[26] 19/03/99–25/03/99
tại Chùa Hưng Phước, Quận 3
Giới
thiệu tác phẩm “Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21”
Nguồn
gốc của Phật pháp
Khí
công & Tham thiền
Trung
Quán Luận: Phẩm phá Hành
Tập
trung tinh thần tham thiền là sai lầm
Nhìn
chổ sơn cùng thủy tận
Tại
sao phải vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ?
Công
phu không nghĩ gì hết, có phải nghi tình không?
Có
thể đổi câu thoại để tham?
Có
phải Ngài Ca Diếp ở núi Kê Túc chờ Phật Di Lặc ra đờỉ
Sám
hối có thể diệt tội không?
Cúng
sao có phải chánh pháp không?
Minh
tâm kiến tánh, lấy gì để minh?
Tại
sao Bồ tát Quán Thế Âm không nhận xâu chuổi cúng dường?
Hòa
thượng Cửu Chỉ và thị giả
Phôi
thai khoa học hợp nhân quả không?
Lúc
chưa tạo thiên lập địa, mọi người ở đâủ
Phật
tánh siêu việt logic
Nghi
sự là gì?
Tự
tánh vốn sẵn có, tại sao bộ não xen vàỏ
Thiền
đường Trung Quốc chẳng thờ gì cả
Tham
thiền chẳng vì việc sanh tử, dễ sanh tâm thối chuyển
Ngũ
pháp
Nhận
thức thần
Sư
phụ giới thiệu cuốn “Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21”:
Vì
muốn hoằng pháp ở Phương Tây, phải dùng những danh từ
khoa học, người phương Tây dễ chấp nhận. Thực tế, Phật
pháp là thực dụng hằng ngày, còn khoa học chỉ căn cứ có
thể tích, giải thích theo sức lực của vật chất. Sức lực
vật chất, bất kể vật gì, phàm có thể tích đều có từ
trường, sức từ trường gọi là từ lực, có sức hút như
nam châm.
Người
phát hiện đầu tiên về sức hút là ông Newton, khi ông thấy
quả táo ở trên cây rơi xuống, ông nghi tại sao quả táo
rớt xuống mà không bay lên? Từ đó mới phát hiện ra sức
hấp dẫn của quả đất và sức hấp dẫn vạn hữu:
Tất cả vật chất, vật thể đều có sức hút, đều có
từ trường, gọi là từ lực. Nội dung cuốn Vũ Trụ Quan
Thế Kỷ 21 mà tôi biên soạn, tổng quát về nguồn gốc của
Phật pháp, là bắt đầu từ định lý Từ Lực của Newton.
Mọi
sinh hoạt văn minh của nhân loại vạn tượng sum la, bao gồm
giáo dục, chính trị, văn hóa, kinh tế, y học v.v… đều
nhắm chung mục đích mong cầu hạnh phúc cho con người.
Cho
đến nay, khoa học kỹ thuật đã đóng vai trò dẫn đầu trong
việc thực hiện mưu cầu này nhưng chưa thành công. Vì căn
bản mọi ngành, mọi môn khoa học, chỉ lợi dụng được
những năng lượng phát ra từ vật chất nên vĩnh viễn bị
thời gian, không gian hạn chế.
Nay
chỉ còn một năm nữa là chúng ta bước vào thế kỷ 21, nếu
muốn từ hữu hạn tiến đến vô hạn thì chúng ta nên chú
tâm đến một nguồn năng lượng khác: Nguồn năng lượng
phát ra từ phi vật chất.
Trong
cuốn sách này, các vấn đề lực học Newton, lực học Einstein,
và lực học của Thích Ca Mâu Ni sẽ lần lượt được đề
cập để chúng ta cùng nhau tham khảo. Rất mong được nhận
ý kiến đóng góp của quí vị đồng bước tiến vào Thế
kỷ 21.
Kết
luận của Vũ Trụ Quan:
Muốn
kiến lập lý luận từ tương đối đến tuyệt đối, trước
tiên phải bắt đầu từ lực học Newton đến lực học Einstein.
Nếu giả thuyết tốc độ vận động của vật chất từ
0 đến 100, thì Newton là từ 0 đến 50, thuộc tánh thuận hành
bất biến; còn Einstein thì từ 0 đến 50, rồi lại tiến thêm
từ 50 đến 100, thuộc tánh khả biến và chuyển đổi lẫn
nhau; còn lực học của Thích Ca Mâu Ni chẳng những từ 0 đến
100, lại từ 100 đến 200, 300 v.v… cho đến vô cùng tận.
Tóm
lại, quan điểm của nhà khoa học chỉ hạn cuộc trong khả
năng quan sát những vật tương đối trong vũ trụ, vì vạn
sự vạn vật đều chẳng thể mỗi mỗi tự độc lập, phải
nhờ nhân duyên tương đối mà thành: Như gà sanh trứng, trứng
sanh gà; như âm dương tương đối, hút đẩy tương đối,
đồng tánh thì chống nhau, khác tánh thì hút nhau… khi hấp
lực lớn đến mức độ “N”thì tốc độ ánh sáng có thể
bị hấp lực nuốt mất.
Vạn
vật trong vũ trụ hoại nhau mà giúp nhau, ăn nuốt lẫn nhau,
đã thống nhất, lại mâu thuẫn, biến hóa chẳng định, lại
chẳng thể tăng giảm. Như nước có thể diệt lửa, nhưng
nếu đem nước phân tích thành hai thứ khí thể H,O, thì lại
trở thành lửa, H có thể tự cháy, O có thể giúp cho sự
cháy.
Dù
hoại nhau, thành nhau, mà cùng tồn tại bất diệt. Chúng ta
ở trong hoàn cảnh vạn tượng sum la lăng xăng, phức tạp,
nhiễu loạn chẳng ngừng này, mỗi mỗi vì dục vọng của
bản thân mà cạnh tranh lẫn nhau, từ đao kiếm súng ống,
chiến tranh kinh tế, từ chiến tranh lạnh đến chiến tranh
nóng, và từ chiến tranh nóng qua chiến tranh lạnh; từ chiến
tranh cá nhân với cá nhân, cho đến chiến tranh quần
thể với quần thể… Thiên tai nhân họa, tranh nhau mà đến.
Xưa kia còn tưởng thiên tai là việc không thể đối phó được,
nhưng hiện nay mới phát hiện thiên tai cũng là do nhân loại
tạo thành. Chúng ta ở trong hoàn cảnh thiên tai nhân họa tranh
nhau ùa đến chẳng ngừng này, đâu thể hưởng thụ cuộc
sống hạnh phúc? Tại sao con người một mặt tạo ra tai nạn,
một mặt lại kêu gọi đóng góp để cứu nạn? Thật là
mâu thuẫn tức cười . Cho nên Đức Phật nói “Tất cả
do tâm tạo”là vậy.
Nếu
chúng ta chịu sống theo sự chỉ dạy của Đức Phật về
phương cách sống, thì hạnh phúc ở nơi trước mắt, chứ
chẳng cần tìm cầu. Nói một cách khác tức là “Vô vi mà
vô sở bất vi.” Nói “vô vi”chỉ là giữ cái tâm này chẳng
sanh khởi hai chữ “Cho là”mà thôi.
Việc
này dù xem như rất đơn giản, nhưng thực tại thì khó làm
được, đó là vì tập khí của chúng ta lúc đối cảnh
ắt phải khởi tâm động niệm, nhất định phải dùng “cho
là”để lạc vào tương đối, rồi từ đó thị phi tốt
xấu ùn lên, và phiền não cũng theo đó mà đến. Lực học
của Thích Ca Mâu Ni chỉ là như thế, như thế.
Đã
vì đói khát mà ăn uống thì cứ ăn uống, chẳng nghĩ cái
khác, đã vì che thân chống lạnh mà mặc áo thì cứ mặc
áo, chẳng nghĩ cái khác, mỗi mỗi chức nghiệp đều giữ
đúng vị trí vai trò của nó, chẳng nghĩ cái khác. Vậy thì,
cha giữ đúng vai trò của cha, mẹ giữ đúng vai trò của mẹ,
con cái giữ đúng vai trò của con cái, chồng giữ đúng vai
trò của chồng, vợ giữ đúng vai trò của vợ v.v… tất
cả mỗi mỗi đều giữ đúng vai trò của mình, làm tròn bổn
phận, an cư lạc nghiệp, thì tự nhiên mọi người đều được
an lạc hạnh phúc, thiên hạ thái bình.
