Bài Thứ
Mười Một
Bát Thức
Quy Củ Tụng
(Bài
tụng luận về Quy củ của tám thức)
Quy
củ là hai thứ
dụng cụ để người ta vẽ ra hình tròn (compa) và góc vuông
(êke) của đồ vật dụng. Nghĩa rộng của nó là chuẩn đích,
mẫu mực, trong phạm vi khuôn khổ nào đó.
Bát
thức Quy Củ nêu
ra một số chuẩn mực, phạm vi hoạt động của bát thức
tâm vương, gọi là: Bát thức quy củ. Văn thể cấu
tạo hình thức "bài tụng" cho nên gọi: Bát thức quy củ
tụng.
Nói
về đệ bát thức có ba bài tụng, mười hai câu. Ðệ thất
thức, đệ lục thức và tiền ngũ thức cũng vậy. Mỗi thức
đều giống nhau, chỉ lưu ý năm thức trước (tiền ngũ thức),
tính chất hoạt động giống nhau, cho nên tiền ngũ thức mà
cũng chỉ có ba bài tụng, mười hai câu. Trước hết, nghiên
cứu về Ðệ bát thức.
Ðệ
Bát Thức Tụng
Tánh
Duy Vô Phú Hữu Biến Hành
Giới
Ðịa Tùy Tha Nghiệp Lực Sinh
Nhị
Thừa Bất Liễu Nhân Mê Chấp
Do
Thử Năng Hưng Luận Chủ Tranh
Ý
nghĩa rằng: Ðệ
bát thức tính của nó vô phú vô ký. Nó tương ứng với năm
món tâm sở biến hành, vì tâm sở biến hành cũng cùng tính
vô phú vô ký.
Thọ
sinh ở tam giới hay ở cửu địa, đệ bát thức không có
khả năng tạo nghiệp nhân để thọ lấy quả mà nó hoàn
toàn do "tha nghiệp lực" dẫn dắt, thúc đẩy nó thọ
sinh. Tha nghiệp lực chỉ cho năng lực tạo nghiệp của đệ
lục ý thức. Trong tám thức tâm vương, ý thức là "một chàng
lanh lợi, đáng kinh nghi"...
Hàng
Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) không biết có đệ bát thức,
họ chỉ biết có sáu thức. Trình độ hiểu biết của họ
ngang với những nhà Tâm lý học, chủ trương: ngoài năm giác
quan biểu hiện dễ biết, còn một giác quan khó nhận, gọi
là "tiềm thức", tức đệ lục ý thức.
Do
vậy, Duy thức học, luận chủ phải tranh luận, chứng minh
rằng: ngoài sáu giác quan, con người còn phải có "đệ thất",
"đệ bát thức" nữa, mới đủ yếu tố cho sự sống còn;
chẳng hạn lúc ngủ không chiêm bao...., khi người nhập định
"diệt tận", nhập định vô tưởng và lúc bị chết ngất...
Duy trì sinh mạng khi con người không còn ý thức ấy, rõ ràng
là công lao của đệ thất và đệ bát thức A lại da.
***
Hạo
Hạo Tam Tàng Bất Khả Cùng
Uyên
Thâm Thất Lãng Cảnh Vi Phong
Thọ
Huân Trì Chủng Căn Thân Khí
Khứ
Hậu Lai Tiên Tác Chủ Ông
Ý
nghĩa rằng: Ðệ
bát A lại da thức có ba nghĩaTàng: Năng tàng, Sở tàng và
Ngã ái chấp tàng, thẩm sâu, mênh mông, diệu vợi. Suy tư
nghĩ ngợi giản đơn của những bộ óc đơn giản, không sao
hiểu thấu triệt được.
Ðệ
bát thức ví như cái duềnh, cái vực vừa lớn vừa sâu. Bảy
thức trước nương nơi đệ bát thức mà sinh tồn, hiện hữu
thi thố tác dụng của mình, giống như sóng mòi do lực gió,
gió thổi sóng lao xao. Sóng xao, gió thổi, sóng xao... không
rời ngoài cái vực kia mà có.
Ðệ
bát thức là cơ sở, là kho tàng tiếp thu và huân tập chủng
tử vạn pháp. Từ chủng tử duyên khởi mà hiện hành động
vật căn thân hữu tình, khoáng vật, thực vật thế giới
vô tình. Tất cả đều nằm gọn trong đệ bát A lại da.
Ðệ
bát thức A lại da nhìn về mặt sinh diệt: Sinh thì A lại
da sinh trước, khi diệt A lại da diệt sau cùng. A lại da là
ông chủ đối với tiền thất thức bên hữu tình. A lại
da cũng là ông chủ đối với vạn pháp sinh sinh hóa hóa vô
tình vậy.
