DUY
THỨC HỌC TẬP IV
LUẬN
A-ĐÀ-NA-THỨC
Ngài
Thái Sư Pháp Sư giảng
Sa
môn Thích Thiện Hoa dịch nghĩa
Nội
dung quyển A Đà Na thức này, chia làm 8 phần:
1.
Nêu cái tên
2.
Định giới nghĩa
3.
Giải thích và chọn lựa
4.
Nêu cái thể
5.
Hội lại giải thích
6.
Chỉ những chổ sai lầm
7.
Lập Tôn chỉ
8.
Chỉ cái dụng
I.
NÊU CÁI TÊN
Tên
A Đà Na thức, xuất xứ từ đâu?
Trong
kinh Giải thâm mật có bài tụng rằng:
Nguyên
văn chữ Hán
A Đà
Na thức thậm thâm tế
Tập
khí chủng tử như bộc lưu
Ngã
ư phàm ngu bất khai diễn
Khủng
bỉ phân biệt chấp vi ngã.
Nghĩa
là: Thức A Đà Na rất thậm thâm và tế nhị; các tập khí(1)
chủng tử của nó sanh diệt như dòng nước thác. Ta (Phật)
đối với chúng phàm phu và Nhị thừa, không giảng nói thức
này; vì sợ chúng phân biệt chấp làm Ngã.
Trong
kinh Đại Phật Đảnh Thủ lăng nghiêm nói:
Nguyên
văn chữ Hán:
Đà
na vi tế thức
Tập
khí thành bộc lưu
Chơn,
phi chơn khủng mê
Ngã
thường bất khai diễn.
Nghĩa
là thức A Đà Na rất là vi tế; các tập khí như dòng nước
thác. Vì sợ chúng phàm phu và nhị thừa chấp thức này là
"chơn" hay "phi chơn", nên Ta (Phật) chẳng hề giảng nói thức
này cho chúng nghe.
Thức
này là "Căn bản" của chơn và vọng; Thánh, Phàm đều nương
ở nơi đây. Bởi thế nên trong Duy thức tôn, rất đặc biệt
chú trọng đến thức này.
Nay
chúng ta căn cứ theo câu văn và nghĩa lý của bài tụng trên
mà quan sát_Trong bài tụng nói chữ "Phàm" là chỉ cho loài
dị sanh (chúng sanh); nói chữ "Ngu" là chỉ chung cả phàm phu
và Nhị thừa(chữ ngu là mê lầm).
Đại
ý hai bài tụng nói:
A Đà
Na rất thâm sâu và tế nhị, tóm chứa các tập khí chủng
tử từ vô thỉ đến nay. Nó làm chủ giữ gìn báo thân của
chúng hữu tình sống trong một thời kỳ. Xem in tuồng như
"chơn", song nó hư vọng sanh diệt rất là vi tế. Cũng như
dòng nước thác, ở xa thấy như điềm tịnh, mà kỳ thật
nó chảy rất mau.
Chẳng
những chúng phàm phu (dị sanh)(1) không biết mà hàng tiểu
thừa Thinh văn chấp pháp (ngu pháp) cũng mê lầm thức này.
Phật đối với hai hạng này chẳng hề giảng nói đến thức
A Đà Na, vì sợ họ mê lầm chấp làm "Ngã".
Chúng
phàm phu mê lầm chấp ngã thì thêm khỗ sanh tử; còn hàng
nhị thừa tuy có thể lìa được khổ sanh tử, song nếu mê
lầm chấp ngã thì lâu chứng đạo quả; chi bằng chẳng cho
họ nghe đến thức này còn hơn.
Bài
tụng của kinh Lăng Nghiêm và kinh Giải Thâm Mật, hai câu đầu
đồng nghĩa nhau. Trong câu thứ hai nói chữ "tập khí" tức
là "chủng tử". Đến câu thứ ba lại chia ra làm hai phương
diện: Bên kinh Lăng Nghiêm đại ý nói: "Thức này rất rộng
sâu và tế nhị, sanh diệt tương tục không gián đoạn. Bởi
nó tương tục không gián đoạn cho nên in như "chơn"; vì nó
sanh diệt nên "không phải chơn".
Nếu
người mê lầm chấp thức này là "chơn" thì bị cái chấp
"Tăng ích" (thêm), sẽ đoạ mãi trong sanh tử luân hồi. Còn
người mê lầm chấp thức này là "phi chơn", thì bị cái chấp
"Tổn giảm" (bớt); vì cho thức này là "vọng" rồi rời bỏ
thức này để tìm cầu cái "chơn thật" thì không thể được,
nên cũng đoạï mãi trong sanh tử luân hồi.
Câu
tụng thứ tư trong kinh Giải Thâm Mật, đại ý nói: "Phân
biệt chấp thức này làm ngã", tức đồng bên kinh Lăng Nghiêm
nói: "Mê thức này chấp là chơn". Song mê lầm chấp thức
này "phi chơn" cũng là chấp Ngã. Vì sợ cho chúng phàm phu và
hàng Nhị thừa mê lầm chấp thức này là "chơn" hoặc "phi
chơn", cho nên Phật chẳng hề giảng nói.
Trên
bài tụng nói "chấp ngã", tức là cố chấp thức này làm
thật ngã, thật pháp. Bởi phàm phu và Nhị thừa đối với
thức này hay khởi tâm phân biệt chấp là "chơn" hoặc "phi
chơn".
Đem
hai bài tụng trên đây để đối chiếu mà quan sát; thì ý
nghĩa đầy đủ. Song, bài tụng trong kinh Giải Thâm Mật có
một nghĩa đặc biệt và rõ ràng hơn là: "chúng phàm phu và
Nhị thừa dễ khởi tâm phân biệt chấp làm Ngã".
Trong
Du Dà Sư Địa Luận, hoàn toàn căn cứ vào kinh Giải Thâm
Mật mà giải nói về thức này. Ngoài ra còn có rất nhiều
chỗ nói đến cái tên thức này, không thể kể hết như Nhiếp
Đại thừa luận, Hiển dương Thánh giáo luận, Thành Duy thức
luận, ...Vì trong các kinh luận đã có cái tên A Đà Na thức,
nên nay y theo đó để làm căn cứ cho bổn Luận này.
II.
ĐỊNH GIỚI NGHĨA
Chữ
"Giới nghĩa" tức là định giới hạn về danh nghĩa. Thức
A Đà Na, cái giới nghĩa như thế nào?
Tiếng
Phạn gọi là A Đà Na, Tàu dịch là "Trì" (giữ gìn). Trong
kinh không có giải thích nó như thế nào nhưng trong Nhiếp
Đại thừa luận giải thích có hai nghĩa, và ở Thành Duy thức
luận lại còn phân tích hoàn bị hơn.
