[15] 06/03/95–12/03/95
tại Chùa Từ Ân, Quận 11
Khi
cúng giỗ, ông bà cha mẹ quá cố có hưởng được không?
Lúc
buồn ngủ đừng ráng tham thiền
Cuộc
sống của dân tộc Cogi theo tinh thần giới luật nhà Phật
Làm
sao phát khởi nghi tình?
Người
kiến tánh có thể nhìn thấy hào quang?
Thế
nào là bổn tham?
Kẻ
vác bảng
Chưa
kiến tánh như mất mẹ cha
Khi
nào nhìn được thoại đầu thì khỏi cần hỏi câu thoại
cũng được
Hình
thể và cơ nhân
Làm
sao chứng minh sự tồn tại của tâm linh?
Câu
chuyện ngài Hư Vân nhập định ở núi Chung Nam
Tâm
thanh tịnh là vô thỉ vô minh
Sao
chư Phật chư Tổ chỉ truyền tâm ấn cho một ngườỉ
Tham
thiền và Niệm Phật tu lẫn lộn
Không
biết tức là quên?
Do
ghi nhớ nên công phu bị chướng ngại
Nhất
niệm vô minh & vô thỉ vô minh
Các
hạnh vô thường, là pháp sanh diệt
Chùa
Cao Mân kiết hạ, mỗi ngày chỉ ngủ bốn giờ đồng hồ
Pháp
thiền vô trụ, pháp thiền vô sanh
Năm
thứ chủng tánh
Sao
khi ngộ, làm sao bảo nhiệm?
Thường
ứng chư căn dụng
Thiền
sư Liễu Quán
Qui
củ tòng lâm: Một ngày không làm, một ngày không ăn
Thiên
thượng thiên hạ vô như Phật
Tiểu
tử tiểu hoạt, đại tử đại hoạt
Niệm
Phật thành phiến, có thể tham câu ”Niệm Phật là aỉ”
Làm
sao hóa giải oán thù?
Hỏi:
Khi cúng giỗ, ông bà cha mẹ quá cố có hưởng được không?
Đáp:
Nói vậy là còn ngã chấp, nếu thật phải nhờ sự cúng giỗ
mới được hưởng thì ông bà cũng phải chết đói, vì một
năm chỉ cúng giỗ một – hai lần, làm sao sống nỗi!
Hỏi:
Tâm con cứ muốn ráng tu miên mật, nhưng sao tối đi công phu
thì buồn ngủ không tu nỗi?
Đáp:
Buồn ngủ thì cứ ngủ, thức dậy rồi tiếp tục, khỏi cần
ráng, ít phí sức chừng nào tốt chừng nấy, nếu buồn ngủ
có ráng cũng không được.
Hỏi:
Là người tu hành, chúng con thường muốn sắp việc tu hành
lên hàng đầu, cuộc sống hàng ngày vào hàng thứ hai, nhưng
tại sao cứ bị tuột xuống?
Đáp:
Theo lời Phật dạy, chúng ta ở chung cùng tu thì phải giữ
gìn qui cũ. Tôi đã nói nhiều lần, trong Thiền thất nếu
ai không giữ và phạm qui cũ ba lần phải mời họ ra đi. Bất
cứ Tăng đoàn nào, ở đâu cũng vậy, hễ có chúng đông phải
nhờ qui cũ, chứ không phải ai muốn làm sao cũng được, nhưng
người lãnh đạo phải làm gương mẫu cho đại chúng noi theo,
tự mình làm được rồi nói đại chúng mới chịu nghe.
Lại
nữa, tất cả thời giờ đều nên dùng để tu hành, còn giờ
giấc dành cho lao động, trồng trọt, cuộc sống… phải giới
hạn; hiện nay đa số các chùa có Phật tử cúng dường, không
cần trồng trọt sản xuất, phải thực hiện đúng theo thời
khóa, chớ nên tự xen vào ý mình.
Hôm
trước đài BBC có chiếu một bài phóng sự về một đoàn
ký giả đến phỏng vấn một dân tộc Cogi ở vùng Nam Mỹ,
bài đó có tiêu đề “Thông điệp của người dân tộc Cogi.”
Trong phim tài liệu, cuộc sống của dân làng Cogi đều thể
hiện 100% theo tinh thần giới luật nhà Phật, trong khi tất
cả Phật giáo trên thế giới hiện nay chẳng ai theo nỗi:
Họ
thực hiện cuộc sống có qui luật đúng như sự Yết-ma trong
Tăng đoàn, bất cứ việc lớn nhỏ đều qua đại chúng và
phải thông qua 100%, nếu trong đó có một người không đồng
ý cũng không được. Trẻ em trong làng đến bảy tuổi là
bắt đầu tập theo hạnh Sa-di, đến hai mươi mốt tuổi thì
tập theo hạnh Tỳ-kheo, chỉ khác nhau ở chỗ họ có gia đình
vợ con.
Mặc
dù có vợ con, nhưng không ai có tài sản riêng của cá nhân
và của gia đình; tất cả đều là của chung, luôn cả lương
thực cũng không tích chứa. Điều đó cũng giống giới luật
nhà Phật, hễ hôm nay khất thực được bao nhiêu thì ăn bấy
nhiêu, không tích chứa phần ngày mai.
Dân
làng tốn rất ít thời gian về việc ăn uống, phần nhiều
thời gian giành cho sự tu. Họ cho tất cả đều là anh em trong
một đại gia đình nhân loại nên họ không ăn cá thịt, điều
này phù hợp với Phật giáo rằng tất cả chúng sanh đều
là anh em họ hàng. Đối với thực vật, nếu không cần thiết
thì họ cũng không phá hủy một cách vô lý, và điều này
cũng phù hợp theo kinh Phật dạy, họ thực hành trong mọi
mặt chứ không chỉ là nói suông.
Họ
không giao thiệp bên ngoài, nhưng lại biết rõ về mọi việc
đang diễn ra trên thế giới: Biết rõ sẽ có một cuộc họp
về tôn giáo thế giới tại Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 1993, nên
muốn nhân dịp này nhờ đoàn ký giả của Đài BBC gởi một
thông điệp đến toàn thế giới: Hiện nay trên toàn thế
giới về vấn đề ô nhiễm môi trường, chặt cây phá rừng,
thiên tai, chiến tranh, đổ máu v.v… đều là do con người
không chịu gìn giữ, chỉ biết phá hoại gia tài của mẹ
(vũ trụ)ï mà gây lên, khắp thế giới ngày nay đều
nghịch với thiên nhiên, cho nên, họ đưa ra thông điệp với
cương vị là người đàn anh mà dạy dỗ đàn em.
