DUY
THỨC HỌC TẬP 5
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
TÂP
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG NÀY CHIA LÀM 3 PHẦN:
1.
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
2.
DUY THỨC TAM THẬP TỤNG CHÁNH VĂN
3.
PHỤ HAI CÁI BIỂU
LỜI
CỦA DỊCH GIẢ
Phật
ra đời độ sanh gần nửa thế kỷ, thuyết pháp trên 300 hội,nói
ra 84.000 pháp môn, nào quyền, thiệt, đốn, tiệm, các phương
tiện đều dạy bày; chung qui lại chỉ có hai phần: pháp tướng
và pháp tánh. Duy thức tôn là một trong Pháp tướng.
Lý
Duy thức, trong các kinh điển, Phật đã nói nhiều. Về sau
các vị Bồ Tát trích lục lại, sắp xếp theo hệ thống,
có thứ lớp, biên thành sách, lập thành tôn, gọi là pháp
tướng tôn hay Duy thức tôn.
Như
vào khoảng 900 năm, sau khi Phật diệt độ, có Ngài Bồ Tát
Thiên thân, y theo các kinh, viết qua quyển "Duy thức tam thập
tụng" v.v...Đến sau có 10 vị Đại luận sư (1) ra đời, tuần
tự giải thích quyển "Duy thức tam thập tụng" lập thành
mười bộ đại luận. Trong số ấy, bộ sớ giải của Ngài
Hộ pháp là có phần hoàn bị hơn hết.
Đến
đời Đường, ở Trung Hoa có Ngài Tam Tạng Pháp sư Huyền
Trang, trí tuệ vô saong, thông minh xuất chúng, phát tâm qua
Ấn độ, nghiên cứu Phật pháp 18 năm trường (xem bộ Huyền
Trang của Võ Đình Cường), Ngài rất thông về Duy thức tôn.
Sau khi trở về nước, Ngài phiên dịch rất nhiều kinh sách,
mà quyển "Duy thứ tam thập tụng" của Bôtát Thiên Thân là
một. Ngài lại còn lượm lặt những tinh hoa sớ giải trong
10 bộ luận của 10 vị Đại luận sư, rồi phiên dịch ra
chữ Trung Hoa, làm thành một bộ mười quyển, mệnh danh là
"Thành Duy thức luận".
Đệ
tử lớn của Ngài Huyền Trang là Khuy Cơ, trải qua thời gian
mấy mươi năm hầu Thầy, được đắc truyền về môn Duy
thức học này, nên sớ giải lại bộ "Thành Duy thức luận"
đến 60 quyển, đặt tên là "Thành Duy thức luận thuật ký".
Đến
sau, Ngài Huyền Trang muốn cho người học dễ nhớ, nên làm
12 bài tụng (mỗi bài bốn câu) tóm tắt nghĩa lý rộng rãi
u huyền của Duy thức, đặt tên là "bát thức qui củ tụng".
Đành
rằng sách vở Duy thức rất nhiều, vì các vị Bồ Tát nhắm
nhiều khía cạnh của Duy thức mà phân tích giảng giải, song
có ba bổn, từ xưa đến nay được xem là chánh tông, là căn
bản của Duy thức học:
1.
Đại thừa bá pháp minh môn luận: Nói về pháp số (danh từ
chuyên môn) của Duy thức.
2.
Duy thức tam thập tụng: Nói về nghĩa chánh của Duy thức.
3.
Bát thức qui củ tụng: Tóm tắt nghĩa lý bao la của Duy thức.
Về
sau các học giả hoặc sang tác hoặc giải thích sách vở Duy
thức, đều căn cứ vào ba bổn luận ấy, khai thác nhiều
khía cạnh, rồi tán rộng ra hoặc làm cho nổi bật những
điểm quan trọng.
Bổn
"Đại thừa bá pháp minh môn luận" và bổn "Bát thức qui củ
tụng" Tôi đã dịch và giải rồi, hiệp chung lại dưới nhan
đề là "Duy thức nhập môn".
Còn
bổn "Duy thức tam thập tụng" này, nay mới dịch xong. Nội
dung của luận này, do Ngài Bồ Tát Thiên Thân dùng 24 bài tụng
đầu, nói về Duy thức tướng, bài tụng thứ 25 nói về Duy
thức tánh, 5 bài tụng sau là nói về Duy thức vị; hay nói
một cách khác là: Duy thức cảnh, Duy thức hành và Duy thức
quả (xem 2 cái biểu ở cuối quyển này).
Quí
vị muốn nghiên cứu về Duy thức học, trước nhứt nên đọc
kỹ 3 bổn luận này. Cũng như người học nghề võ, trước
phải học đường thảo, rồi sau mới phân miếng.
Huyền
diệu thay !Cũng ba bổn luận này, mà từ xưa đến nay, không
biết bao nhiêu vị Đại luận sư và các nhà học giả, sớ
giải mãi cũng không cùng.
Chúng
ta chớ nên có ý nghĩ nông cạn: học sơ lược chánh văn hay
đọc lời sớ giải thô sơ của ba bổn luận này, rồi cho
là đầy đủ. Phải học mãi, coi nhiều, chúng ta sẽ thấy
rừng hoa Duy thức, thật không biết bao nhiêu màu sắc tốt
tươi xinh đẹp.
Kính
đề
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA
LỜI
TỰA
Trong
Duy thức nói "Thức A lại da", tức là nói về pháp chúng sanh,
đáng lẽ phải dễ hiểu, tại sao lại rất khó hiểu ?
Tuy
nói về pháp chúng sanh, song chúng sanh có vô lượng vô biên,
nên lời nói cũng phải vô lượng vô biên; đây là điều
khó thứ nhứt.
Lại
nữa, bên Thiền tôn thì chỉ thẳng về "Tâm pháp" nên không
cần văn tự ngữ ngôn; còn Duy thức tôn lại khai phương tiện,
dùng văn tự, ngữ ngôn. Đã dùng văn tự biên chép và lời
nói luận bàn, những sự lý vô lượng vô biên, cho nên lời
nói phải nhiều, văn tự phải thâm; đây là điều khó thứ
hai.
Bởi
hai điều khó trên, nên môn học Duy thức này ngày xưa bị
bặt tăm, cho đến ngày nay người học Phật, phần nhiều
cũng tránh chỗ khó mà tìm nơi dễ: nghe nói đến Duy thức
thì thối lui. Đôi khi cũng có người cố gắng tìm học, song
lạikhông gặp cửa để vào !
Đại
Viên này đã ôm ấp chí lợi tha từ lâu, nên đối với việc
khó khăn này đã nhiều lần lưu ý.
Nền
tảng đầu tiên của Duy thức học là quyển:
"Đại
thừa bá pháp minh môn luận" và quyển "Duy thức tam thập tụng".
Song,
nếu theo những bản chú giải về đời Đường thì rất khó
khăn; người sơ học không dễ gì nhập được. Còn những
bản Duy thức thuộc về đời Minh chú giải, lại sợ nguî
truyền. Bởi thế nên tôi căn cừ theo bản chú giải xưa (đời
Đường), rồi cải tạo văn thể những chỗ nghĩa lý thâm
thuý khó hiểu, thì tôi làm cho rõ ràng dễ hiểu; còn những
chỗ phiền phức, thì tôi thanh giản cho gọn gàng. Vì thế
nên tôi đặt tên quyển sách này là "Duy thức dị giản" (Duy
thức dễ gọn).
Bởi
"dễ", nên người đọc dễ hiểu và có thể đọc lâu, vì
"gọn" nên người học dễ theo và có thể đọc nhiều.
Nay
tôi giảng 30 bài tụng Duy thức này, là muốn cho người học
dễ hiểu và dễ theo, dễ tiến đến việc đọc nhiều, đọc
lâu về môn Duy thức học vậy.
ĐƯỜNG
ĐẠI VIÊN
BÀI
THỨ NHỨT
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
GIẢI
ĐỀ MỤC
"Duy
thức" _ Thức là phân biệt; có hai phần: 1. Sở phân biệt
(bị biết) gọi là cảnh, hoặc gọi là sự vật, tức là
núi, sông, ruộng, vườn ...2. Năng phân biệt (cái biết) gọi
là thức, tức là cái tác dụng phân biệt hay nhận biết các
cảnh vật.
Cảnh
vật có hình tướng, thức không hình tướng. Người đời
đều nói hai vật này ( vật chất, tinh thần) riêng khác; thật
ra năng phân biệt (biết) và sở phân biệt (bị biết) cũng
đều là thức; ngoài thức ra không có vật gì khác. Bởi thế
nên gọi là Duy thức.
