Bài Thứ
Nhất
Hỏi:
Nếu Duy Thức Học có cơ sở vững chắc thì vấn đề "ngã"
của Phật giáo và thế gian phải được hiểu như thế nào?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Do
có Thuyết Về Ngã
Niệm
Ngã Nảy Sinh
Tướng
Ngã Duy Thức Biến
Thức
Năng Biến Có Ba:
Rằng
Dị Thục, Tư Lương
Và
Liễu Biệt Cảnh Thức.
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Có
thuyết: Tự mình tưởng tượng ra, hiểu theo cái hiểu
của mình, không bằng cứ vào một học thuyết thực tiễn
hay chân lý siêu tuyệt nào khác.
Ngã:
Ðộc lập tự sinh độc lập, tự tồn, bất biến và bất
động.
Pháp:
Hiện tượng vật chất trước mắt ngàn sai muôn khác, mỗi
mỗi có hình dáng lớn nhỏ, kích thước ngắn dài, qui mô
cao thấp, màu sắc đa dạng, khiến cho người ta trông thấy
nó là nó mà không lầm lẫn giữa vật này là vật nọ. Mỗi
một dạng vật chất được gọi là một pháp.
"Nhậm
trì tự tánh, quỉ sanh vật giải"
Ngoài
vật chất ra chữ Pháp của nhà Phật còn bao hàm hết lãnh
vực nhận thức khái niệm của ý như: vui buồn, thương ghét,
thiện ác, trí tuệ, vô minh v.v...
Biến:
Sự chuyển hóa liên tục trong quá trình tiến triển của vật
chất cộng với thức tâm để hình thảnh một sự vật hiện
tượng nào đó.
Năng
biến: Phần chủ thể nhận thức, biểu hiện qua tám thức
tâm vương, thông qua sự ức thuyết và tưởng tượng.
Dị
thục: Tên gọi khác của A lại da, của Nhất thiết chủng,
của đệ bát thức.
Tư
Lương: Tên gọi của Mạt na hay đệ thất thức.
Liễu
biệt cảnh: Tên gọi chung của sáu thức trước: Nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức.
Yếu
Luận
Diệt
ngã, xả ngã là vấn đề cốt lõi trong kho tàng Phật giáo.
Hiểu rõ, thực chứng rốt ráo chân lý vô ngã là thành tựu
Bồ đề Niết bàn vô thượng (Bất kiến nhất pháp tức Như
Lai ...)
Quán
sát vũ trụ nhân sinh, đức Thế tôn dạy:
"Tất
cả pháp vô ngã"
Nghĩa
là toàn bộ "hữu tình chúng sinh" và "vô tình chúng sinh" đều
vô ngã qua cái thấy của Phật nhãn. Nói cách khác, qua nhận
thức của Phật loài động vật cũng như thực vật, khoáng
vật đều không có tính tự ngã, tự sinh, tự tồn, tự độc
lập, bất biến và bất động. Tuy nhiên, ở các kinh điển
thỉnh thoảng đó đây đức Phật có lúc vẫn đề cập về
ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả tướng... Ðó là Như Lai
vận dụng "thế giới tất đàn" trong tứ tất đàn, vận dụng
"tục đế" trong "nhị đế" mở bày phương tiện trong cứu
cánh đấy thôi! Cuối cùng Như Lai chỉ bày những giáo lý
phương tiện chỉ là phương tiện, người Ðại thừa chủng
tánh phải tu học giáo lý đệ nhất nghĩa, cứu cánh Ðại
thừa.
Như
Lai nói: ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả tức không phải ngã,
nhân, chúng sinh, thọ giả mà gọi là ngã, nhân, chúng sinh,
thọ giả vậy thôi!
(Kinh
Kim Cang Bát Nhã)
Ngã của
thế gian do ức thuyết, do tưởng tượng, do mê tín dị đoan.
Không ai chứng minh được cái gì là ngã.
Tóm
lại, Phật giáo nói ngã, khi sử dụng phương tiện tùy thế
tục vận dụng thế đế, để rồi cuối cùng chủ định
ngã, khi con người có khả năng nhận thức chân lý vô ngã.
Thế gian nói ngã chỉ vì ức thuyết, do tưởng tượng hoang
đường, do si mê cuồng tín... "Vạn Pháp Duy Thức" chữ
thức trong từ Duy thức phải hiểu là "Nhất thiết chủng"
cũng gọi là "Tàng thức", cũng gọi là "Dị thục thức". Thức
này chứa đựng hết thảy chủng tử hạt nhân của vạn vật
hiện tượng, chứa đựng hết thảy khái niệm, nhận thức
và tư duy của các loại hữu tình.
Hạt
nhân của vạn vật hiện tượng tuy nhiều tựu trung gồm trong
ba loại: khoáng vật, thực vật và động vật. Qua cái nhìn
của nhà Phật học thì "Nhất thiết chủng thức" chức đựng
bảy thứ có tánh chất phổ bíến là: Ðịa đại, Thủy đại,
Hõa đại, Phong đại, Không đại, Kiến đại và Thức đại.