Hỏi:
Bạch Sư Phụ, con vẫn chưa rõ cách tham: Là niệm câu thoại
đầu hay hỏi thầm trong bụng? Vậy là trong trí của mình
đặt lên câu hỏi rồi hỏi thầm trong bụng, phải không?
Đáp:
Tôi đã nói là “hỏi”chứ không phải là niệm, đừng có
cho là trí hay ngu, đừng đem ý mình xen vào, cứ nhìn và hỏi
câu thoại. Hỏi là để khởi lên sự không biết, nhìn là
nhìn chỗ không biết, hỏi và nhìn một lượt, đừng cho là
bất cứ cái gì cả. Ông nói “phải hỏi thầm trong tâm,”
cho là phải cũng không được, cho là không phải cũng không
được.
Hỏi:
Vậy phải làm sao mới đặt được câu hỏi?
Đáp:
Chỉ có hỏi và nhìn, đến khi nào ngộ mới thôi, chớ có
cho là cái hỏi phải làm sao, cái nhìn phải làm sao, ngộ là
tự biết. Bây giờ cứ cho là phải như thế này mới đúng,
như thế kia không đúng; cho là trí, là ngu, là vô ký v.v…đều
chướng ngại sự tham thiền.
Hỏi:
Có một vị tu sĩ nói với con rằng “những người tu thường
được Hộ pháp bảo vệ, nhiều khi có tiếng nói vang trong
đầu để hướng dẫn việc đúng sai trong chỗ hành…”Vậy
có thật là Hộ pháp chỉ dạy hay do ma cảnh tạo ra?
Đáp:
Do chính mình có tâm chấp, mới lọt vào tà ma. (Xem chương
nói về 50 Thứ Ma Ngũ Ấm trong Kinh Lăng Nghiêm)
Hỏi:
Có lần con nằm chiêm bao thấy mấy con chuột kiện với con
rằng con mèo trong nhà săn đuổi chúng quá, vậy phải làm
sao?
Đáp:
Cách giải quyết chỉ là đề câu thoại đầu khởi lên nghi
tình nhìn và hỏi, mới là cách giải quyết căn bản, ngoài
ra không biết tới. Mấy cái kia không cần giải quyết, như
lời Phật nói “Chỉ là tùy duyên tiêu nghiệp chướng và
không tạo thêm nghiệp mới”thôi.
Hỏi:
Người đã kiến tánh có thể nhìn thấy hào quang của người
khác không?
Đáp:
Không nhất thiết. Có người kiến tánh rồi do tập khí thế
gian còn nhiều nên chưa có thần thông, phải dứt sạch tập
khí thế gian rồi thần thông mới có thể hiện lên. Cũng
có những người cư sĩ tham thiền đến một mức nào rồi
hiện được sức dụng của tự tâm, cũng gọi là thần thông,
nhưng rất ít.
Về
vấn đề hào quang, nếu tâm lực của mình phát huy ra hết
thì không cần thấy hào quang nữa, vì đã thấy khắp không
gian rồi ! Phật tánh gọi là Chánh Biến Tri, cái biết đúng
như thực tế, thấy khắp không gian thời gian, vô lượng vô
biên chúng sanh hễ có một chúng sanh nổi lên một niệm đều
biết, chứ không phải chỉ thấy biết hào quang mà thôi.
Hỏi:
Thế nào là bổn tham?
Đáp:
Bổn tham tức câu thoại đầu mà mình tham, chỗ chưa khởi
niệm lên gọi là thoại đầu, khi phá sơ quan gọi là phá
bổn tham.
Hỏi:
Thế nào là “Chấp lý bỏ sự là kẻ vác bảng, chấp dụng
bỏ thể là kẻ lỗ mãng”?
Đáp:
Bất cứ chấp về cái gì, coi trọng về cái gì đều chướng
ngại sự tham thiền, hễ chấp vào chỗ nào đều là kẻ vác
bảng. Có một câu chuyện như sau:
Một
vị tăng lên đường đi gặp Mã Tổ, dọc đường thấy một
khúc cây rất to, đến nơi gặp ngài và kể cho ngài nghe về
khúc cây đó, Mã Tổ nói:
-
Không ngờ ông lại có sức mạnh đến thế!
Tăng
nói: - Tôi có sức mạnh gì đâu?
Mã
Tổ nói:- Ông vác cả khúc cây to kia từ đó đến đây, chẳng
phải là có sức mạnh sao !
Thật
ra, ông Tăng kia đâu có vác, chỉ là ghi nhớ mà thôi, đó
là nghĩa vác bảng, chúng ta tham thiền chấm dứt hết tất
cả tìm hiểu ghi nhớ suy nghĩ, tức tránh khỏi những thứ
đó.
Hỏi:
Câu “Trước khi chưa ngộ như mất cha mẹ, sau khi đại ngộ
như mất mẹ cha”là như thế nào?
Đáp:
Ở ngoài đời, cha mẹ đối với con cái rất quan trọng, chuyện
gì cũng không gấp bằng khi hay tin cha mẹ mất, bất kể khó
khăn thế nào, dù đang ở thật xa cũng phải về liền. Câu
nói này dụ cho sự khẩàn thiết, ý nói việc kiến tánh cần
thiết như mất cha mẹ, chẳng việc nào cần hơn. Sau khi kiến
tánh rồi, tập khí chưa dứt sạch, chẳng thể hiện ra sức
dụng, nên cần sự bảo nhiệm để dứt trừ tập khí, gọi
là cần thiết như mất mẹ cha.
Hỏi:
Trong khi công phu, con luôn khán vào chỗ chưa khởi niệm, tức
hầm sâu vô minh, bất kể đi đứng nằm ngồi. Ngài Hư Vân
trong Ngữ Lục có nói: Khi khán công án đến lúc châm châm
như mèo rình bắt chuột thì không cần đề khởi câu thoại
đầu, vì sợ khi đề câu thoại lên là trên đầu lại thêm
đầu, phải không?
Đáp:
Sở dĩ hỏi câu thoại là vì chưa khởi được nghi tình, nên
nhờ câu thoại để kích thích; đến khi nào nhìn được rồi,
nghi tình được kéo dài thì khỏi cần hỏi câu thoại cũng
được.
Hỏi:
Theo sự nhận xét của con thì cõi Cực Lạc và địa ngục
đều là ở đây hết cả: Nếu cuộc sống của mình cảm
thấy hạnh phúc yên vui thì đó là Cực Lạc; nếu sanh nhằm
vào chỗ luôn bị bức bách thì đó là địa ngục, phải không?