Trong
Thành Duy thức luận về quyển ba nói:
Nguyên
văn chữ Hán
Dĩ
năng chấp trì chư pháp chủng tử
Cập
năng chấp thọ sắc căn y xứ
Diệc
năng chấp thủ kiết sanh tương tục
Cố
thuyết thử thức danh A Đà Na
Dịch
nghĩa
Thức
này có ba công năng, nên gọi là A Đà Na:
1.
Giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp
2.
Giữ chịu (chấp thọ) căn thân và thế giới
3.
Giữ lấy (chấp thủ) việc kết nối đời sau.
Nay
muốn cho độc giả dể hiểu, nên bắt từ cạn vào sâu, từ
thô đến tế; nghĩa là ngược thứ lớp của ba nghĩa trên
để giải thích như sau.
1.
GIỮ LẤY (CHẤP THỦ) VIỆC KẾT NỐI ĐỜI SAU
Sở
dĩ có việc "kết nối đời sau" (kiết sanh tương tục) là
do ba pháp: Phiền não, Nghiệp và Sanh; theo thông thường gọi
"Hoặc, Nghiệp và Khổ". Nghĩa là: do phiền não nên tạo nghiệp,
do tạo nghiệp nên mới tiếp nối đời sau để thọ khổ.
Chữ "Kiết sanh" (Kết nối đời sau), nghĩa là thọ sanh, bắt
đầu từ khi kết thai cho đến lúc sanh ra vậy.
Lại
nữa, từ một đời này chết rồi sanh đến một đời khác.
Nghĩa là: từ thân "bổn hữu" (1) (thân hiện sống) đến thân
"tử hữu" (thân đang chết), từ thân "tử hữu" đến thân
"trung hữu"(2) (thân sau khi chết chưa đầu thai), từ thân "trung
hữu" đến thân "hậu hữu"(3)(thân đời sau). Sở dĩ được
tương tục không gián đoạn như thế, cố nhiên phải có một
cái gì thường lưu hành và gìn giữ (chấp thủ)_Cái đó là
thức A Đà Na. Nếu không có thức này để nắm giữ việc
"kết nối đời sau" (kiết sanh tương tục) thì người một
khi chết rồi phải mất luôn, không còn tái sanh được nữa!
Như thế thành ra bị rơi vào thuyết Đoạn diệt của ngoại
đạo.
Trong
kinh Lăng Nghiêm về quyển thứ hai chép, đại ý: "Trước kia
vua Ba Tư Nặc theo ngoại đạo, chấp về "đoạn diệt" (người
chết rồi mất luôn) nên Vua thường ôm lòng lo buồn !...Sau
khi nghe Phật nói Pháp, Vua ngộ được cái lý "sanh tử tương
tục"; nghĩa là: con người khi chết là bỏ thân này để thọ
thân khác, từ giã đời này để đến nhận lãnh đời kia;
cái gì có biến đổi thì phải bị hoại diệt, còn cái gì
không biến đổi thì thường không hoại diệt, nên vua rất
vui mừng !".
Nói
"chấp đoạn diệt" tức là chấp một phen chết rồi mất
luôn. Nếu thật vậy, thòi đời sống của con người không
có một chút giá trị nào cả ! Bởi thế, nên biết có thức
A Đà Na này hằng lưu hành không gián đoạn, nó nắm giữ
việc "đầu thai tiếp nối" (kiết sanh tương tục).
Tóm
lại, nếu người hiểu rõ được: "Có thức A Đà Na nắm
giữ việc kiết sanh tương tục" (kết nối đầu thai) thì
đối trị được cái chấp "đoạn diệt" của phàm phu và
ngoại đạo.
2.
GIỮ CHỊU (CHẤP THỌ) SẮC CĂN VÀ THẾ GIỚI
Nguyên
vằn chữ Hán trên, nói chữ "sắc căn y xứ"_Chữ "sắc căn"
là chỉ cho năm căn tinh tế bên trong (năm tịnh sắc căn: Nhãn,
Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân); còn chữ "y xứ" là chỉ cho năm căn
thô phù bên ngoài (phù trần căn) làm chỗ (xứ) y chỉ cho
năm căn bên trong.
Tóm
lại là chỉ chung cái Báo thân của chúng hữu tình đang sống
trong một thời kỳ. Nói "cái Báo thân sống trong một thời
kỳ" tức là gồm cả "các pháp hữu vi vô thường sát na sanh
diệt"._Cái công năng gìn giữ Báo thân được tương tục
tồn tại trong một thời kỳ không tan hoại đó, tức là thức
"A Đà Na" này vậy.
Nguyên
văn chữ Hán trên, nói hai chữ "chấp thọ", nghĩa là chấp
thân này nên "tự thể" khiến sanh ra biết cảm giác và lãnh
thọ.
Lại
có một nghĩa thứ hai, trên nguyên văn nói chữ "sắc căn"
là chỉ cho thân loài hữu tình (chánh báo); còn chữ "y xứ"
là chỉ cho thế giới (y báo).
Trong
thế giới, từ một vật nàyđối với các vật khác ngại
nhau, từ một vi trần này đối với các vi trần khác ngại
nhau, mà vẫn tồn tại, đều do thức này gìn giữ không mất;
chỉ khác với loài hữu tình là không làm cho biết cảm giác
và lãng thọ.
Trong
luận Tề vật, Ông Chương Thái Diệm nói: "Loài khoáng vật
và thực vật đều có thân thức". Nhưng xét những lời chứng
minh của ông, thì không phải là thân thức; thật ra do công
năng giữ gìn của thức A Đà Na; chẳng qua ông không hiểu,
lần cho là thân thức. Thân thức chỉ biết cảm giác lãnh
thọ các xúc trần, như đau, ngứa, ...mà thôi; còn cái công
năng nắm giữ các vật ngại nhau làm tự thể, quyết định
phải là thức A Đà Na này.
3.
GIŨ GÌN (CHẤP TRÌ) CHỦNG TỬ CỦA CÁC PHÁP
Nói
"các pháp" tức là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi. Có hai
loại: 1. "Hữu lậu hữu vi", tức là các pháp tạp nhiễm,
thuộc về loài Dị sanh (chúng sanh), 2. "Vô lậu hữu vi", tức
là các pháp thanh tịnh, thuộc về Thánh Hiền.
"CHỦNG
TỬ" cũng có hai loại: 1. "Nghiệp chủng" tức là Dị thục
tập khí", 2. "Pháp chủng", tức là Đẳng lưu tập khí.
Mỗi
mỗi các pháp, khi khởi hiện hành đều từ chủng tử của
nó mà khởi hiện. Bởi đồng đẳng lưu xuất ra chủng loại
đó, nên gọi là "Đẳng lưu chủng".