Người
đời vì chấp tất cả sự vật là thật có, nên không tin
lý duy thức. Nay môn học này, giải thích cho người biết:
tất cả sự vật, chỉ có thức biến hiện, không phải thật
có, nên gọi là "Duy thức học".
"Tam
thập tụng" _ Theo lệ thường, trong kinh Phật, mỗi một bài
là bốn câu; nay dùng 30 bài tụng, để giải thích nghĩa mầu
nhiệm của Duy thức, cho nên quyển luận này gọi là "Duy thức
tam thập tụng".
"Dị
giải" _ Nguyên văn bổn luận này có 30 bài tụng, do ngài Bồ
Tát Thiên Thân tạo ra. Văn tự đã khó mà nghĩa lý lại thâm,
người học rất khó hiểu. Nay tôi giải thích bổn luận này,
dùng những lời lẽ gọn gàng dễ hiểu, nên gọi là "Dị
giải".
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Nếu chỉ có thức, tại sao người thế gian và trong Phật
giáo, đều nói có Ngã và Pháp ?
LƯỢC
GIẢI
Người
đời chấp tất cả sự vật, như núi, sông, cỏ, cây ...đều
thật có. Nay lại nghe nói:"Các cảnh vật ấy đều do thức
biến hiện, chỉ là giả tướng, chớ không phải thật có",
thì họ quyết định không tin. Bởi thế nên Luận chủ đề
xướng Duy thức học, đặt ra những lời vấn đáp, để giải
thích các điều nghi ngờ đó.
Có
người hỏi: _ Nếu chỉ có thức mà thôi, thì tại làm sao,
người thế gian và trong Phật giáo đều nói có Ngã, Pháp
? Nếu lý Duy thức đúng, thì lời người thế gian và Phật
giáo nói sai, còn nếu thế gian và Phật giáo nói đúng, thì
lý Duy thức phải sai. Hai thuyết rất mâu thuẫn nhau, vậy
bên nào nói đúng lý ?
Câu
hỏi này rất khó, nếu không phải bực Bồ Tát trí huệ vô
biên, thì không dễ gì trả lời được.
"Ngã
pháp" nghĩa là gì?_ "Ngã" là chủ tế (tự chủ, có quyền
sắp đặt). Như người đời chấp thân này là "ta"; có quyền
tự chủ, tự tại và sai khiến sắp đặt các việc, như thếgọi
là "Ngã".
"Pháp"
là khuôn phép và giữ gìn; nghĩa là tự nó giữ gìn bản chất
của nó, làm cho người xem đến, thì biết là vật gì. (Nhậm
trì tự tánh, quỹ sanh vật giải).
Như
cái bàn ở trước mặt đây, tự nó giữ gìn bản chất cứng
nhắc, hình dáng dài rộng hoặc cao thấp và có công năng chứa
vật. Một khi người xem đến thì biết là cái bàn. Như thế
gọi là "pháp".
Người
thế gian chấp ngã, như chấp thân mạng loài hữu tình, đều
có quyền tự chủ, tự tại và sai khiến sắp xếp mọi việc.
Người
thế gian chấp pháp, không ngoài ba điểm: Thật (bản chất),
Đức (hình dáng), Năng (công dụng). Như họ chấp nhà cửa
cỏ cây, v.v ...là thật có (thật) hình dáng tốt hay xấu (đức)
và công dụng của nó (nghiệp); mỗi món đều gọi là một
pháp.
Trong
Phật giáo nói ngã, như nói "Tu Đà hoàn, Tu Đà hàm, A Na Hàm,
A la Hán, v.v ...". mỗi tên đều hàm ẩn ý nghĩa: ta đã chúng,
ta được tự chủ và tự tại.
Trong
Phật giáo nói Pháp, như nói "5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, v.v...".
mỗi pháp đều tự giữ gìn bản chất (tự tánh) và hình
dáng của nó; khi người xem đến, có thể biết đó là vật
gì.
Nhưng
chúng ta phải chú ý ở điểm này: Trong Phật giáo nói "ngã"
, không đồng với người thế gian "chấp ngã". Như kinh Kim
Cang nói: "Gọi là Tu Đà Hoàn (Nhập lưu) mà không có Tu Đà
Hoàn (vô sở nhập) thế mới gọi là Tu Đà Hoàn, v.v ..."
Đem
đoạn kinh này để chứng minh, thì chúng ta thầy trong kinh
tuy nói "Ngã", song chỉ có giả danh mà thôi, không phải như
thế gian chấp có thật Ngã.
Đáp:_Nguyên
văn chữ Hán
Tụng
viết:
Do
giả thuyế Ngã Pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói ba câu tụng để trả lời rằng: Thế gian và Thánh
giáo đều giả nói có Ngã, Pháp; bởi vì các tướng Ngã,
Pháp kia đều do thức sanh ra vậy.
LƯỢC
GIẢI
Đại
ý ba câu tụng này nói: Do thế gian và Thánh giáo đều giả
nói có Ngã, Pháp, rồi từ trên thức của người nghe tự
biến ra hình tướng của Ngã, Pháp.
NÓI
VỀ TƯỚNG NGÃ, PHÁP CỦA THẾ GIAN
Như
có ngư6ời đang ngồi yên trong nhà tối, bổng nghe người
nói: "Ở góc nhà kia có con quỉ". Lúc bấy giờ trên thức
của họ liền biến ra con quỉ,tóc tai xù xụ, hình tướng
rất ghê sợ, muốn chụp bắt người. Thật ra không có quỉ,
nhưng trên thức người nghe lại biến ra quỉ. Đây là tướng
Ngã của thế gian, do thức biến vậy.
Có
người ngồi trong nhà, nghe nói: "Tuyết rơi ngoài sân". Lúc
bấy giờ trên thức họ tự biến ra hình tướng tuyết bay
trắng xoá. Thật ra không có tuyết, nhưng trên thức của người
nghe lại biến ra có hình tướng của tuyết. Đây là tướng
Pháp của thế gian, di thức biến ra vậy.
NÓI
VỀ TƯỚNG NGÃ, PHÁP TRONG THÁNH GIÁO
Như
có người nghe trong kinh nói: "Phật có 32 tướng". Rồi từ
trên thức của họ tự biến ra tướng Phật tốt đẹp lạ
thường. Đây là tướng "Ngã" trong Thánh giáo, do thức biến
ra.
Hoặc
nghe nói: "Cõi Phật có 7 món báu trang nghiêm"; rồi từ trên
thức của họ biến ra cảnh Tịnh độ. Đây là tướng "Pháp"
trong Thánh giáo, do thức biến hiện.
***
Ngoại
nhơn đã nghe Luận Chủ nói: "Các tướng Ngã, Pháp đều do
thức biến hiện", thế tất nhiên họ phải nghi rằng:
Hình
tướng của thức thế nào?
Và
có bao nhiêu chủng loại?
Vì
đoán tâm lý của ngoại nhân, nên Luận chủ nói tiếp ba câu
tụng, để trả lời rằng:
Nguyên
văn chữ Hán
Thử
năng biến duy tam
Vị:
Dị thục, Tư lương
Cập
Liễu biệt cảnh thức
Dịch
nghĩa
Thức
Năng biến này có 3 loại:
1.
Dị thục thức (thức thứ Tám)
2.
Tư lương thức (thức thứ Bảy)
3.
Liễu Biệt cảnh thức (6 thức trước).
LƯỢC
GIẢI
Đoạn
trên nói: "Do thức biến ra các tướng Ngã, Pháp". Đã có cảnh
sở biến (bị biến) tất nhiên phải có thức năng biến.
Đoạn
này nói về thức năng biến. Thức năng biến có ba loại:
1.
Dị thục thức, tức là thức thứ Tám
2.
Tư lương thức, tức là thức thứ Bảy
3.
Liễu biệt cảnh thức, tức là 6 thức trước (từ nhãn thức
cho đến ý thức).
Ba
loại thức Năng biến này, nếu phân tích ra thì có tám thức
(Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỹ thức, Thiệt thức, Thân thức,
Ý thức, Mạt na thức và A lại da thức)
BÀI
THỨ HAI
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã lược nói cái "tên", nhưng chưa nói rõ cái "tướng"
của thức Năng biến; vậy cai "tướng" của thức Năng biến
thứ nhứt thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Sơ
A lại da thức
Dị
thục, Nhứt thế chủng.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói tụng (10 câu) đễ trả lời rằng: Thức Năng biến
thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi là Dị thục thức hay
Nhứt thế chủng thức.