Đáp:
Đức Phật đã nói “Nhất thiết duy tâm tạo,” địa ngục
là tâm tạo, Cực Lạc cũng là do tâm tạo, chúng sanh, cõi
Phật…cũng là do tâm tạo, chẳng phải ở nơi đây hay tại
nơi đó, là ở nơi tâm, tâm thì chẳng có chỗ, khắp không
gian thời gian.
Hỏi:
Chủng tử của nhà Phật và cơ nhân của tế bào có ảnh
hưởng gì không?
Đáp:
Cơ nhân của tế bào chỉ tạo ra hình thể và di truyền, Cơ
nhân là nhân của thể xác, hễ thể xác này hoại rồi ra
thể xác khác. Còn chủng tử là do nghiệp của mình tạo ra,
có mật mã ghi trong tâm linh, nếu không sửa đổi thì nó cứ
tiếp tục mãi.
Thể
xác sẽ hoại, còn tâm linh không có hoại. Cho nên, cơ
nhân của tế bào thuộc vật chất, tâm linh thuộc thể tinh
thần; thể xác chẳng phải chủ sinh mạng, chủ sinh mạng
là tâm linh. Khi tâm linh lìa khỏi thể xác này thì thể xác
có thể biến thành tro thành đất, còn chủ sinh mạng chẳng
thể biến thành tro đất, ấy mới chính là chơn thật của
ta.
Hỏi:
Tại sao nhà khoa học chứng minh được thể xác con người
từ đâu có, mà chẳng thể chứng minh được cái chơn linh
của con người?
Đáp:
Vì thể xác có thể dùng ngũ giác quan tiếp xúc được, còn
tâm linh chẳng thể dùng ngũ giác quan chứng tỏ sự tồn tại
của nó, đó là siêu ngũ giác quan. Cho nên, người đã chứng
quả mới có thể tự mình chứng biết, còn người chưa chứng
quả thì không thể chứng minh; người có tu hành có thể dùng
tâm linh chứng tỏ tâm linh, người không tu chẳng thể dùng
bộ não chứng tỏ sự tồn tại của tâm linh. Đó là lý do
tại sao trong Tâm Kinh Đức Phật dùng chữ VÔ để phủ định:
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc
pháp…, vì chẳng thể tiếp xúc được cái thực tế, tức
chính tâm linh của ta chẳng thể tiếp xúc bởi lục căn lục
trần lục thức.
Hỏi:
Con đi chùa gặp một vị tu sĩ, Phật tử đem đồ mặn cúng
dường thầy ấy vẫn dùng, con thắc mắc hỏi thầy, thầy
nói:”Tu hành đừng chấp chay mặn, chấp là kẹt. Ăn mà trong
tâm không chấp, cứ lo tu đi.” Vậy có đúng không? Có lọt
vào nhân quả không?
Đáp:
Vị thầy đó nếu thật sự không phân biệt chay mặn thì
tất cả cái khác đều không phân biệt, vậy cũng được;
hễ thật sự không phân biệt, ấy là chuyển thức thành trí
rồi, chẳng còn cái thức phân biệt nữa. Nếu chưa đến
mức, chỉ không phân biệt chay mặn mà cái khác thì phân biệt,
ấy là sai, nói như thế là gây tội địa ngục, còn phải
trả nợ thịt.
Hỏi:
Xin Sư phụ kể qua câu chuyện ngài Hư Vân nhập định như
thế nào?
Đáp:
Ngài Hư Vân nhập định nửa tháng mà cảm giác chỉ có một
lúc. Ngài cùng các vị đồng tu ở trên núi Chung Nam, quanh
năm phủ tuyết, mỗi người ở một cái cốc cách xa nhau,
thức ăn chỉ đào những củ khoai rất cứng trên núi, người
thường ăn không nổi. Một hôm, Ngài bỏ củ khoai vào
nồi nấu rồi công phu nhập định lúc nào chẳng hay, lúc
đó vào dịp Tết, những người bạn đồng tu ở xung quanh
thấy lâu không gặp ngài, bèn rủ nhau đến thăm, thấy ngài
đang nhập định, liền bún lỗ tai khiến xuất định và hỏi
ngài nhập định bao lâu?
Ngài
đáp: Mới hồi nãi, chắc nồi khoai đã chín rồi.
Nhưng
khi mở nắp nồi ra thì trong đó củ khoai đã nổi mốc lên
cao, tính ra mới biết đã hơn nửa tháng.
Sở
dĩ chớp nhoáng thấy thời gian nhanh là do công phu không có
vọng tưởng nên thời gian trôi nhanh mà không hay, nhưng nếu
còn cảm biết tức chưa quên, công phu còn non. Hễ nghi tình
chơn thật thì kể cả công phu cũng không biết luôn.
Hỏi:
Tại sao Kinh điển Đại thừa thường đề cập đến tâm
thanh tịnh?
Đáp:
Nói “tâm thanh tịnh”là để đối trị với tán loạn, đó
thuộc về Giáo môn, còn Thiền tông chỉ chú trọng chữ nghi,
nếu giữ được nghi tình thì tất cả đều giải quyết,
không biết đến thanh tịnh, cũng không biết đến không thanh
tịnh.
Hỏi:
Có phải chỗ thanh tịnh đó, trong Thiền tông gọi là
hầm sâu vô minh?
Đáp:
Chỗ đó là vô thỉ vô minh, tức nguồn gốc của nhất niệm
vô minh.
Hỏi:
Ngài Ca Diếp đã ngộ được cái gì trong Hội Linh Sơn khi
Đức Phật đưa lên một cành hoa rồi ngài được truyền
y bát?
Đáp:
Nếu có ngộ được cái gì thì chẳng phải ngộ. Khi bản
tâm toàn vẹn hiện lên, chẳng phải là ngộ được cái gì,
chẳng phải có tâm năng kiến để kiến được Phật tánh.
Rồi nói đến Chánh Biến Tri, cái biết đó cũng là cái tâm
đó tự biết, chẳng phải có cái tâm khác để biết về
cái này, tất cả y như cũ, không thêm bớt, không có sự tương
đối.
Hỏi:
Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, bất
kể kẻ ngu người trí, kẻ hèn người sang. Nhưng tại sao
khi chư Phật chư Tổ truyền tâm ấn lại chỉ truyền cho một
người mà thôi?