Từ
những chất liệu hạt nhân đó, chuyển biến sinh hóa, tác
động tương quan qua lại với nhau mà hình thành sự vật hiện
tượng vạn pháp. Những hạt nhân trong Nhất thiết chủng
thức biến chuyển sinh hóa từng sát na không ngừng theo tiến
trình phát triển, tiến hóa để rồi thành sự vật, hiện
tượng vạn pháp từ giản đơn dần dần đến phức tạp.
Sự
tác động qua lại, sự kết hợp để hình thành một sự
vật hiện tượng đó chính là quá trình Duy Thức Biến. Như
thị như thị Biến của Duy Thức Học.
Hạt
nhân của vạn pháp vẫn chưa phải là nguyên tố duy nhất
khởi đàu để sinh ra vạn vật hiện tượng mà hạt nhân
của vạn pháp phải tác động qua lại với nhau mới phát
triển, mới tiến hóa hình thành vạn vật hiện tượng. Ðiều
đó cắt nghĩa cho ta thấy rõ ràng sự biến hóa của Duy Thức
và giáo lý Duyên Sinh của đạo Phật là chân lý hiển
nhiên.
Hiện
tượng vạn vật vô tri gọi là sở kiến, khái niệm nhận
thức tư duy được gọi là năng biến. Năng biến, sở biến
đều là sản phẩm cơ bản, sản phẩm hạt nhân hiện hữu
một cách tự nhiên của Nhất thiết chủng thức. Sự hiện
hữu này, Duy Thức Học gọi là "Bất khả tri"!
Năng
biến có ba hình thái: Dị thục, Tư lương và Liễu biệt
cảnh.
Dị
thục thức: để cắt nghĩa rằng hiện tượng vạn pháp
sinh ra không có pháp nào vượt ngoài chân lý nhân quả.
Tư
lương thức: nhằm chỉ rõ ràng mỗi một hiện tượng
duyên sinh khi sinh ra đều có quán tính tự nhiên duy trì và
phát triển sự tồn sinh hầu kéo dài sự hiện hữu của chúng.
Vì vậy, nó còn có tên: Ngã ái chấp tàng.
Liễu
biệt cảnh thức: chứng minh rõ nét tánh chất khác nhau
giữa năng biến và sở biến, chủ thể và đối tượng, phân
biệt và sở phân biệt.
Nói
rút lại:
- Năng
biến thuộc bát thức tâm vương, một phần hạt nhân, duyên
sinh ra loài động vật hữu tình.
- Sở
biến thuộc vật chất những hạt nhân, duyên sinh ra khoáng
vật, thực vật vô tình.
"Thị
chư thức chuyển biến
Phân
biệt sở phân biệt
Do
thử bỉ giai vô
Cố
nhất thiết Duy thức..."
Bài Thứ
Hai
Hỏi:
Ðã
được nghe qua về ba món năng biến, vậy xin được biết
món năng biến thứ nhất thế nào?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Thứ
Nhất, A Lại Da
Dị
Thục, Nhất Thiết Chủng
Không
Thể Biết Chấp Thọ
Cảnh,
Căn, Thường Cùng Xúc
Tác
Ý, Thọ, Tưởng, Tư
Chỉ
Tương ưng Xả Thọ
Tánh
Vô Phú Vô Ký
Xúc,
Tác Ý... Cũng Vậy
Hằng
Chuyển Như Nước Thác
Quả
A La Hớn Không Còn
Giải
Thích Thuật Ngữ:
A
lai da:
Phạn âm dịch là Tàng. Tàng có nghĩa là nhà kho.
A lại da ví cái kho vĩ đại, về không gian không biên giới,
về thời gian tột ba đời; do đó nó có cái tên Tàng thức.
Tàng có ba nghĩa, nếu nhìn qua ba phương diện đó là Năng
tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng. Nhìn bên mặt công dụng
chứa đựng của nhà kho, đó là nghĩa Năng tàng. Nhìn bên
mặt các loại chủng tử bị chứa, đó là nghĩa Sở tàng.
Nhìn bên mặt duy trì sức sống, sự sanh trưởng và phát triển
của sự vật để hình thành, đó là nghĩa Ngã ái chấp tàng.
Dị
thục: Có ba nghĩa:
1.
Dị thời nhi thục
2.
Dị biến nhi thục
3.
Dị loại nhi thục
Chủng
tử của vạn pháp duyên sinh và phát triển hình thành luôn
luôn
theo
luật nhân quả nhất định nghĩa là sự vật từ khi sinh đến
lúc hình thành viên mãn một chỉnh thể phải trải qua thời
gian, đó là nghĩa Dị thời. Từ khi sinh đến lúc hình thành
viên mãn kết cuộc của chu kỳ nhân quả phải trải qua thay
đổi liên tục, sự phủ định không ngừng, đó là nghĩa
Dị biến. Từ khi sinh trong nhân đến khi hình thành ra quả,
khác hẳn nhau, đó là nghĩa Dị loại.
Nhất
thiết chủng: Tên khác của A lại da. Nhìn bên mặt chủng
tử
Sở
tàng. A lại da có tên Nhất thiết chủng.
