THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Phật Học Cơ Bản
Phật Học Phổ Thông
Phật Học
Tâm Lý Học Phật Giáo
Triết Học Tánh Không

 
 
.
DUY THỨC HỌC YẾU LUẬN
Hòa Thượng Thích Từ Thông 
Huỳnh Mai Tịnh Thất - Sàigòn 1992 - Phật Lịch 2536
Bài Thứ Mười Một
Bát Thức Quy Củ Tụng
(Bài tụng luận về Quy củ của tám thức)
Quy củ là hai thứ dụng cụ để người ta vẽ ra hình tròn (compa) và góc vuông (êke) của đồ vật dụng. Nghĩa rộng của nó là chuẩn đích, mẫu mực, trong phạm vi khuôn khổ nào đó.
Bát thức Quy Củ nêu ra một số chuẩn mực, phạm vi hoạt động của bát thức tâm vương, gọi là: Bát thức quy củ. Văn thể cấu tạo hình thức "bài tụng" cho nên gọi: Bát thức quy củ tụng.
Nói về đệ bát thức có ba bài tụng, mười hai câu. Ðệ thất thức, đệ lục thức và tiền ngũ thức cũng vậy. Mỗi thức đều giống nhau, chỉ lưu ý năm thức trước (tiền ngũ thức), tính chất hoạt động giống nhau, cho nên tiền ngũ thức mà cũng chỉ có ba bài tụng, mười hai câu. Trước hết, nghiên cứu về Ðệ bát thức.

Ðệ Bát Thức Tụng

Tánh Duy Vô Phú Hữu Biến Hành
Giới Ðịa Tùy Tha Nghiệp Lực Sinh
Nhị Thừa Bất Liễu Nhân Mê Chấp
Do Thử Năng Hưng Luận Chủ Tranh
Ý nghĩa rằng: Ðệ bát thức tính của nó vô phú vô ký. Nó tương ứng với năm món tâm sở biến hành, vì tâm sở biến hành cũng cùng tính vô phú vô ký.
Thọ sinh ở tam giới hay ở cửu địa, đệ bát thức không có khả năng tạo nghiệp nhân để thọ lấy quả mà nó hoàn toàn do "tha nghiệp lực" dẫn dắt, thúc đẩy nó thọ sinh. Tha nghiệp lực chỉ cho năng lực tạo nghiệp của đệ lục ý thức. Trong tám thức tâm vương, ý thức là "một chàng lanh lợi, đáng kinh nghi"...
Hàng Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) không biết có đệ bát thức, họ chỉ biết có sáu thức. Trình độ hiểu biết của họ ngang với những nhà Tâm lý học, chủ trương: ngoài năm giác quan biểu hiện dễ biết, còn một giác quan khó nhận, gọi là "tiềm thức", tức đệ lục ý thức.
Do vậy, Duy thức học, luận chủ phải tranh luận, chứng minh rằng: ngoài sáu giác quan, con người còn phải có "đệ thất", "đệ bát thức" nữa, mới đủ yếu tố cho sự sống còn; chẳng hạn lúc ngủ không chiêm bao...., khi người nhập định "diệt tận", nhập định vô tưởng và lúc bị chết ngất... Duy trì sinh mạng khi con người không còn ý thức ấy, rõ ràng là công lao của đệ thất và đệ bát thức A lại da.