Đáp:
Đó không phải chỉ truyền cho một người, mỗi đời kiến
tánh chẳng phải chỉ có một người, chỉ là chọn một người
làm tiêu chuẩn cho người đời sau. Và người đó đã ngộ
triệt để; người khác cũng đã ngộ, cũng có thể ngộ triệt
để, nhưng lại không bằng người này. Đến ngài Lục Tổ
thì Ngũ Tổ tuyên bố sau này chấm dứt việc truyền y bát,
vì e rằng dễ xảy ra sự tranh giành.
Nhưng
người đời sau vẫn tiếp tục sự truyền thừa, như tôi
khi thọ pháp cũng đã được truyền Tổ y (Hai mươi lăm điều),
chưa phải là Tổ đã được truyền y, thực tế là tự dối
dối người .
Hỏi:
Trước khi tham học Tổ sư thiền, con tu theo pháp môn niệm
Phật; mỗi khi con bệnh, sau khi đi khám bác sĩ và uống thuốc
không khỏi, con về nhà chỉ thiền sổ tức niệm Phật là
hết, thời gian bệnh kéo dài khoảng một tuần. Từ khi con
chuyển qua tham thoại đầu, những lúc con bệnh, đi khám bác
sĩ và về nhà công phu mãi cũng không hết, bệnh của con kéo
dài đến cả tháng, con phải bỏ công phu không dự thiền
thất và trở lại dùng Thiền sổ tức niệm Phật thì tự
nhiên nó hết.
Sau
khi khỏi bệnh, con cứ phân vân mãi không biết nên tiếp tục
niệm Phật hay tham Tổ Sư Thiền? Con quyết định thiền sổ
tức đến khi nào khỏi hẳn rồi mới tham thiền trở lại.
Trong
lúc niệm Phật, có những lúc con gặp phải phiền não và
phóng tâm cũng không hay, rồi tự nhiên câu thoại đầu con
tham trước đây lại khởi lên nhắc con về sự phóng tâm
đó. Qua câu chuyện kể trên, xin Sư phụ từ bi chỉ dạy cách
thức tham Tổ sư thiền cho con được miên mật để tham tiếp
mà không trở lại câu niệm Phật nữa.
Đáp:
Tổ sư thiền do Phật Thích Ca thân truyền, mục đích muốn
mọi nguời đều được kiến tánh thành Phật, giải thoát
tất cả khổ, vĩnh viễn đạt đến tự do tự tại, giải
quyết triệt để vấn đề sanh tử chứ không phải dùng để
trị bệnh thân. Nếu cô muốn nhờ sự tu hành để trị bệnh
thì đừng nên tham Tổ sư thiền, có thể chọn phương pháp
niệm Phật để trị bệnh, nhưng không giải thoát được.
Hỏi:
Vậy khi con bệnh, con dùng thiền sổ tức niệm Phật để
trị bệnh, và khi bệnh con khỏi rồi con trở lại tham Tổ
sư thiền, như thế công phu của con có bị gián đoạn không?
Đáp:
Vì cô không tin Tổ sư thiền, cũng không tin bệnh tật từ
nhân quả mà ra, cho nên, tu Thiền sổ tức cũng không thành
tựu, tu Tổ sư thiền cũng không thành tựu, chỉ uổng công
tốn thì giờ. Nếu thật muốn giải thoát, Tổ dạy phải
chuyên sâu vào một môn. Chuyên tu một môn chưa chắc được
thành tựu, huống là nhảy qua nhảy lại ! Vã lại, vì cô
còn chấp thật thương tiếc thân thể này, làm sao đi đến
miên mật để kiến tánh !
Cô
nên bỏ pháp tham thiền, nếu thấy phương pháp quán sổ tức
hay hơn thì nên tu pháp đó, chỉ nhất môn thâm nhập mà thôi.
Hỏi:
Tham thiền lấy cái không biết để tu, vậy tham đến lúc
không biết tức hay quên, phải không? Ví như những kinh điển
con đọc cũng quên dần, những gì đã xem qua trước đó cũng
quên dần, chính câu thoại đầu quét dần những ghi nhớ biết
trước đó, phải không?
Đáp:
Mục đích tham thiền là dùng cái không biết chấm dứt hết
tất cả tùy duyên biết, ghi nhớ biết, suy nghĩ biết. Chấm
dứt ghi nhớ biết thì quên, cuối cùng còn cái nghi tình không
biết, sau cùng nghi tình bùng nổ, cái không biết cũng tan rã,
cái biết Chánh Biến Tri của Phật tánh mới hiện lên. Sự
thật cái biết sẵn sàng đó chẳng phải gọi là biết, cũng
chẳng phải gọi là không biết, tất cả dụng đều phải
nhờ nó.
Nếu
thật do nghi tình miên mật, như ngài Đế Nhàn lúc giảng kinh
tự mình không hay biết đã giảng những gì, mà người nghe
lại cảm thấy rất hay. Còn nếu công phu chưa đến mức,
lúc biết lúc không biết thì giảng không được.
Hỏi:
Do công phu của con còn yếu kém, còn dùng ý thức để xét
nét lại công việc hàng ngày. Ví dụ: Trước khi đi đâu,
cần đem theo những vật dụng gì… đến nơi mới biết là
đã quên không mang theo, hoặc đang tụng kinh có khi cũng quên…
khiến con cảm thấy bực mình.
Đáp:
Chính những cái đó làm cho công phu bị chướng ngại không
thể quên hẳn luôn. Do công phu chưa đến mức, còn ghi nhớ
biết, tức ngã chấp vẫn còn to. Nếu công phu đã đến mức
và ngã chấp thu đến rất nhỏ rồi sẽ không có những tình
trạng này.
Trong
lịch sử Thiền tông kể về một vị Tăng đến tham học
một vị Tổ ở trên núi, vị Tăng này dù sự ngộ đã cao,
nhưng do ngã chấp còn cao, khi đến núi không đến đãnh lễ
và hỏi pháp, lại một mình cất một cái cốc tu . Tổ sai
người đến dụ cho Tăng ấy ra ngoài và đốt luôn cả cái
cốc đang ở để tuyệt đường quay về.
Lại
nữa, lúc ngài Đại Huệ chưa kiến tánh, đi tham học với
một bạn đồng tham, vì trong thời chiến, trên đường không
yên ổn, ngài có mang theo một miếng vàng để chi tiêu. Ngài
giấu miếng vàng trong nón, thỉnh thoảng phải kiểm tra xem
còn hay mất, người bạn thấy ngài để tâm đến việc giấu
vàng, một hôm đang đi đò giữa sông, bạn ấy thình lình
giựt nón của ngài thảy xuống sông, lúc đầu ngài bị giật
mình, lập tức ngài ngộ liền và đa tạ người bạn ấy.