LƯỢC
GIẢI
Thức
Năng biến thứ nhá?t có ba tướng:
I.
Tự tướng (thể); tiếng Phạn gọi là "A lại da", Tàu dịch
là "Tàng". Chữ Tàng có ba nghĩa:
1.
Năng tàng: Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử
(hạt giống) của các Pháp thiện ác; cũng như cái kho có công
năng chứa lúa.
2.
Sở tàng: Thức này có chổ để chứa chủng tử của các
Pháp; cũng như cái kho là chổ để chứa lúa.
3.
Ngã ái chấp tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái
luyến chấp làm ngã. Nó như người giữ kho, giữ gìn chẳng
cho lúa mất (chấp tàng).
II.
Quả tướng (quả), gọi là "Dị thục thức". Chữ Dị thục
có ba nghĩa:
1.
Dị thời nhi thục: Khác thời mà chín. Dụ như trái xoài,
từ khi sanh cho đến khi chín, thời gian khác nhau.
2.
Dị loại nhi thục: Khác loài mà chín. Dụ như trái xoài, khi
nhỏ tánh chua, đến chín lại ngọt.
3.
Biến dị nhi thục: Biến đổ khác chất mà chín. Dụ như
trái xoài, khi nhỏ thì xanh, đến khi già chín biến đổi lại
vàng.
Vì
thức Dị thục này lãnh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị
thục quả. Tánh chất của Dị thục quả là vô ký (không
nhứt định thiện hay ác); song về nghiệp nhơn đời trước
của nó, lại có thiện và ác.
Bởi
lấy nghiệp nhơn (thiện ác) đối với quả (vô ký) mà nói,
nên có ba nghĩa: Khác thời gian chín (Dị thời nhi thục), khác
loại mà chín (Dị loại nhi thục) và biến đổi chín (Biến
dị nhi tục).
1.
Dị thời ...
Dị
thục 2. Dị loại ... nhị thục
3.
Biến dị ... Quả (vô ký)
Nhơn
(thiện, ác)
III.
Nhơn tướng (nhơn), gọi là Nhứt thế chủng tức. Tất cà
các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và xuất thế
gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó. Các
chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức).
Các chủng tử là "nhơn" khởi hiện ra các Pháp là "quả".
Vì theo "nhơn tướng" (chủng tử), nên gọi thức này là "Nhứt
thế chủng".
Nguyên
văn chữ Hán
Bất
khả tri chấp thọ
Xứ
liễu thường dữ xúc
Tác
ý thọ tưởng tư
Tương
ưng duy xả thọ
Dịch
nghĩa
Không
thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ gìn chủng
tử, lãnh thọ thân thể và thế giới của thức này được.
Thức này thường tương ưng với năm món biến hành là: xúc,
tác ý, thọ, tưởng và tư. Song trong các thọ, nó chỉ tương
ưng với xả thọ.
LƯỢC
GIẢI
Hành
tướng thức Năng biến thứ nhứt rất là tế nhị ! Bởi
người đời tâm thô không thể biết được, nên nói "Bất
khả tri".
Những
việc của thức này mà người đời không thể biết được,
có hai phần:
1.
Thức này giữ gìn chủng tử, thế giới, thân thể và làm
cho thân thể sanh ra cảm giác, lãnh thọ; nghĩa là thức thứ
Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ gìn
không cho mất; đây là điền khó biết thứ nhứt.
2.
Hành tướng năng duyên (liễu) của thức này, rất sâu xa và
tế nhị, đây là điều khó biết thứ hai.
Không
1. Kiến phần năng duyên của thức này (liễu)
Thể
biết 2. Tướng phần bị 1. Chủng tử
Duyên
của thức 2. Thân thể (chấp thọ)
Này
3. Thế giới (xứ)
Tám
thức, phân làm ba món năng biến, đều có quyền tự chủ,
tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi là Tâm vương.
Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, thì
mới có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có
bộ hạ tuỳ tùng để giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp.
Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm vương, không được
tự tại, nên gọi "Tâm sở", hoặc gọi là "Tâm sở hữu";
nghĩa là cái sở hữu của Tâm vương.
Lại
nữa, Tâm sở đã giúp Tâm vương tạo nghiệp, thì Tâm vương
với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên gọi là tương ưng.
Hỏi:_
Có mấy Tâm sở tương ưng với thức này?
Đáp:_
Chỉ có năm món biến hành thường tương ưng với thức này
là: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và Tư.
Xúc:
Tiếp xúc. Như con mắt xen hoa, khi mới vừa tiếp xúc với
hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người
đồng đi một con đường; một người đi từ phương Đông
đến phương Tây, một người đi từ phương Tây đến phương
Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc.
Một
thí dụ nữa, như môn Kỷ hà học: trên cái hình tròn gạch
qua một đường, chỗ đụng nhau một chỗ trên đường gạch,
đó là xúc.
Tác
ý: Móng khởi cái ý. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng
khởi cái ý; đó là "Tác ý Tâm sở". Rồi nó dẫn dắt nhãn
thức xem hoa. Nếu không có tác dụng của Tâm sở này, thì
dù có gặp hoa cũng không thấy.
Người
đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa.
Như thế là vì trong lúc đó, Tâm sở tác ý không có tương
ưng với nhãn thức.
Thọ:
Lãnh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui buồn ...
Tưởng:
Tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng hình
tướng của hoa đỏ hay vàng, tốt hay xấu ...
Tư:
Lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩa trồng hoa
hay bẻ hoa ...
Lại
nữa, "Thọ Tâm sở" có 3 loại:
1.
Lạc thọ: Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như được người
khen ngợi, thì cảm thọ vui mừng.
2.
Khổ thọ: Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như bị người
huỷ báng hạ nhục, thì cảm thọ buồn khổ.
3.
Xả thọ: Thọ cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh bình thường
không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị
chê, thì cảm thọ không vui buồn.
Tóm
lại, thức thứ Tám này, tương ưng với 5 món Tâm sở Biến
hành và hành tướng của nó rất là tế nhị, không có hiện
ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ.
Nguyên
văn chữ Hán
Thị
vô phú vô ký
Xúc
đẳng diệc như thị
Dịch
nghĩa
Tánh
của thức này là vô phú vô ký, nên những Tâm sở tương
ưng với nó, như Xúc, Tác ý ...cũng vô phú vô ký.
LƯỢC
GIẢI
Tánh
của các pháp, tóm lại có 3 loại: 1. Tánh thiện, 2. Tánh ác,
3. Tánh vô ký (không thiện không ác).
Tánh
vô ký lại chia làm 2 loại:1. Vô phú vô ký, 2. Hữu phú vô
ký _ Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho "tánh
vô ký"; khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho "tánh hữu phú
vô ký". Đến lúc lau chùi sạch bụi; dụ cho "tánh vô phú
vô ký".
Tóm
lại, thức thứ Tám này không bị các phiền não ngăn che,
nên thuộc về tánh vô phú vô ký. Và những Tâm sở tương
ưng với thức này, như Xúx, Tác ý ...cũng thuộc về tánh
vô phú vô ký.
Nguyên
văn chữ Hán
Hằng
chuyển như bộc lưu
Dịch
nghĩa
Hằng
chuyển biến như dòng nước chảy mạnh.
LƯỢC
GIẢI
Ngoại
đạo chấp các pháp thường còn không mất, như thế gọi
là chấp "thường?; hoặc chấp chết rồi mất hẳn, như thế
gọi là chấp "đoạn?.
Nhà
duy thức nói: từ vô thỉ đến nay, thức này hằng chuyển
biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn.
Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ xuống, một dãy
trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng. Vì nó hằng chảy
luôn, nên chẳng phải "đoạn diệt". Song nó liên kết tiếp
tục nhiều giọt, biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải
"thường nhứt".
Nguyên
văn chữ Hán
A la
hán vị xả ?
Dịch
nghĩa
Đến
vị A la hán mới xả bỏ thức này (tàng thức).
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:
Thức này, đã sanh diệt tương tục, là gốc của sanh tử
luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới xả bỏ nó
được ?
Đáp:
Người tu hành đoạn hết phiền não chướng, đến quả vị
A la hán, mới xả bỏ được thức "A lại da". Song chỉ xả
bỏ cái "danh", chớ không phải xả bỏ cái "thể" của thức
này.
Hỏi:
Tại sao không xả bỏ cái "thể", của thức này?