"NGHIỆP
CHỦNG" (Dị thục chủng tử) tức là chủng tử Tư Tâm sở.
Bởi vì Tư Tâm sở, Tâm vương và các Tâm sở thiện ác v.v...có
tác dụng hoạt độngthành ra "nghiệp chủng". Nếu lấy hiện
hành của nó, thì cũng đều gọi là "Đẳng lưu chủng". Song
cái "nghiệp chủng" này, đồng thời lại có công dụng đặc
biệtlà thống lãnh các pháp khác. Cũng như op6ng Thủ tướng,
nếu nói về cá nhân thì ông là một người như bao nhiêu
người trong nước nhưng đồng thời, ông cũng có cái trách
nhiệm thống lãnh toàn quốc._Nghiệp chủng (Dị thục chủng
tử) cũng thế, nó khác hơn "pháp chủng"(Đẳng lưu chủng)
ở chỗ đó.
"Nghiệp
chủng" cũng có hai loại: 1. Hữu lậu, 2. Vô lậu. Song về
"chủng tử" thì chỉ có công năng tiềm tàng (ẩn núp) mà
không khởi hiện. Nếu không có một cái gì để chứa giữ,
thì chủng tử các pháp phải bị tản mất. Nếu chủng tử
các pháp bị tản mất, thì các pháp hiện hành ở thế gian
và xuất thế gian cũng phải không còn.
Bởi
thế nên phải có thức A Đà Na để chứa giữ chủng tử
(công năng tiềm tàng) của các pháp.
Có
người nói: "Sắc pháp có công năng chứa giữ chủng tử".
Nói như thế không hợp lý, vì "sắc pháp" tánh nó biến đổi
và chướng ngại, nên không thể chứa giữ chủng tử được.
Lại nữa, khi sanh lên cõi trời Vô sắc, cõi ấy không có
"sắc pháp" thì lấy gì chứa giữ chủng tử.
Các
"Tâm sở" cũng không thể chứa giữ chủng tử được, vì
nó không tự tại vậy.
Sáu
thức trước cũng không thể chứa giữ chủng tử, vì khi sanh
lên cõi trời Vô tưởng và vào Diệt tận định v.v ...không
có sáu thức trước vậy.
Thức
thứ Bảy, tuy hằng thời lưu hành và không gián đoạn, song
cũng không thể chứa giữ chủng tử các pháp được, vì tánh
nó "hữu phú vô ký". Nếu thức thứ Bảy chứa giữ chủng
tử, thì khi đến địa vị Bồ Tát, đã chuyển thức thành
trí thanh tịnh rồi, về sau laại khởi sanh các pháp tập nhiễm
nữa, thì phi lý.
Bởi
thế nên, chỉ có thức A Đà Na, tánh vô phú vô ký, nhứt
loại sanh diệt tương tục, mới có thể duy trì (chứa giữ)
chủng tử của các pháp. Cảnh giới này duy có Phật mới
biết được hoàn toàn rốt ráo, còn các vị Bồ Tát chỉ
biết một phần nào thôi.
***
III.
GIẢI THÍCH VÀ CHỌN LỰA
Trong
thành Duy thức luận, quyển ba chép: "Các hữu tình đều có
thức thứ Tám, song tuỳ theo mỗi phương diện mà danh nghĩa
có khác nhau, nên đặt ra rất nhiều tên:
1.
Hoặc gọi là "Tâm":_Vì thức này là chỗ chứa nhóm (tích
tập) để cho các pháp huân tập chủng tử vào.
2.
Hoặc gọi là "A đà na": _Vì thức này giữ gìn chủng tử
và thân thể của chúng hữu tình không mất.
3.
Hoặc gọi là "Sở tri y":_ Vì thức này là chỗ y chỉ của
các pháp bị biết(sở tri) nhiễm và tịnh.
4.
Hoặc gọi là "Chủng tử thức": _ Vì thức này có công năng
chứa giữ chủng tử của các pháp thế gian (hữu lậu) và
xuất thế gian (vô lậu).
Bốn
tên trên đây, thông cả các địa vị Phàm, Thánh.
5.
Hoặc gọi là "A lại da": _ Tàu dịch là Tàng thức vì thức
này tóm thâu chứa đựng các pháp tap nhiễm, giữ gìn không
mất, nên có nghĩa Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
(Thức thứ Bảy chấp thức này làm "Nội ngã").
Tên
A lại da (tàng thức) này, chỉ ở chỗ Phàm ohu và Thánh hữu
học, còn Thánh vô học và bực Bất thối Bồ Tát, thì không
có tên này (tàng thức), vì không còn chứa giữ chủng tử
các pháp tạp nhiễm nữa.
6.
Hoặc gọi là "Dị thục thức ":_ Vì thức này có công năng
dẫn dắt đi trong sanh tử để lãnh thọ quả Dị thục (báo
thân), do thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, đã tạo đời trước.
Tên
Dị thục này, chỉ có ở hàng Phàm ohu, Nhị thừa và các
vị Bồ Tát, còn đến địa vị Phật thì không còn Dị thục
thức.
7.
Hoặc gọi là "Vô cấu thức": _ Vì thức này là chỗ chứa
giữ các pháp hoàn toàn vô lậu thanh tịnh. Tên "Vô cấu thức",
duy Phật mới có. Từ các vị Bồ Tát Đại thừa trở xuống,
cho đến hàng Phàm phu, thì thức thứ Tám còn chứa các chủng
tử hữu lậu, chưa đặng hoàn toàn thanh tịnh, nên không có
tên "Vô cấu thức".
CHỌN
LỰA
Ngoài
các tên kể trên, thức này lại còn có những tên như: Sơ
năng biến, Căn bản thức và Như Lai tạng ...Nay theo thứ lớp
lược nêu các tên, để lựa chọn tên nào hoàn bị.
1.
A lại da thức._Tàu dịch là "Tàng thức". Các luận giải chữ
"Tàng" có ba nghĩa: Năng Tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng.
Cái
tên "Tàng thức" này, chỉ có ở địa vị phàm phu (Dị sanh)
và Thánh hữu học. Khi đến hàng Nhị thừa vô học và bực
Niệm bất thối Bồ Tát, thì thức này không còn chứa giữ
(chấp tàng) các pháp tạp nhiễm, nên không gọi nó là "Tàng
thức" (A lại da thức). Bởi tên "A lai da" này nghĩa rất hẹp,
cho nên luận này chẳng dùng.
2.
