[10] 12/08/94–18/08/94
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Phật
tánh là sanh hay chẳng sanh?
Thiền
thất là trường thi
Tánh
không
Tự
tánh chơn không, phiền não từ đâu tớỉ
Không
tu Tổ sư Thiền, tạo tội địa ngục?
Gia
đình có người mất, con cháu cúng heo quay thì người cúng
có tội hay người chết có tội?
Lập
đạo tràng không cho người tu chánh pháp, là tội địa ngục
Đức
Phật bốn thứ đáp
Bát
thức tâm vương
Nhân
sinh quan và vũ trụ quan
Đã
thọ Bồ tát giới, làm sao giữ được giới dâm?
Người
tham câu “Niệm Phật là aỉ” không khởi được nghi tình
Hữu
tình vô tình đều do diệu tâm biến hiện
Thế
nào là Hòa thượng Duy Lực?
Các
bậc cổ đức ngộ đạo rồi nương vào cái gì để an thân
lập hạnh?
Hư
không làm sao bị chướng?
Kinh
Viên Giác: Dùng ngôn ngữ chẳng thể nhập tri kiến Phật
Tri
huyển tức ly, ly huyển tức giác
Thế
nào vi thuận tương tranh, thị vi tâm bệnh?
Chẳng
có Phật Niết bàn, chẳng có Niết bàn Phật
Thế
nào chuyển thức thành trí?
Ăn
chay đủ dinh dưỡng không?
Quá
trình xuất gia của Pháp sư Đàm Hư
Ngũ
phần hương
Chớ
nói vô niệm tức là đạo, vô niệm còn cách núi muôn trùng
Vô
sư trí
Tu
phước và tu huệ
Hỏi:
Phật tánh là sanh hay chẳng sanh? Nếu nói sanh thì đồng
với nghĩa thức tâm phan duyên, sanh các loại hiển thức lưu
chú; nếu nói chẳng sanh thì đồng với lý rỗng không tịch
diệt của Thanh văn Nhị thừa. Người trí nơi các duyên
sanh khởi các loại thức tưởng thì làm sao giác được tự
tâm hiện lượng? Xin Hòa thượng giải nghi cho con chỗ này.
Đáp:
Phật tánh chẳng phải sanh hay vô sanh, nói “Phật tánh”cũng
chẳng phải Phật tánh nữa. Tất cả Phật pháp đều nói
về cái tâm, tại tâm có tánh giác ngộ, nên gọi là Phật
tánh. Bản thể của tâm cùng khắp không gian chẳng khứ lai,
nên gọi Như Lai; vì vốn chẳng sanh diệt, nên gọi Niết Bàn.
Đã không sanh không diệt thì làm sao có sanh và vô sanh? Sanh,
vô sanh là do có bệnh chấp, do chúng sanh chấp thật sự sanh
nên Phật nói vô sanh, nếu chấp vào vô sanh thì bệnh chấp
vẫn còn.
Không
trụ chỗ sanh, cũng không trụ chỗ vô sanh, đó là nghĩa vô
trụ, hễ trụ vào sanh hoặc vô sanh tức có sở trụ, có sở
trụ thì mất hết cái dụng của tâm. Kinh Kim Cang nói “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm,” vô sở trụ là thể của tâm,
sanh kỳ tâm là dụng của tâm, thể và dụng là một chứ
chẳng phải hai. (Sư phụ ví dụ sự dụng của cánh tay, lược
qua)
Hỏi:
Thiền thất là khai thị ngộ nhập tri kiến Phật cho chúng
sanh để đi đến thành tựu đạo quả của Bồ Đề, vậy
xin hỏi: Người ngộ đạo là do công phu miên mật, một
phen liễu ngộ, ngộ được tự tánh nhất như cùng với Phật
không hai không khác.. Nhưng vì tập khí vọng tưởng huân tập
nhiều đời nhiều kiếp, chẳng thể một lần nhảy thẳng
vào biển thanh tịnh giác của Như Lai. Thì các vị đó phải
dùng phương tiện gì, tu hành như thế nào để lột bỏ những
tập khí hữu lậu?
Đáp:
Thiền thất không phải để khai thị, không cần khai thị,
khai thị cũng là vọng. Thiền thất cũng như trường thi, hồi
xưa người ta khổ học mười năm rồi vào trường thi là
muốn thi đậu, chứ đâu phải vào trường thi để nghe khai
thị ! Xưa kia chư Tổ trong khi dự Thiền thất, có người
ngay nơi thất thứ nhất khai ngộ, có người ở thất thứ
nhì ngộ, người thì thất thứ ba ngộ… tức bình thường
đã có công phu, đã đến mức rồi, như qua mười năm khổ
học tất cả đều biết hết, bây giờ là đi thi, mong cho
được đậu chứ chẳng phải đến trường thi để học.
Đối
với tâm và Tự tánh, nay tôi hỏi ông:
-
Có tin lời của Phật Thích Ca không?
-
Dạ, dĩ nhiên con tin rồi, qua các Tam tạng Giáo điển, qua
lịch sử tu chứng của chư Tổ, con rất tin tưởng về lời
dạy của Đức Phật.
-
Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có
tin không?
-
Dạ tin.
-
Mà ông tin ông có Phật tánh không?
-
Dạ tin.
-
Phật tánh có thể giảm bớt không?
-
Dạ không thể giảm bớt.
-
Phật tánh có gián đoạn không?
-
Dạ cũng không gián đoạn.
- Nếu
ông nói vậy thì ông còn muốn nghe khai thị để làm gì? Phật
tánh không thể giảm bớt thì bây giờ tất cả thần thông
trí huệ năng lực đều bằng với Phật Thích Ca, chẳng kém
hơn một tí nào, phải không? Ông đã nhìn nhận ông có Phật
tánh rồi, nếu có kém hơn tức là giảm bớt; nếu bây giờ
ông không phải là Phật thì là gián đoạn! Tất cả đã sẵn,
đâu phải nhờ khai thị? Tại ông học rồi đuổi theo văn
tự lời nói, quên mất Phật tánh sẵn có của mình. Do lòng
tin chưa đầy đủ, mặc dù nói là tin, sự thật chỉ tin một
phần nào thôi. Nay chỉ cần tăng trưởng lòng tin tự tâm
cho đầy đủ, phát hiện cái sẵn có của mình.