Ghi
chú: Vai trò:
Nghĩa
là tùy theo truyền thống xưa nay của mọi dân tộc và nhà
nước, phong tục, tập quán, pháp luật khác nhau thì vai trò
cũng theo đó khác nhau, như truyền thống Việt Nam, Trung Quốc,
truyền thống Mỹ v.v… mỗi mỗi đều khác nhau vậy.
Phật
pháp kỳ thật chỉ là hiển bày tâm của mọi người, người
ta hiểu lầm, tưởng tâm là bộ não, nếu qua bộ não thì
gọi là vọng tâm, chứ chẳng phải chơn tâm. Bộ não là vật
chất, hệ thống thần kinh, lục căn đều là vật chất, còn
chơn tâm chẳng phải vật chất, là lìa vật chất. Bây giờ
người ta chỉ biết đến tâm là một danh từ, ai cũng nói
được, nhưng tâm là cái gì thì chẳng ai biết. Kỳ thật,
chơn tâm chẳng có thể tích, mặc dù nói tâm như hư không,
nhưng người ta cũng không thể tưởng tượng, cho nên, ngài
Long Thọ là Tổ thứ mười bốn của Thiền tông giải thích
thật kỹ, dùng “Tâm như hư không vô sở hữu”để thí
dụ chơn tâm của tất cả chúng sanh. (Sư phụ giảng về hư
không vô sở hữu, lược qua)
Nay
các nhà khoa học đều tin theo bộ não, đã thành thói quen,
muốn dùng sự hiểu biết của bộ não để tìm sự bắt đầu
của vũ trụ và sinh mạng, nếu theo lực học của Thích Ca
Mâu Ni thì gọi đó là si mê, nhưng bây giờ gọi nhà khoa học
là si mê có ai chịu đâu !
Kỹ
thuật khoa học dẫn đầu để tạo hạnh phúc cho con người,
nhưng tạo hoài mà cái khổ vẫn nhiều thêm, cũng như y học
càng tiến bộ thì vi trùng càng phát triển mạnh, còn khoa
học tiến bộ bao nhiêu thì nguyên tử giết người nhanh hơn
bấy nhiêu.
Theo
lực học của Newton từ 0 đến 50 thuộc tánh thuận hành bất
biến, thời đó chưa có xe hơi và máy bay. Đến thời Einstein
không những từ 0 đến 50, lại từ 50 đến 100, thuộc tánh
khả biến mà chuyển đổi lẫn nhau. Làm sao chuyển đổi?
Nhà khoa học biết thể tích nhỏ chừng nào thì từ lực mạnh
chừng nấy, nay nhà khoa học phát hiện vật thể nhỏ nhất
là quang tử, tốc độ ánh sáng là cao nhất, mỗi giây đi
ba trăm ngàn cây số. Lại, vật chất có thể biến thành năng
lượng, năng lượng cũng có thể biến thành vật chất, chuyển
đổi lẫn nhau. Mặc dù chuyển đổi lẫn nhau, nhưng phải
có vật chất mới chuyển đổi thành năng lượng, chứ chẳng
thể lìa vật chất.
Còn
lực học của Thích Ca Mâu Ni khỏi cần vật chất, tức lìa
vật chất, là năng lượng tâm của mọi người. Cho nên, nhà
thiên văn dùng tốc độ ánh sáng để tính khoảng cách của
không gian, ví như ánh sáng đi một năm đến thì khoảng cách
đó gọi là một quang niên, ánh sáng đi mười năm mới đến
thì khoảng cách đó gọi là mười quang niên, mà ánh sáng
đi mười năm đến thì tâm mình chỉ một niệm liền đến,
ánh sáng đi một triệu năm đến thì tâm mình cũng một niệm
là đến. Tại sao? Vì nó phi vật chất, chẳng bị số lượng,
không gian, thời gian hạn chế, mà nó luôn khắp không gian,
khắp thời gian, nhưng người ta không tin, kể cả nhà khoa
học cũng không tin.
Về
nguồn gốc của Phật pháp:
Thân
thể của trí Bát nhã, có người gọi là Phật tánh, tâm Chơn
như, Diệu tâm… Bản thể của nó là tri, mà dụng của nó
cũng là tri. Tất cả mọi người trên thế gian, tất cả chúng
sanh, cho đến vạn vật trong vũ trụ đều là vật sở tri
của nó, nhưng tất cả mọi người, tất cả chư Phật đều
chẳng thể biết được nó, vì nó chẳng thuộc về sở tri.
Cho nên, nó vĩnh viễn không thể bị ai phát hiện được,
luôn cả Phật, vì hễ bị phát hiện tức thành sở tri rồi.
Điều
này đối với thế gian thật là kỳ diệu, nhưng theo lý toán
học mà suy luận cũng chẳng phải kỳ diệu:
Một
cuốn sách toán học xuất bản ở Hồng Kông nói: Có loại
con sâu dép cỏ (Paranaccium) là động vật rất nhỏ, thân thể
của nó cứ mỗi ngày đêm thì nứt thành hai, từ đời thứ
nhất đến đời thứ 90 thể tích của nó bằng quả địa
cầu.
Nếu
đảo ngược lại, đem quả địa cầu xẻ 2, xẻ 4, xẻ 8,
cứ tiếp tục xẻ qua 130 lần thì trở lại bằng con sâu dép
cỏ.
Theo
lý này suy luận, nếu đem con sâu dép cỏ xẻ thêm 130 lần
nữa thì đơn vị thịt của con sâu, do con số biểu thị kia
có còn thấy được chăng? Nếu đem xẻ thêm 10 lần 130, cho
đến trăm ngàn lần 130, con số vẫn có thể biểu thị được
đơn vị thịt của con sâu đó, nhưng thực tế chúng ta còn
cảm nhận được thịt của con sâu đó không?
Căn
cứ theo toán học, nếu cho một con sâu làm đơn vị 1; trước
1 đó thêm vào một số 0 thì thành 0,1; thêm một số 0 nữa
thành 0,01; cứ theo đó mà suy tiếp, vẽ thêm số 0 cho đến
dài bằng vòng quanh một quả đất, rồi hai quả đất, ba
quả đất … vĩnh viễn vô cùng tận. Giả sử khoa học kỹ
thuật cải tiến, kính hiễn vi có tốc độ còn nhanh hơn vẽ
số 0 thì có thể phát hiện được đơn vị thịt của con
sâu đó, nhưng đơn vị ấy thật chưa phải là thực tế,
vì con số còn có thể phân chia mãi vô cùng cho đến vô cùng.
Việc
này Phật Thích Ca gọi là bất khả đắc, cũng là vô thỉ
vô sanh. Trong Kinh Lăng Già, Phật nhắc đi nhắc lại với chúng
sanh: Cần phải xa lìa “tự tâm hiện lượng,” bởi vì cái
năng hiện của tự tâm là TRI và KIẾN, sở hiện của nó
là HỮU và VÔ, đều thuộc sản phẩm của bộ não. Nên Kinh
Lăng Nghiêm nói “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn,” tri
kiến là năng lập, hữu vô là sở lập, khi bộ não biến
thành tro thành đất rồi, cái bất khả đắc của bản trụ
đâu có thể theo bộ não mà biến thành tro đất?
Theo lời Thế Tôn nói: Bất khả đắc gọi là bất sanh, bất
khả biến gọi là bất diệt, pháp bất sanh bất diệt này
tức là bản thể của thật tướng vậy.
(Sư
phụ nói về sức dụng của tâm, lược qua)
Từ
trường phát từ vật chất thì bị không gian thời gian hạn
chế, còn Phật Thích Ca dạy chúng ta pháp tham thiền để dẹp
những cái che khuất (tìm hiểu biết, suy nghĩ biết, ghi nhớ
biết), sẽ hiện ra từ trường của chơn tâm với sức mạnh
vô cùng, chẳng bị không gian thời gian hạn chế. Cho nên,
tốc độ ánh sáng đi mười triệu năm mới đến thì tâm
của mình chỉ một niệm đến. Phải biết từ trường của
mỗi người đều bằng nhau, chỉ là hễ bị che khuất nhiều
thì hiện ra ít thôi.