Thọ:
Sự tiếp nhận, lãnh thọ. Thọ có ba thứ:
1.
Lạc thọ: Tiếp nhận vui.
2.
Khổ thọ: Tiếp nhận khổ.
3.
Xả thọ: Không thọ vui cũng như thọ khổ.
Vô
ký: Tánh không thiện, không ác. Vô ký tánh có hai thứ:
1.
Vô phú vô ký: Tánh vô ký này vốn trong sáng từ bản chất.
2.
Hữu phú vô ký: Hiện tượng nhiễm ô không biểu lộ rõ rệt
nhưng bản chất không hoàn toàn thanh tịnh.
Yếu
Luận
Món
năng biến thứ nhất có ba tên. Nhìn bên công năng chứa đựng
bao hàm thì có tên A lại da. Nhìn bên chủng tử vạn pháp
bị chứa, nó có tên Nhất thiết chủng. Nhìn bên mặt sinh
khởi và phát triển của chủng tử vạn pháp nhất nhất đều
phải theo một chu trình nhân quả, nên nó có tên là Dị thục.
Sự
tích tập, giữ gìn và phát triển của Tàng thức không biết
được. Con người chỉ có thể nghiên cứu, tìm hiểu... mà
thôi. Các nhà đạo học, khoa học... cũng chỉ giải thích,
cắt nghĩa theo kiến giải nhất định của chính mình, ngoại
trừ đức Phật Thích Ca!
Năng
biến thứ nhất, tánh vô phú vô ký, cho nên tất cả pháp
"Sở tàng" trong A lại da vốn không có nhiễm ô.
Năm
món tâm sở: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư tương ứng với
thức A lại da, cũng cùng tánh vô phú vô ký như vậy.
Ba
thọ: Lạc thọ, Khổ thọ và Xả thọ. Thức A lại da thuộc
Xả thọ.
A lại
da thức vừa hằng vừa chuyển giống như dòng nước tuôn
chảy liên tục của thác, xem như cố định nhưng chỉ là
sự nối tiếp liên tục vi mật của những giọt nước tuôn
nhanh. Vũ trụ vĩnh hằng, vật chất vĩnh hằng nhưng hằng
trong chuyển; tuy chuyển mà chuyển trong hằng.
Chứng
quả A la Hớn, cái tên A lại da thức được chuyển đổi.
Quả vị A la Hớn là người xuất ly tam giới, là người hóa
giải, diệt hết Kiến Tư hoặc trong tam giới. Do vậy, qua
cái thấy biết của người A la Hớn, vạn pháp không còn là
nguyên nhân gây ra ô nhiễm làm đau khổ cho ai. Nói cách khác,
người A la Hớn đã thanh tịnh hóa được lục căn và lục
cảnh ở cõi đời rồi!
Bài Thứ
Ba
Hỏi:
Ðã nói về thức năng biến thứ nhất rồi. Vậy thức năng
biến thứ hai sự hiện hữu của nó ra sao?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Thức
Năng Biến Thứ Hai
Tên
Gọi Là Mạt Na
Từ
A Lại Da... Ái A Lại Da
Tính
Tướng Háo Suy Lường
Bốn
Phiền Não Thường Chung
Là
Ngã Si Ngã Kiến
Cùng
Ngã Mạn Ngã Ái
Xúc,
Tác Ý... Tương Ưng
Hữu
Phú Vô Ký Tánh
Khắng
Khít A Lại Da
A
La Hớn, Diệt Ðịnh
Ðấng
Xuất Thế Không Còn
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Mạt
na:
Trung Hoa dịch là ý căn, dựa trên tính "tư lương",
tính "chấp ngã" để rồi sinh ngã si, ngã kiến, ngã mạn,
ngã ái. Mạt na là cơ sở làm chỗ nương tựa để ý thức
phát sinh phân biệt. Vì vậy, có tên "ý căn". Mạt na theo thứ
tự có tên "đệ thất thức", tức là món năng biến thứ
hai vậy.
Suy
lường: Dịch chữ tư lương. Tính suy lường của "tư lương"
khác với tính toán nghĩ ngợi của "tư duy" phân biệt. Suy
lường của "tư lương" như sóng ngầm. Tính toán phân biệt
của "tư duy" như sóng lượn ồ ạt lao xao trên mặt biển.
Si
kiến mạn ái: Thức Mạt na do ngã, vì ngã và cho ngã mà
hiện hữu. Ngoài ngã ra, Mạt na không có tích sự nào khác.
Vì vậy, Mạt na bản chất vốn nhiễm ô rồi.
Hữu
phú vô ký: "Hữu phú" nói lên tính nhiễm ô bản chất
của thức Mạt na.
A
la hớn: Dịch vô sinh, sát tặc, ứng cúng. Ðấy là quả
vị của người đoạn trừ hết Kiến Tư hoặc trong nhân,
là người xuất ly tam giới.
Diệt
định: Nói đủ: Diệt Tận Ðịnh, người tu thiền định,
diệt được sự phân biệt của tiền thức và ý niệm chấp
ngã không còn.