Sơ năng biến thức._Thức này chứa giữ chủng tử của các
pháp, rồi biến hiện ra tướng phần là căn thân và thế
giới. Chúng Phàm phu và Nhị thừa không hiểu, nên chấp là
thật ngã và thật pháp. Vì phá chấp của Phàm ohu và Nhị
thừa, nên Luận nói: "Các ngã và pháp đều giả, do thức
biến hiện". Các thức chung lại. Có ba loại Năng biến, mà
thức này là năng biến thứ nhứt, nên gọi là "sơ năng biến".
Bởi
nghĩa này rất hẹp, không nói hết được cái lượng của
thức này, nên cũng không dùng.
3.
Dị thục thức._ Dị thục có ba: Dị thời nhi thục (khác
thời mà chín), Dị loại nhi thục (khác loại mà chín) và
Biến dị nhi thục (biến khác mà chín). So với "A lại da"
thì tên này có phần rộng hơn; song đến khi thành Phật thì
bỏ cái tên Dị thục (Kim Cang đạo hậu Dị thục không)
Bởi
tên này không phổ thông: khi đến quả Phật không còn và
hàng Nhị thừa khi vào Diệt tận định, thân thể như tro
nguội, tâm trí bặt dứt, lúc bấy giờ không còn thức Dị
thục, nên luận này không dùng.
4.
Yêm ma la thức._ Tàu dịch là "Vô cấu thức", nghĩa là thức
thanh tịnh không cấu nhiễm. Cái tên này duy địa vị Phật
mới có; từ Bồ Tát trở xuống cho đến Nhị thừa và Phàm
phu đều không có "Vô cấu thức"; vì Bồ Tát còn vô minh hiện
hành và còn chủng tử tạp nhiễm.
Bởi
cái tên này chỉ có ở quả Phật, không thông cả Thánh, Phàm
và tóm thâu hết cái thể nhiễm tịnh của thức này, nên
cũng không dùng.
5.
Tâm: _ Tên này thông cả Phàm phu, Nhị thừa, Bồ Tát và Phật.
Trong các kinh luận, có chỗ gọi chung cả tám thức là:Tâm,
Ý và Thức; có chỗ gọi riêng thức thứ Tám là "Tâm", thức
thứ Bảy là "Ý" và 6 thức trước là "Thức"; có chỗ gọi
"tâm vương", "Tâm sở" đều là "Tâm" hoặc gọi Sắc pháp
(vật chất) cũng là "Tâm"; _ như trái tim thịt gọi là "Tâm
tạng" ( một tạng trong ngũ tạng:Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận).
Bởi
cái tên này quá rộng và lộn lạo, cho nên luận này cũng
không dùng.
6.
Căn bản thức: _ Bảy thức trước và các pháp nhiễm tịnh,
đều y chỉ ở thức này, nên gọi là "Căn bản thức". Cái
tên này cũng thông cả Thánh, Phàm.
Nhưng
tên "Căn bản", không phải chỉ để gọi thức thứ Tám, mà
"Chơn như trí" cũng gọi là "Căn bản trí"; bởi vì "Chơn như"
là "Căn bản" của tất cả Pháp.
Vì
danh từ này có lộn lạo, nên luận này chẳng dùng.
7.
Đệ bát thức: _ Y theo thứ tự, số mục mà gọi, thì năm
thức trước, thức thứ Sáu, thức thứ Bảy và đến thức
này gọi là "Đệ bát thức".
Cái
tên này tuy có thể thông cả Thánh Phàm và cũng không có lỗi
lộn lạo với cái khác, song cái tên Đệ bát không thể nói
lên được cái tướng và dụng của thức này; chẳng qua chỉ
một danh từ có gồm số mục để kêu gọi mà thôi, nên luận
này cũng chẳng dùng.
8.
Sở tri y: _ Cái tên này xuất xứ từ Nhiếp đại thừa luận,
nghĩa đã rộng rãi và thông cả Thánh, Phàm. _ Chữ "Sở tri"
(bị biết) tức là chỉ cho các pháp nhiễm và tịnh. Bởi
các pháp lấy thức này làm chỗ y chỉ, nên gọi là "Sở tri
y".
Cái
tên này tuy đủ sức nói lên tướng và dụng của thức này,
nhưng cũng không dùng; vì y theo trong Nhiếp đại thừa luận,
thì các pháp "Sở tri" chính là chỉ cho ba tánh: Biến kế sở
chấp tánh, Y tha sở tánh, và Viên thành thật tánh.
Song
kỳ thật các pháp sở tri (bị biết) chẳng những y thức
thứ Tám (Y tha khởi) mà cũng y chơn như (viên thành thật)
hoặc y ý thức (Biến kế sở chấp). Vậy thời cái nghĩa
"Y"cũng thông đồng với pháp khác; chẳng bằng dùng nghĩa
"A đà na" rất là tinh xác hơn.
9.
Nhứt thế chủng thức: _ Danh từ này ở trong Thành duy thức
luận, chỉ về cái "Nhơn tướng" của A lại da. Tên này cũng
thông tất cả địa vị Thánh, Phàm(ở địa vị Phật có
thể nói "nhứt thế vô lậu chủng thức").
Danh
từ này so với danh từ A đà na không rộng mà cũng không hẹp
lắm, có phần đồng nhau. Song "nhứt thế chủng" là chỉ cho
tướng phần bị duyên và vật sở tri của tướng này, chớ
không phải cái bản thể hiện hành của thức này; cái thức
"Năng trì nhứt thế chủng tử" đó, tức là A đà na.
Vả
lại, cái nghĩa "Năng trì chủng tử" này chỉ là một trong
ba nghĩa của thức A đà na. Bởi thế nên đây cũng không dùng.
10.
Như Lai tàng: _ Danh từ này cùng với Đệ bát thức có liên
quan nhau. Trong các kinh luận giải nghĩa rất rộng, nay chỉ
nói sơ lược cái ý.
Chữ
"Tàng" nghĩa là "che giấu". Tất cả chúng hữu tình đều saün
có "trí huệ đức tướng, pháp thân thanh tịnh của Như Lai",
song vì bị che giấu trong vô minh tạp nhiễm. "Như lai thanh
tịnh pháp thân" là bị (sở) che giấu, còn "vô minh tạp nhiễm"
là (năng) che giấu; hiệp cả Năng và Sở mà gọi là "Như
Lai tàng".
Danh
từ này tuy thông các địa vị, nhưng bản ý lập ra là chuyên
chỉ về phần "công đức pháp thân thanh tịnh"bị che giấu
trong vô minh tạp nhiễm mà gọi là "Như Lai tàng", chứ không
phải chỉ chung cả các pháp tạp nhiễm.
Trái
lại, gọi A lại da là riêng chỉ về "pháp tạp nhiễm", còn
Như lài tàng là riềng chỉ về "pháp thanh tịnh".
Danh
từ này nghĩa rất hẹp, lại thuộc về "chơn như vô vị".