Tôi
thí dụ cái sẵn sàng đó cho ông biết để tăng trưởng lòng
tin:
Phật
tánh khắp không gian thời gian, mặc dù chẳng hình tướng
số lượng, nhưng đã sẵn sàng. Trong Bát Nhã Tâm Kinh nói
“Tánh không”tức là cái tâm này. Nói đến tánh không, nhiều
người hiểu lầm Phật giáo và Tu sĩ chúng tôi tại chán
đời tiêu cực mới đi vào cửa không, nhưng sự thật thì
Phật pháp rất tích cực, phàm nói đến chữ KHÔNG là hiển
bày sự dụng. Tại sao? Vì bất cứ cái gì, muốn dùng phải
có cái Không, chẳng có cái không thì chẳng thể dùng. (Sư
phụ nói về nghĩa không của cái tách, cái bình, lược qua)
Cái
không này chẳng nhúc nhích, nhưng tự nhiên hiển bày sự dụng:
Vũ trụ vạn vật, mặt trăng mặt trời, nhà cửa cây cối…
đều phải nhờ cái không này mới hiển bày sự dụng.
Chính
cái Không tức cái tâm, do tâm có sức dụng nên gọi
“Tánh không,” sự dụng sẵn sàng và vô biên, tất cả dùng
đều phải nhờ nó. Nó vốn hoàn toàn chẳng có cái gì hết,
nhưng chính vì vậy mới hiển bày sự dụng được. Cho nên,
ngài Long Thọ, Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ trong Trung
Quán Luận nói: “Vì có nghĩa Không, nên thành tựu tất cả
pháp,” nếu chẳng có cái không thì thế giới này thành thế
giới chết.
Bây
giờ con người thông minh, đem cái Không này hạn chế thành
cái tách, rồi giải thích sự dụng của cái tách; đem hạn
chế thành cái bình rồi giải thích sự dụng của cái bình,
cho rằng cái không của tách khác hơn cái không của bình;
cái không của bình khác hơn cái không của căn nhà v.v…mà
chẳng biết đều cùng một cái không. Bây giờ cái tách này
vỡ đi, cái bình này bể đi, căn nhà này sụp đổ, cái Không
vẫn y như cũ, chẳng có thêm bớt, cho đến một quả bom nguyên
tử làm nổ tung trái đất này, mặt trăng mặt trời tan rã
hết, nhà cửa cây cối tan rã hết, vũ trụ vạn vật tan rã
hết, đối với cái không cũng vẫn y như cũ, chẳng bị ảnh
hưởng, chẳng bị tổn thương một chút nào. Vậy đâu có
nghĩa lý gì? Nay cứ đặt ra nghĩa lý của cái tách cái bình,
đối với cái không này đâu ăn thua gì? Tại con người thông
minh, cứ tự mình đặt ra để tự hạn chế.
Hỏi:
Tự tánh chơn không, mọi hiện tượng đều từ chơn tánh
lưu xuất, nhưng tại sao đã nói tâm không rồi, lại sanh ra
các pháp phiền não, lại phải nhọc nhằn để độ thoát?
Đáp:
Tại do ông đem cái không này hạn chế thành cái tách, rồi
đặt ra nghĩa lý của cái tách, thì tách này hư cũng là phiền
não, bể cũng là phiền não, dơ cũng là phiền não … ấy
do tự mình tạo ra, đối với cái không đâu dính dáng ! (Sư
phụ thí dụ dẫm chân lên cứt sình và trừ nghiệp chướng
phiền não, lược qua)
Hỏi:
Tham Thiền này có giống thiền Yoga của phương Tây không?
Đáp:
Yoga là thiền Ấn Độ, chẳng phải của phương Tây, đó là
phương pháp tập để trị bệnh. Còn tham thiền là muốn đạt
đến kiến tánh để vĩnh viễn tự do tự tại, giải thoát
tất cả khổ. Tập Yoga là để hết bệnh, nhưng bệnh này
hết thì bệnh kia đến, tuổi già chừng nào bệnh nhiều chừng
nấy, đến tập Yoga cũng không trị được thì phải chết.
Còn tham thiền là muốn trị cho triệt để, chẳng còn bệnh
nữa.
Hỏi:
Khai quang điểm nhãn có lợi ích gì?
Đáp:
Chư Phật Bồ tát nếu phải nhờ khai quang điểm nhãn thì
đâu có giá trị gì? Ấy là sự mê tín.
Hỏi:
Gia đình có người mất, con cháu cúng heo quay thì người cúng
có tội hay người chết có tội?
Đáp:
Người cúng có tội trực tiếp, vong linh nếu có biết sẽ
ham thích muốn ăn, cũng bị liên lụy, vì hễ giết một mạng
phải trả một mạng, ăn một miếng thịt phải trả một
miếng.
Hỏi:
Tham thiền cần chú trọng nghi tình và khán thoại đầu, nhìn
về một niệm chưa sanh khởi và hướng về tự tánh cùng
khắp mà không hiểu không biết, đúng không?
Đáp:
Tôi chỉ nói là nhìn chỗ thoại đầu, đâu có bảo là hướng
về tự tánh! Tự tánh làm sao có chổ để hướng? Vì bản
thể Tự tánh khắp không gian thời gian, nếu có chỗ hướng
tức chẳng phải Tự tánh.
Hỏi:
Sư phụ thường khai thị là pháp môn Tổ Sư Thiền là Tối
thượng thừa, dùng để tu giải thoát, nếu như đã biết
mà không tu là tự làm chướng ngại cho mình, tức đọa địa
ngục?