***

Hạo Hạo Tam Tàng Bất Khả Cùng
Uyên Thâm Thất Lãng Cảnh Vi Phong
Thọ Huân Trì Chủng Căn Thân Khí
Khứ Hậu Lai Tiên Tác Chủ Ông
Ý nghĩa rằng: Ðệ bát A lại da thức có ba nghĩaTàng: Năng tàng, Sở tàng và Ngã ái chấp tàng, thẩm sâu, mênh mông, diệu vợi. Suy tư nghĩ ngợi giản đơn của những bộ óc đơn giản, không sao hiểu thấu triệt được.
Ðệ bát thức ví như cái duềnh, cái vực vừa lớn vừa sâu. Bảy thức trước nương nơi đệ bát thức mà sinh tồn, hiện hữu thi thố tác dụng của mình, giống như sóng mòi do lực gió, gió thổi sóng lao xao. Sóng xao, gió thổi, sóng xao... không rời ngoài cái vực kia mà có.
Ðệ bát thức là cơ sở, là kho tàng tiếp thu và huân tập chủng tử vạn pháp. Từ chủng tử duyên khởi mà hiện hành động vật căn thân hữu tình, khoáng vật, thực vật thế giới vô tình. Tất cả đều nằm gọn trong đệ bát A lại da.
Ðệ bát thức A lại da nhìn về mặt sinh diệt: Sinh thì A lại da sinh trước, khi diệt A lại da diệt sau cùng. A lại da là ông chủ đối với tiền thất thức bên hữu tình. A lại da cũng là ông chủ đối với vạn pháp sinh sinh hóa hóa vô tình vậy.
Bất Ðộng Ðịa Tiền Tài Xả Tàng
Kim Cang Ðạo Hậu Dị Thục Không
Ðại Viên Vô Cãu Ðồng Thời Phát
Phổ Chiếu Thập Phương Sát Trần Trung
Ý nghĩa rằng: A lại da (tàng thức) Bồ tát tu hành đến đệ bát Bất động địa, không còn gọi A lại da nữa. Bởi lẽ, A lại da là cái kho chứa đựng chủng tử hỗn hợp, tốt có mà xấu cũng nhiều. Bồ tát tu tập đến đệ bát địa "Bất động" rồi thì chủng tử tạp nhiễm phiền não đã được thanh lọc hết. Vả lại, nói về quá trình "Bất động", hàng Bồ tát đã bước vào "đệ tam A tăng kỳ kiếp" cho nên cái thức "hỗn hợp" ấy, xả bỏ là lý đương nhiên để thay vào đó cái tên: Dị thục thức.
Ðến khi chứng địa vị "Ðẳng Giác" tên "Dị thục thức" cũng không còn lý do tồn tại, bởi vì vấn đề nhân quả đến đây không còn cần thiết nữa.
Sau địa vị Ðẳng Giác, đệ bát thức được cái tên: Vô cấu thức và chuyển Vô cấu thức thành Trí đại viên cảnh, tức là thứ trí tròn trịa vô song, trí lớn lao không bờ mé, trong sáng như một thứ kính tuyệt trần.
... Và Ðại viên cảnh trí ấy soi sáng khắp hằng hà sa số, bất khả thuyết, bất khả thuyết A tăng kỳ thế giới trong mười phương.

Bài Thứ Mười Hai
Ðệ Thất Thức Tụng (Mạt Na)
Ðối Chất Hữu Phú Thông Tình Bổn
Tùy Duyên Chấp Ngã Lượng Vi Phi
Bát Ðại Biến Hành Biệt Cảnh Tuệ
Tham Si Ngã Kiến Mạn Tương Tùy
Ý nghĩa rằng: Ðệ thất Mạt na thức là thức trừu tượng. Nhận biết Mạt na thức chỉ dựa trên ý niệm và công năng chấp ngã. Tự thân Mạt na thức chính là công năng chấp ngã ấy. Thế cho nên, cảnh của Mạt na cũng chỉ là cảnh của "ý niệm", của một bóng dáng "mang theo", của một "chất" mà "chất" ấy cũng là chất "ấn tượng" của ý niệm. Vì vậy, gọi cảnh ấy là "đới chất" cảnh.
Ðệ thất Mạt na thức vốn trừu tượng, duyên lấy "kiến phần" của A lại da thức cũng trừu tượng, nảy sinh ý niệm chấp ngã trừu tượng, cho nên gọi là "thông tình bổn". Do đó, ba cảnh, đệ thất thức duyên đới chất cành. Ba tánh, nó thuộc tánh hữu phú vô ký bởi tính chấp ngã ấy.
Ðối với ba lượng, đệ thất thức phi lượng, dù nó chấp ngã bên con người hữu tình hay bên sự vật vô tình, tất cả đều là chấp sai lầm: phi!

Nó tương ứng với năm tâm sở "biến hành", tám món đại tùy phiền não là: Ðiệu cử, hôn trầm v.v... và một "cô Tuệ" trong loại tâm sở "biệt cảnh".

Ðệ thất thức luôn luôn sẵn có tính nhiễm ô, bởi bản chất "hữu phú vô ký" của nó. Cho nên, đệ thất thức xuất đầu lộ diện khi nào: ngã tham, ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái xuất hiện. Nói ngược lại: ngã tham, ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái chính là Ðệ thất thức thể hiện nguyên hình, mà không sao tách chúng rời ra.