Từ
lực chơn tâm mình sẵn có, bằng như chư Phật, chẳng kém
hơn một tí nào, do đó, Phật Thích Ca truyền dạy pháp thiền
trực tiếp này, đáng lẽ không có tên gọi, từ Đức Phật
truyền cho Sơ Tổ, Sơ Tổ truyền cho Nhị Tổ, Nhị Tổ truyền
cho Tam Tổ… do Tổ sư từng đời từng đời truyền xuống,
nên gọi là Tổ Sư Thiền.
Hỏi:
Môn học khí công khi luyện đến một mức độ nào đó sẽ
phát ra công năng đặc dị, và tham thiền cũng phát được
một số công năng đặc dị. Vậy môn khí công và môn tham
thiền có liên quan gì không?
Đáp:
Khí công phát ra cũng là từ vật chất, đó là cơ thể. Nó
có thể từ lục căn, lục căn cũng là vật chất, lục thức
thì không phải vật chất, luyện theo ý niệm là từ
vật chất. Nhà khoa học cũng biết, nếu đem một vật chà
xát cho nóng lên sẽ sanh ra từ trường, cũng gọi là điện
lực, càng chà sức từ trường càng mạnh, nếu ngưng chà
thì nó trở lại bình thường. Vậy luyện khí công là phát
từ vật chất nên bị hạn chế. Tham thiền là phát từ phi
vật chất, chẳng bị không gian thời gian hạn chế.
Trong
quyển Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 tôi có giải thích về mỗi
căn, mỗi thức. Đại học ở Mỹ gồm các khoa Sinh lý học,
Tâm lý học, Triết học, Khoa học tự nhiên, bốn khoa hợp
lại giải thích không thông, vì họ cho rằng con người chỉ
có một cái thức, đó là bộ não, chỉ biết có hệ thống
thần kinh, họ không biết được thức với căn, không thể
phân biệt. Hệ thống thần kinh là vật chất, còn kinh lạc
cũng là vật chất mà chẳng thể dùng kính hiển vi thấy được.
Cổ
nhân thời xưa ở Trung Quốc, do tỉnh tọa phát hiện được
mười bốn kinh lạc nơi thân thể, gồm ba trăm mấy huyệt,
có thể kích thích các huyệt để điều chỉnh thần kinh:
Khi hệ thống thần kinh yếu đi hoặc mạnh quá (thái quá hay
bất cập) không được quân bình nên sanh ra các bệnh. Ở
Mỹ, người ta nghiên cứu tìm kiếm các kinh lạc, huyệt, dùng
kính hiển vi mạnh cấp mấy cũng không thấy được, những
trường hợp bệnh Tây y trị không hết, nhưng châm cứu lại
hiệu quả, thành ra họ phải nhìn nhận. Nay ở Đại học
Mỹ cũng có khoa châm cứu.
Thức
chẳng có hệ thống, chẳng phải như hệ thống đường đi
của kinh lạc. Tổ sư thiền do chư Tổ truyền xuống, tin rồi
thực hành. Nếu tin pháp môn 100% thì chưa được, mới chỉ
có một nửa. Tại sao? Vì chỉ tin pháp môn, chưa tin tự tâm.
Tham thiền là muốn hiện sức của tâm, nếu không tin tự
tâm thì sức đó làm sao hiện ra? Không tin thì phải thắc
mắc, phải hỏi, thắc mắc có năm thứ: Nghi lý, nghi sự,
nghi pháp, nghi thầy, nghi mình.
Sự
thắc mắc của các vị đều nằm trong năm thứ này, tôi sẽ
giải tỏa, nghi lý thì giải tỏa lý, nghi sự giải tỏa sự,
nghi mình nghiệp chướng nặng, nghi thầy nói không đúng…
tôi đều giải tỏa. Mục đích giải đáp chỉ là giải tỏa
năm thứ nghi, chứ chẳng phải cho hiểu thêm giáo lý cao siêu.
Sự thật chẳng có giáo lý gì cả, chẳng thể kiến lập
cái lý, do kiến lập lý rồi mới có đúng và không đúng,
có tương đối mới sanh ra sự tranh cãi.
Hỏi:
Lâm Tế nói với Đại Ngu “Chẳng dè Phật pháp của Hoàng
Bá có chút xíu.” Sau một năm con học pháp này với Sư phụ,
nay con xin sửa lại như thế này: “Nào dè Phật pháp của
Hoàng Bá không có gì cả !” Xin Sư phụ khai thị chỗ này?
Đáp:
Vì ông không hiểu, nên làm sao dạy cho ông được ! Ông là
người mà chư Phật chẳng thể giáo hóa. Tôi đã nói không
cho tìm hiểu, công án của chư Tổ là muốn khiến người
ta ngộ, chứ không phải muốn người ta hiểu; còn ông muốn
hiểu, là nghịch ý của chư Tổ, vì hiểu là phải có lý,
lý thì chẳng thể kiến lập, đúng lý hay không đúng
lý, hợp lý hay không hợp lý đều là tương đối.
Đã
nói vô thỉ là không thể bắt đầu, vô sanh là không có sự
sanh khởi. Hễ có sanh khởi thì phải có sự bắt đầu, tôi
đã dùng toán số chứng tỏ không thể bắt đầu: Đem con
số chia mãi chẳng thể chia đến số cực nhỏ, không có cực
nhỏ thì không có cực lớn. Hễ chia được số cực nhỏ
tức có sự bắt đầu, có số cực lớn tức có cuối cùng,
vì không thể tìm được con số bắt đầu, nên Phật nói
“bất khả đắc.” Bất khả đắc gọi là bất sanh,
không có cuối cùng là bất biến, gọi là bất diệt.
Bây
giờ khoa học cũng chứng tỏ tất cả vật chất đều y nguyên
tồn tại vĩnh viễn bất diệt, bất sanh bất diệt làm sao
có sự bắt đầu? Làm sao kiến lập cái lý? Nay sẽ trích
đọc bài Trung Quán Luận cho ông nghe:
Có
người hỏi: Phật pháp có thể chia nhiều tông, sao không thể
chia nhiều phái? Nên biết Phật pháp là để hiển bày bản
thể tự tánh bất nhị của Diệu giác nên chẳng thể chia.
Có thể chia là giáo pháp, chẳng phải Phật pháp, chư Phật
chư Tổ vì muốn thích ứng căn cơ trình độ của mọi chúng
sanh, vì khế hợp đương cơ nên chia nhiều tông, tức là trên
phù hợp ý Phật (Phật pháp chẳng thể chia), dưới khế hợp
đương cơ (Giáo pháp có thể chia) là vậy.
Giáo
pháp thích hợp với người phương Đông được chia làm năm
hệ: Thiền, Giáo, Luật, Tịnh, Mật. Thiền, Luật, Tịnh, Mật,
mỗi hệ có một tông, Giáo môn chia thành bốn tông: Thiên
thai, Hiền thủ, Tam luận và Duy thức, cộng chung thành tám
tông Đại thừa.
Luận
này vì muốn phá chấp nhị biên tương đối, nên phương tiện
thiết lập Trung Quán. Nguồn gốc của nhị biên là Hữu và
Vô. “Hữu”bao gồm hữu vi pháp, “Vô”bao gồm vô vi pháp.
Nhị biên đã phá thì “Trung”chẳng có chỗ để an lập.
Như thế, đâu có học thuyết cao siêu để cho nghiên cứu
mà dựng lập học phái Trung Quán !
Lục
Tổ nói thuyết pháp chẳng lìa tự tánh, tự tánh bất nhị,
kinh Đại thừa liễu nghĩa do Phật thuyết đều là bất nhị.