Đáp:
Ai nói câu này? Có tạo cái nghiệp địa ngục mới phải đọa
địa ngục, chứ “Không tu Tổ Sư Thiền phải đọa địa
ngục,” là ai nói vậy? Khi nào phỉ báng Tổ sư Thiền, tự
mình phỉ báng không dám tu, ấy là tội phỉ báng, chứ đâu
phải tội không dám tu! Không tu chỉ là không được kiến
tánh mà thôi, nếu không phỉ báng thì làm sao tạo tội địa
ngục?
“Phỉ
báng Tổ Sư Thiền mà tự mình không dám tu, ấy là tội địa
ngục một đại kiếp; còn phỉ báng Tổ Sư Thiền khiến người
khác không dám tu, là tội địa ngục bốn đại kiếp,” đó
là lời của ngài Lai Quả, chứ tôi có nói là “Không tu Tổ
Sư Thiền tức tạo tội địa ngục”đâu ! Ấy là phỉ báng
tôi vậy.
Hỏi:
Ví như mình có một ngôi chùa hoặc một phương tiện nào
để cho người khác tu hành, có người đến xin tu mà mình
không cho ở, vậy có nhân quả gì?
Đáp:
Chùa là đạo tràng, lập đạo tràng có hai mục đích: Một
là để cho chúng tu, hai là hoằng dương chánh pháp. Còn nếu
đi quyên tiền thí chủ mười phương để lập đạo tràng
mà không cho người ta tu chánh pháp, cho tu theo pháp tà ma, thì
dẫu cho có tu cũng không được. Phải tu đúng theo chánh pháp,
phải hoằng dương chánh pháp, chứ không phải lấy bảng hiệu
Phật pháp mà tu theo tà ma ngoại đạo, ấy là tội địa ngục,
thầy và trò đều có tội.
Hỏi:
Nếu còn có khởi niệm là chưa đến thoại đầu, phải không?
Đáp:
Niệm cũng như nghi tình, nếu chỉ có nghi tình, không có niệm
khác là tới thoại đầu, nếu có niệm khác là chưa tới
thoại đầu.
Hỏi:
Đức Phật trong kinh Bát Đại Nhơn Giác nói “Khi trả lời
vấn đáp, người xuất gia phải đầy đủ bốn yếu tố:
Tự tha, chánh tha, tùy nghi vấn đáp, theo ý nhân duyên.” Vậy
thế nào là tự tha?
Đáp:
Về vấn đề này, trong kinh Bát Đại Nhơn Giác nói chưa rõ
bằng Kinh Lăng Già : Bốn thứ đáp ấy là: Quyết định đáp,
đáp hai mặt, hỏi ngược lại và im lặng, tức không đáp
mà đáp. Nhưng đến cuối cùng thì Phật nói: “Từ lúc đắc
đạo đến khi nhập Niết Bàn, ở khoảng giữa chẳng có nói
một chữ, cũng chẳng đáp một chữ.” Vì sở dĩ có
hỏi là do có bệnh nhưng là bệnh giả, cái đáp đó là thuốc
giả để trị bệnh giả của người hỏi, nên có bốn cách
trả lời.
Tất
cả kinh Phật đều là phương tiện giả lập để phá chấp
của chúng sanh, ví như có thứ kinh phá chấp của
Bồ tát, có thứ kinh phá chấp của Thừa Duyên giác, thứ
thì phá chấp của Thừa Thanh văn, thứ thì phá chấp của
ngoại đạo, như Kinh Lăng Già là phá chấp của ngoại
đạo. Cho nên, dù lời kinh chẳng giống nhau, nhưng ý vẫn
không khác, chỉ là dùng thuốc giả để trị bệnh giả, bệnh
giả hết thuốc giả cũng phải bỏ.
Hỏi:
Trong tám thức có A-lại-da thức, Mạt-na thức, tâm sở và
tâm vương. Thế nào là tâm sở và tâm vương?
Đáp:
Tám thức đều là tâm vương: Tiền ngũ thức, thức thứ sáu,
thức thứ bảy và thức thứ tám đều gọi là tâm vương,
vì nó chủ động. Tám thức chẳng phải có tám người, chỉ
là chia thành tám nhiệm vụ, mỗi thức đảm trách một nhiệm
vụ, cũng có thức lãnh hai nhiệm vụ:
Ví
như nhãn thức lãnh nhiệm vụ xem, nhĩ thức lãnh nhiệm vụ
nghe, tỷ thức về ngửi, thiệt thức về nếm, thân thức
về xúc, ý thức về biết. Còn thức thứ bảy lãnh hai nhiệm
vụ: một là ngày đêm chấp thức thứ tám là ta, hai là lãnh
nhiệm vụ truyền tống, tức thức thứ sáu làm những việc
thiện việc ác, làm thiện tạo chủng tử thiện, làm ác tạo
chủng tử ác, thức thứ bảy đem hạt giống này chứa vào
tạng thức (thức thứ tám), khi chín muồi rồi đem trở ra
giao cho thức thứ sáu thi hành. Đưa ra đưa vào nên gọi là
truyền tống, còn thức thứ tám chỉ có một nhiệm vụ
kho tàng, nên gọi là tạng thức.
Tám
thức này trong Duy Thức gọi là Tâm vương, thuộc về năng,
có năng ắt có sở, cũng như nhãn thức là năng xem, và ngoại
cảnh là sở xem; nhĩ thức là năng nghe, âm thanh là sở nghe;
thức thứ sáu là phân biệt, là năng biết, như nhãn thức
năng xem, qua thức thứ sáu phân biệt thấy cái đẹp thì ham
thích, thấy cái xấu thì chê ghét, sự yêu ghét ấy gọi
là tâm sở. Trong Duy Thức phân tích buồn vui yêu ghét… tính
chung gồm 51 thứ tâm sở.
Hỏi:
Thế nào là nhân sinh quan và vũ trụ quan?