Hằng Thẩm Tư Lương Ngã Tướng Tùy
Hữu Tình Nhật Dạ Trấn Hôn Mê
Tứ Hoặc Bát Ðại Tương Ưng Khởi
Lục Chuyển Hô Vi Nhiễm Tịnh Y
Ý nghĩa rằng: Như trên ta đã biết, đệ thất thức tức là Ngã tướng, ý niệm Chấp ngã tướng tức là đệ thất thức, cho nên nó "Tư lương ngã tướng", có hai đặc tính: HằngThẩm. Ngày nào một hữu tình chúng sinh còn sinh sống, ngày nào một vô tình chúng sinh còn hiện hữu thì thường trực có sự hiện hữu của thức Mạt na. Vì vậy, nó có đặc tính Hằng. Ðã là Chấp ngã thì lúc nào cũng "có ý" tồn sinh "muốn" duy trì sự hiện hữu của mình. Do đó, nó có đặc tính thẩm. Tuy nhiên, nó chỉ hằng, thẩm, tư lương trong phạm vi ngã tướng mà thôi. Nó không có một chức năng nào khác. 
Do vậy, Mạt na thức chỉ là khối u mê to lớn đè nặng trấn áp tâm tánh chúng hữu tình. Nó khiến hữu tình mất đi tính sáng suốt, khó mà nhận thức được chân lý.
Mạt na thường tương ứng với bốn thứ chấp sai lầm: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái cùng với tám món đại tùy phiền não trong những lúc nó hiện hành.

Do vậy, đối với tiền lục thức nó là chỗ chứa chấp, chỗ tích lũy tịnh pháp thì ít mà nhiễm ô thì nhiều.

***

Cực Hỉ Tâm Sơ Bình Ðẳng Tính
Vô Công Dụng Hạnh Ngã Hằng Tồi
Như Lai Hiện Khởi Tha Thọ Dụng
Thập Ðịa Bồ Tát Sơ Bị Cơ
Ý nghĩa rằng: Trên bước đường tu tập, Bồ tát bước sang đệ nhị A tăng kỳ kiếp, ở vào sơ tâm Hoan hỉ địa thì chế ngự ý niệm Chấp ngã, chuyển Mạt na thức thành trí Bình đẳng tính, nhìn hiện tượng sự vật với cái thấy Nhất chân bình đẳng.
Ðến đệ bát Bất Ðộng địa, ý niệm Chấp ngã hoàn toàn trong sáng mà không còn phải dụng tâm lưu ý diệt trừ: "Vô công dụng hạnh ngã hằng tồi"! 
Xưa kia, ở nơi nhân chấp ngã, ích kỷ, bảo thủ bao nhiêu, khi chuyển hóa cải tạo, bồi dưỡng, xây dựng được nó, thì nó trở thành trí Bình đẳng, thành Tha thọ dụng thân của một vị Như Lai Phật

... Và Thân thọ dụng đó trở thành đấng bổn sư của hàng thập địa bồ tát.

Bài Thứ Mười Ba
Ðệ Lục Thứt Tụng
Tam Tánh Tam Lương Thông Tam Cảnh
Tam Giới Luân Thời Dị Khả Tri
Tương Ưng Tâm Sở Ngũ Thập Nhất
Thiện Ác Lâm Thời Biệt Phối Chi.
Ý nghĩa rằng: Với đệ lục thức, nói về cảnh có ba: Tánh cảnh, đới chất cảnh và độc ảnh cảnh. Nói về lượng có ba: Hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng. Nói về tánh có ba: thiện, ác và vô ký. Ðệ lục ý thức có đủ hết những điều đó. Do vậy, tầm hoạt động của đệ lục ý thức có đủ hết những điều đó. Do vậy, tầm hoạt động của đệ lục ý thức lanh lợi, nhạy bén và ưu việt hết mọi mặt so với bát thức tâm vương.
Ý niệm tư duy của ý thức, dùng chánh niệm quan sát phân tích, người ta rất dễ biết cái quả của nó sẽ đưa đảy vào cõi nào trong ba cõi: Dục, sắcvô sắc.
Ý thức tương ứng toàn bộ tâm sở hữu pháp 51 món.