Và các pháp thanh tịnh của bảy thức trứơc, cũng chung gọi
là Như Lai tàng.
Danh
từ này tuy thông các địa vị, nhưng bản ý lập ra là chuyên
chỉ về phần "công đức pháp thân thanh tịnh" bị che giấu
trong vô minh tạp nhiễm mà gọi là "Như Lai tàng", chứ không
phải chỉ chung cả các pháp tạp nhiễm.
Trái
lại, gọi A lại da là riêng chỉ về "pháp tạp nhiễm", còn
Như Lai tàng là riêng chỉ về "pháp thanh tịnh".
Danh
từ này nghĩa rất hẹp, lại thuộc về "Chơn như vô vi". Và
cá pháp thanh tịnh của bảy thức trước, cũng chung gọi là
Như Lai tàng.
Tóm
lại, họp các danh từ trên để so sánh và chọn lựa, thì
danh từ "A đà na" là hoàn bị hơn cả.
IV.
CHE CÁI "THỂ" CỦA THỨC A ĐÀ NA
Y theo
đoạn trên nghiêm khắc lựa chọn, quí vị đã biết đại
khái thức này rồi, và thấy chỉ nên chọn lấy danh từ A
đà na mà thôi. Đến đây mới là phần cốt yếu của bổn
luận này.
Chúng
ta đã thấy có cái danh nghĩa, thì cái danh nghĩa đó tất nhiên
phải y trên một cái thể mà đặt ra. Vậy cái "Thể" của
A đà na thức thế nào ? _ Đáp: Tức là các pháp; không thể
rời các pháp mà riêng tìm có thức A đà na được.
Phải
biết trời, đất, nhơn, vật toàn là thức A đà na, song chúng
ta không thấy được "thức A đà na" mà chỉ thấy trời, đất,
nhơn, vật; đó là vì bị hai món chấp: Ngã, Pháp thường
hiện hành. Cũng như người nhặm con mắt, thấy các hoa đốm
ở hư không. Vì con mắt bị nhặm, nên chỉ thấy hoa đốm
mà không thấy được hư không.
Chúng
sanh vì bị hai chấp (Ngã, Pháp) và hai chướng (phiền não
chướng và sơ tri chướng) ám ảnh, nên không thấy được
thức A đà na mà chỉ thấy các vật tạp nhiễm. Cổ nhơn
nói: "Nhược nhơn thức đắc tâm, tắc đại địa vô thốn
thổ": Nếu người ngộ được chơn tâm rồi, thì quả đại
địa không còn một tấc đất (Kinh Lăng nghiêm), tức là cái
ý đây vậy.
1.
Trí tự trụ hậu đắc của bực Đại thánh duyên cảnh A
đà na thức: _ "Tiếng" là cái bị nghe của tai, "Sắc" là cái
bị thấy của mắt. Do có cái tên "tiếng" và "sắc", nên có
thể chỉ ra cái thể của tiếng và sắc.
Nay
chúng ta đã nghe tên và biết nghĩa của thức A đà na, vậy
phải chỉ cái thể (hình thể) của nó ra thử xem. _ Thức
A đà na, mắt không thấy được nó và tai cũng không nghe được
nó; như thế làm sao chỉ ra cái thể của nó cho được ! chúng
ta chỉ y theo Kinh, Luận của Phật và do lý luận mà biết
được thức A đà na.
Như
đoạn văn trước, dẫn trong Thành Duy thức luận nói: "Có
cái công năng duy trì sự kết nối đời sau", do đó mà suy
xét biết có thức A đà na này; hoặc "Có công năng giữ thọ
thân thể và thế giới", do đó mà so sánh biết có thức A
đà na này; hoặc "Có cái công năng giữ gìn chủng tử của
các pháp", do đó mà khảo xét, biết có thức A đà na.
Những
sự hiểu biết về thức A đà na đây, là do so lường suy
luận mà biết, nên không thể chỉ bày rõ ràng cái thể của
thức này. Cũng như các nhà Triết học, chỉ suy luận âm thầm,
nghĩ ngợi một cách xa xăm mà thôi, không có chút gì cụ thể.
Thí
như có người chưa từng đến Lô sơn, chỉ nghe người nói
phong cảnh Lô sơn, hoặc thấy các hình chụp các cảnh, rồi
phân biệt: chỗ kia là núi Đại lâm, chỗ nọ là núi Ngũ
lão, chỗ đó là núi Cô lãnh ...chỉ do so lường suy tưởng
mà biết, chớ chưa từng thân hành đến xem cảnh Lô sơn.
Biết
thức A đà na này cũng thế, chẳng qua nghe king sách hoặc lý
luận rồi so sánh mà biết. Muốn trực tiếp biệt thức A
đà na, phải là bực Đại thánh dùng cái "Trí tự trụ hậu
đắc" mới thấy biết được thức này.
Chữ
"Đại thánh" nóichữ "Đại" là lựa riêng Tiểu thừa; nói
chữ "Thánh" Là lựa riêng phàm phu, tức là chỉ có bực Bồ
Tát từ Sơ địa sắp lên.
"Trí"
có hai loại: 1. "Căn bản trí", tức là Như lý trí (cũng gọi
là Vô phân biệt trí). 2. "Hậu đắc trí", tức là Như lượng
trí (cũng gọi là Sai biệt trí).
"Hậu
đắc trí lại có hai phần: 1. Tự trụ hậu đ1c trí; 2. Thiệp
tha hậu đắc trí. Thức A đà na này, chỉ có trí "Tự trụ
hậu đắc" mới biết được. Quả vị Phật, về "Thân tự
thọ dụng" thì dùng "Tự trụ hậu đắc trí" (còn Thân tha
thọ dụng, thì dùng Thiệp tha Hậu đắc trí).
Trong
bón trí, mà ba trí trước, tức: Đại viên cảnh trí, Bình
đẳng tánh trí và Diệu quan sát trí, mỗi trí đều đủ cả
hai trí là: Căn bản và Hậu đắc; duy chỉ có trí thứ tư
là "Thành sở tác trí", thì chỉ có "Hậu đắc trí" mà không
có "Căn bản trí", vì không thân chứng được "Chơn như".
Bồ
Tát chỉ dùng cái trí "Tự trụ hậu đắc" của Bình đẳng
tánh trí và Diệu quan sát trí mà chứng biết thức A đà na
này.
Thức
thứ Bảy, khi chưa chuyển thành trí, thì chỉ duyên kiến phần
của Đệ bát thức; khi chuyển thành trí rồi, cũng có thể
biết được tất cả pháp; song chỉ biết các pháp đều là
thức A đà na.