Đáp:
Tức chủ quan của mình cho là nhân sinh phải như vậy như
vậy, còn người khác lại cho là nhân sinh phải như vậy như
vậy…Cũng như nhân sinh quan giữa nhà khoa học với nhà triết
học đã khác nhau rồi, vũ trụ quan cũng vậy. Làm thế nào
hình thành vũ trụ? Vũ trụ có tác dụng gì? Làm sao thành
lập nhân sinh? Nhân sinh có tác dụng gì?… Nhà triết học
thì muốn biết tại sao, còn nhà khoa học thì muốn biết bắt
đầu từ chỗ nào, muốn truy cứu nguồn gốc sanh ra vũ trụ,
nguồn gốc sanh ra con người.
Nếu
theo Phật giáo thì Đức Phật nói những người này đều
là ngu si. Nói Nhà khoa học là ngu si thì mọi người đều
phản đối, vì mọi người đều sùng bái khoa học, thế thì
tại sao nói như thế? Vì Đức Phật nói là vô thỉ, bất
cứ cái gì đều không có sự bắt đầu, không có lý bắt
đầu, gọi là nghĩa vô sanh. Tại sao? Tôi thường lấy con
gà và trứng gà làm thí dụ: con gà thì khác với trứng gà,
trứng gà khác với con gà, vậy thì con gà bắt đầu trước
hay trứng gà bắt đầu trước? Không có con gà làm sao có
trứng gà? Mà không có trứng gà làm sao ấp ra con gà?
Sự thật chứng tỏ, hai cái đều không thể bắt đầu, ấy
là nghĩa vô sanh.
Nhà
khoa học tìm sự bắt đầu không được thì cho là tự nhiên,
còn Phật thì phủ nhận tự nhiên, mặc dù Phật nói là nhân
duyên, nhưng nhân duyên cũng chẳng phải thật, cho nên Kinh
Lăng Nghiêm nói “Phi nhân duyên, phi tự nhiên.” Tại
sao? Vì chẳng có nhân đầu tiên thì nhân thứ nhì, thứ ba
làm sao có? Cũng như con gà và trứng gà làm nhân với nhau
nhưng không có cái nhân bắt đầu; nếu nói tự nhiên cũng
không được, vì chẳng thể tự nhiên có con gà, muốn có
con gà phải có trứng gà; chẳng thể tự nhiên có trứng gà,
muốn có trứng gà phải có con gà.
Hỏi:
Con đã thọ giới Bồ tát mà chưa hiểu Giới Bồ tát là gì,
Muốn giữ được dâm giới trong giới Bồ tát phải làm gì?
Đáp:
Kinh Lăng Nghiêm nói “Chẳng những thân không phạm, tâm không
phạm, luôn cả cái “không phạm”cũng không còn,” tức
thân tâm đều dứt, luôn cả cái dứt cũng không có, như thế
đối với Vô thượng Bồ đề mới có hy vọng. Lại nữa,
trong kinh nói: “Có sát đạo dâm là trong tam ác đạo, mà
không có sát đạo dâm là tam thiện đạo, vẫn còn ở trong
luân hồi”; vì có và không là đối đãi, thành có luân hồi.
Còn Vô thượng Bồ đề là không đối đãi, chẳng những
cái có, luôn cảù cái không có cũng không còn, tức dứt sạch
thân dâm, dứt sạch tâm dâm, luôn cái “dứt sạch”cũng
không còn, mới là thật trong sạch.
Hỏi:
Kính bạch Sư phụ, con tham câu “Niệm Phật là ai”sau một
thời gian, con thấy tâm được thanh tịnh, cho đến liễu liễu
thường tri. Như vậy nghi tình con vẫn giữ, vẫn tiếp tục
tham đến cứu cánh hay là thế nào?
Đáp:
Tôi đã nói Tổ Sư Thiền là dùng không biết để tu, nghi
tình là không hiểu không biết, liễu liễu thường tri là
biết, là nghịch với tham thiền. Thiền tông nói “Tri chi
nhất tự, chúng họa chi môn,” nếu có liễu liễu thường
tri thì làm sao nói là tu Tổ Sư Thiền !
Đó
là vì ông lấy câu thoại làm mục tiêu chứ không phải lấy
thoại đầu làm mục tiêu, ấy là tham thoại vĩ, chẳng phải
tham thoại đầu. Thoại đầu là chưa có câu thoại, đã có
câu thoại thì chẳng phải thoại đầu rồi.
Tôi
phát hiện những người tham câu “Niệm Phật là ai”không
có nghi tình. Tại sao? Vì nếu thật không biết niệm Phật
là ai thì mặc áo ăn cơm cũng không biết, nói chuyện cũng
không biết. Nếu như tất cả đều biết, chỉ không biết
niệm Phật là ai, ấy là tự dối. Ví như ăn cơm biết là
tôi ăn, mặc áo biết là tôi mặc, chỉ có niệm Phật lại
không biết là tôi niệm, vậy có mâu thuẫn không?
Hỏi:
Loài hữu tình như con người khi tạo tội có đọa thành loài
vô tình để trả quả không? Trong chuyện Quy Ngươn Trực Chỉ
có đoạn viết:
Một
hôm Đức Phật và A Nan đi ngang một cây cổ thụ, A Nan thấy
có loài sâu đục từ trong thân cây ra và ăn thân cây. A Nan
bạch Phật “Loài sâu này tạo nhân gì mà hôm nay phải làm
thân sâu ở trong bọng cây?”Phật bảo:”Không chi lạ trước
đây vị trụ trì lấy cho thân bằng quyến thuộc lợi dưỡng
của thường trụ mà không tu, nên hiện giờ đọa làm thân
cây, và những con sâu chính là thân bằng quyến thuộc.”
Có phải vậy không? Xin Sư Phụ từ bi khai thị.
Đáp:
Tất cả lời nói của chư Phật đều là phương tiện tạm
thời. Kinh Lăng Nghiêm nói:”Cái thân này với cái tách này,
bình này đều bình đẳng, đều do Diệu tâm biến hiện.”