Xuất
thế đạo: Từ A La Hớn trở lên, cứu cánh là quả Vô
Thượng Bồ Ðề.
Yếu
Luận
Mạt
na thức lả năng biến thứ hai trong ba món năng biến và là
thức thứ bảy trong tám thức tâm vương. Mạt na, Phạn âm,
Trung Hoa dịch ý căn. Nó là chỗ nương tựa, cơ sở của ý
thức thứ sáu, phát triển tư duy phân biệt. Vì vậy, tính,
tướng, bản chất của Mạt na là "Tư lương". Mạt na không
có tính độc lập, tự sinh, tự khởi. Sự sinh khởi Mạt
na hoản toàn hệ thuộc A lại da. Mạt na là "ngã ái chấp
tàng" trong ba nghĩa tàng. Mạt na chấp lấy Kiến phần
A lại da, bảo thủ tính chấp của mình khư khư theo "ức thuyết",
không chuẩn đích, không căn cứ và hoàn toàn không chân lý.
Kiến phần cũng như Tướng phần của A lại da đều là pháp
hiện tượng duyên sinh: vũ trụ sơn hà, sum la vạn tượng...
tất cả đều "vô ngã". Thế cho nên, ngã của Mạt na chấp
chỉ là "ngã si", "ngã kiến", "ngã mạn", "ngã ái", không chân
lý, không chút thực tiễn nào. Mạt na chấp ngã là sự vin
chấp nội tại của A lại da: Ngã ái chấp tàng của A lại
da vin chấp
Kiến phần của A lại da để rồi "ức thuyết"
thành "bản ngã" bởi chính mình. Vì vậy, bài tụng Duy thức:
"Từ
A lại da... ái A lại da"
Nên
biết, tám thức tâm vương đều giống nhau. Thức nào cũng
có bốn phần. Ðó là: Kiến phần, Tướng phần, Tự chứng
phần và Chứng tự chứng phần. Bốn phần này, ta mượn một
tỷ dụ để có khái niệm: 1. Xem hoa; 2. Cành hoa; 3. Nhận định
hoa; 4. Ðánh giá, giá trị hoa. Mỗi một thức khi phát khởi
đều phải diễn biến theo một quá trình: Chủ thể nhận
thức, đối tượng nhận thức, nhận thức đối tượng và
đánh giá đối tượng ấy. Ta cũng có thể mượn tỷ dụ
thứ hai: 1. Người viết đơn kiện; 2. Người bị kiện; 3.
Quan toà xử lý kiện; 4. Viện kiểm soát tối cao (cơ sở luật
pháp). Bốn phần liên hợp lại, tác dụng hỗ tương nhau để
hoàn thành kết quả của một "Thức", khi thức đó sinh
khởi.
Mạt
na thức bản chất vốn nhiễm ô, tánh hữu phú vô ký nói
lên sự nhiễm ô chấp ngã, là nguyên nhân sinh ra mọi thứ
phiền não, mọi nỗi thống khổ cho con người trên cõi đời.
Mạt na thức, tánh hữu phú vô ký điều này nói lên rằng
mạt na thức nhiễm ô từ bản chất. Bốn phiền não thường
chung cùng sinh khởi thì hiện tượng cũng chẳng trong sạch
được.
Mạt
na thức cũng như bát thức tâm vương đương nhiên đều có
tương ứng với nhóm tâm sở biến hành: xúc, tác ý v.v...
Ngoài ra còn một số...
Mạt
na thức "tùy sở sinh sở hệ" có nghĩa là Mạt na khắng khít
gắn bó chặt với A lại da. Không có A lại da, không tìm đâu
cho có Mạt na được. Cũng như không có thủ tướng, không
sao có "vệ sĩ" thủ tướng trên cõi đời.
Có
ba hạng người do công phu tu chứng mà loại bỏ Mạt na thức.
Một là người tu chứng đến quả A la hớn. Hai là người
tu chứng Ðịnh Diệt Tận. Ba là Phật Thế Tôn.
"Ngã"
cộng với "ngã sở hữu" là tiêu chuẩn, là thước, để đo,
để đánh giá: tiến trình học đạo, hành đạo và chứng
đạo của người đệ tử Phật, chân chính và không chân
chính vậy.
Bài Thứ
Tư
Hỏi:
Thức
năng biến thứ ba gồm có những gì?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Thức
Năng Biến Thứ Ba
Có
Sáu Thứ Sai Biệt
Tiếp
Nhận Tốt Tiền Cảnh
Thiện,
Bất Thiện Câu Phi
Những
Tâm Sở Biến Hành
Biệt
Cảnh, Thiện, Phiền Não
Tùy
Phiền Não, Bất Ðịnh
Cả
Ba Thọ Tương Ưng
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Sáu
thức sai biệt:
1.
Nhãn
thức: Sự tiếp nhận phân biệt sắc cảnh của mắt
2.
Nhĩ
thức: Sự tiếp nhận phân biệt thanh cảnh của tai
3.