Hoàn cảnh môi trường thiện đến thì ý thức duyên theo cảnh thiện. Ngược lại nó có thể là ác, thậm chí là cực ác, nếu có môi trường có cơ hội phù hợp theo chiều hướng đó.

***

Tánh Giới Thọ Tam Hằng Chuyển Dịch
Căn Tùy Tín Ðẳng Tổng Tương Liên
Ðộng Thân Phát Ngữ Ðộc Vi Tói
Dẫn Mãn Năng Chiêu Nghiệp Lực Khiên
Ý nghĩa rằng: Ðối với ba tánh: Thiện, ác, vô ký, với ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới, với ba thọ: lạc thọ, khổ thọ và xả thọ ý thức tiếp nhận thay đổi liên tục theo hoản cảnh mà không cần phải có điều kiện hay lý do...
.... Và đệ lục ý thức sinh hoạt gắn liền với căn bản phiền não, chi mạt phiền não, thiện, bất định tâm sở v.v... 51 món.
Hành động thiện hay ác của con người biểu lộ qua thân, lời nói lành hay dữ thổ lộ ra miệng đều do ý thức chủ động, đóng vai trò chánh. Ðương nhiên có sự tham gia đóng góp gián tiếp của nhãn, nhỉ v.v...

Ðệ lục ý thức có khả năng tạo nghiệp nhân, tam giới, lục đạo và có khả năng hoàn chỉnh nghiệp nhân ấy, dẫn dắt hữu tình luân chuyển trong tam giới lục đạo...

***

Phát Khởi Sơ Tâm Hoan Hỉ Ðịa
Câu Sanh Do Tự Hiện Triền Miên
Viễn Hành Ðịa Hậu Thuần Vô Lậu
Quán Sát Viên Minh Chiếu Ðại Thiên
Ý nghĩa rằng: Hoạt động của đệ lục ý thức thường gắn liền với hai thứ phiền não là: "câu sanh", và "phân biệt". Vì vậy, Bồ tát tu tập hết A tăng kỳ kiếp thứ nhất, chỉ trừ bỏ "phân biệt phiền não" mà thôi. Nên nhớ: Phân biệt phiền não tức Kiến hoặc.
Ở đây cho ta thấy: Sơ tâm Hoan hỉ địa, tức là địa vị kiến đạo mà "câu sanh phiền não" hãy còn "ngủ im" chờ cơ hội ngóc đầu quấy rối. Vượt qua địa vị viễn hành, bước sang A tăng kỳ kiếp thứ ba "Tư hoặc" tức "câu sanh phiền não" mới hoàn toàn vắng bóng. Bấy giờ Bồ tát không còn bị giặc kiến tư hoặc khuấy rầy, mà thọ dụng sự an lành thanh thoát vô lậu.
... Từ đây, đệ lục ý thức chuyển đổi thành trí diệu quán sát, sáng soi viên mãn khắp thế giới ba ngàn.

Bài Thứ Mười Bốn
Tiền Ngũ Thức Tụng
Tánh Cảnh Hiện Lượng Thông Tam Tánh
Nhãn Nhỉ Thân Tam Nhị Ðịa Cư
Biến Hành Biệt Cảnh Thiện Thập Nhất
Trung Nhị Ðại Bát Tham Sân Si
Ý nghĩa rằng: Năm thức trước (tiền ngũ thức) với ba cảnh, chỉ duyên với "tánh cảnh", tức là cảnh có thực tánh do sắc, thanh, hương, vị, xúc; địa, thủy, hỏa, phong, không, hợp thành một chỉnh thể vật chất nào đó. Về lượng, nó chỉ là Hiện lượng, nghĩa là ngũ thức xúc cảnh, không có tư duy nhận thức. Về tánh, môi trường, bối cảnh dù thiện dù  ác hay vô ký, tiền ngũ thức vẫn tiếp nhận hồn nhiên, bình đẳng không có vấn đề chọn lọc.
Là người dục giới, sinh hoạt trong phạm vi dục giới thì tiền ngũ thức mới đủ duyên sinh khởi đầy đủ. Nếu ai đó tu định Sơ thiền ở "Nhị địa" (Ly sinh hỉ lạc địa) thì tỷ thức và thiệt thức không có điều kiện để sinh khởi hiện hành, vì ở cảnh giới này hành giả thọ dụng Thiền duyệt thực mà không sử dụng đoàn thực, cho nên thiệt thức và tỷ thức không đủ duyên sinh khởi.
Tiền ngũ thức tương ứng với các món tâm sở: Biến hành, Biệt cảnh, Thiện, Trung tùy, Ðại tùy và Phiền não căn bản: Tham, sân, si... Tóm lại, Tiền ngũ thức luôn luôn hợp tác với đệ lục ý thức qua cái từ Ngũ câu ý thức, gây ra nhiều nguyên nhân buồn bực khổ đau. Ðó là lý do nó tương ứng với nhiều nhóm tâm sở ấy.