Chư Tổ căn cứ theo kinh liễu nghĩa lập luận sớ giải cũng
là bất nhị. Bất nhị thì chẳng có tương đối, chẳng tương
đối thì chẳng thể dùng bộ não suy nghĩ, chẳng thể dùng
lời nói văn tự diễn đạt, cho nên, Đại Thừa Khởi Tín
Luận nói: Lìa “tướng tâm duyên,” lìa “tướng văn tự”…
Nên
biết, những phương tiện do chư Phật chư Tổ thiết lập
chỉ muốn khiến chúng sanh ngay đó khai ngộ, chứ chẳng phải
muốn chúng sanh nghiên cứu tìm hiểu lý đạo, nên chẳng thể
xem như một học thuyết để nghiên cứu mà chia ra nhiều học
phái.
Trung
Quán Luận gồm 27 phẩm, mặc dù có quán có phá, kỳ thật
quán cũng là phá: Bất cứ hữu vi pháp, vô vi pháp, tất cả
đều phá. Như các phẩm Quán Như Lai, Quán Niết Bàn thuộc
về phá pháp vô vi, những phẩm Quán Nhân Duyên, Quán Khứ
Lai thuộc về phá pháp hữu vi. Hữu, vô tất cả đều phá,
phàm có nhị biên tương đối đều phá.
Chư
Phật chư Tổ dùng pháp phá làm phương tiện để phá sự
chấp trước của chúng sanh. Chúng sanh có sở chấp nào thì
phá cái sở chấp nấy. Nếu chúng sanh chẳng chấp trước
thì pháp phá cũng thành dư thừa. Nay chúng tôi biên tập Yếu
Chỉ Trung Quán Luận này, chỉ ở trong mỗi phẩm rút ra vài
kệ chủ yếu, để sáng tỏ yếu chỉ về pháp phá của tác
giả mà thôi.
Lời
kết:
Pháp
sư Diệu Nhân, ngày 22 tháng 12 năm 1983, khi đọc Nhập Trung
Luận, có bút ký rằng: Các đại luận sư Ấn Độ như: Phật
Hộ, Thanh Biện, Nguyệt Xưng, Tịnh Mạng, đều kế thừa học
thuyết Trung Quán của ngài Long Thọ, nhưng vì quan điểm chẳng
đồng cho với chẳng cho “có ngoại cảnh”mà sanh ra học
phái chẳng đồng.
Thanh
Biện luận sư phá Duy Thức Luận, trong danh ngôn kiến lập
tông phái cho “có ngoại cảnh,” gọi là “Kinh Bộ Hạnh
Trung Quán Sư.” Tịnh Mạng luận sư thì lập ra thuyết “vô
ngoại cảnh,” phái này gọi là “Du Già Hạnh Trung Quán Sư.”
Nguyệt
Xưng luận sư thì cho là Trung Quán Kiến của Phật Hộ luận
sư thù thắng nhất mà theo phái Phật Hộ, lại nói đời sau
phần nhiều Trung Quán Sư đều tùy thuận học thuyết Phật
Hộ và Nguyệt Xưng. Còn các phái Tát Ca, Ca Cử và phái Cách
Lỗ của Phật giáo Tây Tạng cũng theo Trung Quán Kiến
của Nguyệt Xưng luận sư, đồng thời kiến lập Nhật Trung
Luận Tụng và Giải Thích, cũng cho biết danh hiệu phái Ứng
Thành và phái Tự Tục của Trung Quán…
Than
ôi ! Tác giả Trung Luận dùng Trung Quán để phá kiến chấp
của nhị biên tương đối, nếu nhị biên đã phá thì đâu
có cái “trung”để an lập? Tại sao các đại luận sư Ấn
Độ, mỗi mỗi đều có “Trung Quán Kiến”của họ mà sanh
ra nhiều học phái chẳng đồng, như danh hiệu bốn phái kể
trên, thậm chí ảnh hưởng Phật giáo Tây Tạng cũng sanh “Trung
Quán Kiến.” Nếu theo đó suy luận thì Phật giáo các nước
khác cũng có thể bị nhiễm kiến chấp của họ mà chẳng
tự biết, khiến chư Phật chư Tổ muốn phá mà hơi sức đâu
phá hết !
Trung
Luận là vị thuốc phá kiến chấp nhị biên, nếu chấp thuốc
thành bệnh thì chẳng thể trị, như trong phẩm phá “Hành”đã
ghi rõ vậy. Nếu bút ký của pháp sư Diệu Nhân là thật,
thì các luận sư kể trên cũng thuộc về kẻ chư Phật chẳng
thể giáo hóa ư !
Phẩm
phá “Hành”:
Hỏi:
Như kinh Phật sở thuyết,
Hư vọng chấp lấy tướng.
Vì vọng chấp chư hành,
Nên gọi là hư vọng.
Phá:
Kẻ hư vọng chấp lấy,
Trong đó lấy cái gì?
Phật thuyết những việc này,
Muốn hiển bày nghĩa không.
Vì các pháp khác nhau,
Biết đều là “vô tính.”
Tính vô pháp cũng vô,
Vì tất cả pháp không.
Đại Thánh thuyết pháp không,
Vì lìa chư kiến chấp.
Nếu lại thấy có không,
Phật chẳng thể giáo hóa.
Giải
thích:
“Hành”là
hành vi biến hóa. Hành vi biến hóa sát na sanh diệt, nên Phật
nói chư hành vô thường. Vô thường thì chẳng thật, chẳng
thật nên hư vọng, hư vọng thì chẳng thể chấp lấy. Phật
nói hư vọng chẳng thể chấp lấy là muốn hiển bày nghĩa
không vậy. Vì các pháp khác nhau thì mỗi mỗi chẳng tự tánh,
pháp chẳng tự tánh thì pháp chẳng có, nên nói tất cả pháp
không.
Phật
thuyết pháp Không là để phá 62 thứ kiến chấp và phá phiền
não của nghiệp ái vô minh. “Không”là công cụ dùng để
phá chấp, nếu trở lại chấp không thì người ấy chẳng
thể giáo hóa. Như có bệnh mới cần uống thuốc, nếu chấp
thuốc thành bệnh thì chẳng thể trị. Cũng như lửa từ củi
ra, dùng nước có thể diệt lửa, nếu lửa từ nước ra thì
phải dùng cái gì để diệt? “Không”dụ cho nước, có thể
dập tắt những lửa phiền não, nếu lại ở nơi “không”mà
sanh khởi kiến chấp, hoặc cho là có cái không, hoặc cho chẳng
có cái không, vì tranh chấp “hữu”“vô”lại sanh khởi
phiền não nữa.
Nếu
dùng “không”để giáo hóa người này thì họ nói tôi biết
“không”đã lâu, nếu lìa “không”thì chẳng có đạo Niết
bàn. Như kinh nói:”Không, vô tướng, vô tác, nơi ba cửa này
được giải thoát,” đấy chỉ là ngôn thuyết-mà thôi. (Không,
vô tướng thì chẳng tu, vô tác thì không có tu, vậy đâu
thể giải thoát).
Hỏi:
Con tập trung tham câu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?”Lúc
trong ý niệm hỏi thì con nhìn vào câu hỏi đó, bất chợt
có người nhà mở quạt máy, con ngồi đó nhưng hoàn toàn
không biết mở quạt vào lúc nào. Như vậy con có rơi vào
vô ký hay lọt vào hôn trầm không?
Đáp:
Ông nói tập trung tinh thần là sai lầm. Tổ sư dạy tham thiền
không nên tập trung tinh thần, không nên cố gắng, ít phí
sức chừng nào tốt chừng nấy, tập trung lâu ngày sẽ bệnh.
Chỉ cần giữ cái không biết: Hỏi câu thoại là kích thích
niệm không biết, còn khán là nhìn chỗ không biết và giữ
cái không biết đó được kéo dài, chỉ là vậy thôi. Nếu
biết thì chẳng phải nghi tình; biết có nghi tình cũng chẳng
phải, biết nghi tình nhỏ cũng chẳng phải, biết nghi tình
lớn cũng chẳng phải, phàm có cái biết tức không phải tham
thiền, tham thiền là không biết.
Hỏi:
Như vậy khi con ngồi được một lúc thì . . .
