, tỉnh trưởng, cho đến bà cụ tay bưng vai gánh, bán
rong ở ngoài đường, kiến tánh rồi vẫn y như cũ. Làm nghề
tụng kinh cứ tụng kinh, nhưng đừng quên thoại đầu, đừng
cho nghi tình gián đoạn là được, chẳng có gì trở ngại.
Hỏi:
Kiến tánh rồi đi về đâu?
Đáp:
Phật tánh của tất cả chúng sanh, người nào cũng cùng khắp
không gian thời gian, đã cùng khắp thì đâu thể chỉ ra? Khi
đã kiến tánh rồi, đâu còn đi về đâu? Có “đi về
đâu”ắt chưa cùng khắp. Ví như người đời luyện tập
thần thông, từ đây bay qua Mỹ cần năm phút, nhưng đó chẳng
phải thần thông sẵn có của Phật tánh. Thần thông của
Phật tánh khắp không gian, chẳng cần bay, muốn hiện chỗ
nào cũng được, phải tự tin rằng mình đã sẵn đủ tất
cả.
Hỏi:
Nếu tự có sẵn nghi tình, lấy đó tham tiếp mà không chọn
những câu thoại trong sách, được không?
Đáp:
Nếu đã có nghi tình từ nhỏ, đối với vũ trụ vạn vật
hay đối với việc của mình, đã thắc mắc rồi, lấy đó
để tham cũng được, nhưng phải chẳng thể giải thích, chẳng
thể tìm hiểu mới được. Nếu có thể dùng một lý lẻ
nào đó, hoặc dùng Phật pháp để giải ra đáp án thì không
được.
Hỏi:
Tại sao gọi người đã kiến tánh là Tổ chứ chẳng gọi
là Phật?
Đáp:
Sau khi chứng Diệu Giác mới gọi là Phật, người kiến tánh
rồi cao nhất là đến Đẳng giác, tức chưa đến Diệu giác,
vì tập khí xuất thế gian vẫn còn. Lại nữa, phàm phu kiến
tánh, tập khí thế gian vẫn còn, làm sao gọi là Phật ! Đến
quả Diệu Giác, tập khí thế gian lẫn xuất thế gian đều
sạch, bản thể của Phật tánh luôn hiện hành khắp không
gian thời gian. Còn chư Tổ thì tập khí thế gian còn chưa
dứt sạch, huống là tập khí xuất thế gian ! Nên chỉ được
gọi là Tổ, không thể gọi là Phật, mặc dù đã kiến tánh
thành Phật. Bây giờ chưa kiến tánh cũng đã thành Phật rồi,
“tất cả chúng sanh đều đã thành Phật,” ấy là lời
nói của Phật trong Kinh Viên Giác.
Hỏi:
Tham Thiền có cần tụng giới không?
Đáp:
Theo giới luật thì tu pháp môn nào cũng phải có giới luật,
nửa tháng bố-tát một lần. Bố-tát không phải chỉ tụng
giới, trước khi tụng phải kiểm thảo, tự kiểm thảo mình
trong nửa tháng nay có phạm giới không? Nếu có, phải ra sám
hối trước đại chúng. Sám hối xong, tội phạm giới mới
sạch, mới có tư cách nghe tụng giới.
Nếu
người phạm giới không tự ra sám hối trước đại chúng,
thì người ở chung phải ra cử tội, nếu không ra cử tội,
sau này bị phát hiện thì người phạm và người không cử
tội sẽ bị cùng một tội vì che giấu. Hồi xưa, bố-tát
truyền giới cho cả Sa-di và Bồ tát, sau này mới lập riêng
giới đàn. Cho nên, bố-tát không có nghĩa là chỉ tụng giới
mà thôi.
Hỏi:
Tu sĩ phạm tội Ba-la-di có thể sám hối được không?