***

Ngũ Thức Ðồng Y Tịnh Sắc Căn
Cửu Duyên Bát Thất Hảo Tương Lân
Hiệp Tam Ly Nhị Quan Trần Thế
Ngu Giả Nan Phân Thức Dữ Căn
Ý nghĩa rằng: Căn có phù trần căn, tức là con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, sắc thân thô phù hiển lộ ai cũng nhìn thấy được. Còn một thứ căn được gọi là Tịnh sắc các bác sĩ nói chung, bác sĩ nhãn khoa, răng hàm mặt, bác sĩ tai mũi họng, biết được một phần tinh tế hơn người thường. Người thường có người suốt đời không hề để ý tìm biết về thứ căn này. Không thể cắt nghĩa, giải thích chính xác Tịnh sắc căn: Rằng cái gì làm cho thấy, chổ nào làm cho nghe... mà chỉ có thể nói: Như thị... như thị.
Năm thức, nương tịnh sắc căn mà phát sinh. Phù trần căn chỉ là một số dữ kiện: địa, thủy, hỏa, phong... Kết hợp thành một "thắng nhân" của thức.
Thức phát khởi, sinh công dụng còn phải nhờ đến "thắng duyên" nữa. Do vậy, nhãn thức cần hội đủ chín duyên mới sinh được cái thấy, đó là: Không, minh, căn, cảnh, tác ý, phân biệt, nhiễm tịnh, căn bản chủng tử. Nhỉ thức, bỏ bớt một, bỏ minh, còn lại tám. Tỷ, Thiệt, Thân thức, bỏ hai, không, minh, còn bảy. Ðó là những điều kiện không thể thiếu để cho tiền ngũ thức hoạt động hiện hành.

Ðể Tiền ngũ thức sinh khởi và hoạt động, có ba thức cần phải trực tiếp cọ sát (Hợp) nó mới sinh thức, đó là: Tỷ, Thiệt và Thân thức. Ngược lại, hai thức cần cách hở, có cự ly là: Nhãn và Nhĩ thức.

Người bình thường không mấy ai quán sát để ý vấn đề thứccăn như đã nói trên. Người ta cứ yên trí rằng: Hễ con mắt thì...để thấy. Lỗ tai... để nghe... thật đơn giản!

***

Biến Tướng Quán Không Duy Hậu Ðắc
Quả Trung Do Tự Bất Thuyên Chân
Viên Minh Sơ Phát Thành Vô Lậu
Tam Loại Phân Thân Tức Khổ Luân
Ý nghĩa rằng: Ngày mà hành giả tu Duy thức quán, triệt ngộ chân lý, thấy rõ vạn pháp giai không, duyên sinh như huyễn, chuyển đệ bát thức thành Ðại viên cảnh trí, đệ thất thức thành Bình đẳng tánh trí, chuyển đệ lục thức thành Diệu quan sát trí thì tiền ngũ thức chuyển thành sai biệt trí. "Sai biệt trí" ở đây gọi: Hậu đắc trí. "Sai biệt trí" không trực nhập bản thể chân như mà chỉ trực nhận tính sai biệt của vạn pháp: Rằng tính của vạn pháp không ô nhiễm như xưa nay mình đã tưởng về nó.
... Do vậy, khi con người thành tựu Duy thức tánh, chứng Bồ đề, Niết bàn vô thượng mà trí sai biệt vẫn là trí sai biệt, nó không trực nhận chân như.
Tuy nhiên, ngày đệ bát thức trở thành Ðại viên cảnh trí thì tiền ngũ thức cũng trở thành "Vô lậu", nghĩa là cái nhìn vạn pháp của chúng không còn gây bất mãn, bất bình, bực bội để rồi đau khổ nữa.