Đáp:
Khỏi cần ngồi nữa! Tham thiền là đi, đứng, nằm, ngồi
đều được, tham thiền chẳng phải ngồi thiền, ngồi thiền
chẳng phải tham thiền, tham thiền cũng không có nhập thiền
và xả thiền, do chấp ngồi nên mới có xả. Lục Tổ nói
trong Phẩm Tọa Thiền của Pháp Bảo Đàn: “Đạo do tâm ngộ
bất tại tọa,” ngộ là do tâm, chẳng phải do thân, ngài
còn nói “Ngồi lâu trói thân, có ích lợi gì !”và có một
bài kệ phá chấp ngồi:
Lúc sống thì ngồi hoài,
Khi chết thì nằm mãi.
Chấp giữ bộ xương thúi,
Làm sao công phu được?
Nay
người ta cứ chấp cái ngồi, cho ngồi lâu là cao, như thế
là sai lầm, là hại người, ông cũng bị trúng độc cái đó.
Hỏi:
Con theo dõi công phu của mình thì con thấy, như vật đến
thì nhìn thấy, sau cái thấy đó niệm nổi lên, con vẫn giữ
cái thấy đó thì tự nhiên nó mất đi, con chẳng quan tâm
nó mất hay nổi là tùy nó, vậy như thế nào?
Đáp:
Đó là tự dối mình thôi ! Aáy cũng như đi xem đá banh hay
xem hát kịch, lúc đang xem vì kịch hấp dẫn rồi quên cảnh
xung quanh, đến chừng hết thì vẫn trở lại bình thường.
Có nhà triết học phương Tây cũng sáng lập cái đó, nhưng
đối với Phật pháp coi đó như ngoại đạo tà ma.
Hỏi:
Quyển Cội Nguồn Truyền Thừa của ngài Nguyệt Khê nói “Nhìn
chỗ sơn cùng thủy tận”có giống chỗ Sư phụ dạy hỏi
và nhìn không?
Đáp:
Sơn cùng thì không có, thủy tận cũng không, không có thì
không biết, như vậy đâu có khác ! Lời nói khác nhưng ý
chẳng khác. Như nói “Tâm như hư không vô sở hữu,” vô
sở hữu thì chẳng trói buộc, gọi là giải thoát, vô sở
hữu thì trống rỗng nên chẳng khứ lai, gọi là Như Lai, trống
rỗng khắp không gian thì tự nhiên khắp thời gian chẳng gián
đoạn, gọi là Niết bàn… Mặc dù danh từ khác nhau
nhưng ý thì chẳng khác, cũng là trống rỗng vô sở hữu.
Sơn
cùng thủy tận là không có, tức trống rỗng, trống rỗng
không có cái gì thì lấy gì để biết? Nên không biết.
Hỏi:
Tại sao phải “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”?
Đáp:
Nếu có sở đắc, có sở cầu, có sở sợ thì có ta, có ta
thì chẳng phá được ngã chấp, dẫu cho tu thành cũng thành
tà ma ngoại đạo. Nên chánh pháp phải phá ngã chấp, phá
ngã chấp phải thực hành không có cái ta. Không có cái ta
lấy gì để cầu? Ai đắc? Ai sợ? Vì vậy, không có ta nên
không có đắc, không có cầu, không có sợ.
Hỏi:
Người tham thiền khi lâm chung bị đau đớn lại sợ, lúc
đó phải làm sao?
Đáp:
Nếu hành giả tham thiền giữ được cái không biết thì làm
sao có sợ hãi, biết sợ hãi là biết rồi, tức không có
tham thiền.
Hỏi:
Tâm vốn bất sanh bất diệt, bất khứ bất lai, tại sao người
ta chết chỉ thay đổi cái khác mà lại quên tiền kiếp của
mình?
Đáp:
Vì họ vẫn còn ở trong chiêm bao. Nếu đã nhảy ra ngoài chiêm
bao thì làm sao có tiền kiếp, hậu kiếp và sanh tử? Sanh tử,
tiền kiếp, hậu kiếp là ở trong chiêm bao mới có, khi ngộ
rồi tức nhảy ra ngoài chiêm bao thì mấy cái đó hoàn toàn
kết thúc.
Hỏi:
Lúc ngồi thiền nhắm mắt thì vọng tưởng nổi lên, mở
mắt thì không có vọng tưởng; lúc đi kinh hành nhắm mắt
không có vọng tưởng, mở mắt lại có, như vậy làm sao trị?
Đáp:
Khỏi cần trị, cứ hỏi và nhìn để giữ cái không biết,
không biết làm sao có vọng tưởng? Cũng chẳng biết không
có vọng tưởng nữa. Biết có vọng tưởng là biết, biết
không có vọng tưởng vẫn là biết, nếu hỏi và nhìn thì
mấy cái kia cũng giải quyết luôn.
Hỏi:
Con tham thoại đầu không nghĩ gì hết, như thế có phải nghi
tình không?
Đáp:
Biết không có nghĩ đã là nghĩ rồi.
-
Khi tham thoại đầu, mắt con nhìn cảnh vật bên ngoài vẫn
thấy, vậy như thế nào?
-
Như vậy làm sao gọi là tham thiền? Không biết thì không thấy,
làm sao thấy được? Thấy tức biết rồi !
-
Nếu không thấy làm sao đi đứng tới lui?
-
Không đi đứng tới lui thì không đi đứng tới lui. Nay tôi
hỏi ông, ông biết đói bụng không?
-
Dạ, biết.
-
Ông thấy cái bụng không?
-
Dạ, không.
-
Không thấy sao biết đói bụng?
-
Dạ, tự nhiên đói là con biết.
-
Phải rồi! Ông không thấy bụng cũng biết đói bụng, vậy
khỏi cần thấy cũng đi được mà, phải không?
-
Dạ phải, cám ơn Hòa thượng.
Hỏi:
Khi con đề lên câu thoại đầu thì con nhìn vào chỗ hoàn
toàn không biết gì hết, nhưng vẫn có cái biết của cái
không biết, biết rõ ràng thấy chỗ mình không biết đó.
Rồi đề tiếp câu thoại đầu nữa, vẫn không biết. Hai
niệm vẫn không biết thì con có một ý niệm “làm sao thấy
được tự tánh là cái gì?”Từ chỗ không biết đó con mới
chăm bẩm sao cho thấy được tự tánh? Mà trước sau đều
không thấy, thành ra con thấy rất mệt mỏi và có lúc rất
đau đầu, con không biết mình rớt vào chỗ nào?
Đáp:
Như vậy là sai lầm lớn, vì dùng cái biết tìm hiểu cái
không biết. Tham thiền là không hiểu không biết, nay chẳng
những không chịu chấm dứt, lại dùng cái biết đó tìm hiểu
thêm, tức là tìm hiểu cái nghi tình để biết cái nghi tình.
Biết cái không biết vẫn là biết; nếu không biết, làm sao
biết mình biết cái không biết? Nếu thật không biết thì
làm sao biết cái biết và cái không biết?
Bây
giờ cứ hỏi và nhìn để chấm dứt tất cả tìm hiểu, suy
nghĩ, ghi nhớ, giống như người khờ ngốc không biết gì
mới đúng. Hễ còn biết rõ ràng “có nghi tình không biết”là
không đúng.
Hỏi:
Con đã tham câu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?,”
rồi con thấy câu “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng
phải vật, là cái gì?”câu này có nghi tình hơn câu trên,
vậy có nên đổi câu thoại đầu để tham không?
Đáp:
Tôi hỏi ông: Khi chưa có trời đất ông là cái gì? Biết
không?
-
Dạ, không biết.
-
Không biết là đúng rồi, như vậy cần gì đổi nữa ! Không
biết thì cứ nhìn chỗ không biết đó, thì cái kia cũng nhìn
chỗ không biết vậy !
-
Con thấy câu trên dễ nhìn hơn?
-
Nếu có dễ và khó thì khác rồi ! Biết mới có khác, không
biết làm sao có khác được !
Hỏi:
Khi con tham câu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?,” lúc
ngủ có chiêm bao thì hiện cảnh giới; khi tham câu “Chẳng
phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?,”
lúc ngủ không còn chiêm bao, vậy như thế nào?
Đáp:
Đó là còn để ý cái biết, còn ham cái biết, bây giờ cứ
giữ cái không biết là được .
Hỏi:
Thế nào sám hối thập tự mười phương Tăng?