Đáp:
Sau khi phạm tội Ba la di, phải trong nửa tiếng báo cáo Tăng
Đoàn, Tăng đoàn mới hứa khả cho sám hối, nhưng chưa phải
như thế là nhất định được sám hối. Vì theo pháp Yết-ma,
muốn sám hối tội Ba-la-di phải hai mươi vị Tỳ-kheo, người
xin sám hối phải săn sóc hai mươi vị đó trong nửa tháng,
về cuộc sống hằng ngày cho đầy đủ. Nếu hai mươi vị
đều cảm thấy người đó thành tâm muốn sám hối, đồng
ý cho sám hối thì mới thành lập được; nếu trong đó có
một vị không đồng ý, cũng chẳng thể tổ chức sám hối.
Hỏi:
Sở dĩ Đức Phật chế định giới luật cũng là căn cứ
theo luật pháp nhà nước, ví như giới Ba-la-di, cũng bằng
như luật tử hình của nhà nước, phải không?
Đáp:
Phật tử vi phạm luật pháp của nhà nước, tức vi phạm
giới luật của nhà Phật, đó là do Đức Phật muốn sự
hoằng pháp đến nước nào cũng được hoan nghinh. Tỳ-kheo
có bốn giới Ba-la-di và Tỳ-kheo-ni có tám. Tội Ba-la-di, cũng
bằng tội tử hình của nhà nước, nhưng tội tử hình của
nhà nước có xử tử thật, còn tử hình bên nhà Phật chỉ
là kiếp này không được làm Tỳ-kheo nữa, coi như vị Tỳ-kheo
đó đã chết. Nếu xin sám hối mà được chấp nhận, chỉ
giữ được Sa-di, nếu sám hối không được, thì luôn cả
Sa-di cũng không còn, phải đợi kiếp sau bắt đầu lại.
Hỏi:
Luật pháp Nhà nước thời nay có nhiều châm chước thuyên
giảm, vậy giới luật nhà Phật có thể ứng dụng như thế
nào để phù hợp theo thời đại không?
Đáp:
Giới luật nhà Phật cũng có phần linh động, nhưng thuộc
về phần Giá giới, còn về Tánh giới thì không được. (Sư
phụ giảng về Tánh giới và Giá giới, lược qua).
Về
tánh giới, nếu đã phạm thì có tội phá giới, nếu chưa
thọ giới cũng phải có tội nhân quả. Tội phá giới thì
sám hối có thể hết, ví như tội phá giới Ba-la-di phải
đọa địa ngục chín triệu năm, hễ sám hối là hết; còn
tội nhân quả thì không thể sám hối được, nhân nào quả
nấy.
Có
người nói “Vậy thì không thọ giới tốt hơn, chỉ phải
chịu tội nhân quả, khỏi bị hai lớp tội.” Sự thật,
người có thọ giới phải để ý về vấn đề giữ giới,
nên tội nhân quả cũng ít, người không thọ giới hằng ngày
cứ theo thói quen mà làm, dễ phạm phải tội nhân quả.
Hỏi:
Tại sao Thiền sư Bác Sơn nói “Công phu khẩn mà không chánh
thì uổng dụng công, chánh mà chẳng miên mật thì không thành
dung hoát, chẳng dung hoát thì không tương ưng, chẳng tương
ưng thì không thể nhập, và không thể hóa cảnh”?
Đáp:
Việc đó là lẽ dĩ nhiên rồi, vì công phu không miên mật
tức có kể hở, vọng tưởng phiền não từ đó nổi lên,
làm sao dung hoát ! Làm sao nói là khẩn, là chánh? Hóa cảnh
tức dung hoát.
Hỏi:
Vậy còn các từ “chuyển thân nhã khí,” “chuyển vị khai
cơ,” “hồi quang phản chiếu”… là như thế nào?
Đáp:
(Sư phụ kể về câu chuyện một ngoại đạo có thần thông
và xá lợi, không bằng đáp được một câu chuyển ngữ của
Thiền sư, xem trang 19 ).
Tại
sao Thiền tông chú trọng câu chuyển ngữ? Vì bản thể của
tự tánh là vô sở trụ, chuyển ngữ tức là lời vô sở
trụ. Chỉ cần đáp được một chuyển ngữ là thầy biết
người trò đó đã kiến tánh và ấn chứng liền. Nay chưa
kiến tánh, cứ đuổi theo lời nói có sở trụ, trả lời
cho hợp lý đúng nghĩa, nhưng đó chẳng phải chuyển ngữ.