Nhưng nay con người chấp cái thân này là ta, còn cái tách
thì chẳng phải ta, ấy là do ý thức phân biệt, đã là che
khuất cái tâm.
Thật
ra, tất cả vũ trụ vạn vật, hữu tình vô tình, đều do
Diệu tâm biến hiện, hễ kiến tánh thì tất cả đều là
ta, tất cả hữu tình vô tình đều không ngoài tánh không,
tức hư không này là tâm. Do tâm tạo ra đủ thứ núi sông
đất đai, nhà cửa cây cối v.v… rồi lại phân biệt cái
này là ta, cái kia chẳng phải ta; cái này là hữu tình, cái
kia là vô tình… đều là vọng chấp, là bệnh mới có sự
phân biệt như vậy. (Sư phụ ví dụ một trăm cây đèn, lược
qua)
Hỏi:
Về vấn đề đi nhanh hay chậm trong lúc kinh hành có ảnh hưởng
gì không?
Đáp:
Không ảnh hưởng. Ở Thiền đường Trung Quốc, có lúc thấy
mọi người buồn ngủ thì đánh bảng bão hương, đi
thật nhanh như bay, còn bình thường thì đi chậm. Dù đi nhanh
hay chậm, trong bụng vẫn vừa nhìn vừa hỏi tham liên tiếp.
Hỏi:
Thế nào là Hòa Thượng Duy Lực?
Đáp:
Chẳng có thế nào hết. Cũng như tôi đâu phải gọi là Duy
Lực? Thầy bổn sư tôi đặt tên Duy Lực thì mọi người
gọi tôi là Duy Lực; người ta khen ngợi Duy Lực cũng chẳng
dính dáng với tôi, chê cười Duy Lực cũng chẳng dính dáng
với tôi. Không những Duy Lực là giả danh, cho đến Phật
Thích Ca cũng là giả danh. Trong Kinh Pháp Hoa, Phật nói:”Nay
đồng thời ở vô lượng vô biên thế giới hoằng dương
Phật pháp, mỗi thế giới đều có tên họ, tuổi tác khác
nhau,” vậy cho tên họ nào là chính Phật Thích Ca? Nói Phật
Thích Ca cũng chẳng phải Phật Thích Ca nữa, tức Phật còn
phủ nhận, huống là Duy Lực ! Trong Kinh Kim Cang Đức Phật
nói:”Do ta chẳng đắc Vô thượng Bồ đề nên Phật Nhiên
Đăng thọ ký cho ta sau này thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni,
nếu ta có đắc Vô thượng Bồ đề thì Phật Nhiên Đăng
đã chẳng thọ ký cho ta thành Phật, hiệu Thích Ca Mâu Ni.”
Tại ông có tư tưởng chấp thật, mới có những câu hỏi
như vậy.
Hỏi:
Đã chẳng có thì chẳng lập chơn, vậy những bậc cổ đức
xưa kia ngộ đạo rồi nương vào cái gì để an thân lập
hạnh?
Đáp:
Hôm trước tôi đã hỏi ông Phật tánh có thể giảm
bớt gián đoạn không, thì ông nói là không. Nếu Phật tánh
không gián đoạn thì đâu cần thành Phật gì nữa ! Chính
ông cũng biết Phật tánh không gián đoạn không giảm bớt
rồi, bây giờ đề ra câu hỏi nghịch lại, có phải mâu thuẫn
không?
Hỏi:
Thuận đã chẳng có thì làm sao có nghịch? Vậy thì đúng
là Hòa thượng Duy Lực rồi .
Đáp:
Vì ông có tư tưởng chấp thật quá nặng, nên phải chấp
vào một chỗ nào mới được, chứ không tin Phật tánh của
mình khắp không gian thời gian, dù nói tin mà không tin, hãy
xem kỹ cuốn Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Lăng Già .
Hỏi:
Trong Thiền Thất Khai Thị Lục, ngài Lai Quả nói:”Tất cả
chúng sanh cũng là chướng, phiền não cũng là chướng, Phật
cũng là chướng, hư không đại địa cũng là chướng.” Đã
là hư không thì làm sao bị chướng? Con không hiểu đoạn
này, xin Sư phụ từ bi khai thị.
Đáp:
Tại ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, thành
điên đảo tưởng mới thành chướng, nếu chỉ có thế lưu
bố tưởng, không có trước tưởng thì chẳng thành chướng,
tất cả đều là Chơn như, tất cả đều là tuyệt đối.
Nếu không sanh ra chấp trước tưởng thì Bồ đề và phiền
não chẳng khác, chúng sanh với chư Phật cũng chẳng khác,
cho đến tham sân si cũng là giải thoát.
Tất
cả vũ trụ vạn vật, pháp thế gian pháp xuất thế gian đều
do vọng tâm kiến lập, kiến lập rồi lại phủ nhận. Kinh
Lăng Già nói “Kiến lập và phủ nhận đều là vọng,”
vì tâm mình chẳng thể kiến lập, kiến lập còn không thể,
làm sao phủ nhận? Nhưng bây giờ tất cả Phật pháp muốn
giảng ra để chúng sanh được hiểu biết và theo đó tu hành
thì phải kiến lập rồi phủ nhận, tức là hai chữ “lập”và
“phá”: Năm thừa gồm Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa,
Nhơn thừa và Thiên thừa . Nhơn thừa, thiên thừa chỉ có
lập không có phá, Tiểu thừa, Trung thừa cho đến Đại thừa
đều có lập có phá, Tối thượng thừa thì không có lập
chỉ có phá. Nếu đến cùng tột thì lập cũng không, phá
cũng không, tức đến Diệu Giác rồi, đó mới là bản lai
diện mục, chẳng có cái gì để lập, cũng chẳng có cái
gì để phá.
Hỏi:
Trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu dùng tâm phàm phu này đo lường
cảnh giới của Như lai, chẳng khác gì lấy lửa đom đóm
đốt núi Tu di”là thế nào?