Đáp:
Cái "thể" của thức này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần
tịnh tức là "Trí". Trong bài tụng nói "xả bỏ thức này",
tức là chuyển thức thành trí, chớ không phải xả bỏ. Nếu
xả bỏ cái "thể" của thức này, thì thành ra đoạn diệt,
thuộc về ngoại đạo. Trong Đạo Phật không có chủ trương
đoạn diệt (mất hẳn).
BÀI
THỨ BA
CHÁNH
VĂN
Hỏi:
_ Trên đã nói thức năng biến thứ nhứt, còn thức năng biến
thứ hai thế nào?
Đáp:
_ Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Thứ
đệ nhị năng biến
Thị
thức danh Mạt na
Y
bỉ chuyển, duyên bỉ
Tư
lương vi tánh tướng.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ này tụng (12 câu) để trả lời rằng:Thức năng biến
thứ hai tên là Mạt na. Thức này do thức A lại da sanh ra,
rồi trở lại duyên thức A lại da chấp làm ngã. Tánh và
tướng của nó thường lo nghĩ.
LƯỢC
GIẢI
Trước
đã
nói thức Năng biến thứ nhứt, tiếp theo đây nói thức Năng
biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi là
Mạt na, Tàu dịch là Ý. Thức này là "Căn" của ý thức, chứ
không phải ý thức (thứ 6).
Thức
này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức
A lại da chấp làm ngã. Cũng như cái tay từ nơi thân sanh ra,
rồi trở lại hộ vệ cái thân. Vì thức này tánh hay lo nghĩ,
nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.
Nguyên
văn chữ Hán
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh
ngã mạn, ngã ái
Cập
dư xúc đẳng câu.
Dịch
nghĩa
Bốn
món phiền não thường chung cùng với thức này là: Ngã si,
Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái. Ngoài ra thức này còn tương ưng
với các Tâm sở, như Xúc, Tác ý ...
LƯỢC
GIẢI
Trước
đã nói thức năng biến thứ nhứt, thiếp theo đây nói thức
Năng biến thứ hai, tức là thức thứ Bảy. Tiếng Phạn gọi
là Mạt na, Tàu dịch là Ý. Thức này là căn của ý thức,
chứ không phải là ý thức (thứ 6).
Thức
này nương thức A lại da sanh khởi, rồi trở lại duyên thức
A lai na chấp làm ngã. Cũng như cái tay từ nơi thân sing ra,
rồi trở lại hộ vệ cái thân. Vì thức này tánh hay lo nghĩ,
nên hiện ra tướng trạng bên ngoài cũng lo nghĩ.
Nguyên
văn chữ Hán
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh
ngã mạn, ngã ái
Cập
dư xúc đẳng câu.
Dịch
nghĩa
Bốn
món phiền não thường chung cùng với thức này là: Ngã si,
Ngã kiến, ngã ái. Ngoài ra thức này còn tương ưng với các
Tâm sở như: Xúc, Tác ý, v.v...
LƯỢC
GIẢI
Những
Tâm sở thường tương ưng với thức này, là bốn món phiền
não: 1. Ngã si (si mê cái Ngã), 2. Ngã kiến (Chấp cái Ngã),
3. Ngã mạn (đề cao cái Ngã của mình, để khinh mạn người),
4. Ngã ái (tham ái cái Ngã).
Bởi
thức Mạt ma thường chấp thức A lại da làm Ngã, nên bốn
món phiền não tương ưng với thức này, cũng đều do caqi
Ngã mà sanh. Vì thế nên trên mỗi món phiền não lại thên
chữ Ngã (Ngã si, Ngã kiến, Ngã mạn, Ngã ái).
Ngoài
bốn món phiền não trên, lại còn có các Tâmsở, như năm
món Biến hành và tuỳ phiền não v.v...cũng tương ưng với
thức này; nhưng không phải thường có như bốn món phiền
não trên.
Si,
Kiến,
Các
Tâm sở 1. Thường chung khởi
Tương
ưng với Mạn, Ái.
Thức
này 2. Không thường Năm món Biến hành.
Tuỳ
phiền não v.v ...
Nguyên
văn chữ Hán
Hữu
phú vôký nhiếp
Tuỳ
sở sanh sở hệ
A
la hán, Diệt định
Xuất
thế đạo vô hữu
Dịch
nghĩa
Tánh
của thức này là "hữu phú vô ký". Tuỳ thức A lại da sanh
về cảnh giới nào, thì thức này theo đó mà chấp Ngã. Khi
chứng A la hán, nhập Diệt tận định và được vào Đạo
xuất thế, thì không còn thức này.
LƯỢC
GIẢI
Vì
bốn món phiền não ngăn che, nên tánh của thức Mạt ma thuộc
về hữu phú vô ký. Lại nữa, vì thức này do thức A lại
da sanh ra, nên tuỳ theo thức A lại da sanh về cõi nào, thì
nó theo chấp ngã ở cõi đó.
Hỏi:_
Người tu hành phải đến địa vị nào mới đoạn được
Ngã chấp và không còn thức Mạt ma?
Đáp:_
Có ba địa vị:
1.
Đến địa vị A la hán: Vì vị này đã xả tàng thức, nên
thức Mạt ma không còn chấp Ngã.
2.
Nhập diệt tận định: Vì định này diệt hết các Tâm vương
và Tâm sở của bảy thức trước.
3.
Đạo xuất thế: Hành giả khi đặng cái trí hiểu biết chơn
vô ngã và đặng trí vô lậu hậu đắc, thì không còn thức
Mạt ma.
Xả
Tàng thức
1.
A la hán không còn Mạt ma
Diệt
hết Tâm vương Tâm
Ba
địa vị sở của 6 thức trước.
Không
có 2. Diệt tận định Diệt các Tâm sở về phần
Mạt
ma tạp nhiễm của thức Mạt ma.
Được
trí hiểu biết chơn
3.
Đạo xuất thế vô ngã
Đặng
trí vô lậu hậu đắc
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Như vậy đã nói thức năng biến thứ hai, còn thức năng biến
thứ ba thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Thứ
đệ tam năng biến
Sai
biệt hữu lục chủng
Liễu
cảnh vi tánh tướng
Thiện,
bất thiện, câu phi.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói tụng (2 bài) để trả lời rằng:
Thức
năng biến thứ ba, có sáu món sai khác. Tánh và tướng của
thức này đều phân biệt cảnh (liễu cảnh). Thức này đủ
cả ba tánh: thiện, ác và vô ký (câu phi).
LƯỢC
GIẢI
Thức
năng biến thứ ba có sáu món: 1. Nhãn thức, 2. Nhĩ thức, 3.
Tỹ thức, 4. Thiệt thứic, 5. Thân thức, 6. Ý thức. Trong 8
thức, thức nào cũng đều phân biệt cảnh; song thức thứ
Bảy và thức thứ Tám chỉ phân biệt cảnh tế, còn 6 thức
trước lại phân biệt cảnh thô; nên trong bài tụng nói "Tánh
tướng nó đều phân biệt cảnh". Cũng như mặt trời mặt
trăng sáng suốt chiếu soi khắp thiên hạ. Mặt trời mặt
trăng sáng suốt là dụ cho bản tánh của thức này; còn chiếu
soi là dụ cho tướng dụng của thức này.
Sáu
thức này đủ cả 3 tánh: thiện, ác, và vô ký (không thiện
ác).
Nguyên
văn chữ Hán
Thử
Tâm sở biến hành
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tuỳ
phiền não bất định
Giai
tam tho tương ưng
Dịch
nghĩa
Những
Tâm sở tương ưng với thức này, như: biến hành, biệt cảnh,
căn bản phiền não, tuỳ phiền não, bất định và ba thọ.
LƯỢC
GIẢI
Tâm
sở do tâm vương đặt để, cũng như các quan do Vua sắp đặt,
như một vị quan lớn có bao nhiêu nhơn viên. Tâm sở cũng
thế, tất cả 51 món, phân làm 6 loại, mỗi loại có bao nhiêu
món.
Nay
xin liệt kê sau đây:
1.
Biến hành, có 5 món
2.
Biệt cảnh, có 5 món
3.
Thiện, có 11 món
4.
Căn bản phiền não, có 6 món
5.
Tuỳ phiền não, có 20 món
6.
Bất định, có 4 món.
Ba
thọ là:khổ thọ, lạc thọ, và xả thọ.