(Sư phụ kể về câu chuyện bà già đốt am, lược qua), “Chuyển
thân nhã khí,” “đè hồ lô trên nước”v.v… đều là
những câu vô sở trụ.
Hỏi:
Thế nào là “Ngôi học còn dính bụi”?
Đáp:
“Ngôi học còn dính bụi, cực sáng tức Như Lai,” đó là
bài kệ trong Kinh Lăng Nghiêm, tả về biển giác của Tự tánh.
Theo cuốn Hoa Nghiêm Hợp Luận, tác giả Lý Thông Huyền là
một cư sĩ kiến tánh, nói: “Sơ tâm Bồ tát vì lòng tin chưa
vững chắc, được thấy biết ít phần pháp thân Như Lai chẳng
đoạn diệt, chẳng khứ lai. Chẳng đoạn diệt tức khắp
thời gian, chẳng khứ lai tức khắp không gian, nhưng Bồ tát
này còn chưa thể lìa sự phân biệt vi tế, nên chỉ thấy
thô dụng, chưa vào được ngôi pháp thân.
Tiến
thêm một bước, Tịnh tâm Bồ tát hơn Sơ tâm Bồ tát, nhưng
còn thấy vi tế dụng. Như thế dần dần tiến lên, đến
bậc Bồ tát cứu cánh, mới hết thấy vi tế dụng, gọi là
thân thọ dụng.
Vì
còn có nghiệp thức, nên thấy tâm có thọ dụng, nếu lìa
nghiệp thức thì chẳng thể thấy. Tại sao? Vì tất cả
Như Lai đều là pháp thân, pháp thân chẳng có sắc tướng
sai biệt để thấy nhau, nên chẳng thể thấy. Tại sao hết
thấy vi tế dụng gọi là thân thọ dụng? Vì còn có thân
thọ dụng để biết sự hết thấy, vẫn là tướng vi tế
của nghiệp thức. Các bậc hữu học và vô học còn dính
mắc với tướng vi tế này, như tấm gương còn dính bụi,
nên nói “ngôi học còn dính bụi.”
Nếu
nghiệp thức vi tế đã sạch, chẳng thấy có sự thọ dụng,
gọi là Pháp thân Như lai. Vậy bụi sạch thì gương sáng tỏ,
nên nói “Cực sáng tức Như lai.”
Đối
với câu “Phản văn Tự tánh văn,” nhiều người còn hiểu
sai về câu này, nên tôi ghi chú thêm:
Nếu
chấp cái nghe là thật thì không nghe ngoài phải nghe trong,
không nghe động phải nghe tịnh; nghe trong ngoài động tịnh
đều là bỏ gốc theo ngọn, nên gọi là cái nghe điên đảo.
Nay xoay cái nghe điên đảo này về chánh, chánh thì chẳng
có năng nghe sở nghe, mới gọi là phản văn, cũng là bản
tánh văn. Nghịch cảnh trần, hợp giác tánh, mới gọi là
chánh. Đã trở về bản tánh văn, tức thấy bản lai diện
mục của Phật tánh, cũng là tánh văn này, liền thành Vô
thượng Bồ đề.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm nói: Do có lục trần mới phát ra cái tri, vì
có lục căn mới hiện ra tướng này tướng kia, nên nói “do
trần phát tri, nhân căn hữu tướng.” Nếu không có lục
trần thì kiến văn giác tri đặt ở chỗ nào? Chẳng thể
sanh ra được.
Lục
trần lục thức sanh lẫn nhau, cũng như con gà với trứng gà;
chẳng có lục trần thì lục căn không có đối tượng để
đặt. Lại nữa, chẳng có lục căn thì không thể biết đến
lục trần, nhưng cái biết phải có lục trần mới có thể
sanh khởi. Chúng sanh điên đảo, cho những thứ đó là của
mình, nên Đức Phật mới ở trong Bát Nhã Tâm Kinh dùng chữ
VÔ để quét sạch lục căn, lục trần, lục thức.
Hỏi:
Tịnh khẩu có ích lợi gì không?