Nếu
là người thường sẽ rất giận, vì trong lúc lánh nạn, tiền
bạc là vật quý giá nhất, nhưng vì ngài biết chính cái đó
đã làm chướng ngại, bị người bạn liệng đi rồi lại
thấy nhẹ nhàng liền.
Ông
cũng vậy, vì còn ghi nhớ nên bị chướng ngại, cũng phải
suy nghĩ hoài, nhớ hoài. Bây giờ quên đem đồ đạc có sao
đâu; lúc nhớ lúc quên không thành vấn đề, miễn công phu
miên mật là được. Như ngài Lai Quả nói:”Bạt tai thì cứ
bạt tai, miễn công phu không bị bạt tai đánh mất thôi !”
Hỏi:
Trong Kinh Pháp Hoa nói:”Các pháp trùng trùng duyên khởi, khứ
lai hiện tại đều có nhân quả, liên hệ chằng chịt,”
vậy tại sao Đức Phật lại có tam năng và tam bất năng?
Phật đã có thể độ tất cả chúng sanh thành Phật, lại
chẳng thể độ những người không có nhân duyên với Phật
pháp? Vậy những cái không có nhân duyên đó là vĩnh viễn
hay có tính cách thời gian?
Đáp:
Đó chỉ có tính cách thời gian, chỉ là tạm thời thôi.
Hỏi:
Thế nào là nhất niệm vô minh?
Đáp:
Nay ông đang hỏi tôi, đó gọi là nhất niệm vô minh. Trong
cuộc sống hàng ngày, bất kể suy nghĩ việc gì đều thuộc
nhất niệm vô minh: Trong tứ oai nghi đi đứng nằm ngồi, ăn
cơm mặc áo, từ niệm này qua niệm kia, ngày đêm liên tiếp
chẳng ngừng, đều là dùng nhất niệm vô minh để ứng dụng
trong cuộc sống. Nếu dẹp hết tất cả nhất niệm vô minh
rồi là trở về vô thỉ vô minh, nói kiến tánh thành Phật
là muốn phá tan vô thỉ vô minh.
Hỏi:
Thế nào là trạng thái vô thỉ vô minh?
Đáp:
Thanh thanh tịnh tịnh, trống rỗng không có gì hết, tức chẳng
có một niệm nào sanh khởi, gọi là vô thỉ vô minh, cũng
gọi là thoại đầu. Lúc kiến tánh là phá tan vô thỉ vô
minh, chẳng sanh khởi nhất niệm vô minh nữa.
Ngài
Nguyệt Khê nói là “Từ chỗ tương đối đi vào quốc độ
tuyệt đối’, đó chẳng phải là tiêu diệt tất cả tương
đối, tất cả tương đối vẫn y như cũ, nhưng hoàn toàn
biến thành tuyệt đối, chẳng có ý mình xen vào. Hễ có ý
mình xen vào, đó là nhất niệm vô minh.
Hỏi:
Trong Kinh Đại Niết Bàn, Đức Phật nói:”Các hạnh vô thường,
là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch diệt làm vui
“là thế nào?
Đáp:
Nói tất cả pháp, nay chúng ta nhận biết được đều là
sanh diệt, tham thiền là dùng cái không biết dẹp hết tất
cả biết thì sanh diệt diệt, có sanh diệt là có khổ có
vui, khi sanh diệt diệt rồi thì tịch diệt hiện tiền, lúc
đó không có khổ vui, ấy mới là cái vui triệt để. Nhưng
lúc đó thì chẳng còn buồn khổ nữa, nên cái vui cũng chẳng
phải là vui, vì không còn tương đối. Do muốn nói theo lời
của thế gian, nên nói “tịch diệt làm vui.”
Hỏi:
Hàng xuất gia chúng con ngày thường do bận rộn công việc,
nên thường chờ khi vào ba tháng Hạ mới tu để có được
tuổi hạ. Còn tham Tổ sư thiền Sư phụ bảo chúng con tu sao
chẳng có tuổi hạ?
Đáp:
Nếu một năm chỉ tu ba tháng là chín mươi ngày, vậy còn
chín tháng kia khỏi tu sao? Ngài Trung Phong nói:”Bắt đầu
tham Tổ sư thiền là bắt đầu kiết hạ, đến khi kiến tánh
mới giải hạ,” chứ đâu phải chỉ có chín mươi ngày !
Hồi
xưa sở dĩ có chín mươi ngày cấm túc, vì ở Ấn Độ là
xứ nóng, do nóng bức quá nên phụ nữ ăn mặc không chỉnh
tề, kể cả ở vùng nông thôn, nơi hẻo lánh, có người không
mặc quần áo, bất tiện cho Tỳ-kheo đi khất thực. Lại nữa,
mùa hè nóng bức, đi ra ngoài đường dễ đạp trúng các côn
trùng gây sát sanh, nên Đức Phật mới chế ra ba tháng hạ
để cấm túc, chứ chẳng phải là đợi kiết hạ mới tu,
không kiết hạ thì chẳng tu.
Nơi
tòng lâm ngày đêm sáu thời công phu, ban ngày ba thời, ban
đêm ba thời: bốn tiếng đồng hồ đầu đêm phải tu, bốn
tiếng nửa đêm được ngủ, rồi bốn tiếng đồng hồ sau
vẫn tu tiếp, tức ngày đêm chỉ cho ngủ bốn tiếng đồng
hồ thôi.
Hỏi:
Nói “Pháp thiền vô trụ, mà lìa niệm tưởng vào chỗ trụ
thiền”là lìa chỗ nào để trụ thiền? Nói “Pháp thiền
vô sanh mà lìa chỗ sanh thiền”là lìa chỗ nào để sanh thiền?
Đáp:
Nếu có chỗ nào để lìa thì chẳng phải Tổ sư thiền. Tổ
sư thiền chẳng có sự tương đối, nay có lấy có bỏ là
tương đối. Tổ sư thiền là lìa đến chỗ không có chỗ
để lìa, tức luôn cả chữ “lìa”cũng không có, hễ có
chỗ lìa là còn có sở trụ.
Lục
Tổ nói “Lấy vô trụ làm gốc,” chẳng những chỉ có thiền
là vô trụ, vũ trụ vạn vật đều không trụ; chẳng phải
chỉ có thiền là vô sanh, vũ trụ vạn vật tất cả đều
không sanh. Phật nói là vô thỉ, tức chẳng có sự bắt đầu.