Tỷ
thức: Sự tiếp nhận phân biệt hương cảnh của
mũi
4.
Thiệt
thức: Sự tiếp nhận phân biệt vị cảnh của lưỡi
5.
Thân
thức: Sự tiếp nhận phân biệt xúc cảnh của thân
6.
Ý
thức: Sự tiếp nhận phân biệt pháp cảnh của ý
Câu
phi:
Phi cả hai: Phi thiện, Phi ác. Vô ký. Câu phi là tánh
vô ký.
Tâm
sở:
Tâm sở hữu pháp: Pháp sở hữu của Tâm vương.
Ba
thọ:
Lạc thọ, Khổ thọ, Xả thọ (Xem lại bài thứ hai).
Yếu
luận
Năng
biến thứ ba gồm sáu thức, gọi bằng một tên chung: Tiền
lục thức.
Thức
nương căn mà phát khởi, gá cảnh sinh phân biệt;
vì vậy, căn, cảnh, thức không có lúc rời
nhau.
Nhãn
căn
sinh nhãn thức phân biệt sắc cảnh.
Nhĩ
căn
sinh nhĩ thức phân biệt thanh cảnh.
Tỷ
căn
sinh tỷ thức phân biệt hương cảnh.
Thiệt
căn
sinh thiệt thức phân biệt vị cảnh.
Thân
căn
sinh thân thức phân biệt xúc cảnh.
Ý
căn
sinh ý thức phân biệt pháp cảnh.
Thức
đứng trung gian giữa Căn và Cảnh. Sự liên hoàn giữa căn,
cảnh,
thức
chi phối bao quát hết mọi vấn đề trong vũ trụ nhân sinh.
Các
nhà Phật học thông thường, người ta gọi sự liên hoản
của tam đầu chế này là: căn, trần, thức. Ở đây,
bỉ nhân tôi không nói theo ngôn từ mà nhiều người trước
đã dùng, nhằm lưu ý cho ngưởi học Phật: Rằng hiện tượng
sum la trước mắt không hề có chất nhiễm ô, càng không hề
làm đau khổ hay là nguyên nhân đau khổ cho ai. Qua cái thấy
của nguời nhiễm nặng "vi rút" Ðại thừa; sự liên hoàn
đó phải được nói: căn, cảnh, thức.
Ði
sâu vào Duy thức học, để minh chứng tính duyên sinh, vô ngã,
căn
và thức còn nhiều lắm vấn đề phải... biết.
Y,
phát, thuộc, trợ, như.
Ðó
cũng là những yếu tố cấu tạo, duyên sinh ra thức.
"Nhãn
thức cửu duyên sinh
Nhĩ
thức duy tùng bát
Tỷ,
thiệt, thân tam thất
Hậu
tam, ngũ tam tứ".
Nhãn
thức sinh cần chín điều kiện, thiếu một, nhãn thức không
sinh khởi được. Ðó là:
Không,
minh, căn, cảnh, tác ý, phân biệt, nhiễm tịnh, căn bản,
chủng tử.
Nhĩ
thức cần tám. Bỏ món minh.
Tỷ,
thiệt, thân, ba thức này cần bảy. Bỏ không và
minh.
Ý
thức cần
năm. Bỏ không, minh, phân biệt, nhiễm tịnh.
Mạt
na cần
ba. Bỏ không, minh, căn, cảnh, phân biệt, nhiễm
tịnh.
A lại
da cần bốn. Bỏ không, minh, căn, nhiễm tịnh, căn
bản.
Tiền
lục thức (năng biến thứ ba) đủ cả ba tánh: thiện, ác
và vô ký, tương ứng hết năm mươi mốt tâm sở.
Tâm
sở có sáu loại, gồm năm mươi mốt món:
- Biến
hành : 5
- Biệt
cảnh : 5
- Thiện
: 11
- Phiền
não căn bản : 6
- Tùy
phiền não : 20
- Bất
định : 4
Tóm
lại,
ngã tướng là pháp đối tượng sở biến. Bát
thức tâm vương (ba món năng biến) là chủ thể năng biến.
Bát
thức tâm vương tự ?biến" ra ngã tướng, tự đặt niềm
tin, tự tôn thờ, thậm chí lạy lục, khấn khứa van xin, nguyện
cầu với "ông" ngã tướng do trí tưởng tượng tạo
ra không dựa vào chân lý.
Nghiên
cứu ba món năng biến, thấy rõ sự tương quan tác động của
tâm vương, tâm sở hữu pháp, sắc pháp, tâm bất tương ưng
hành và vô vi pháp. Người ta đủ sức kết luận:
"Nhất
thiết pháp vô ngã"
"Hiện
tượng vạn pháp duyên sinh tồn tại khách quan".
Bài Thứ
Năm
Hỏi:
Ðã
nêu tổng quát sáu loại Tâm sở tương ứng với năng biến
thứ ba. Nay cần biết tánh sai biệt của chúng như thế nào?