Tóm
lại, thức này tương ưng với 51 món tâm sở và 3 thọ
BÀI
THỨ TƯ
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã lược nêu 6 loại Tâm sở tương ưng nay xin nói rõ
hành tướng (hành vi và tướng trạng) sai khác của các loại
Tâm sở này; vậy 2 loại Tâm sở đầu tiên thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Sơ
biến hành: Xúc đẳng
Thứ
Biệt cảnh vị: Dục
Thắng
giải, Niệm, Định, Huệ
Sở
duyên sự bất đồng.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Hai loại Tâm sở,
đầu tiên là Biến hành, có năm món: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng
và Tư; loại Tâm sở thứ hai là Biệt cảnh, cũng có năm món:
Dục, Thắng giải, Niệm, Địng, Huệ. Công việc duyên cảnh
của năm món Biệt cảnh không đồng nhau.
LƯỢC
GIẢI
Biến
hành Tâm sở: Tâm sở này đi khắp tất cả:
1.
Đi khắp tất cả thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai).
2.
Đi khắp tất cả không gian (ba cõi, chín địa)
3.
Đi khắp tất cả tánh (thiện,ác và vô ký).
4.
Đi khắp tất cả thức (tám thức tâm vương).
Năm
món Biến hành là: Xúc, Tác ý, Thọ, tưởng và Tư. Trong bài
nói về thức Sơ năng biến ở trước, đã có nói về hành
tướng của năm món Biến hành Tâm sở rồi, nên bài này chỉ
nói về năm món Biệt cảnh.
Biệt
cảnh Tâm sở: Tâm sở này có năm món, mỗi món duyên mỗi
cảnh giới khác nhau, không thể đi khắp tất cả như năm
món Biến hành.
Năm
món Biệt cảnh là: Dục, Thắng giải, Niệm, Định và Huệ.
1. Dục: Muốn; như phát tâm muốn lìa trần tục, hoặc muốn
học Phật v.v ..., 2. Thắng giải: Hiểu biết rõ ràng; như
học Duy thức, hiểu biết được rõ ràng, 3. Niệm: Nhớ nghĩ;
như ngày trước học giáo lý, hôm nay nhớ lại, 4. Định:
Chăm chú; như chăm chú nghe hoặc học Duy thức, tâm không loạn
động, 5. Huệ: Trí huệ; nhơn định nên sanh trí huệ.
Vì
năm Tâm sở này, mỗi món duyên mỗi cảnh và hành tướng
khác nhau; cũng như năm người, mỗi người ở mỗi chỗ và
làm mỗi việc không đồng, nên bài tụng trên nói "Sở duyên
sự bất đồng": Công việc duyên cảnh của năm món Tâm sở
này không đồng.
Biệt
cảnh:
1.
Dục Tâm sở duyên cảnh bị mong muốn
2.
Thắng giải đã rõ ràng
3.
Niệm nhớ lại
4.
Định chăm chú
5.
Huệ quán sát
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói hai loãi Tâm sở biến hành và biệt cảnh; còn
hành tướng của Thiện Tâm sở thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Thiện,
vị: Tín, Tàm, Quí
Vô
tham đẳng tam căn
Cần,
An, Bất phóng dật
Hành
xả cập Bất hại.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Thiện Tâm sở có
11 món: Tín, Tàm, Quí và ba thiện căn là vô tham, vô sân, vô
si với cần, an, bất phóng dật, hành xả và bất bai.
LƯỢC
GIẢI
11
món Thiện Tâm sở này, cũng như các vị Trung thần trong nước,
hay người tớ trung thành trong nhà.
1.Tín:
Tin; như tin Tam bảo, 2. Tàm: Xấu hổ; như mình lỡ làm việc
có tội lỗi, sanh ra xấu hổ, 3. Quí: Thẹn thùa; như mình
làm việc sái quấy, đối với người sanh lòng thẹn thùa.
Nói lại cho dễ hiểu: Tàm là tự hổ lấy mình; Quí là thẹn
với người, 4. Vô tham: không tham; gặp cảnh tốt đẹp, không
sanh tâm tham lam, 5. Vô sân: Không nóng giện, 6. Vô si: Không
si mê; đối với tất cả sự vật, tâm không si mê. Ba món
tâm sở này (vô tham, vô sân,vô si) là gốc rễ của các pháp
lành, nên được gọi là "Tam thiện căn" (ba căn lành), 7. Cần:
Siêng năng; gặp việc lành, tâm tinh tấn không thối lui, 8.
Khinh an: Nhẹ nhàng sảng khoái; thâm tâm vui vẻ nhe nhàng, 9.
Bất phóng dật: Khônh phóng túng; bỏ dữ làm lành, không buông
lung theo dục lạc, 10. Hành xả: Làm mà không cố chấp; làm
tất cả việc tốt, mà không tham luyến cố chấp, làm với
bản tánh tự nhiên, chớ không có dụng công, tâm thường
an trụ nơi bình đẳng. Hành tướng của Hành xả, như người
đi đường: Phải bỏ bước sau mới tiến tới bước trước.
Nếu không bỏ bước sau thì không bao giờ tiến tới bước
trước được. Lại nữa, hành xả với Xả thọ khác nhau:
"hành xả" là món Xả trong Hành uẩn, thuộc về pháp lành;
còn "Xả thọ" là một trong Thọ uẩn, thuuộc về tánh vô
ký, 11. Bất hại: Không làm tổn hại tất cả chúng sanh.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói 11 món Thiện Tâm sở, còn hành tướng, (hành
vi, tướng trạng) của căn bổn phiền não thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Phiền
não vị: tham, sân
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ noíi hai câu tụng để trả lời rằng: Căn bản phiền
não có sáu món: Tham,Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác kiến.
LƯỢC
GIẢI
Phiền
não nghĩa là buồn phiền não loạn. Vì 6 món phiền não này
làm căn bản để sinh ra các phiền não chi mạt, nên gọi là
Căn bản phiền não.
1.
Tham, 2. Sân, 3. Si; ba món Tâm sở này trái ngược với ba món
Thiện căn (vô tham, vô sân, vô si) trong 11 món Thiện Tâm sở.
Trong Khế kinh gọi ba món phiền não này là "tam độc" (3 món
độc). 4. Mạn, tức là Ngã mạn; đã giải trong bài thức
năng biến thứ hai, 5. Nghi: Nghi ngờ; như người nghi ngờ Phật
pháp, không tin thuyế nhơn quả luân hồi v.v ...6. Ác kiến:
Hiểu biết có tội ác; nghĩa là hiểu biết không chơn chánh
tà vạy.
Aùc
kiến này, chia ra làm năm món: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến,
Kiến thủ, Giới cấm thủ, sẽ giải ở sau.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói 6 món Căn bản phiền não, còn hành tướng (hành
vi, tướng trạng) của 20 món Tuỳ phiền não thế nào?
Đáp:_
Nguyên Văn chữ Hán
Tụng
viết:
Tuỳ
phiền não vị: Phẫn
Hận,
Phú, Não, Tật, Xan
Cuống,
Siểm, dữ hại, Kiêu
Vô
tàm cập vô quí
Trạo
cử dữ Hôn trầm
Bất
tín tinh Giải đãi
Phóng
dật cập Thất niệm
Tán
loạn, Bất chánh tri.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói hai bài tụng để trả lời rằng: Tuỳ phiền não
có hai mươi món: Phẫn, Hận, Phú, Não,Tật, Xan, Cuống, Siểm,
Hại, Kiêu, Vô tàm, Vô quí, Trạo cử, Hôn trầm, Bất tín,
Giải đãi, Phóng dật, Thất niệm, Tán loạn và Bất chánh
tri.
LƯỢC
GIẢI
Vì
hai mươi món phiền não này tuỳ thuộc vào các căn bản phiền
não, nên gọi là "Tuỳ phiền não".
1.
Phẫn: Giận, khi gặp nghịch cảnh sanh tâm giận giỗi.
2.
Hận: Hờn, sau khi giận rồi lưu lại trong tâm không bỏ.
3.
Phú: Che giấu, Che giấu tội lỗi của mình không cho ai biết.
4.
Não: Phiền, sau khi giận rồi buồn phiền nơi lòng.
5.
Tật: Ganh ghét, thấy người hơn mình sanh tâm đố kî.
6.
Xan: Bỏn xẻn, có tiền của mà rít rắm không bố thí.
7.
Cuống: Dối gạt, vì muốn đặng danh lợi nên dối gạt người.
8.
Siểm: Nịnh, bợ đỡ nịnh hótvới người để xin danh vọng
quyền lợi.
9.
Hại: Tổn hại, trái với "bất hại" trong Thiện Tâm sở.
10.
Kiêu: Kiêu cách, giống như mạn tâm sở, song "Mạn tâm sở"
là kinh dễ lấn lướt người, còn "Kiêu tâm sở" là ỷ tài
năng của mình mà khinh ngạo xem thường người.
11.