Cái
“Vô trụ”này cũng là một trong những danh từ của tâm,
mà danh từ của tâm thì vô số, sở dĩ nhiều là vì sự dụng
của tâm rất nhiều, thành ra tên gọi vô lượng vô biên:
Do bản thể của tâm khắp không gian thời gian, chẳng có chỗ
để trụ, chẳng có lúc để trụ, nên gọi là vô trụ. Do
chẳng có chỗ sanh khởi, chẳng có lúc sanh khởi, nên gọi
là vô sanh, (Sư phụ giảng về các tên gọi Như Lai, Niết
Bàn v.v… lược qua)
Dù
đủ thứ tên gọi, nhưng ý vốn chẳng khác; nói “chẳng
khác “chứ không phải là một, không phải là đồng. Tại
sao? Vì nếu là đồng tức nhị, là tương đối với khác,
phàm tất cả tương đối đều chẳng phải bản lai diện
mục của tâm.
Hỏi:
Con nghe Sư phụ nói có năm thứ chủng tánh: Ngoại đạo chủng
tánh, Nhị thừa chủng tánh, Đại thừa chủng tánh, Như Lai
chủng tánh và Bất định chủng tánh. Vậy có phải khi bất
định chủng tánh gặp được minh sư dạy tham Tổ sư thiền
thì sẽ tu Tổ sư thiền có kết quả?
Đáp:
Phải.
Hỏi:
Còn Như lai chủng tánh tức hành giả đó có chủng tánh Phật,
ngoài ra ba chủng tánh kia có thể tu Tổ sư thiền được không?
Đáp:
Được nhưng khó thành tựu, nếu tu theo chủng tánh của người
đó dễ thành tựu hơn. Dẫu sao thì cuối cùng cũng sẽ đạt
đến Như Lai chủng tánh, nhưng vì trước mắt chưa tới, phải
trải qua một thời gian rồi sau cùng mới tới được.
Hỏi:
Vậy nếu là những người thuộc Tiểu thừa chủng tánh, hoặc
Đại thừa chủng tánh, ngoại đạo chủng tánh, họ vẫn có
thể tu pháp Tổ sư thiền, nhưng phải đi vòng quanh, phải
vậy không?
Đáp:
Vì họ đã không tin thì làm sao tu? Do đó Đức Phật phải
tùy thuộc vào chủng tánh của họ mà dạy cách tu Tiểu thừa
hay Trung thừa, chứ không ép buộc được. Nên Phật phải
dạy pháp tuTiểu thừa trước, đến khi họ đã chứng quả
A-la-hán rồi, Phật mới quở là chưa đến đích, chỉ là
hóa thành nơi nửa đường, và bảo họ bỏ hóa thành để
đi đến Bảo sở.
Có
người chịu nghe và có người không chịu, loại người không
chịu bỏ quả A-la-hán gọi là Định tánh Thanh văn, trong kinh
nói họ như người say rượu, có thứ rượu phải mắc cả
ngàn ngày mới có thể tỉnh rượu, khi họ tỉnh rượu rồi
mới chịu bỏ Tiểu thừa đi đến Đại thừa.
Hỏi:
Chúng con là Phật tử, được sự hướng dẫn của Sư phụ
tu theo pháp môn tham Tổ sư thiền, chúng con sẽ nhất quyết
kiến tánh thành Phật. Nhưng nếu chúng con không đủ khả
năng một lúc phá được tam quan, thì phải đi tuần tự từ
sơ quan, rồi trùng quan và mạt hậu lao quan.
Trong
giai đoạn phá tam quan, chúng con đi đến sơ quan và trùng quan,
nhưng chưa phá được lao quan, vừa kiến tánh nhưng chưa triệt
để nên phải bảo nhiệm. Con chưa hiểu bảo nhiệm cái gì?
Làm thế nào để bảo nhiệm?
Đáp:
Nói kiến tánh thành Phật thì Phật đã thành sẵn, Kinh Viên
Giác nói “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật,” người
nào cũng có khả năng để cho Phật tánh hiện ra, để kiến
tánh thành Phật. Nếu đã hạ quyết tâm tham thiền, trước
sau cũng phải hiện ra, chỉ e là không có quyết tâm mà thôi.
Nay
cứ đi theo đường lối hướng dẫn, sẽ có ngày đi đến
sơ quan, trùng quan và mạt hậu lao quan. Bây giờ chưa đến,
muốn biết làm sao được? Ngài Lai Quả trong Thiền Thất Khai
Thị Lục nói:”Những gì tôi nói là chỗ hành, chứ chẳng
phải chỗ thấy,” chỗ thấy đó quý vị đi đến rồi sẽ
tự thấy, chưa đến chỗ làm sao thấy? Có nói được cũng
vô ích, chỉ là chướng ngại.
Hỏi:
Thế nào là “Thường ứng chư căn dụng, mà chẳng khởi
dụng tưởng, phân biệt tất cả pháp, chẳng khởi phân biệt
tưởng”?
Đáp:
“Thường ứng chư căn dụng,” có người dịch là “chư
căn thường ứng dụng”là sai. Thường ứng chư căn dụng
là cái bản tâm, nó ứng dụng mà chẳng khởi dụng tưởng,
ví như cảm giác của lớp da khắp không gian thời gian của
cơ thể này, chúng ta không khởi tưởng nó cũng đang dùng,
khởi tưởng nó cũng đang dùng, tiếp xúc nó cũng biết là
có tiếp xúc, không tiếp xúc nó cũng biết là không tiếp
xúc, đau nó biết là đau, không đau nó cũng biết là không
đau… nó luôn luôn có cảm giác, cái cảm giác đó sẵn sàng,
không bị tiêu mất, gọi là thường ứng, tức luôn luôn sẵn
sàng, ứng dụng không gián đoạn.
Lục
căn thấy, nghe, ngửi, nếm… chẳng phải là có sáu người,
nó thường dùng mà chẳng khởi dụng tưởng. Ví như sự biết
của lớp da nói trên, chúng ta tưởng là khi có tiếp xúc nó
mới là dùng, nhưng không tiếp xúc nó cũng đang dùng vậy,
nếu không thì làm sao biết là không tiếp xúc !
Hỏi:
Trong cái dụng đó có sự cảm thọ không?
Đáp:
Có, như cảm thọ nóng biết nóng, cảm thọ không nóng biết
là không nóng.