Đáp:
Cũng trong Kinh Viên Giác nói:”Nếu chưa ra khỏi luân hồi
mà luận bàn viên giác, thì viên giác ấy cũng là luân hồi.”
Nay dùng lời nói thế gian thì nói đi nói lại cũng là pháp
thế gian, chẳng thể ra ngoài thế gian được. Cho nên, dùng
ngôn ngữ chẳng thể nhập tri kiến Phật .
Nói
đến tri kiến Phật, nhiều người lầm tưởng có cái kiến
giải, có cái sở tri của Phật. Nếu có kiến giải, có sở
tri thì chẳng phải tri kiến Phật, chẳng lập tri kiến nào
cả, trống rỗng tánh không mới là tri kiến Phật. Hễ có
nổi lên một tri kiến nhỏ như hạt bụi cũng chẳng phải
tri kiến Phật, mà ấy là vọng.
Hỏi:
Thế nào là tri huyển tức ly, ly huyển tức giác?
Đáp:
Ly là lìa, bây giờ muốn lìa cái gì? Đã trống rỗng tánh
không rồi lấy cái gì để lìa? Biết đó là tánh không
đã là lìa, biết chẳng có cái gì để lìa đã là lìa rồi
! Nếu chấp thật có cái gì để lìa thì chẳng lìa được,
là không dây tự trói. Cũng như Tổ Đạt Ma ấn chứng cho
Nhị tổ Huệ Khả:
Huệ
Khả nói: Tâm con bất an, xin thầy an tâm cho.
Tổ
nói: Đem tâm lại để thầy an cho.
Huệ
Khả tìm một hồi rồi nói: Tìm tâm không ra.
Tổ
nói: Đã an tâm cho con rồi đó.
Huệ
Khả liền ngộ.
Hỏi:
Có một vị Phật tử, lúc trước học theo phái khất sĩ,
Hòa thượng Khất sĩ bảo:”Phật tử tại gia không ngồi
thiền được, vì va chạm ngoài đời nhiều vọng động, không
nên ngồi thiền..” Còn Phật tử tại gia tu theo Tổ Sư Thiền
rất dễ, con hơi thắc mắc điều này, xin Sư phụ từ bi khai
thị.
Đáp:
Theo Tổ Sư Thiền, ông vua cũng có kiến tánh, Thừa tướng,
Bộ trưởng cũng có kiến tánh, bà già vai gánh tay bưng rao
bán ngoài đường cũng kiến tánh, đứa bé 8 tuổi như Long
Nữ trong Kinh Pháp Hoa cũng kiến tánh thành Phật, những người
này đều là tại gia, chẳng những tu thiền được, còn kiến
tánh nữa. Phái Khất sĩ nếu quyết tử tu cũng kiến tánh
vậy, đâu có phân biệt tại gia xuất gia? Trong Kinh Pháp Bảo
Đàn, Lục Tổ nói:”Xuất gia chẳng tu thì không bằng tại
gia có tu”(Sư phụ kể về thân xuất gia và tâm xuất gia,
và câu chuyện của gia đình ông Bàng Công Uẩn, lược qua)
Hỏi:
Thế nào là “Vi thuận tương tranh, thị vi tâm bệnh. Bất
thức huyền chỉ, đồ lao niệm tịnh”trong bài Tín Tâm Minh?
Đáp:
Ông hãy xem lại cuốn Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải sẽ rõ.
chỉ cần hiểu được hai câu đầu tiên của bài này sẽ
hiểu tất cả. Bài Tín Tâm Minh Tịch Nghĩa Giải là do ngài
Trung Phong thấy người ta chấp vào Tín Tâm Minh của Tổ Tăng
Xán, dùng Tín Tâm Minh dẫn chứng là nghịch với Tín Tâm Minh
và ý của Tổ Tăng Xán, là phỉ báng Tổ.
Ý
của chư Phật, chư Tổ chẳng phải ở trong lời, nên Tứ
y nói “Y nghĩa bất y ngữ,” phải y theo ý nghĩa chứ không
được y theo lời nói. Bây giờ người ta cứ đuổi theo lời
nói mà nghịch với ý nghĩa, nên ngài Trung Phong mới làm ra
bài Tịch Nghĩa Giải . Tịch là phủ định nghĩa giải, lời
của ngài dù cao hơn nghĩa giải của Giáo môn nhiều nhưng
cũng phải quét sạch.
Thật
ra, nói “Ý nghĩa”đã là không đúng, lập ra nghĩa đã là
sai. Như ở trên tôi đã nói, tánh Không có nghĩa lý gì đâu?
Lập ra cái nghĩa không của cái tách, của cái bình, của căn
nhà, đối với nghĩa không của thực tế có dính dáng gì
!
Hỏi:
Tại sao lúc Đức Phật ra đời trời đất rung chuyển, khi
Phật nhập Niết bàn thì trời người chim muông đau thương?
Đáp:
Chính Phật Thích Ca nói là vô thỉ vô sanh, thì làm sao Phật
lại có sanh và nhập Niết Bàn? Kinh Lăng Già nói:”Chẳng
có Phật Niết bàn, chẳng có Niết bàn Phật,” nếu y theo
lời nói thì rất mâu thuẫn, nên phải hiểu theo nghĩa: Tám
tướng thành đạo từ Đức Phật sinh ra đến khi nhập
Niết bàn, là muốn thị hiện cho người đời biết, nên có
trời đất rung chuyển, sự thật thì chẳng có sanh, cũng chẳng
có Niết bàn.
Hỏi:
Có phải số mạng con người thể hiện trên chỉ tay?
Đáp:
Tôi chỉ biết nhân quả, không biết coi chỉ tay. Nhân quả
do tâm tạo, tâm mình tạo thì tâm mình cũng sửa được, chứ
người khác thì sửa không được.
Hỏi:
Phật tử đông có tốt không?