Đáp:
Chẳng những không có lợi ích, lại còn có hại vì làm cho
mình tu không được.
Hỏi:
Kiến tánh là gì?
Đáp:
Đợi ông kiến tánh rồi thì biết.
Hỏi:
Trong bốn tội Ba-la-di, trường hợp tứ chúng biết được
người ấy phạm tội, báo lên vị Trụ trì, Trụ trì không
cử tội thì tứ chúng có lỗi không?
Đáp:
Bây giờ đâu có Tăng đoàn để cử tội? Lại nữa, trong
Phật pháp rất linh động, cái nào cần cử tội mới cử
tội, những việc không cần cử tội, chỉ cho trách tâm sám.
Đức Phật hoằng dương Phật pháp, muốn cho thiên hạ đều
tôn trọng Phật giáo, tôn trọng Tăng ni, Phật tử chơn chánh
hoặc thọ ngũ giới hay Bồ tát giới. Cho nên, giới Bồ tát
không cho nói lỗi của Tứ chúng; Tỳ-kheo-ni nói lỗi của
người khác cũng phạm tội Ba-la-di. Lại nữa, đối với những
người trong Phật giáo hoằng pháp rộng, nhiều người biết
tên tuổi, thì trong giới luật không cho cử tội . Tại sao?
Vì sợ ảnh hưởng uy tín của Phật giáo. Mặc dù không cho
cử tội, nhưng nếu họ phạm Ba-la-di, tội địa ngục phải
chín triệu năm chứ không bớt được.
Hỏi:
Như hiện giờ một vị có tội, chúng đã phát hiện,
người đó chẳng những không sám hối, vẫn sống bình thường
như người không phạm, vẫn đắp áo Cà sa, vậy là thế nào?
Đáp:
Trong giới luật có hơn 130 thứ Yết-ma, pháp Yết-ma của Phật
giáo rất kỹ, mỗi thứ Yết-ma làm về việc gì, phải có
bao nhiêu người, hai mươi người, mười người, năm người
hoặc hai người...Hai người gọi là “đối thú Yết-ma,”
tức không có ai ngoài hai người đó biết. Yết-ma xử tội,
phải thấy, nghe hoặc nghi, rồi phải có bằng chứng, bằng
chứng có thể mời một nữ cư sĩ ra làm chứng . Mà cư sĩ
đó phải được Tăng đoàn mời, nếu không được mời mà
tự ra làm chứng là phạm giới.
Nay
không có Tăng đoàn, không có Yết-ma để xử tội, thì làm
sao phán đoán là người ấy có tội? Còn những người phạm
thượng, tự đã có tội trước, lại công khai nói tội của
người khác, là phạm giới. Vì giới Bồ tát không cho nói
lỗi của tứ chúng. Nếu muốn nói cũng được, nhưng chỉ
có hai người, không có người thứ ba, rồi mình khuyên người
đó.
Hỏi:
Nếu bằng chứng đã có, hai người đã khuyên với nhau, nhưng
người ấy vẫn không sửa đổi?
Đáp:
Ai xử cho người đó có tội? Người ta phải tổ chức Yết-ma
rồi xử tội, hoặc trong lúc bố-tát, báo cáo với vị chủ
tịch được chúng cử ra để xử tội, đâu phải người
nhỏ xử tội người lớn được ! Nhỏ mà nói lỗi của người
lớn, tự mình còn có lỗi nữa!
Tại
sao giới luật của Tỳ -kheo và Tỳ-kheo-ni không cho người
chưa thọ giới nghe và xem? Sa-di, Thức xoa không được nghe
và xem giới Tỳ-kheo-ni, nhưng Tỳ-kheo phải biết giới cua
Tỳ-kheo-ni. Vì trong giới luật có ghi về pháp Bát kỉnh của
Tỳ-kheo-ni, mỗi nửa tháng phải mời Tỳ-kheo đến dạy, cho
nên, Tỳ-kheo phải thông suốt giới luật của Tỳ-kheo-ni.