Trong
Du dà vế phẩm Chơn thật chép:
Nguyên
văn chữ Hán
"Bồ
Tát ư tự tánh giả lập; Tầm, Tư duy hữu tự tánh giả lập
dĩ. Như thật thông đạt liễu tri sắc đẳng tưởng sự trung,
duy tự tánh giả lập; phi bỉ sự tự tánh nhi tợ bỉ sự
tự tánh hiển hiện".
Dịch
nghĩa
"Bồ
Tát ở nơi tự tánh giả lập; Tầm, Tư chỉ có tự tánh giả
lập mà thôi. Như thật thông suốt rõ biết sắc ...trong sự
tưởng tượng, duy tự tánh giả lập, không phải cái sự
tự tánh kia, mà in như cái sự tự tánh kia hiển hiện".
Nếu
lìa được cái sự tự tánh giả lập, tức là Bồ Tát an
trụ nơiNhư huyễn Tam ma địa; lúc bấy giờ các pháp sở
duyên (bị biết) đều như cảnh huyễn, Duy thức biến hiện.
Bởi thế nên kinh chép: "Biển Tàng thức thường trụ" (Tàng
thức hải thường trụ).
Đến
quả vị Phật, được viên mãn thành tựu bốn trí, mới hay
hiểu biết rốt ráo cùng tận thức A đà na này; do an trụ
nơi Hải ấn tam muội, mới hay rõ biết khắp giáp các pháp
"Như huyễn bất không".
Ở
đây tôi chỉ lược nói Bồ Tát dùng trí Tự trụ hậu đắc,
chứng biết được thức A đà na; nếu quý vị muốn hiểu
biết rõ ràng, xin chờ dịp khác.
2.
Trí căn bản duyên cảnh "Chơn như": _ Đoạn trên chỉ cái
thể của A đà na thức, tức là chỉ cái "thể" ở nơi sự
tướng,không phải cái "thể" của thể tánh (chơn như); nên
trong Luận chép: "Hiện ra tương tợ như cái thể kia". Rõ biết
được thể tánh chơn như, thì chỉ có căn bản trí.
Chỉ
căn bản trí mới chứng biết được vô tướng chơn như;
cũng như nhà Vật chất học nói: Toàn cả vũ trụ chỉ là
vật chất( nguyên chất); còn nhà Sanh vật học nói là Sanh
cơ ...Bởi thế nên sách chép:"Người nhân thì thấy là nhân;
kẻ trí lại thấy là trí". _Trí Tự trụ hậu đắc biết
thức A đà na, thì tất cả pháp đều thức A đà na; Trí Căn
bản biết Chơn như thì tất cả pháp đều là Chơn như.
3.
Trí Thiệp tha hậu đắc, duyên cảnh các pháp nhiễm và tịnh.
_ Phật, Bồ Tát này đối với Phật, Bồ Tát kia, hay đối
với các chúng sanh cùng nhau giao thiệp, cho đến lập ra Tứ
nhiếp pháp, Lục độ ...tất cả các pháp thiện xảo, đều
dùng trí "Thiệp tha hậu đắc" này mà lập ra. Nhờ trí này
mà rõ biết được các pháp Thánh, Phàm; nào mình nào người,
nào nhiễm tịnh và biết được tánh ham muốn của mỗi chúng
sanh không đồng, rồi cùng với chúng giao thiệp và tuỳ theo
căn cơ giáo hoá. Cũng do trí này, nên có Bồ Tát thượng cầu
Phật đạo, hạ hoá hữu tình và Như Lai hiện thân nói pháp.
Tuy phân biệt các pháp tự, tha, nhiễm, tịnh, song cũng tức
khi đó rõ biết các pháp đều như huyễn như hoá, Duy thức
biến hiện.
4.
Trí của tiểu thừa, duyên cảnh Tứ đế, các pháp nhiễm
và tịnh._Thinh văn tu pháp Tứ đế, Duyên giác quán 12 Nhơn
duyên, chứng được sanh không chơn như (ngã không). Hai vị
này tuy đều chứng vô ngã, nhưng còn pháp chấp: chấp thật
có bốn đế, pháp Nhiễm (khổ, tập) để trừ, pháp Tịnh
(Diệt, Đạo) để chứng; không bằng Bồ Tát rõ biết các
pháp đều Duy tâm biến hiện.
Cảnh
giới Nhơn không của Nhị thừa, chư Phật và Bồ Tát cũng
đã chứng biết.
5.
Trí của chúng sanh (Dị sanh), tuỳ theo mỗi loàimà tự duyên
cảnh vũ trụ, vật ngã của mình.
Trí
(thức) của chúng sanh (Dị sanh) trong ba cõi đường, tức là
các hữu lậu hư vọng phân biệt thuộc về hai chấp (ngã
chấp, pháp chấp) và tương ưng với hai chướng (phiền não
chướng và sở trí chướng); tuỳ theo nghiệp báo sanh làm
loài nào, thì hiện ra vũ trụ vật ngã của loài đó. Vũ trụ
vật ngã của loài này, không phải của loài kia; Vũ trụ vật
ngã của loài kia, không phải của loài này. Như đồng một
sông Hằng, mà người thấy là nước, ngạ quỉ thấy là lữa,
còn trời lại thấy ngọc Lưu ly. Bởi thế nên trong kinh Lăng
nghiêm chép: "Tuỳ theo nghiệp báo của chúng sanh như thế nào,
thì tâm nó hiện ra cảnh vật như thế ấy, y theo sự hiểu
biết của chúng" (Tuỳ Dị sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần
nghiệp phát hiện).
Chúng
sanh không biết các cảnh thế gian đều duy tâm biến hiện,
nên tuỳ theo mỗi loài, khờ ra tánh "Biến kế", chấp cái
"tướng" rồi đặt ra cai "tên"; gọi thế này là "ngã", chấp
thế kia là "pháp". Bởi thế nên tuỳ theo mỗi loại, đều
có mỗi vũ trụ, vật ngã khác nhau; song đều là cảnh bị
biết do trí hư vọng phân biệt của chúng sanh (Dị sanh).
Từ
trước đến nay, chỉ căn cứ theo 5 vị trí hiểu biết của
Thánh, phàm mà phân biệt có 5 lớp. Nếu rời các trí phân
biệt này, thì không còn danh từ gì có thể gọi được, không
thể an lập và cũng không thể đặt bày ra như thế nào được
cả; chỉ gắng gượng gọi là "Nhứt chơn pháp giới" mà thôi.
Đến cảnh giới này không còn nói năng và suy nghĩ được
nữa (Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt).
V.
HỘI CÁC TÊN ĐỂ GIẢI THÍCH
Thức
A đà na là cảnh bị duyên của trí "Tự trụ hậu đắc".
Bởi theo mỗi khía cạnh của thức này, nên đặt ra có rất
nhiều tên. Nay hội các tên lại để giải thích.