Đáp:
Vấn đề chẳng phải là đông hay không đông, mà phải tu
đúng chánh pháp mới là tốt. Dù Phật tử chỉ có một người
mà tu đúng chánh pháp ấy là tốt, còn nếu Phật tử một
ngàn người, tu theo tà pháp thì không tốt. Tại sao? Vì tu
đúng chánh pháp được giải thoát, một người thành Phật
độ vô lượng vô biên chúng sanh; còn một ngàn người tu
theo tà đạo, chẳng những không được giải thoát, còn phải
đọa địa ngục, ấy là hại người, đông chừng nào hại
nhiều chừng nấy.
Hỏi:
Thế nào là chuyển thức thành trí?
Đáp:
Thức là tám thức, chuyển thức thành trí là kiến tánh: Thức
thứ tám chuyển thành Đại Viên Cảnh trí, thức thứ bảy
chuyển thành Bình Đẳng Tánh trí, thức thứ sáu chuyển thành
Diệu Quan Sát trí, tiền ngũ thức chuyển thành Thành Sở Tác
trí, tức tám thức chuyển thành tứ trí. Hễ chuyển thành
trí rồi thì con mắt có thể nghe, lổ tai có thể xem, tức
lục căn hỗ dụng, vì tám thức chẳng phải có tám người,
chỉ chia thành tám tác dụng, nay đã chuyển thành trí thì
không có phân biệt nữa.
Hỏi:
Ăn chay có đủ dinh dưỡng không? Mẹ con bị liệt bán thân,
con muốn cho mẹ ăn chay nhưng sợ không đủ dinh dưỡng, hoặc
con phải cúng dường trai Tăng, hồi hướng công đức cho mẹ
con bớt nghiệp?
Đáp:
Nhiều người cho là ăn chay không đủ dinh dưỡng, chính bác
sĩ cũng nói vậy. Nhưng ở các nước phương Tây, các nhà
nghiên cứu tâm lý và vật lý học, lại khuyên mọi người
dùng rau cải thay vì dùng cá thịt. Ấy có sự dẫn chứng
cụ thể: như con voi, trâu, bò, ngựa… những loại động
vật này đều ăn chay (ăn cỏ) mà rất khỏe mạnh. Người
ta cho là dùng huyết bò, thịt bò là bổ, nhưng con bò chỉ
ăn cỏ, vậy là chất bổ lấy từ cỏ, mà con người ăn chay
là trực tiếp hấp thụ chất bổ.
Nhà
Tâm lý học đem ra một số thí nghiệm: Họ dùng một mảnh
kiếng, cho người đang nổi sân hận phà hơi thở vào mảnh
kiếng, thì hơi thở trên kiếng có màu hơi vàng, đem rửa
ra cho con sâu nhỏ ăn, liền bị độc chết. Còn người không
nổi sân hận, tâm thanh nhàn thì hơi thở phà ra có màu trắng,
con sâu ăn phải không bị chết.
Thí
dụ trên chứng tỏ, lúc con vật bị đưa ra giết hại thì
tâm rất sân hận, tự nhiên máu thịt của nó sẽ chứa đầy
chất độc.
Lại
nữa, có một người Mỹ là chuyên viên kiểm dịch thực phẩm,
khi được mời đi nhà hàng thì ông ấy không bao giờ
dùng món thịt cá mà chỉ ăn rau cải, mọi người hỏi ông
ấy là đạo Phật hay đạo gì mà không ăn thịt? Ông đáp:
Tôi chẳng có đạo gì hết, sở dĩ không ăn thịt chỉ vì
sức khỏe thôi.” Hỏi lý do thì ông ấy nói:
-
Tôi là kiểm phẩm viên, mỗi khi tôi kiểm dịch thực phẩm
đều phát hiện trên đó chứa đầy vi trùng, nếu tôi nghiêm
khắc quá chắc thị trường không có thịt để bán, nên chỉ
cấm những loại hàng nào quá tệ thôi, vì đó nên tôi không
dám ăn.”
Qua
sự thống kê hàng năm của các công ty bảo hiểm nhân thọ,
phát hiện rằng người ăn mặn thường có tuổi thọ ngắn
hơn người ăn chay, nên khi họ nhận bảo hiểm cho người
ăn chay họ sẽ có lợi hơn.
Vậy
đủ chứng tỏ ăn chay là dinh dưỡng trực tiếp, còn ăn thịt
là dinh dưỡng gián tiếp, lại thêm vào độc tố, vi trùng,
mầm bệnh…
Hỏi:
Lo tham thiền không màng đến buôn bán thì cuộc sống con cái
ra sao?
Đáp:
Pháp sư Đàm Hư ở Hồng Kông (thọ 90 tuổi, tịch ở HK) trước
khi xuất gia là một người thầy thuốc, mở một tiệm thuốc
Bắc và có năm đứa con. Khi Sư phát tâm xuất gia thì
đứa con nhỏ nhất chỉ mới một tuổi, vì sợ bị cản trở,
nên không dám báo cho vợ biết mà lén đi xuất gia.
Đang
đi nữa đường, chợt nghĩ: Nếu ra đi như thế thì tiệm
thuốc sẽ ra sao? Phải đóng cửa ư? Rồi làm sao duy trì cuộc
sống cho cả nhà? Cả bầy con còn non dại, rủi người vợ
chịu không thấu đi lấy chồng khác thì ai nuôi con?
Lại
nghĩ: Trên đời này thiếu gì người tái giá, nếu như ta
không phải vì xuất gia mà là bị bệnh chết, chẳng phải
mấy đứa con cũng thành mồ côi sao !
Nghĩ
đi nghĩ lại, cuối cùng cũng chọn con đường xuất gia. Vài
năm sau, khi trở thành Pháp sư rồi, trên đường đi hoằng
pháp có dịp đi ngang quê nhà, thì con cái đã trưởng thành,
tiệm thuốc vẫn còn. Lúc đầu bà vợ rất giận, nhưng cũng
ráng nuôi các con. Về sau, vợ ông ấy cũng tu theo pháp
Tịnh độ mà được vãng sanh, cũng có người con trai đi theo
con đường xuất gia vậy.