... Bấy giờ tiền ngũ thức góp phần vào công việc phụng sự chánh pháp, ứng cơ thị hiện, trục loại tùy hình, phổ hiện sắc thân, xiển dương diệu pháp trong sự nghiệp cứu hộ chúng sinh thoát vòng trầm luân khổ hải.

Toàn Văn Ba Mươi Bài Tụng
* Do giả thuyết ngã pháp
Hữu chủng chủng tướng chuyển
Bỉ y thức sở biến
Thử năng biến duy tam
* Vị dị thục tư lương
Cập liễu biệt cảnh thức
Sở A lại da thức
Dị thục nhất thiết chủng
* Bất khả tri chấp thọ
Xứ liễu thường dữ xúc
Tác ý thọ tưởng tư
Tương ưng duy xả thọ

* Thị vô phú vô ký
Xúc đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A la hớn vị xả

* Thứ đệ nhị năng biến
Thị thức danh Mạt na
Y bỉ chuyển duyên bỉ
Tư lương vi tánh tướng

* Tứ phiền não thường câu
Vị ngã si ngã kiến
Tinh ngã mạn ngã ái
Cập dư xúc đẳng câu
* Hữu phú vô ký nhiếp
Túy sở sanh sở hệ
A la hớn diệt định
Xuất thế đạo vô hữu

* Thứ đệ tam năng biến
Sai biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện bất thiện câu phi

* Thử tâm sở biến hành
Biệt cảnh thiện phiền não
Tùy phiền não bất định
Giai tam thọ tương ưng

* Sở biến hành xúc đẳng
Thứ biệt cảnh vị dục
Thắng giải niệm định tuệ
Sở duyên sự bất đồng

* Thiện vị tín tàm quí
Vô tham đẳng tam căn
Cần an bất phóng dật
Hành xả cập bất hại

* Phiền não vị tham sân
Si mạn nghi ác kiến
Tùy phiền não vị phẩn
Hận phú não tật xan

* Cuống siểm dữ hại kiêu
Vô tàm cập vô quí
Trạo cử dữ hôn trầm
Bất tín tinh giải đải

* Phóng dật cập thất niệm 
Tán loạn bất chánh tri
Bất định vị hối miên
Tầm từ nhị các nhị

* Y chỉ căn bản thức
Ngũ thức tùy duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như ba đào y thủy

* Ý thức thường hiện khởi
Trừ sanh vô tưởng thiên
Cập vô tâm nhị định
Thùy miên dữ muộn tuyệt

* Thị chư thức chuyển biến
Phân biệt sở phân biệt
Do thử bỉ giai vô
Có nhất thiết duy thức
* Do nhất thiết chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh

* Do chư nghiệp tập khí
Nhị thủ tập khí câu
Tiền dị thục ký tận
Phục sanh dư dị thục

* Do bỉ bỉ biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử biến kế sở chấp
Tự tánh vô sở hữu

* Y tha khởi tự tánh
Phân biệt duyên sở sanh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tánh

* Cố thử dữ y tha
Phi dị phi bất dị
Như vô thường đẳng tánh
Phi bất kiến thử bỉ

* Tức y thức tam tánh
Lập bỉ tam vô tánh
Cố Phật mật ý thiết
Nhất thiết pháp vô tánh

* Sơ tức tướng vô tánh 
Thứ vô tự nhiên tánh
Hậu do viễn ly tiền
Sở chấp ngã pháp tánh

* Thử chư pháp thắng nghĩa
Diệc tức thị chân như
Thường như kỳ tánh cố
Tức duy thức thật tánh

* Nải chí vị khởi thức
Cầu trụ duy thức tánh
Ư nhị thủ tùy miên
Du vị năng phục diệt

* Hiện tiền lập thiểu vật
Vị thị duy thức tánh
Dĩ hữu sở đắc cố
Phi thật trụ duy thức

* Nhược thời ư sở duyên
Trí đô vô sở đắc
Nhỉ thời trụ duy thức
Ly nhị thủ tướng cố

* Vô đắc bất tư nghì
Thị xuất thế gian trí
Xả nhị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y

* Thử tức vô lậu giới
Bất tư nghì thiện thường
An lạc giải thoát thân
Ðại mâu ni danh pháp

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap

Xx