Hỏi:
Nếu cảm thọ sự vui hay khổ thì chính sự cảm thọ đó
làm cho con người khổ, phải vậy không?
Đáp:
Tại khởi tưởng mới có khổ vui, nếu không khởi tưởng
thì không có, nên nói là “chẳng khởi dụng tưởng.”
Do
bản tánh đó đang dùng mà không khởi dụng tưởng, nhưng
chúng ta khi dùng có khởi lên dụng tưởng, nên có khổ vui,
đủ thứ cảm giác. Nếu chẳng có dụng tưởng thì vốn chẳng
khác, tức có phân biệt là thức, chẳng phân biệt là trí.
Thường
ứng chư căn dụng, mà chẳng khởi dụng tưởng: Chẳng phải
không thấy không nghe, là thấy cũng như không thấy, nghe cũng
như không nghe: Thấy như không thấy thì không phân biệt xấu
đẹp, nghe như không nghe thì không phân biệt khen chê. Hễ
có phân biệt, khi khen thì mừng, chê thì buồn.
Phân
biệt tất cả pháp, chẳng khởi phân biệt tưởng: Chẳng
phải không biết cái tách này là nước, chén kia là cơm, nhưng
không khởi phân biệt nước đục hay nước trong, cơm ngon
hay cơm dỡ… cho nên tôi thường nói: Phật pháp ứng dụng
trong cuộc sống hàng ngày vậy.
Hỏi:
Nghe Sư phụ giảng hình như dễ, nhưng ứng dụng trong thực
tế của cuộc sống thì rất khó.
Đáp:
Phải, đó là do tập khí từ vô thỉ, từ lâu đời đã thành
thói quen, gặp cái gì cũng muốn phân biệt, không phân biệt
không được. Cho nên, bất cứ cách tu nào đều muốn chúng
ta dứt trừ tập khí phiền não, gọi đó là tập lậu, là
hữu lậu, như bình nước bị chảy, đến khi nào không chảy
nữa thì gọi là vô lậu.
Hỏi:
Thiền sư Liễu Quán, Đời thứ 35 Tông Lâm Tế ở Việt Nam
tịch vào năm 1743, trước được Hòa thượng Tử Dung dạy
tham câu “Muôn pháp về một, một về chỗ nào,” sau xem
Truyền Đăng Lục đến câu “Dĩ vật truyền tâm nhân bất
hội xứ”được tỏ ngộ. Sau nhờ Hòa thượng Tử Dung ấn
chứng, Hòa thượng hỏi:
-
Tổ Tổ truyền nhau, Phật Phật trao nhau, chẳng biết truyền
cái gì?
Sư
đáp: Búp măng trên đá dài một trượng, phất tử lông rùa
nặng ba cân.
Hòa
thượng hỏi tiếp: Thuyền chèo trên núi cao, ngựa đua dưới
đáy bể?
Sư
đáp: Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống, một huyền cầm
tử tân nhật đàn. (Gảy sừng trâu đất rống suốt đêm,
dây đứt đờn cầm trọn ngày gảy.)
Hòa
thượng vui mừng ấn khả.
Xin
hỏi, với những câu nói vô nghĩa này, Hòa thượng ấn khả
cái gì?
Đáp:
Những lời đáp ấy đều là những lời chuyển ngữ, lời
mà không có sở trụ, người chưa ngộ nói ra không được.
Hỏi:
Xin Sư phụ kể qua về qui củ của Tòng lâm?
Đáp:
Trong tòng lâm, tất cả đều là của chúng, chẳng phải của
cá nhân nào cả. Khi ngài Hư Vân đến chùa nhận chức Trụ
trì, cũng như làm quản lý không ăn lương mà thôi, chứ chẳng
phải đó là tài sản của ngài vậy.
Đối
với tất cả mọi người trong tòng lâm, gọi là “phổ
thỉnh,” phổ là phổ biến, ví như muốn đi cuốc đất thì
phổ thỉnh, ai cũng phải đi; muốn làm việc gì thì tất cả
cùng làm, ngoại trừ những vị chức sự đang làm công việc
thì khỏi.
Lúc
ngài Bá Trượng làm Trụ trì, tự mình vác cuốc đi trước,
mọi người thấy ngài đã lớn tuổi, hàng ngày lại phải
thuyết pháp, khuyên ngài nên để lại cho người trẻ làm,
ngài không chịu, lần nào ra làm đều dẫn đầu đi trước.
Mọi người đem giấu cây cuốc của ngài, ngài không tìm được
cây cuốc, bèn nói:
-
Hôm nay ta không làm thì hôm nay ta không ăn.
Nên
có câu “một ngày không làm, một ngày không ăn.” Ấy là
mô phạm ở Tòng lâm.
Hỏi:
Bây giờ muốn mở Tòng lâm phải làm gì?
Đáp:
Tòng lâm là của đại chúng, cũng như chùa chiền là do Đàn
na tín thí gom góp tiền bạc xây dựng, nếu lợi dụng lòng
thành kính của Phật tử cất lên ngôi chùa, rồi tự mình
làm chủ, cho là “chùa này của tôi, tất cả tài sản là
của tôi”cũng được, nhưng sau khi chết phải trả nợ cho
thí chủ, ấy là nhân quả.
Hỏi:
Thế nào là “Thiên thượng thiên hạ vô như Phật, thập
phương thế giới diệc vô tỷ?”
Đáp:
Là hiển bày nghĩa bất nhị, chẳng có cái nào bằng Phật.
Chữ Phật ở đây là giác ngộ, chứ chẳng phải là một
vị thần linh. Mười phương chỉ về không gian, tam thế
chỉ thời gian, ý nói khắp không gian thời gian cũng chẳng
có cái gì sánh bằng sự giác ngộ. Giác ngộ mới được
giải thoát tất cả khổ, không bao giờ trở lại nữa.
Hỏi:
Thế nào là năng lễ sở lễ tánh không tịch?
Đáp:
Khi chúng ta lễ Phật, cái thân này là năng lễ, Phật là sở
lễ. Đức Phật nói vũ trụ vạn vật đều không có tự tánh,
tức là không thật; năng lễ cũng không thật, sở lễ cũng
không thật. Tại sao nói Phật cũng không thật? Vì chữ Phật
chỉ là nghĩa giác ngộ mà thôi, do có mê mới có giác ngộ,
nếu không mê thì giác ngộ cũng không. Do chấp thật mới
thành mê, nếu chẳng chấp thật thì không mê cũng không ngộ,
kể cả thân này cũng do mê chấp thành có. Cho nên, mê ngộ
tánh vốn không tịch, tức không có tự tánh, nên nói tánh
không tịch.