Vô tàm và 12 là Vô quí, trái với Tàm và Quí trong Thiện tâm
sở.
13.
Trạo cử: Chao động, làm chướng ngại tu Chỉ; trái với
Định tâm sở trong vị Biệt cảnh.
14.
Hôn trầm: Tối mờ, lám chướng ngại tu quán; trái với huệ
tâm sở.
15.
Bất tín:Không tin, trái với Tín tâm sở trong 11 món thiện.
16.
Giải đãi: Trễ nải, trái với Cần tâm sở trong 11 món thiện.
17.
Phóng dật: Buông lung; trái với "Bất phóng dật" trong Thiện
tâm sở.
18.
Thất niệm: không nhớ; trái với "Niệm tâm sở" trong vi Biệt
cảnh.
19.
Tán loạn: Rối loạn, tâm lăng xăng rối loạn; trái với "Định
tâm sở" trong vị Biệt cảnh.
20.
Bất chánh tri: Biết không chơn chánh, khi đối vớicảnh hiểu
biết sai lầm, làm chướng ngại hiểu biết chơn chánh.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói 20 món Tuỳ phiền não, còn hành tướng của 4
món Bất định thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Bất
định, vị: Hối Miên
Tầm
Tư nhị các nhị
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói hai câu tụng trên để trả lời rằng: Bất định
là Hối Miên và Tầm Tư, mỗi món lại chia làm hai (là bốn).
LƯỢC
GIẢI
Bất
định là không nhứt định thiện hay ác.
1.
Hối: Ăn năn, nghĩa là ăn năn những việc nên làm mà không
làm, hoặc ăn năn những việc không nên làm mà lại làm.
2.
Miên: Ngủ nghỉ, làm cho thân tâm không tự tại.
3.
Tầm: Tìm kiếm, đối với cảnh danh ngôn của ý thức, nó
làm cho tâm thô động gấp gáp.
4.
Tư: Rình xét, đối với cảnh danh ngôn của ý thức, nó khiến
cho tâm tế nhị mà gấp gáp.
Lại
nữa, bốn món tâm sở này, mỗi món đều có hai tánh: hoặc
thiện hoặc ác không nhứt định, nên gọi là "Bất định".
BÀI
THỨ NĂM
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã nói sáu loại tâm sở tương ưng rồi, bây giờ làm
sao biết được phần vị hiện khởi của các thức?
Đáp:_
Nguyên văn chũ Hán
Tụng
viết:
Y chỉ
căn bản thức
Ngũ
thức tuỳ duyên hiện
Hoặc
câu hoặc bất câu
Như
đào ba y thủy
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh Vô tưởng thiên
Cập
vô tâm nhị định
Thuỷ
miên dữ muộn tuyệt.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói hai câu tụng trên để trả lời rằng: Sáu thức
trước đều nương nơi thức căn bản (A lại da) mà hiện
khởi; cũng như sóng nương nơi nước mà sanh.
Năm
thức trước tuỳ duyên mà khởi; hoặc chung sanh hoặc chẳng
chung sanh. Duy có ý thức thường hiện khởi, trừ ra năm chỗ
nó không sanh khởi: 1. Sanh ở cõi trời Vô tưởng, 2. Nhập
định Vô tưởng, 3. Nhập định Diệt tận, 4. Ngủ mê, 5.
Chết giả.
LƯỢC
GIẢI
Sáu
thức trước, bên trong đều nương nơi thức Căn bản (A lại
da) bên ngoài nhờ các duyên (căn, cảnh, tác ý, v.v...) và tuỳ
theo phận vị của nó mà sanh khởi không đồng. Nếu đủ
duyên thì sanh khởi, còn thiếu duyên thì nó không sanh. Cũng
như sóng nương nơi nước và nhờ gió, nên có khi sanh, khi
diệt. Duy có ý thức vì ít duyên nên dễ đủ; vì thế mà
được thường sanh khởi, chỉ trừ năm chỗ không sanh:
1.
Trời Vô tưởng; do hành giả khi tu định, nhàm ghét diệt
trừ cái "tưởng", mà được sanh về cõi trời này, nên cõi
trời này không có ý thức.
2.
Nhập định Vô tưởng; do hành giả diệt trừ 6 thức trước,
mới được định này.
3.
Nhẫp định Diệt tận; do hành giả diệt trừ phần hiện
hành của bảy thức trước, mới được định này. Hai định
trên đây đều không có "ý thức".
4.
Khi ngủ mê không chiêm bao, cũng không có ý thức.
5.
Khi bịnh nặng gần chết, hoặc khi bất tỉnh nhơn sự (chết
giả) cũng không có ý thức.
Xem
biểu đồ
Nước:
Dụ thức A lại da
Sóng:
Không gián đoạn: Dụ ý thức thường hiện khởi (trừ 5 chỗ)
Năm
chỗ ý thức Không sanh
1.
Trời Vô tưởng
2.
Định Vô tưởng
3.
Định Diệt tận
4.
Ngủ mê (không chiêm bao)
5.
Chết giả
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Trên đã phân biệt rành rõ hành tướng của ba thức năng
biến, đều nương nơi hai phần, rồi tự nó biến ra; bây
giờ lám sao biết được các pháp chỉ do thức biến hiện,
rồi giả gọi Ngã, Pháp chớ không phải thật có, nên nói
"tất cả Pháp Duy thức"?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Thị
chư thức chuyển biến
Phân
biệt, sở phân biệt
Do
thử, bỉ giai vô
Cố
nhứt thế Duy thức.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói một bài tụng để trả lời rằng: Chỉ do các thức
biến ra Năng phân biệt thức (kiến phần) và Sở phân biệt
(tướng phần). Song Năng phân biệt (thử) và Sở phân biệt
(bỉ) đều không thật có, nên nói: "tất cả pháp Duy thức".
LƯỢC
GIẢI
Mỗi
thức và mỗi Tâm sở đều có 4 phần: 1. Kiến phần (phần
Năng phân biệt), 2. Tướng phần (phần bị phân biệt, tức
là cảnh vật), 3. Tự chúng phần: phần này tự chứng minh
cho Kiến phần, 4. Chứng tự chứng phần: Phần này chứng
minh cho phần tự chứng.
Trong
bốn phần này, về phần thứ ba là Tự chứng, không những
có công năng chứng minh cho phần thứ hai là Kiến phần, mà
cũng có công năng đặc biệt là trở lại chứing minh phần
thứ tư là Chứng tự chứng phần. Bởi thế nên không cần
phải có phần thứ năm.
(hình)
Xin
nói một thí dụ để giải rõ bốn phần: Thí như anh A và
anh B hùn nhau buômn bán. Anh A ra tiền (vật có hình tướng)
là dụ cho "Tướng phần". Anh B ra công (không hình tướng)
là dụ cho "Kiến phần". Hai ngườilập một tờ hợp đồng
(giao kèo) để chứng minh một bên ra công và một bên xuất
của. Tờ hợp đồng là dụ cho "Tự chứng phần". Vì hai anh
tranh giành nhau, nên đem đến quan kiện. Ông quan chiếu theo
tờ hợp đồng mà phân xử. Ông quan là dụ cho "Chứng tự
chứng phần".
Trên
đã nói rõ hành tướng của ba thức năng biến: Từ nơi hai
phần bên trong là Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần,
biến sanh ra hai phần bên ngoài là Kiến phần và Tướng phần.
Vậy thì hai phần bên trong là "thể" làm chỗ bị y chỉ (nương
tựa), còn hai phần bên ngoài là "dụng" là "năng y chỉ".
Thí
dụ như con ốc hương, đầu và mình con ốc là dụ cho "Tự
chứng phần" và "Chứng tự chứng phần"; còn hai cái vòi là
dụ cho Kiến phần và Tướng phần. Hai vòi có khi lòi ra, có
lúc lại thụt vào, là dụ cho cai dụng Kiến phần và Tướng
phần, sanh diệt không thường; còn cái đầu và mình của
con ốc thì thường còn, để dụ cho cái thể Tự chứng phần
và Chứng tự chứng phần, không sanh không diệt.
Luận
chủ và ngoại nhơn hai bên rất mâu thuẫn nhau. Nếu lý Duy
thức của Luận chủ được thành thì sự chấp thật có Ngã,
Pháp của ngoại nhơn không thành; trái lại, nếu sự chấp
Ngã, Pháp của ngoại nhơn được thành, thì lý Duy thức của
Luận chủ bất thành.
Ý
của ngoại nhơn hỏi: Làm sao biết Ngã, Pháp đều nương nơi
thức biến ra, chẳng phải thật có, nên nói "Tất cả Pháp
đều Duy thức"?