Thức
này vì chứa đựng chủng tử của các pháp tạp nhiễm, nên
gọi là "A đà na"._ Vì bị nghiệp thiện và ác đời trước
kéo dẫn đi lãnh thọ báo thân Dị thục đời sau, nên gọi
là "Dị thục thức"._ Vì làm nhơn duyên sanh các pháp như huyễn;
và ngã, pháp của chúng sanh chấp, đều do thức này biến
hiện, nên gọi "Sơ năng biến"._ Khi chứng đặng Bồ dề niết
bàn thành Như Lai, thì thức này chuiyển phần tạp nhiễm đổi
lại thành vô cấu thanh tịnh, nên gọi là "Yêm ma la thức"._
Vì có công năng chứa nhóm (tích tập) chủng tử các pháp
và phân biệt, nên gọi là "Tâm"._ Vì làm căn bản của các
pháp nhiễm tịnh, nên gọi là "Cănbản thức"._ Trong các thức,
thứic này đứng về thứ Tám, nên gọi là "Đệ bát thức".
Vì chứa chủng tử của tất cả pháp nên gọi "Nhứt thế
chủng thức"._ Khi chưa lìa được các pháp tạp nhiễm thì
"Như Lai vô cấu thức" bị vô minh tạp nhiễm che giấu, nên
gọi là "Như Lai tàng".
Tóm
lại, vì thức này có nhiều nhiệm vụ, nên có nhiều danh
nghĩa khác nhau.
VI.
CHE NHỮNG CHỒ SAI LẦM
Các
nhà phiên dịchvà chù giải, vì không rõ thức A đà na này,
nên trong những kinh luận đã dịch có nhiều chổ sai lầm,
không thểkể xiết. Trong Nhiếp đại thừa luận, có cái thí
dụ "người mù rờ voi" tức là nói bởi không rõ thức này,
nên sanh ra các món vọng chấp.
Nay
chỉ căn cứ trong những kinh luận Đại thừa, nói về thức
A đà na này, để biện minh một vài đoạn.
1.
Đời Bắc Nguî, Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch bộ luận Hoa nghiêm
Thập địa kinh, rồi y theo luận này lập ra Tôn Địa luận.
Trong Tôn này, nhơn thấy thức A đà na có nghĩa "chấp trì"
(nắm giữ) rồi lầm với thức thứ Bảy là thức chấp ngã;
không biết nghĩa "chấp trì" của thức A đà na là chấp trì
(giữ gìn) chủng tử, căn thân và thế giới, không cho mất;
cái "chấp" này so với cái "chấp ngã" của thức thứ Bảy
khác nhau.
Lầm
thức A đà na với thức thứ Bảy là cái lầm rất to ! Cái
lầm này lưu truyền lâu đời cho đến thành sách, nên trong
sách vở của Thiên Thai tôn thường thấy dẫn ra.
Bởi
trải qua thời gian lâu đời, cho đến các bực Đại đức
tiền bối cũng thừa kế nhau dùng, nên những nhà học giả
đời sau không biết lấy đâu ra để quyết định phải quấy
! Hôm nay biết được sự sai lầm ấy do phiên dịch, thì học
giả hết nghi ngờ.
2.
Trong Tôn Địa luận, còn cái lầm thứ hai, là nói "thức thứ
Tám là thanh tịnh, thức thứ Bảy là nhiễm ô; khi chuyển
thức thành trí, là diệt 7 thức nhiễm ô trước thành thứic
thứ Tám thuần tịnh".
Cái
sai lầm này còn thừa kế đến ngày nay, cứ lưu truyền cho
rằng diệt 7 thức trước hoặc 6 thức trước v.v...Như khẩu
đầu thiền. Chổ này rất nên đem ra để phá trừ.
Chư
Phật và Bồ Tát dùng căn bản trí, thân chứng chơn như. Cảnh
giới này rất thâm thúy và tế nhị, không thể nói năng và
suy nghĩ được. Như bên Thiền tôn gọi: "Đầu non thứ nhứt
không cho nói năng và hiểu biết" (Đệ nhứt phong đầu, bất
dung hoại hội).
Về
các pháp duyên khởi, như Pháp giới duyên khởi, A lại da duyên
khởi ...đều từ trí Hậu đắc mà đặt để làm ra. Như
bên Thiền tôn nói:"Đầu non thứ hai mới khá thương lượng"
(Đệ nhị phong đầu, lược khả thương lượng).
Duy
có Phật, thức thứ Tám mới được thuần tịnh; còn từ
Bồ Tát sắp xuống thì thức thứ Tám chưa rời nhiễm. Nếu
thức thứ Tám thuần tịnh, thì các pháp duyên khởi tạp nhiễm
không thành (vì không có cái gì để chứa giữ các chủng
tử tạp nhiễm).
Nếu
nói "do 7 thức trước tạp nhiễm chứa giữ chủng tử, nên
các pháp tạp nhiễm hiện hành được thành tựu". _ Nói như
vậy cũng không hợp lý; vì 7 thức trước không thể giữ
gìn chủng tử của các pháp được. Các pháp không chủng
tử, thì không thể sanh được. Nếu chấp "vô nhơn sanh" (không
có nguyên nhơn mà được sanh) là theo ngoại đạo, chớ không
phải Phật tử.
Lại
nữa, nếu chấp như thế thì chư Phật không đủ bốn trí,
vì diệt 7 thức tạp nhiễm trước, mà thành thức thứ Tám
thanh tịnh, thì không có Diệu quan sát trí hoặ Bình đẳng
tánh trí ...
Bởi
những lẽ trên, nên ngoài Phật ra, từ Bồ Tát sắp xuống,
thì thức thứ Tám chẳng được thuần tịnh, chỉ là "vô
phú vô ký"; phải như thế mới hợp lý.
3.
Ngài chơn đế Tam tạng Pháp sư nói: "Yêm ma la (Bạch tịnh
thức) là thức thứ Chín, thức thứ Tám là thức nhiễm tịnh
hoà hiệp; 7 thức trước là thức nhiễm ô, khi chuyển nhiễm
thành tịnh, là diệt hết 7 thức nhiễm ô trước và diệt
luôn một phần nhiễm ô của thức thứ Tám; lúc bấy giờ
chỉ còn phần thanh tịnh của thức thứ Tám, thành ra thức
thứ Chín". _ Thật ra, chẳng qua chỉ bỏ phần tạp nhiễm
của thức thứ Tám, để chứng toàn phần thanh tịnh của
nó mà thôi. Và cũng không phải diệt toàn thể thức thứ
Tám mà có một cái thức khác gọi là thức thứ Chín.
Cái
sai lầm này do người dịch văn chữ Phạn không rõ nghĩa mà
ra.