Lại
nữa, chính lúc Phật Thích Ca lén đi xuất gia thì đứa con
là La Hầu La mới chỉ ra đời có mấy ngày.
Hỏi:
Thế nào là ngũ phần hương?
Đáp:
Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Lục Tổ giải thích năm thứ
hương: Giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát
hương, giải thoát tri kiến hương.
Năm
thứ hương này là hương của tâm, mọi người đều có. Nay
chúng ta tham thiền, hỏi câu thoại giữ được nghi tình thì
giới hương, định hương, huệ hương… năm thứ hương đều
đang đốt. Vì nghi tình là không biết, không biết thì không
phạm giới, ấy gọi là Giới hương; không biết thì tâm chẳng
tán loạn, ấy là Định hương, không biết thì chẳng phân
biệt, hễ có phân biệt là thức, chẳng phân biệt là trí,
ấy là Huệ hương.Không biết thì đâu còn tri kiến gì? tức
giải thoát tri kiến hương, luôn cả giải thoát tri kiến cũng
không còn, là đầy đủ ngũ phần hương.
Hỏi:
Sư phụ dạy tham thoại đầu là đi đến chỗ vô niệm, nói
Phật tánh của mọi người sẵn đủ, nhưng trong lý này, thật
ra con thấy ít ai nhận được, dẫu có đem thân tu đạo nhưng
tâm chưa nhập đạo cũng chẳng thể thấy được lý pháp
thân. Ở đây Sư phụ cho hỏi những thắc mắc,
nhưng hễ có thắc mắc là đã rơi vào có niệm rồi ! Vậy
hỏi như thế nào để khỏi rơi vào năng sở và kẹt vào
chỗ có không?
Đáp:
Bây giờ nghi tình cũng là có niệm, nghi tình cũng là nhất
niệm vô minh, đâu phải vô niệm? Tôi đâu có nói là vô niệm?
Ông còn chưa biết ý nghĩa của vô niệm: Trong Pháp Bảo Đàn
nói:”Hữu niệm niệm thành tà, vô niệm niệm tức chánh,
tà chánh đều quét sạch, thanh tịnh đến cùng tột,”
tà chánh đều phải quét sạch, vô niệm cũng phải quét, đâu
phải cần vô niệm? Hai câu kệ:”Chớ nói vô niệm tức là
đạo, vô niệm còn cách muôn trùng quan,” ai nói là phải
vô niệm?
Tôi
không có nói tham thiền cần vô niệm, chỉ nói là “Như Lai
Thiền là dùng cái niệm biết để tu, còn Tổ Sư Thiền là
dùng sự không biết để tu,” không biết cũng là niệm, mới
thành nghi tình.
Hỏi:
Vô sư trí nghĩa là không có thầy dạy, không có người chỉ
mà nói ra được, ấy là của mình, phải không? Trong sự tham
thoại đầu hằng ngày có được vô sư trí không? Vô sư trí
và kiến tánh khác nhau như thế nào?
Đáp:
Lúc kiến tánh tức hiện ra vô sư trí. Vô sư trí là cái tâm
mình sẵn có, mục đích tham thiền là phát hiện cái mà mình
sẵn có. Còn những gì học được là của người khác, nếu
muốn đem dạy lại người khác, tự phải có trí huệ phân
biệt nó đúng hay sai. Lại nói là “tự mình biết,” có
phải thật rõ biết hay không, ấy cũng là một vấn đề.
Theo
tánh của con người thường ham làm thầy của người khác,
dạy pháp thế gian nếu không đúng bất quá học không thành
mà thôi, chẳng có tác hại; còn Phật pháp nếu dạy
không đúng thì có hại. Thiền tông có công án về Bá Trượng
và con chồn năm trăm kiếp (lược qua). Cũng như bây giờ tôi
giải đáp vì nhiều người tin tôi rồi, hễ tôi trả lời
sai cũng có tội, chẳng thà nói mà chẳng ai tin thì không có
tội. Cho nên, trong Phật pháp muốn dạy người không phải
dễ.
Hỏi:
Có phải dâng bông, thắp đèn cúng Phật thì kiếp sau sẽ
được tướng hảo, được trí huệ sáng không?
Đáp:
Trong Phật giáo, tác dụng của Phật pháp là muốn người
ta tu giải thoát tất cả khổ, còn nếu chỉ muốn kiếp sau
được giàu sang, được tướng tốt thì đó là chướng ngại
sự giải thoát, phải tự tu rồi trí huệ mới sáng, nếu
khỏi tu thì không có nhân quả. Cúng bông cúng đèn cũng có
cái nhân, nhưng nhân này rất nhỏ, còn tự mình tu phát hiện
cái mình sẵn có ấy mới là chơn thật triệt để.
Về
vấn đề bố thí cúng dường, trong Kinh Kim Cang nói:”đem
thất bữu chất đầy tam thiên đại thiên thế giới cúng
dường chư Phật, phước đức đó không bằng giải thuyết
tứ cú kệ.” Tại sao? Vì giải thuyết tứ cú kệ người
ta theo đó tu được giải thoát, còn cúng dường bao nhiêu,
phước lớn chừng nào, hưởng dần cũng sẽ hết. Lại nữa,
trong lúc hưởng phước còn có thể gây thêm tội, kiếp sau
nữa phải chịu khổ báo. Cho nên, người chơn tu chỉ cần
giải thoát không cần phước, vì phước đó tự tánh sẵn
có, hưởng đâu có hết !
Giáo
môn dạy người phước huệ song tu, đó chỉ là phương tiện,
còn tôi dạy Tổ Sư Thiền là vô sở đắc, không được phước
cũng không được huệ, vô sở đắc vô sở cầu vô sở sợ
là để phá ngã chấp, mau đạt đến giải thoát, tức kiến
tánh thành Phật. Đã kiến tánh thì phước đó không gì bằng,
vì tất cả đều đầy đủ chẳng thiếu sót.