Đáp:
Hỏi câu thoại đầu và giữ niệm không hiểu không biết
là chơn sám hối. Vì thoại đầu là tâm niệm không nổi lên
thì vọng tâm được ngưng hoạt động. Cho nên, có bài kệ:
Tội từ tâm khởi lấy tâm sám,
Tâm nếu diệt rồi, tội liền tiêu.
Tội tiêu tâm diệt thảy đều không,
Ấy mới gọi là chơn sám hối.
Hỏi:
Có phải ngài Ma Ha Ca Diếp chưa viên tịch, còn nhập định
ở núi Kê Túc chờ Phật Di Lặc ra đời?
Đáp:
Vì chấp có sanh tử nên mới thấy có viên tịch, kiến tánh
rồi biết vốn chẳng có sanh tử, chẳng sanh tử làm sao có
viên tịch hay không viên tịch? Tâm như hư không vô sở
hữu, trống rỗng thì chẳng trói buộc, nên gọi là giải
thoát. Vốn chẳng bị trói buộc là không có sanh tử.
Hỏi:
Ngộ được không có sanh tử tức là liễu thoát sanh tử.
Những tội ác đời trước đã làm như: Giết người, cướp
của, lường gạt, hãm hại người cô thế… thì người Phật
tử làm sao cho hết các tội trên để tu hành khỏi bị chướng
ngại? Chúng con có thể sám hối hồng danh trước bàn Phật
không?
Đáp:
Sám hối không thể diệt tội được. Theo giới luật nhà
Phật, sám hối chỉ diệt được tội phá giới, chứ không
diệt được tội nhân quả. Muốn hết tội nhân quả phải
diệt cái tâm, tâm diệt thì tội liền tiêu.
Muốn
diệt tâm phải tu, như tham thiền đến kiến tánh thì bất
cứ tội nặng thế nào đều tiêu cả. Tại sao? Vì tất cả
tội đều là việc trong chiêm bao, kiến tánh là ở trong chiêm
bao thức tỉnh, lìa khỏi chiêm bao thì tất cả việc làm trong
chiêm bao không còn. Ví như ở trong nhắm mắt chiêm bao thấy
phát tài rất mừng, khi thức tỉnh tìm đồng xu chẳng có,
tạo tội cũng vậy, thức tỉnh liền hết. (Sư phụ giảng
về hai thứ chiêm bao, lược qua.)
Hỏi:
Muôn niệm từ đâu khởi?
Đáp:
Từ bộ não.
Hỏi:
Tâm là cái gì?
Đáp:
Phật cũng không biết, vì nó chẳng phải là sở tri. Bài Nguồn
gốc Phật pháp trong cuốn Yếu Chỉ Phật Pháp có nói đến
vấn đề này.
Hỏi:
Có phải khi kiến tánh mới biết là cái gì khởi niệm, phải
không?
Đáp:
Chưa kiến tánh cũng biết: Ban đêm khởi niệm gọi là nhắm
mắt chiêm bao, ban ngày khởi niệm gọi là mở mắt chiêm bao.
Niệm niệm không dứt đều do vọng tâm ngày đêm hoạt động
hoài.
Hỏi:
Những người ăn thịt mà không thấy con vật bị giết hay
không thấy con vật đau khổ la rên, vậy họ có mắc tội
nhân quả không?
Đáp:
Có. Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Lăng Già nói:”Ăn tam tịnh
nhục, ngũ tịnh nhục đều cấm.” Không nghe, không thấy,
không vì mình mà giết gọi là tam tịnh nhục, rồi thêm cầm
thú ăn dư hay con vật tự chết, cộng chung thành 5 thứ, gọi
là ngũ tịnh nhục. Chúng ta dùng đồ có liên quan đến thân
thể của con vật thì cũng dính líu nhân quả, như dùng giày
dép làm bằng da thú, áo lông thú…
Hỏi:
Theo lời Phật dạy “nhân nào quả nấy,” con không hiểu
tại sao cứ vào ngày rằm tháng Giêng, hàng Phật tử đến
chùa nhờ quý thầy cúng sao giải hạn, thậm chí cũng có quý
thầy thúc giục quở trách Phật tử nào không cúng sao thì
năm đó sẽ gặp rắc rối về bổn mạng. Vậy điều này
có hợp chánh pháp không?
Đáp:
Những việc này gọi là tà mạng thực, nên Phật cấm, nhưng
người ta không chịu nghe lời Phật dạy. Nếu đã tin nhân
quả thì còn hỏi những việc đó làm chi ! Vì người đó
không tin nhân quả nên mới hỏi.
Hỏi:
Minh Tâm kiến tánh thì lấy cái gì để minh, lấy cái gì để
kiến?
Đáp:
Tâm như hư không vô sở hữu, làm sao lấy gì để minh để
kiến? Vì tất cả lời nói đều có ngữ bệnh, như trong kinh
nói “Từ vô thỉ đến nay,” đã vô thỉ làm sao có đến
nay? Phải hữu thỉ mới có đến nay; rồi nói “Kiến tánh
thành Phật,” tánh làm sao kiến? Nếu tự tánh thành sở kiến
thì có năng sở, đâu phải bất nhị? Cho nên, tất cả văn
tự và lời nói chỉ là phương tiện, nếu chấp phương tiện
cho là thật thì học cũng uổng công.
Hỏi:
Tu thiền dễ đưa đến thanh tịnh giải thoát, tại sao có
vài vị tu thiền một thời gian lại bị điên?
Đáp:
Tham thiền không phải muốn thanh tịnh, cũng không mở trói
để giải thoát. Tại sao? Vì tâm như hư không trống rỗng,
tại có cái Ta, muốn có sở đắc, có sở cầu, có sở sợ
nên ma mới nhập được. Nếu không có cái Ta thì ma nhập
vào đâu? Những người hỏi câu hỏi này là do bệnh chấp
thật quá nặng.
Hỏi:
Phật nói trong Phẩm Phổ Môn về nước Quỷ La Sát, vậy Quỷ
La Sát có ở cõi Nam Diêm Phù Đề này không?
Đáp:
Phật nói “Vạn pháp duy tâm tạo,” tâm mình chấp thì có,
chẳng chấp thì không có. Đại Trí Độ Luận nói “Do chấp
Phật thì có Phật, chấp Bồ tát thì có Bồ tát, chấp Đại
thừa thì có Đại thừa… nếu tất cả tánh không thì tất
cả trống rỗng.” Tất cả do chấp nên mới có, có và không
là tương đối, thuộc sản phẩm của bộ não. Còn thực tế
thì chẳng dính dáng đến có và không. Nếu chấp có và không
là lọt vào biên kiến trong năm thứ ác kiến.
Hỏi:
Ngài Quán Thế Âm được cúng dường xâu chuổi ngọc vô giá,
sao ngài không nhận?
Đáp:
Chư Phật chư Tổ muốn chúng ta được ngộ, nếu chúng ta
chấp thật thì không bao giờ ngộ được. Cái vô giá là bản
tâm của chúng ta, ngộ được cái tâm mới thật vô giá, nếu
chẳng ngộ, dù được vật vô giá, sau khi chết cũng chẳng
được gì.
Bây
giờ dù có thế lực cao, có sự nghiệp lớn, thành công to,
tiền của nhiều, đầy châu báu vô giá v.v…cũng đâu làm
chủ những cái ấy được ! Không muốn lìa mà nó vẫn lìa,
thân này không muốn bệnh nó cũng bệnh, không muốn chết
nhưng nó cũng chết…tự mình còn không làm chủ được, có
vật vô giá được ích lợi gì !
Hỏi:
Trong lịch sử Thiền tông có ghi: Hòa thượng Cửu Chỉ được
ngộ đạo do Thiền sư Thiên Long khai thị giơ một ngón tay,
sau này đệ tử cũng bắt chước giơ một ngón tay, ngài biết
được mới lập phương tiện mài con dao thật bén để trong
túi áo. Một hôm hầu trà, Hòa thượng hỏi, đệ tử giơ
ngón tay lên, Hòa thượng chặt đứt. Như vậy Hòa thượng
có lỗi không?