Ý
của Luận chủ đáp: Trên đã nói ba thức Năng biến, mỗi
thức đều từ nơi tự thể mà biến sanh ra Kiến phần và
Tướng phần; Kiến phần là phần năng phân biệt, mà Tướng
phần là phần bị phân biệt. Phần bị phân biệt là các
cảnh vật như núi, sông, đại địa, v.v ...Phần năng phân
biệt tức là tác dụng thấy, nghe, hay biết các cảnh vật.
Bởi
phần năng phân biệt (thấy) và phần bị phân biệt (cảnh)
đều do thức thể biến ra, toàn không thật có, nên nói "Tất
cả pháp Duy thức".
Thức
thể (tự chứng phần sanh ra Dụng) ---> Phần biết (Kiến)
Phần bị biết (Tướng) đều là thức
BÀI
THỨ SÁU
GIẢI
THÍCH CÁC ĐIỀU NGHI
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh làm duyên, thì
nội thức làm sao sanh ra các món phân biệt?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
nhứt thế chủng thức
Như
thị như thị biến
Dĩ
triển chuyển lực cố
Bỉ
bỉ phân biệt sanh
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Do các chủng tử trong
Tạng thức, trùng trùng biến ra các pháp. Vì sức phát triển
sanh khởi của các pháp, nên sanh ra các món phân biệt.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu không có ngoại cảnh làm duyên, chỉ có nội thức thì
nội thức làm sao sanh ra các món phân biệt?
Đáp:_
Luận chủ trả lời: Do thức A lại da chứa đựng chủng tử
của các pháp, các chủng tử ấy lại sanh ra các pháp hiện
hành rồi mỗi pháp hiện hành lại sanh Kiến phần (năng phân
biệt) và Tướng phần (bị phân biệt).
Câu
"như thị như thị biến"; nghĩa là từ khi sanh cho đến khi
chín sự biến đổi phát triển rất nhiều.
Câu
"triển chuyển lực cố"; nghĩa là tám thức hiện hành và
các Tâm sở tương ưng, nào Tướng phần, nào Kiến phần v.v...đều
có cái năng lực hổ trợ cho nhau, nên sanh ra các cảnh giới
thế gian (bị phân biệt) và các món phân biệt (năng phân
biệt)
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh để làm trợ
duyên, thì tại sao lại có chúng hữu tình sanh tử tương tục?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
chư nghiệp tập khí
Nhị
thủ tập khí câu
Tiền
Dị thục ký tận
Phục
sanh dư Dị thục
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Do tập khí (chủng
tử) của các nghiệp và tập khí (chủng tử) của hai thủ
(năng thủ, sở thủ) chung nhau làm duyên nên thân dị thục
(báo thân) đời này vừa hết, thì lại tiếp tục sanh ra các
thân dị thục đời sau và đời sau nữa.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh làm duyên, thì
tại sao hiện nay thấy có các chúng hữu tình sanh tử tiếp
nối luôn luôn?
Đáp:_
Do có các nghiệp làm duyên, nên chúng hữu tình sanh tử tương
tục.
Chữ
"Chư nghiệp": Nghĩa là nghiệp lành, nghiệp dữ và nghiệp
bất động (tu thiền định).
Chữ
"Nhị thủ": Kiến phần (năng thủ), Tướng phần (sở thủ)
hoặc Danh (tâm) và Sắc (vật) hay Tâm vương và Tâm sở.
Chữ
"tập khí": Tức là biệt danh của chủng tử. Như người viết
chữ: khi chưa viết thì cái công năng tập quen (tập khí) đó,
nó tiềm tàng núp ẩn trong tay, người không thấy được.
Đến khi viết chữ, là do cái công năng tập luyện (khí phần)
ngày trước đó, nên nay mới viết được. Bởi thế nên "chủng
tử" (công năng tiềm tàng) cũng gọi là "tập khí".
Báo
thân của loài hữu tình, gọi là thân Dị thục. Khi thân Dị
thục hiện tiền sắp diệt, thì chủng tử của các nghiệp
làm sơ duyên và chủng tử của hai món thủ làm thân duyên,
tương tục không dứt, nên làm cho sanh ra thân Dị thục đời
sau. Bởi thế nên các chúng hữu tình, khi sắc thân này chết
đi, thì lại sanh ra sắc thân khác. Do đó mà sanh tử nối
luôn, không biết chừng nào cùng tận.
[Biểu
Đồ, trang 162]
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có thức mà thôi, tại sao rất nhiều chỗ trong kinh
Phật nói có ba tánh?
Đáp:
_ Phải biết ba tánh đó cũng chẳng ngoài thức.
Hỏi:
_ Tại sao vậy ?
Đáp:
_ Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
bỉ bỉ biến kế
Biến
kế chủng chủng vật
Thử
Biến kế sở chấp
Tự
tánh vô sở hữu
Y
tha khởi tự tánh
Phân
biệt duyên sở sanh
Viên
thành thật ư bỉ
Thường
viễn ly tiền tánh
Cố
thử dữ y tha
Phi
dị phi bất dị
Như
vô thường đẳng tánh
Phi
bất kiến thử bỉ
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói ba bài tụng để trả lời rằng: Do tánh Biến kế
sở chấp, vọng chấp tất cả các vật. Tánh Biến kế sở
chấp này, không thật có tự thể. Còn tánh Y tha khởi là
do các duyên phân biệt mà sanh. Tánh Viên thành thật, là do
trên tánh Y tha khởi xa lìa tánh Biến kế sở chấp mà hiện.
Bởi
thế nêntánh "Viên thành thật" đối với tánh "Y tha khởi"
cũng khác mà cũng không khác, vì không thể tách riêng được.
Bởi thế nên, nếu không thấy được tánh Viên thành thật,
thì cũng không thể thấy được tánh Y tha khởi. Cũng như
tánh vô thường ...đối với các pháp, cũng khác mà cũng không
khác.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu chỉ có thức mà thôi, thì tại sao trong các kinh rất
nhiều chỗ, đức Thế Tôn nói có ba món tự tánh: 1. Biến
kế sở chấp tự tánh. 2. Y tha khởi tự tánh . 3. viên thành
thật tự tánh ?
Đáp:
_ Luận chủ trả lời rằng: "Ba món tự tánh Phật nói đó,
cũng không rời thức". Song còn e người không tin, nên Luận
chủ nói tiếp 3 bài tụng để giải thích nguyên do.
Tánh
Biến kế sở chấp này là do chúng sanh vọng chấp ức đạc
mà có. Như bên Âu châu có nhà học giả thấy bộ xương khỉ
giống bộ xương người, nhơn đó họ nghi ngờ và ức đạc
rằng: loài khỉ tiến hoá thành loài người; rồi đề xướng
lên cái thuyết "Động vật tiến hóa" (Darwin). Từ đó về
sau họ mới chủ trương rằng "Tất cả vật trên thế gian,
đều do tiến hoá thành". Bởi thế nên bài tụng nói:"Vọng
chấp tất cả vật".
Vì
vọng tưởng ức đạc, chớ chẳng phải thật có, dụ như
lông rùa sừng thỏ, nên bài tụng nói:"Tánh Biến kế Sở
chấp không có thật thể" ( thử Biến kế sở chấp, tự tánh
vô sở hữu).
Còn
tánh "Y tha khởi", là do phân biệt các duyên trong thế gian
mà sanh. Thí như người nhặm con mắt, xem hư không thấy có
các hoa đốm, rồi khởi vọng tưởng phân biệt: hoa này đỏ
hay trắng, tốt hay xấu, giống thật hoa hay không ...Họ không
biết rằng: Trong hư không chẳng có hoa, do nhặm mắt nên thấy
có hoa (Y tha khởi).
Trong
tánh "Y tha khởi" có nhiễm và tịnh; nếu lìa được phần
nhiễm ô tức là tánh Biến kế sở chấp, thì đặng phần
thanh tịnh, gọi là tánh "Viên thành thật". Cũng như nước
và sóng, nếu sóng xao động lặng, thì tánh nước yên tịnh
hiện ra.
Bởi
thế nên "tánh Viên thành thật" với "tánh Y tha khởi", không
thể nói khác hay không khác, cũng như nước với sóng không
hai mà cũng không một.
(hình
đồ)
Câu
" phi bất kiến thử bỉ "; nghĩa là nếu không thấy được
tánh Viên thành thật đây, thì cũng không thấy được tánh
Y tha khởi kia.