Bài
Tụng Duy Thức Ðáp:
Trước
Hết Tâm Sở Biến Hành
Xúc,
Tác Ý, Thọ, Tưởng, Tư
Kế
Biệt Cảnh: Có Dục
Thắng
Giải, Niệm, Ðịnh, Tuệ
Ðộc
Lập Trước Cảnh Duyên
Thiện:
Có Tín, Tàm, Quí
Vô
Tham, Vô Sân, Vô Si
Cần
An, Bất Phóng Dật
Hành
Xả Và Bất Hại
Phiền
Não: Có Tham, Sân
Si,
Mạn, Nghi, Ác Kiến
Tùy
Phiền Não: Là Phẩn
Hận,
Phú, Não, Tật Xan,
Cuống
Siểm Với Hại Kiêu,
Vô
Tàm Và Vô Quí
Ðiệu
Cử Với Hôn Trầm,
Bất
Tín Cùng Giải Ðải
Phóng
Dật Với Thất Niệm
Tán
Loạn, Bất Chánh Tri
Bất
Ðịnh: Có Hối, Miên
Tầm,
Từ: Ðều Hai Mặt
Giải
Thích Thuật Ngữ:
Tâm
sở:
Nói đủ Tâm sở hữu pháp. Pháp sở hữu của
Tâm vương, có ba nghĩa:
1.
Hằng y tâm khởi
2.
Dữ tâm tương ứng.
3.
Hệ thuộc ư tâm
Biến
hành: Phổ biến khắp bốn lãnh vực, gọi là Biến tứ
nhất thiết:
1.
Nhất thiết thức
2.
Nhất thiết thời
3.
Nhất thiết điạ
4.
Nhất thiết tánh
Biệt
cảnh: Hoàn cảnh riêng biệt, môi trường độc lập: Khi
một tâm sở sinh khởi, trong hoàn cảnh riêng biệt, các tâm
sở còn lại không có tương quan.
Thiện:
"Tăng ích". Ðem lại nhiều điều thuận lợi cho việc tu tâm
dưỡng tánh. Tăng ích trong việc lợi mình, lợi người, lợi
cho tất cả...
Phiền
não: Phiền: Sự nóng nảy, bực tức, khiến tâm thô
tháo, ấm ức, không an. Não: Sự buồn bực, sầu lo ray
rứt, âm ỉ khôn nguôi. Phiền não có hai loại:
1.
Căn bản phiền não: Phiền não gốc rễ, có sáu món.
2.
Chi mạt phiền não: Phiền não nhánh lá chồi tược, có hai
mươi món.
Bất
định: Loại tâm sở bất định khi sinh khởi, phải xem
xét kết quả rồi sau mới xác định tính chất thiện hay
ác.
Năm
tâm sở biến hành:
1.
Xúc: Sự giao tiếp giữa chủ thể nhận thức và đối tượng
nhận thức, giữa năng tri và sở tri.
2.
Tác ý: Ðánh thức khởi tâm, dẫn tâm đến cảnh, ghi nhận
vào tâm.
3.
Thọ: Lãnh nạp. Lãnh nạp vui, khổ hoặc vô ký
4.
Tưởng: Hồi tưởng nhớ cảnh đã qua, tưởng tượng cảnh
chưa xảy đến; sau đó giả đặt danh ngôn.
5.
Tư: Suy tư tính toán, khiến tâm hoạt động không ngừng...
Năm
tâm sở biệt cảnh:
1.
Dục: Mong muốn, hy vọng. Nếu hy vọng Lạc cảnh thì dục
là chỗ dựa cho cần.
2.
Thắng giải: Nhận định chắc chắn không gì lay chuyển.
3.
Niệm: Nhớ nghĩ cảnh từng quen, đã gặp, ghi nhớ không
sai, làm chỗ dựa cho định.
4.
Ðịnh: Ðối cảnh sở quán, tâm chuyên chú không loạn,
lảm chỗ dựa cho tuệ.
5.
Tuệ: Chọn lựa cảnh sở quán đúng. Dứt khoát trong sự
đoạn nghi.
Mười
một món thiện:
1.
Tín: Ðức tin: Ðối với thật, đức, năng khởi tâm ham
mộ, với chân, thiện, mỹ hoan hỉ tiếp thu. Sâu sắc hơn:
tín tự, tín tha, tín nhân, tín quả, tín sự, tín lý, để
tâm cầu tiến. Ðối trị tâm bất tín.
2.
Tàm: Tự biết xấu hổ khi làm việc sai quấy. Ðối trị
tánh vô liêm sĩ.
3.
Quí: Tự tôn nhân phẩm, khinh rẻ bạo ác bất lương, không
làm tội lỗi.
4.
Vô tham: Ðối với tài, sắc, danh, thực, .... là nhân khổ
trong tam giới, không lưu luyến, không dính mắc... Ðối trị
tâm tham.
5.
Vô sân: Không giận dữ, bực tức. Dứt khổ nhân, khổ
quả. Ðối trị sân nhuế.
6.
Vô si: Ðối với chân như, vô minh: hiểu rõ, không mù mờ
lẫn lộn. Bản thể, hiện tượng: nhận thức thấu triệt
căn nguyên. Ðối trị tâm tánh ngu si, ám độn.