Chưa
thọ giới Tỳ-kheo không được xem giới Tỳ-kheo, vì sợ khi
biết rồi phỉ báng Tỳ-kheo, cho Tỳ-kheo này là phạm giới,
là tự mình tạo tội. Tỳ-kheo phạm giới tự phải chịu
tội, bởi vì người nào cũng có sai sót. Có phạm, phạm rồi
có sám hối, hễ sám hối là hết tội phá giới. Nếu người
chưa thọ giới nói lên lỗi đó, chẳng những làm mất uy
tín của Phật Giáo, lại phạm tội nói lỗi tứ chúng. Nay
có nhiều người tự ỷ thông minh lanh lợi, phỉ báng người
cao hơn, ấy là tự tạo lỗi vậy.
Hỏi:
Tại các chùa có từ bốn vị Tỳ-kheo trở lên, phải tác
pháp Yết ma, ấn định cương giới, sau đó làm Phật sự
mới đúng pháp, phải không?
Đáp:
Phải. Theo pháp Yết-ma trong giới luật ấn định, bất cứ
cái gì, đều phải qua pháp Yết-ma. Nhưng nay ở Việt nam,
chỉ có truyền giới hoặc bố-tát, kiết Hạ mới qua Yết-ma,
những Yết-ma của bố-tát cũng không đủ, chỉ là tụng giới.
Hỏi:
Tham thoaị đầu với Bát nhã Ba La Mật có tương ưng không?
Đáp:
Bát nhã dịch là trí huệ, nhưng chẳng phải trí huệ của
bộ não, không qua bộ não, là trí huệ của Tự tánh. Tổ
Sư Thiền là muốn hiển bày trí huệ của Tự tánh. Tên gọi
Bát nhã chỉ là một trong muôn ngàn tên gọi . Vì bản thể
của Phật tánh cùng khắp không gian thời gian, nên sự dụng
của Phật Tánh cũng cùng khắp, chẳng số lượng, chỉ tùy
dụng mà lập danh:
Vì
Phật tánh khắp không gian chẳng khứ lai, nên gọi là Như
lai, đúng như Bản lai; cùng khắp thời gian, không gián đoạn,
sanh diệt, nên gọi là Niết bàn; vì muốn hiển bày cái dụng
vô sở trụ, nên gọi Vô trụ; vô trụ thì không có chỗ,
không có lúc, nên gọi Tánh không…Mặc dù tên gọi có khác,
nhưng thể dụng chẳng khác.
Hỏi:
Sự dụng của chư Phật, chư Tổ có khác nhau không?
Đáp:
Luôn cả sự dụng của cô, với chư Phật chư Tổ cũng chẳng
khác ; không những là cô, luôn cả các loài động vật cũng
chẳng khác. Đã là bất nhị, thì thân Phật, thân Bồ tát,
thân người, thân động vật dù khác, nhưng Phật tánh chẳng
khác.
Hỏi:
Tại sao chư Phật, chư Tổ một nghe ngàn ngộ, mà chúng con
được Sư phụ khai thị nhiều vẫn chưa được ngộ?
Và Sư phụ chưa chỉ định một vị nào sau này nối tiếp
Sư phụ?
Đáp:
Chưa kiến tánh là tại mình chưa chịu đi, nếu có tâm quyết
tử như chư Tổ mới mau được. Nay mặc dù chưa kiến tánh,
nếu thực hành đầy đủ, đúng pháp, cũng đã gieo chánh nhân,
kiếp này chưa ngộ, kiếp sau cũng tiếp tục. Tôi thì chưa
kiến tánh, chỉ là biết được đường lối thực hành của
chư Tổ và chuyển dạy cho quý vị. Mọi người cứ tiếp
tục theo đường lối đó tu hành là đủ.
Hỏi:
Ngài Lai Quả nói “đánh chết người phạm qui củ,” vậy
có phải thiếu lòng từ bi và phạm tội sát sanh không?
Đáp:
Dùng hương bảng đánh người phạm qui củ là tỏ lòng từ
bi rất thiết tha. Ngài nói trong Tham Thiền Phổ Thuyết
và giải nghĩa rất kỹ: Sở dĩ đánh là muốn đưa tới giác
ngộ giải thoát tất cả khổ . Ấy là lòng từ bi không gì
so sánh bằng.