Nghĩa
này không những trong đạo Phật, ngay đến người thế tục,
nếu không tu theo Phật pháp, để ngộ tánh Viên thành thật,
thì cũng không thể thấy được các pháp Y tha khởi của thế
gian.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_Nếu
đã có 3 tánh, tại sao đức Thế Tôn lại nói: "Tất cả pháp
đều không có tự tánh?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Tức
y thử tam tánh
Lập
bỉ tam vô tánh
Cố
Phậtmật ý thuyết
Nhứt
thế pháp vô tánh
Sơ
tức tướng vô tánh
Thứ
vô tự nhiên tánh
Hậu
do viễn ly tiền
Sở
chấp ngã, pháp tánh
Thử
chư pháp thắng nghĩa
Diệt
tức thị chơn như
Thường
như kỳ tánh cố
Tức
Duy thức thật tánh.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói 3 bài tụng để trả lời rằng: Phật y cứ trên
ba món tự tánh này, mà mật ý nói: "Tất cả pháp đều không
có tự tánh".
1.
Biến kế sở chấp không tự tánh, vì tướng hy vọng vậy.
2.
Y tha khởi không có tự tánh, vì do các duyên phân biệt sanh,
không phải tự nhiên có.
3.
Viên thành thật không có tự tánh, do xa lìa tánh Biến kế
hư vọng chấp ngã chấp pháp mà hiện.
Đây
là nghĩa thù thắng của các pháp, cũng gọi là "chơn như",
vì tánh nó "thường như" vậy; cũng tức "thật tánh" của
Duy thức.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu có ba món tự tánh, tại sao đức Thế Tôn lại nói: "Tất
cả pháp đều không có tự tánh"?
Đáp:_
Luận chủ nói 3 bài tụng để giải thích: "Phật y cứ trên
ba món tự tánh, rồi giả lập ba món vô tánh"._ Đã nói "Phật
giả lập ba món vô tánh" thì biết rằng chẳng phải thật
vô. Sở dĩ Phật phương tiện mật ý nói như vậy, chẳng
qua để đối trị cái chấp "ba tánh" mà thôi, chớ không phải
thật ý. Cũng như dùng ba món thuốc để đối trị ba bịnh.
Ba
món vô tánh là: 1. Tướng vô tánh; nghĩa là tướng Biến kế
sở chấp, hư vọng không thật có, 2. Tự nhiên vô tánh; nghĩa
là do các duyên sanh, không phải tự nhiên có; nên cũng gọi
là "sanh vô tánh", 3. Thắng nghĩa vô tánh; nghỉa là xa lìa
cac vọng chấp ngã chấp pháp rồi, mới hiện ra tánh này;
nên gọi là "Thắng nghỉa vô tánh".
Thắngh
nghĩa vô tánh, cũng tức là chơn như, vì tánh nó chơn thật
không vọng, thương như vậy; cũng gọi là "Thật tánh của
Duy thức".
Vô
tánh:
-Tướng
vô tánh để đối trị Biến, Kế sở chấp tánh
-Tự
nhiên vô tánh để đối trí Tự 3 tánh (thuốc) nhiên
tánh (Y tha) (bịnh)
-Thắng
nghĩa vô tánh để đối trị Viên thành thật tánh
BÀI
THỨ BẢY
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Như trên đã thành lập Duy thức tướng và Duy thức tánh rồi;
Người nào mới có thể nhập được? Và làm sao để ngộ
nhập?
Đáp:_
Phải là người có đủ hai giống tánh Đại thừa và tu hành
trải qua năm địa vị sau này mới được ngộ nhập:
1.
Vị Tư lương
2.
Vị Gia hạnh
3.
Vị thông đạt
4.
Vị Tu tập
5.
Vị Cứu tánh.
Hỏi:_
Hành tướng của vị Tư lương thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Nãi
chí vị khởi thức
Cầu
trụ Duy thức tánh
Ư
nhị thủ tuỳ miên
Du
vị năng phục diệt
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Từ khi chưa phát tâm,
cho đến khi đã phát tâm cầu an trụ Duy thức tánh, trong thời
gian đó hai món thủ (ngã chấp, pháp chấp) hãy còn miên phục;
hành giả chưa có thể chinh phục hay diệt trừ được.
LƯỢC
GIẢI
Từ
trước đến đây đã nói rõ về Duy thức cảnh rồi, tức
là Duy thức tướng và Duy thức tánh. Nay sẽ nói Duy thức
hạnh và Duy thức quả, tức là dạy người sau khi học hiểu,
phải phát tâm tu hành rồi mới chứng được Duy thức quả.
Vậy
từ khi phát tâm tu Duy thức, cho đến chứng Duy thức quả,
phải trải qua năm địa vị:
1.
Vị Tư lương: Lương phạn, đồ hành lý. Thí như người đi
đường. Trước phải sắm sửa lương phạn tiền bạc v.v...để
lên đường.
Địa
vị này bắt đầu từ khi chưa phát tâm tu Duy thức quán, cho
đến khi phát Bồ Đề tâm, cầu an trụ Duy thức tánh (chơn
như tâm).
Thí
như chúng ta nghe trong kinh dạy: "vạn pháp Duy thức"; rồi chúng
ta bắt đầu ngày đêm tu Duy thức quán. Bất luận thời giờ
nào, khi thấy nghe hay biết, chúng ta đều quán "Tất cả pháp
là giả tướng, Duy thức biến hiện". Chúng ta luôn luôn ở
trong Duy thức quán. Cũng như người ở trong cảnh Tịnh độ
bảy báu trang nghiêm. Được như thế thì tất cả phiền não
không thể xâm nhập.
Song,
khi mới cầu an trụ Duy thức, công tu chưa thâm, năng lực
còn kém, nên chưa có thể an trụ Duy thức tánh được. Lúc
bấy giờ hai món phiền não (năng thủ, sở thủ) còn miên
phục, chưa trổi dậy; cũng như cỏ bị đá đè. Đến khi
áp lực được nhẹ đi, thì hai món chủng tử này sẽ sanh
khởi trở lại.
Duy
thức tánh như ông chủ nhà, phiền não như kẻ trộm. Kẻ
trộm không bao giờ ưa chủ nhà; chủ nhà lúc nào cũng ghét
kẻ trộm.
Duy
thức tánh và phiền não cũng thế. Nếu không diệt trừ phiền
não thì không thể an trụ Duy thức tánh được. Bởi thế
nên muốn an trụ Duy thức tánh thì quyết định phải diệt
trừ hai món thủ (ngã, pháp).
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Hành tướng của vị Gia hạnh thế nào?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Hiện
tiền lập tiểu vật
Vị
thị Duy thức tánh
Dĩ
hữu sở đắc cố
Phi
thật trụ Duy thức
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Nếu hiện tiền còn
một tí thấy mình an trụ Duy thức tánh, thì chưa phải thật
an trụ Duy thức tánh, vì còn có chỗ sở đắc vậy.
LƯỢC
GIẢI
2.
Vị Gia hạnh: Gia công tấn hạnh. Vị Gia hạnh này giống như
người đi đường, trước phải dự bị đồ hành lý, rồi
sắp sửa khởi hành.
Hành
giả, khi tu Duy thức quán, thấy cảnh giới Duy thức hiện
tiền, nếu chấp mình chức được Duy thức tánh, như thế
là còn có chỗ sở đắc, nên chưa phải thật chứng Duy thức.
Cũng như ông Nhan Hồi học Đạo với đức Khổng tử, sau
khi thể hội được Đạo, ông nói rằng: "Như có một vật
gì đứng đồ sộ vậy(1)". Đó cũng là cảnh giới Duy thức
biến, chẳng qua thức biến không đồng.
Vì
chơn tánh của Duy thức, chẳng phài có, chẳng phải không,
tuy chứng mà không có gì là chứng, thế mới thật là chứng
Duy thức.
Người
an trụ được chơn tánh của Duy thức, cũng như cái tay nghười
biết viết chữ: Không thấy có gì khác cả. Bởi thế nên
nói "đặng mà không có gì là đặng".
Nay
người tu Duy thức, do hiện tiền còn một tí thấy mình chứng
Duy thức, nên không phải thật an trụ nơi Duy thức tánh.
Hỏi:_
Hành tướng của vị Thông đạt thế nào?
Đáp:_
Nguên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Nhược
thời ư sở duyên
Trí
đô vô sở đắc
Nhĩ
thời trụ Duy thức
Ly
nhị thủ tướng cố
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: bao giờ cảnh sở
quán và trí năng quán đều không, khi đó mới an trụ nơi
Duy thức tánh, vì đã xa lìa được hai món thủ vậy.