7.
Cần: Siêng năng tận tụy. Bên mặt thuần thiện, cần
tức là tinh tấn.
8.
Kinh an: Nhẹ nhàng tâm tưởng, thư thái thần trí. Ðối
trị hôn trầm.
9.
Bất phóng dật: Thúc liễm thân, khẩu, ý trong sáng. Giảm
ác, tăng thiện. Ðối trị phóng dật.
10.
Hành xả: Thân, khẩu, ý tích cực trong việc hành thiện,
lợi ích chúng sinh. Làm mà không chấp, không hy vọng nghĩa
trả, ơn đền. Khác với xả của "xả thọ".
11.
Bất hại: Không làm đau khổ hữu tình. Ðối trị tâm
độc ác, hại người.
Sáu
món phiền não căn bản:
1.
Tham: Ðam mê luyến ái ngũ dục. Ôm lấy nhân khổ để
rồi thọ lấy quả khổ trong tam giới. Ðối lập tánh vô
tham.
2.
Sân: Bất bình, bất mãn trong sự tham cầu ngũ dục, thường
khởi ác nghiệp qua thân, khẩu, ý. Chướng ngại vô sân.
3.
Si: Mê muội sự lý, mê muội chân vọng, mê muội chánh
tà, hay tạo ác nhân để thọ khổ quả đời sau. Si là tên
khác của vô minh. Chướng ngại vô si.
4.
Mạn: Tự thị, tự tôn đối với người khác, thường
kênh kiệu, ngạo nghễ, tâm thường bất an. Chướng ngại
ôn nhu, nhân hậu.
5.
Nghi: Do dự không quyết đoán đối với sự lý, chánh tà,
chân ngụy. Cản trở cơ hội tốt trên đường thăng tiến.
Chướng ngại tính quyết đoán.
6.
Ác kiến: Ðối với sự thật, với chân lý; nhận thức
lệch lạc, sai lầm, thường gây tạo khổ nhân, gánh chịu
khổ quả. Chướng ngại Thiện kiến. Ác kiến có năm hình
thức: Thân kiến, Biên kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và
GiớI cấm thủ kiến.
Hai
mươi món phiền não chi mạt:
1.
Phẫn: Ðối cảnh không vừa lòng, nổi cơn tức giận hay khởi
ác tâm, biểu lộ qua hảnh động: đánh đập gậy gộc. Chướng
ngại tánh bất phẫn. Họ hàng dòng dõi của sân.
2.
Hận: Phẫn nộ khí còn vương sót lại, ôm ác tâm không buông
bỏ, thường kết oán cừu. Chướng tánh bất hận.
3.
Phú: Vì lợi dưỡng che giấu tội ác, lòng thường bị ray
rứt không an. Chướng ngại tánh cương trực bất phú. Họ
hàng của tham.
4.
Não: Phẫn hận còn sót lại trong tâm, thường ray rứt nội
tâm, đay nghiến ra thái độ. Chướng ngại tính vô não. Họ
hàng dòng dõi của sân.
5.
Tật: Danh lợi muốn ôm hết về phần mình, không cho người
khác có; ghét ai được có như mình, buồn lo ray rứt. Chướng
ngại tính bất tật. Dòng họ nhà sân.
6.
Xan: Keo kiệt pháp tài, không có tâm giúp đỡ, tích trữ, tính
đê hèn. Chướng ngại tính vô xan. Họ hàng dòng dõi của
tham.
7.
Cuống: Vì danh dự lợi dưỡng, dối hiện đức độ, ngụy
trang hiền thiện để phỉnh gạt người. Tâm ôm chước quỉ,
mưu mô, sống đời tà mạn. Họ hàng thân tộc tham và si.
8.
Siểm: Nói tâng bốc, khen, nịnh hót để được lòng người,
vụ lợi về mình, sống với tâm hồn ti tiện. Chướng ngại
tính bất siểm. Dòng họ gia phả với tham và si.
9.
Hại: Không có lòng thương xót chúng sinh hữu tình, ngược
lại dụng tâm gây đau khổ, hay ôm lòng bức não. Chướng
tính bất hại. Dòng dõi họ hàng của sân.
10.
Kiêu: Tự đắc, tự mãn với thành công của mình, thường
ôm tính kênh kiệu xen lẫn đau khổ cô đơn. Chướng tính
vô kiêu. Họ hàng dòng dõi của tham.
11.
Vô tàm: Bất cố liêm sĩ. Khinh cự hiền thiện. Làm điều
ác không hổ lương tâm. Chướng ngại đức tàm.
12.
Vô quý: Bất cố liêm sĩ. Khinh cự hiền thiện. Làm điều
phi pháp bất thiện giữa bạch nhật thanh thiên, không đếm
xỉa dư luận miệng thế, tăng trưởng hành vi tội lỗi. Chướng
đức quí.
13.
Ðiệu cử: Tâm đối cảnh dao động. Chướng xa ma tha.
14.
Hôn trầm: Tâm đối cảnh lờ mờ, nửa như mơ, nửa như thật.