Hỏi:
Sư phụ nói “tiểu nghi tiểu ngộ, đại nghi đại ngộ,”
tại sao lại phân biệt tiểu nghi và đại nghi? Đã ngộ rồi
tại sao lại phân biệt tiểu ngộ và đại ngộ? Chẳng lẽ
sự ngộ cũng có cấp bậc?
Đáp:
Theo ngài Lai Quả, nay chúng ta tham thoại đầu, là đang trên
đường đi ý thức: Ý thức có hai mặt, một mặt biết và
một mặt không biết. Tu theo mặt biết là Như Lai Thiền, nay
chúng ta tu Tổ Sư Thiền là mặt không biết . Bây giờ chưa
đến thoại đầu, đang đi ở giữa đường, khi nào đến
thoại đầu rồi thì đường đi ý thức hết, chỗ này gọi
là vô thỉ vô minh, cũng gọi là đầu sào trăm thước, là
nguồn gốc của ý thức, mặc dù thanh thanh tịnh tịnh, nhưng
chưa phải kiến tánh.
Từ
chỗ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước, lìa khỏi
ý thức là kiến tánh, ngài Lai Quả ví dụ: Từ đầu sào
trăm thước tiến thêm một bước là lọt vào hư không, phải
té xuống và phải té cho chết. Theo thuật ngữ Thiền tông
gọi là “Tuyệt hậu tái tô,” tức sau khi chết sống lại.
Có hai tình trạng: một là tiểu tử tiểu hoạt, hai là đại
tử đại hoạt.
Tại
sao chết cũng có tiểu tử và đại tử? Vì tiểu tử tiểu
hoạt còn có cái xác, đại tử đại hoạt thì luôn cả cái
xác cũng không còn. Vậy cái xác là gì? Ấy là cảnh
giới ngộ: Tiểu ngộ còn ôm cảnh giới ngộ, tức phá được
ngũ uẩn ngã, nhưng còn ôm Niết bàn ngã, cho là có ta để
ngộ. Đại tử đại hoạt chẳng còn ta nữa, chẳng có ai
ngộ, nên nói “Ngộ rồi đồng như chưa ngộ.” Có ngộ
tức còn mê, khi hết mê thì hết ngộ.
Hỏi:
Khi chưa gặp Sư phụ, con hành pháp môn niệm Phật rất nhiều,
bất cứ đi đứng nằm ngồi con cũng niệm Phật cả, rồi
sau đó con làm mọi việc cũng hay quên, đến nỗi một lần
vào nửa đêm con thức giấc, bên tai con có tiếng niệm Phật,
ngoài ra có nhiều hiện tượng khác con không tiện kể ra.
Xin Sư phụ từ bi khai thị cho con?
Đáp:
Niệm Phật đến mức quên là điều tốt, nếu muốn tham Tổ
Sư Thiền, có thể tham câu “Niệm Phật là ai.” Tôi thường
không cho người ta tham câu “Niệm Phật là ai”vì thấy không
thích hợp, nhưng nếu niệm Phật đến cảnh giới này thì
có thể tham câu này cũng được.
Hỏi:
Con nghe Sư phụ dạy không được tìm hiểu biết, ghi nhớ
biết, suy nghĩ biết. Vậy con thỉnh kinh sách của Sư phụ
dịch về xem, có thêm cái biết nữa không?
Đáp:
Tôi đã thường nói là tôi không phải muốn cho người ta
hiểu biết thêm nghĩa lý cao siêu, nếu cảm thấy lòng tin
tự tâm chưa đầy đủ, chưa đến 100% mới cần xem kinh, hỏi
pháp để tôi giải đáp khiến tăng thêm lòng tin, vì không
đủ lòng tin thì không hy vọng kiến tánh. Nếu đã tin tự
tâm 100% thì không cần xem, cứ thực hành tham thiền là được.
Hỏi:
Tại sao hành giả tham thiền phải khắc sâu chữ TỬ trên
trán?
Đáp:
Ai bảo? Cái cần nhớ là nghi tình để cho miên mật, khi nào
khởi nghi tình không được mới tạm ngưng để nhớ đến
việc sanh tử, chứ không phải là cứ nhớ chữ TỬ hoài.
Hỏi:
Kính hỏi Hòa thượng, cái phước có ai bán đâu mà mua! Người
ta có tiền mua vàng bạc, nhà lầu xe hơi, nhưng cái phước
thì mua làm sao được? Tại sao tôi đã sống chừng nấy tuổi,
đã làm phước giúp người lại bị trả oán? Con người ai
ai chẳng đầu đen máu đỏ? Hòa thượng thử nghĩ, nếu tôi
không có tâm Phật thì không thể sống đến ngày nay, vì trải
qua nhiều sóng gió, nhưng nay làm ơn bị trả oán, tôi xin Hòa
thượng giải tỏa nỗi ức trong lòng, khai thị làm thế nào
để tôi được nguôi dạ mà không phải xảy ra việc đổ
máu, khiến người thì phải nằm nhà thương, người thì đi
tù?
Đáp
Có một ông làm quan đến Thừa tướng, hỏi một vị Thiền
sư:
-
Ăn thịt phải hay không ăn thịt phải?
Thiền
sư đáp: Ăn thịt là cái lộc của ông, không ăn thịt là
cái phước của ông.
Ông
biết tại sao không ăn thịt lại là cái phước không? Vì
không gieo ác nhân thì không chiêu ác quả, chẳng ăn cá thịt
thì không bị người khác ăn lại. Về cái lộc, hễ trước
kia có gieo nhân thì nay được hưởng lộc làm quan, nhưng trong
lúc hưởng lộc, có thể vì cái lộc mà tạo thêm nghiệp
sát sanh và sau này phải trả nợ thịt nợ mạng, đó là việc
nhân quả.
Đối
với tuổi thọ, nếu làm lành sống thọ là tốt, làm ác sống
thọ là để chịu khổ chứ chẳng phải để hưởng phước.
Ví như cõi Trời sống thọ chừng nào hưởng phước chừng
nấy, còn ở Ngạ quỷ, Địa ngục thì càng sống dai chừng
nào là tội nhiều chừng nấy, càng chịu khổ nhiều chừng
nấy.
Nay
nếu muốn dứt khổ thì đừng làm cho chúng sanh khổ nữa,
nều vì bản thân mà giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh,
làm sao giải thoát cái khổ được?
-
Cám ơn Hòa thượng.