Đáp:
Người viết sách vì không hiểu gì hết, công án Thiền
cũng không biết mà viết ra như thế rất hại người, là
tội địa ngục. Công án như thế này:
Hòa
thượng Cửu Chỉ chưa ngộ mà tưởng mình đã ngộ, một
hôm đang ngồi ở thiền sàng, gặp cô Ni Thật Tế từ ngoài
bước vào chùa không chịu bỏ nón xuống, Cửu Chỉ nói:
-
Xin cô lấy nón xuống.
Ni
cô đi ba vòng rồi nói ba lần: Nói được thì ta bỏ nón xuống.
Cửu
Chỉ nói không được, cảm thấy mắc cở. Ni cô định ra
đi, Cửu Chỉ muốn xin chỉ giáo, nói:
-
Trời tối rồi, mời Ni cô ở lại một đêm.
Ni
cô nói ba lần: Nói được thì ta ở lại.
Cửu
Chỉ vẫn không nói được, Ni cô bỏ đi.
Trong
Phật pháp, Tỳ-kheo-ni có bát kỉnh đối với Tỳ-kheo, tức
là: Tỳ-kheo-ni gặp Tỳ-kheo phải đảnh lễ, cho dù Tỳ-kheo-ni
một trăm tuổi hạ cũng phải đảnh lễ Tỳ-kheo mới thọ
giới. Nhưng Tỳ-kheo-ni kiến tánh thì Tỳ-kheo phải đảnh
lễ Tỳ-kheo-ni.
Cửu
Chỉ cảm thấy hổ thẹn, tự nghĩ:”Mình là đại trượng
phu mà không bằng người nữ,” định bỏ chùa đi tham học,
nhưng đêm đó chiêm bao thấy thần Hộ pháp cho biết :”Ông
khỏi đi, ngày mai sẽ có thiện tri thức đến.”
Sáng
ra, Thiền sư Thiên Long đến, Cửu Chỉ tiếp đãi tử tế,
rồi đem chuyện Ni cô Thật Tế kể cho Thiền sư nghe, nhờ
Thiền sư chỉ dạy. Thiền sư Thiên Long không nói gì cả,
chỉ đưa lên một ngón tay thì Cửu Chỉ liền ngộ.
Về
sau, hễ có người đến hỏi pháp thì ngài đưa một ngón
tay lên, thị giả thấy và bắt chước, có ai hỏi cũng đưa
ngón tay lên. Người ta lại nói với Cửu Chỉ:
-
Thị giả của ngài thuyết pháp cũng hay vậy.
-
Thuyết pháp như thế nào?
-
Có ai hỏi pháp thì thị giả cũng đưa ngón tay lên.
Cửu
Chỉ mài sẵn con dao thật bén để trong túi áo, một hôm thị
giả bưng trà đến, ngài hỏi:
-
Thế nào là Phật?
Thị
giả đưa ngón tay lên theo thói quen, ngài liền lấy dao chặt
đứt ngón tay, thị giả hoảng sợ bỏ chạy, ngài rượt theo
là bảo:”Đứng lại!”Thị giả đứng lại nhìn, ngài hỏi:
-
Thế nào là Phật?
Thị
giả giơ tay lên, không thấy ngón tay liền ngộ.
Hỏi:
Khoa học hiện đã phát minh vô sinh và thực hiện ở con bò
con cừu, rồi cũng thực hiện bằng cách cấy mô, như vậy
con người này do khoa học tạo ra, có phải là chúng sanh bình
thường không?
Đáp:
Khoa học không chế tạo cơ nhân được, phải nhờ cơ nhân
sẵn có, cũng như mình ghép cây này với cây kia, nếu không
có cây thì làm sao ghép được? Họ phải dùng tế bào người
đó, nếu không thì chẳng thể tự tạo ra tế bào.
Dùng
tế bào con dê này thì giống con dê này, chứ không thể giống
con dê khác, vì mỗi mỗi cơ nhân khác nhau. Trong cuốn Vũ Trụ
Quan Thế Kỷ 21, đoạn đề cập về đầu thai có nói rõ hơn
sinh lý giải phẩu học của Đại học Mỹ:
“Muốn
thuyết minh tình trạng luân hồi của nhân loại, nên nhờ
câu tụng của Huyền Trang Đại sư để chứng minh:
Bát
Thức Quy Củ Tụng có câu:”Khứ hậu lai tiên tác chủ công,”
hấp lực tỏa ra do cộng nghiệp của mình và cha mẹ khi cha
mẹ giao hợp, khiến thức thứ Tám đến trước nhất
(lai tiên), khi chết, thức này rời cơ thể sau cùng (khứ hậu).
Do tánh chấp ngã của thức thứ bảy kết hợp với sinh lý
của cơ thể, mà làm chủ nhân nơi thân này, đồng thời do
tinh cha trứng mẹ kết hợp hình thành thai nhi, nhờ bát thức
làm cơ nhân (DNA) mà dần dần hình thành hệ thống thần kinh
của bộ não, cùng khắp các tế bào và ngũ tạng lục phủ
của toàn thân, do bộ não làm thủ tướng.
Do
sự lôi kéo của ngã chấp, khiến lục thức với lục căn
hợp tác mà nghe theo lệnh của bộ não. Nhưng lục căn thuộc
sắc pháp (thể vật chất), lục thức thuộc tâm pháp (thể
tinh thần), căn có thể hoại diệt, thức thì chẳng thể hoại
diệt. Nếu tu hành đến kiến tánh thì chuyển được bát
thức thành tứ trí mà ra khỏi luân hồi, chấm dứt sự sanh
tử, dứt hẳn sự đầu thai chuyển thế, tự do tự tại vĩnh
viễn, chẳng còn tạo nghiệp và bị nghiệp lực trói buộc.”
Thức
thứ tám là kho chứa tất cả chủng tử thiện ác của kiếp
trước làm cơ nhân, cái đó mỗi mỗi khác nhau, nên cơ nhân
của mỗi người mỗi khác. Phải dùng cơ nhân bồi dưỡng
đều qua tử cung của người đàn bà mới thành thai nhi. Bộ
não làm thủ tướng, nhưng có ba bộ phận: Tìm hiểu, suy nghĩ
và ghi nhớ.
Bộ
phận ghi nhớ mà nhà khoa học đã bắt chước chế tạo thành
máy vi tính, còn hai bộ phận tìm hiểu và suy nghĩ, cũng có
nhà khoa học nói sau này sẽ ra đời. Vì đó là vật chất,
có thể y theo mà chế tạo cái máy, ví như rađa là bắt chước
con dơi. Con dơi không có con mắt, nhưng bay không đụng vật
là nhờ có rađa vậy.
Hỏi:
Lúc chưa tạo thiên lập địa thì mọi người ở đâu?
Đáp:
Chỗ này để các vị tham, không được giải thích, thế mới
có câu thoại đầu “Khi chưa có trời đất ta là cái gì?.”
Nếu có thể giải thích thì có thể tìm hiểu, cứ giữ cái
không biết mãi, rồi đến chỗ thoại đầu mới kiến tánh
thành Phật. Sau này các vị ngộ rồi sẽ tự biết, chưa ngộ
mà đoán mò bậy bạ là sai lầm, vì không thể giải được.
Hỏi:
Phật tánh siêu việt logic, có đồng với câu “Cứu cánh
cùng tột, bất tồn quỷ tắc”của Tín Tâm Minh
không?
Đáp:
Cũng giống như vậy. Nếu có logic thì có tương đối, phải
có thí dụ. Còn chơn tâm bất nhị, chẳng tương đối thì
không thể dùng lời nói để diễn tả, không thể theo logic
để chứng minh, nên nói Phật tánh siêu việt logic. Nếu nói
đồng là nhị, nói khác cũng là nhị. Tại sao? Người ta nói
“Đồng nhất,” nhưng phải có hai cái mới đồng được,
như cái này đồng với cái kia; nói “khác”cũng vậy.
Hỏi:
Tự tánh cùng khắp, sao bộ não chẳng cùng khắp?
Đáp:
Bộ não là vật chất thì bị không gian thời gian hạn chế
nên chẳng cùng khắp, còn tự tánh là phi vật chất nên tự
nhiên cùng khắp.