Như
ngày nay có người, gọi là bực "học giả", dịch sách vỡ
Duy thức ở đời Minh và Thanh ra chữ ngoại quốc, sai lầm
rất nhiều. Song người đời nghe nói "nhà Học giả", thì
tôn trọng và đặt hết sự tin tưởng vào họ, rồi cứ thừa
truyền dùng theo, không dám nghĩ đến sai lầm.
Gần
đây có người dung hoà cái sai lầm này, lại chia lám Cổ
học và Kim học. Thật ra Cổ học là lối dịch sai lầm, chứ
Duy thức học chỉ là một, không có Cổ và Kim.
Một
ông kia y theo Đại thừa trang nghiêm luận, rồi khôn khéo lập
ra Duy thức cổ học. Ông nói rằng: "Cái tên thức thứ Chín
của Ngài Chơn đế nói đó là y theo Chơn như mà lập ra".
Song
"Chơn như" là thật tánh của thức; vì thật tánh của thức
nên giả gọi (tạm gọi) là thức, cũng tạm thông ; nhưng
không được gọi "Chơn như" là Yêm ma la thức (Bạch tịnh
thức).
Khảo
sát theo văn bài tụng của kinh Như Lai xuất hiện công đức,
thì thức Yêm ma la là chỉ cho phần thanh tịnh của thức thứ
Tám, chớ không phải chơn như và cũng không thể riêng gọi
là thức thứ Chín. Bởi thế nên không bằng y theo kinh Lăng
già lập cái "Chơn tướng thức" là thức thứ Chín.bởi vì
cái "Chơn tướng thức" trong kinh Lăng già nói đó, tức là
"chơn như" vậy.
Ngài
Chơn Đế cho "Yêm ma la" là thức thứ Chín, không phải Ngài
chỉ "tánh Chơn như bình đẳng khắp các pháp" làm thức thứ
Chín; mà Ngài chỉ bảo riêng phần thanh tịnh của thức thứ
Tám, là thức thứ Chín nên không đúng.
Trong
Ma ha diễn thích luận, nói có mười món thức, mà Yêm ma la
là thức thứ Chín và KIên thật tâm là thức thứ Mười.
Trong đó cũng y theo phần thanh tịnh của thức thứ Tám rồi
giả đặt ra thức thứ Chín và y theo "chơn như" rồi giả
đặt ra thức thứ Mười đó thôi.
Một
ông khác dẫn trong Phật địa kinh luận, để giải nghĩa bài
tụng trong Công đực kinh, lại nói "Đại viên cảnh trí là
phần thanh tịnh của thức thứ Tám, cùng với thức Yêm ma
la là thức thứ Chín, hiệp nhau". Song xét theo văn bài tụng,
thì không phải như vậy.
Nguyên
văn chữ Hán
Như
Lai vô cấu thức
Thị
tịnh vô lậu giới
Giải
thoát nhứt thế chướng
Viên
cảnh trí tương ưng
Nghĩa
là: Thức vô cấu của Như Lai là cảnh giới vô lậu thanh
tịnh; giải thoát tất cả chướng, hiệp với trí Đại viên
cảnh.
Bài
tụng này nói "Thức vô cấu của Như Lai", tức là chỉ cho
phần thanh tịnh Tâm vương, Tâm sở của thức thứ Tám; còn
nói "Viên cảnh trí", tức là chỉ cho các "Trí" tương ưng
với thức này. Do phần thanh tịnh của thức thứ Tám đã
giải thoát tất cả chướng, nên cùng với "Trí" hiệp nhau.
Tuy
nói rằng: "Cùng với trí hiệp nhau", mà thật ra thì phần
thanh tịnh của thức thứ Tám với Thiện tâm sở v.v...mà
thôi; song vì cái "Trí" thù thắng, nên nói "cùng trí hiệp
nhau" vậy.
Trong
Phật Địa kinh luận, hiệp chung thanh tịnh Tâm vương, tâm
sở của thức thứ Tám, gọi lá "Đại viên cảnh tâm", chẳng
phải nói "cùng với chơn như hay thức thứ Tám hiệp nhau"
vậy.
VII.
LẬP TÔN
Điểm
đặc biệt thù thắng của Duy Thức Tôn là ở nơi tức thứ
Tám. Nếu rõ được thứ A đà na này, tức là rõ biết được
"Tất cả pháp Duy thức". Bởi thế nên luận này lấy việ
"nói rõ tất cả pháp Duy thức" làm tôn.
Lại
nữa, có thể nhơ đây mà thành lập "Nhứt thế pháp như huyễn"
vì tất cả pháp đều Duy thức hiện ra vậy. Căn cứ theo
thức thứ Tám, để thành lập : tôn Duy tức", đã nói nhiều
trong Nhiếp Đại thừa luận và Thnàh Duy thức luận.
VIII.
CÔNG DỤNG CỦA LUẬN NÀY
Nếu
y theo Ngã, Pháp của tánh "Biến kế sở chấp" mà nói, thì
chỉ có ngăn ngừa phá chấp mà thôi; khi ngã chấp và pháp
chấp hết rồi thì chứng được quả Bồ Đề; như trong Bát
Nhã và Tam luận tôn (không tôn) không thành lập một pháp
gì cả.
Song,
nếu đối với kẻ trí kém, thì mắc về "chấp không", nên
cũng không thể thấu suốt được "thật tướng" của các
pháp. Như các Tổ ở Thiền tôn, chỉ đề xướng "chứng căn
bản trí", nếu ai ngộ được thì ngộ, bằng không ngộ được
thì thôi, chớ không có quyền biến khai thị phương tiện.
Như thế cũng mất một phần nào trong công việc độ sanh
của Bồ Tát.
Còn
Hiền thủ tôn .. (Hoa nghiêm tôn) thì nói cảnh, trí của Như
Lai rất là viên dung mầu nhiệm; như thế cũng mắc về chỗ
hư vô huyền diệu.
Công
dụng thù thắng của Luận này, là chỉ thẳng vào tâm con
người, để nói rõ thức A đà na. Thức này thông cả Thánh,
Phàm;ở nơi người và cũng tức là người. Luận này chỉ
tất cả pháp do thức này biểu hiện, nên khiến cho người
không chấp tổn giảm (bớt). Bởi tất cả pháp Duy thức biến
hiện, như huyễn như hóa, nên cũng khiến cho người không
chấp tăng ích (thêm).
Tóm
lại, đại dụng của bổn luận này là ngăn ngừa và phá
trừ hai cái chấp: Tăng ích (thêm: có) và tổn giảm (bớt:
không) khiến cho người ngộ nhập tánh Duy thức: phi hữu phi
vô.
Dịch
xong tại chùa Phật Quang Trà Ôn
Tiết
Trung thu năm Canh Tý (1960)