Chướng khinh an. Chướng cảnh sở quán (tỳ bát xá na).
15.
Bất tín: Ðối với thực, đức, năng, với tam bảo không
vui nhận. Tâm uế nhiễm, nguyên nhân của đọa lạc. Chướng
tâm thanh tịnh.
16.
Giải đải: Lười biếng việc đoạn ác, tu thiện. Nuôi dưỡng
mầm nhiễm ô đọa lạc. Chướng đức tinh tấn.
17.
Phóng dật: Với pháp nhiễm, không lánh, không ngừa; với pháp
tịnh, không để tâm tu tập. Buông xuôi thả lỏng tam nghiệp.
Nguyên nhân của sự tăng ác, tổn thiện. Chướng bất phóng
dật.
18.
Thất niệm: Cảnh sở duyên không ghi nhận, không nhớ rõ.
Lảm trở ngại chánh niệm, làm cơ sở cho tán loạn phát sinh.
19.
Tán loạn: Tâm tán duyên nhiều cảnh trong một lúc. Hậu quả
của thất niệm. Chướng chánh niệm. Chướng tam ma bát đề
và thiền na.
20.
Bất chánh tri: Ðối với cảnh sở quán hiểu không đúng.
Di truyền của si còn trong huyết thống. Chướng chánh tri.
Bốn
món bất định:
1.
Hối: Nhớ việc làm đã qua, không bằng lòng với việc
làm đó sinh áy náy trong tâm; luận Ðại thừa Bách pháp
gọi là - tác. Chướng Xa ma tha.
2.
Miên: Thân không tự tại, tâm không tỉnh táo. Chướng
ngại chỉ, quán.
3.
Tầm: Tìm kiếm khiến tâm lông bông, không điểm tựa,
nghĩ đó, nghĩ đây.... Chướng chỉ, quán.
4.
Từ: Tìm kiếm trong sự hồi tưởng, cũng khiến tâm không
điểm tựa nhưng trầm tĩnh hơn "Tầm". Chướng chỉ, quán.
Yếu
Luận
Ðọc
năm mươi mốt Tâm sở, hiểu kỹ tám thức Tâm vương, ta có
thể nói: Duy thức học là môn Tâm lý học Phật giáo, tưởng
không có gì cần phải lý giải. Song Tâm lý học Phật giáo
khác với Tâm lý học của trường phái Tâm lý học xã hội,
ở mục đích đến cũng như trên lộ trình đi. Mục đích
đến của Tâm lý học Phật giáo là Bồ đề, Niết-bàn, xa
ma tha, tỳ bát xát na là lộ trình phương tiện để đi. Tâm
lý học xã hội, chú trọng nghiên cứu hiện tượng sinh khởi
của tâm để hy vọng đúc kết ra một "công thức" nào đó,
hướng sự vui mừng, buồn giận, thương ghét... vào một khuôn
khổ, một nề nếp, một qui ước cùa xã hội nào đó mà
xã hội đó chấp nhận được. Thành quả tột đỉnh cao của
nó không vượt khỏi phạm vi lý tưởng: ăn, mặc, ở, ngủ,
..., thở, cho cuộc sống bình thường thậm chí tầm thường.
Tâm
vương và Tâm sở, sự cấu tạo và tương quan của chúng,
tưởng tượng giống sự cấu tạo của một "triều đình".
Tâm vương là "vua". Các loại Tâm sở là ?quần thần". Quần
thần có nhóm trung, nhóm nịnh, nhóm ?ba phải", nhóm kề cận
sát cánh hầu hạ đỡ đần. Tâm sở biến hành là loại kề
cận đỡ đần sát cánh ấy. Tâm sở bất định thì ai biết
được nó thuộc phe nào! Loại Tâm sở thiện thì rõ là ích
quốc lợi dân. Nhóm phiền não dù đầu đảng hay lâu la ai
cũng biết, đó là bọn khuynh gia đảo quốc.
Nhóm
Tâm sở biệt cảnh chỉ là hạng cầm cờ chạy hiệu, có,
thì "vải rách đỡ nóng tay"; không, cũng chẳng ảnh hưởng
đến sự phế hưng tồn vong của một chế độ.
Nghiên
cứu Duy Thức Luận ta thấy, "Tâm sở hữu pháp" quyết định
hành vi tạo tác của con người.
Nghiên
cứu Duy thức luận ta sẽ thấy, "Thân sở hữu pháp" nhiều
hơn con số 51 của Tâm sở hữu pháp ấy nhiều, chỉ có điều
chưa ai có khả năng khoanh vùng "dục vọng" để tổng kê con
số vật chất Thân Sở hữu mà con người yêu cầu "không
biên giới" ấy. Là đệ tử Phật, nên lưu ý điểm này! Hằng
y tâm khởi, dữ tâm tương ưng, hệ thuộc ư tâm là nghiệp
vụ của Tâm sở.
Do
vậy, con người vui hay khổ, tùy thuộc có tỉnh thức, có
chánh niệm, có quán chiếu nội tâm nhiều hay ít của chính
mình. 