Hỏi:
Phương pháp hành thiền tự tánh như: Thiền là tỉnh thức,
thiền là an nhiên, thiền là điềm đạm, thiền là không vọng
tưởng, thiền là ở sáu căn, thiền là khi tụng kinh, thiền
là khi niệm Phật… tất cả những đề mục trên, có phải
oai nghi tế hạnh của người tu không? Hay là Như Lai Thiền?
Đáp:
Chẳng phải Như Lai Thiền, mà là tà ma ngoại đạo thiền,
không phải chánh pháp của Phật dạy. Chánh pháp của Phật
dạy là bốn thừa: Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa, Tối
thượng thừa. (Sư phụ dẫn dụ ngài Nguyệt Khê giải thích
bốn thừa, lược qua,)
Hỏi:
Trong tác phẩm Nẻo vào Thiền Học có viết một đoạn kể
lại đối thoại giữa hai vị là Thiền giả và Hòa Thượng:
Thiền
giả hỏi: Đạo là gì?
Hòa
thượng đáp: Đạo là tâm bình thường của con người.
Thiền
giả hỏi: Vậy cần gì phải tu?
Đáp:
Nếu có tu thì trái với đạo.
Kính
xin Sư phụ giảng: Có ý muốn tu là trái với đạo?
Đáp:
Vì vô tu vô chứng, tại không phải tu mà thành.
Hỏi:
Nghi sự là gì?
Đáp:
Sự là công việc, bất cứ công việc gì đều là sự. Như
giải đáp của tôi là sự, các vị đi hương, tọa hương
trong Thiền thất cũng là sự, tức làm là sự. Như muốn cất
nhà phải theo kiến trúc mà xây tường lợp mái, những việc
ấy đều là sự.
Nghi
sự của mỗi người mỗi khác, cũng như nghi việc tham thiền
có được giải thoát không? Nghi lý tham thiền có đúng lý
không?
Hỏi:
Tự tánh vốn sẵn có, sao bộ não xen vào tự tánh?
Đáp:
Bộ não là nghiệp tạo thành, do chủng tử thiện ác kiếp
trước của thức thứ tám đem theo đầu thai. Vì ngã chấp
của thức thứ bảy khiến cho lục căn lục thức hợp tác
nghe theo lệnh của bộ não.
Bộ
não là hệ thống thần kinh theo ngã chấp mà tạo nghiệp nhân
thì phải chịu nghiệp quả, chứ chẳng phải là tự tánh,
tự tánh bất nhị không có tương đối. Khi chuyển bát
thức thành tứ trí mới hiện ra tự tánh bất nhị, còn bây
giờ tự tánh bị che khuất, nên lục căn và lục thức nghe
theo lệnh của bộ não.
Hỏi:
Phật tử tại gia tham thiền có những giai đoạn thử thách
đau khổ trong cuộc sống, vậy có phải trả nghiệp không?
Đáp
. Có thử thách mới gọi là tu, nếu không có thử thách,
giống như người ta nhập thất tự nhốt trong phòng, việc
ấy chẳng phải tu mà lại có hại, vì không tiếp xúc cảnh
vật bên ngoài để khởi tâm động niệm.
Hỏi:
Tại sao các Thiền viện chỉ thờ Phật Thích Ca và các Tổ
Ma Ha Ca Diếp, mà không thờ các vị Phật khác như Phật Di
Đà, Phật Quán Thế Âm?
Đáp:
Thiền đường ở Trung Quốc không có thờ Phật gì hết. Ngày
xưa Bá Trượng sáng lập Tòng lâm không có thờ Phật, bây
giờ có chùa chỉ thờ Phật Thích Ca, có chùa thờ đủ thứ,
chẳng thể kể xiết. Nhưng Thiền tông không nói đến việc
thờ, nếu nói đến thờ thì chẳng phải Thiền tông.
Hỏi:
Việc vay trả nhân quả không biết đến chừng nào mới hết?
Đáp:
Kiến tánh triệt để thì hết. Vì nhân quả là việc trong
mở mắt chiêm bao, kiến tánh thì ra ngoài chiêm bao, bất cứ
nghiệp chướng nặng cách mấy, khi được giác ngộ là xong.
Hỏi:
Lúc mới tham thiền, vọng tưởng nhiều mà nghi tình mạnh
nên con dụng công liên tục; còn bây giờ các vọng tưởng
lắng dịu, tâm con được thanh tịnh, sự dụng công không
còn như trước, thường hay bị gián đoạn. Con biết những
căn bản phiền não vẫn còn nằm sâu trong tàng thức chưa
diệt trừ hết, vậy làm cách nào để cho sự dụng công được
liên tục?
Đáp:
Ấy do chẳng phải vì sanh tử, chỉ vì hứng thú mà tu, khi
hết hứng thú thì hết tham. Nên ngài Hư Vân nói:”Năm đầu
sơ tham, năm thứ nhì lão tham, năm thứ ba hết hứng thú thì
không tham.” Ban đầu hứng thú nên công phu mãnh liệt, sau
này hứng thú bớt dần, đến năm thứ ba cũng nghĩ tham luôn.
Nếu
vì giải thoát sanh tử thì khi nào giải quyết được sanh
tử mới hết tham, tức kiến tánh triệt để rồi mới xong
việc.
Hỏi:
Người phát đại nguyện sanh về Tịnh Độ, nếu giết một
con mèo để cứu một vạn con chuột, thì người ấy có trái
với đại nguyện đã phát không?
Đáp:
Trái.
Hỏi:
Chánh trí là gì? Có đồng nghĩa Như Lai không?
Đáp:
Chánh trí là trí Bát nhã không có qua bộ não. Diệu dụng
của Phật tánh không qua bộ não, nhưng nó làm xong công việc
của bộ não mà bộ não làm không được, dụng của nó là
như như.
Ngũ
pháp gồm: Tướng, danh, phân biệt, chánh trí, như như. Nay
lược giải như sau:
1/
Tướng: Phàm là vật thể hữu hình mỗi mỗi đều có sự
cao thấp, dài ngắn, lớn nhỏ, màu sắc, chất lượng, luôn
cả những khái niệm vô hình như ảo tưởng do sự tưởng
tượng dựa theo vật thể hữu hình cũng vậy. Cả hai thứ
hữu hình và vô hình đều gọi là tướng.
2/
Danh: Y theo tướng hữu hình và vô hình lập ra tên gọi, gọi
là danh.
3/
Phân biệt: Đối với danh tướng kể trên, trải qua sự tư
duy phân tích để nhận thức sự thật giả, tốt xấu, giá
trị, chất lượng, thị phi, tà chánh v.v… gọi là phân biệt.
4/
Chánh trí: Trí thức chẳng nhờ tác dụng của bộ não, mà
do công năng tự động của trí Bát nhã tự hiện, là vốn
sẵn có của Diệu giác (Bộ não chẳng thể biết được),
có sự tồn tại khách quan. Cái trí huệ chẳng cần tác ý
của bộ não mà tự hiện này, là trí huệ chẳng bị không
gian và thời gian hạn chế, gọi là chánh trí.
5/
Như như: Do nơi chánh trí tự động phát huy, chẳng kể ngày
đêm, cổ kim, luôn luôn như bản lai thực tế từ vô thỉ
đã sẵn có, chẳng có tương đối, siêu việt biện chứng
của logic, gọi là như như.
Gọi
chung là Ngũ pháp.
Hỏi:
Tham thiền sợ nhất nhận thức thần làm Phật sự hoặc nhướng
mày chớp mắt, xoay đầu ngó lại cho là ít nhiều kỳ đặc.
Nếu nhận thức thần làm việc chánh là tôi tớ của ngoại
đạo cũng chẳng được, vậy có phải không?
Đáp:
Nếu tham Tổ sư thiền thì chỉ hỏi và nhìn là giữ niệm
không biết, gọi là nghi tình. Còn biết những cái này là
chẳng phải Tổ sư thiền.
Hỏi:
Thế nào là Nạp Tăng núi bạc vách sắc?
Đáp:
Đây là thí dụ, nếu giữ được nghi tình không biết, thì
cũng như núi bạc vách sắt, các thứ phiền não và các thứ
khác không vô được.