Bất
Ðộng Ðịa Tiền Tài Xả Tàng
Kim
Cang Ðạo Hậu Dị Thục Không
Ðại
Viên Vô Cãu Ðồng Thời Phát
Phổ
Chiếu Thập Phương Sát Trần Trung
Ý
nghĩa rằng: A
lại da (tàng thức) Bồ tát tu hành đến đệ bát Bất động
địa, không còn gọi A lại da nữa. Bởi lẽ, A lại da là
cái kho chứa đựng chủng tử hỗn hợp, tốt có mà xấu cũng
nhiều. Bồ tát tu tập đến đệ bát địa "Bất động"
rồi thì chủng tử tạp nhiễm phiền não đã được thanh
lọc hết. Vả lại, nói về quá trình "Bất động",
hàng Bồ tát đã bước vào "đệ tam A tăng kỳ kiếp" cho nên
cái thức "hỗn hợp" ấy, xả bỏ là lý đương nhiên để
thay vào đó cái tên: Dị thục thức.
Ðến
khi chứng địa vị "Ðẳng Giác" tên "Dị thục thức" cũng
không còn lý do tồn tại, bởi vì vấn đề nhân quả đến
đây không còn cần thiết nữa.
Sau
địa vị Ðẳng Giác, đệ bát thức được cái tên: Vô
cấu thức và chuyển Vô cấu thức thành Trí đại
viên cảnh, tức là thứ trí tròn trịa vô song, trí lớn
lao không bờ mé, trong sáng như một thứ kính tuyệt trần.
...
Và Ðại viên cảnh trí ấy soi sáng khắp hằng hà sa
số, bất khả thuyết, bất khả thuyết A tăng kỳ thế giới
trong mười phương.
Bài Thứ
Mười Hai
Ðệ Thất
Thức Tụng (Mạt Na)
Ðối
Chất Hữu Phú Thông Tình Bổn
Tùy
Duyên Chấp Ngã Lượng Vi Phi
Bát
Ðại Biến Hành Biệt Cảnh Tuệ
Tham
Si Ngã Kiến Mạn Tương Tùy
Ý
nghĩa rằng: Ðệ
thất Mạt na thức là thức trừu tượng. Nhận biết Mạt
na thức chỉ dựa trên ý niệm và công năng chấp ngã.
Tự thân Mạt na thức chính là công năng chấp ngã ấy.
Thế cho nên, cảnh của Mạt na cũng chỉ là cảnh của "ý
niệm", của một bóng dáng "mang theo", của một "chất" mà
"chất" ấy cũng là chất "ấn tượng" của ý niệm. Vì vậy,
gọi cảnh ấy là "đới chất" cảnh.
Ðệ
thất Mạt na thức vốn trừu tượng, duyên lấy "kiến phần"
của A lại da thức cũng trừu tượng, nảy sinh ý niệm chấp
ngã trừu tượng, cho nên gọi là "thông tình bổn".
Do đó, ba cảnh, đệ thất thức duyên đới chất cành.
Ba tánh, nó thuộc tánh hữu phú vô ký bởi tính chấp ngã
ấy.
Ðối
với ba lượng, đệ thất thức phi lượng, dù nó chấp
ngã bên con người hữu tình hay bên sự vật vô tình, tất
cả đều là chấp sai lầm: phi!
Nó
tương ứng với năm tâm sở "biến hành", tám món đại tùy
phiền não là: Ðiệu cử, hôn trầm v.v... và một "cô Tuệ"
trong loại tâm sở "biệt cảnh".
Ðệ
thất thức luôn luôn sẵn có tính nhiễm ô, bởi bản chất
"hữu phú vô ký" của nó. Cho nên, đệ thất thức xuất đầu
lộ diện khi nào: ngã tham, ngã si, ngã mạn, ngã kiến,
ngã ái xuất hiện. Nói ngược lại: ngã tham, ngã si,
ngã mạn, ngã kiến, ngã ái chính là Ðệ thất thức
thể hiện nguyên hình, mà không sao tách chúng rời ra.
Hằng
Thẩm Tư Lương Ngã Tướng Tùy
Hữu
Tình Nhật Dạ Trấn Hôn Mê
Tứ
Hoặc Bát Ðại Tương Ưng Khởi
Lục
Chuyển Hô Vi Nhiễm Tịnh Y
Ý
nghĩa rằng: Như
trên ta đã biết, đệ thất thức tức là Ngã tướng,
ý niệm Chấp ngã tướng tức là đệ thất thức, cho
nên nó "Tư lương ngã tướng", có hai đặc tính: Hằng
và Thẩm. Ngày nào một hữu tình chúng sinh còn sinh sống,
ngày nào một vô tình chúng sinh còn hiện hữu thì thường
trực có sự hiện hữu của thức Mạt na. Vì vậy, nó có
đặc tính Hằng. Ðã là Chấp ngã thì lúc nào
cũng "có ý" tồn sinh "muốn" duy trì sự hiện hữu của mình.
Do đó, nó có đặc tính thẩm. Tuy nhiên, nó chỉ hằng,
thẩm, tư lương trong phạm vi ngã tướng mà thôi.
Nó không có một chức năng nào khác.
Do
vậy, Mạt na thức chỉ là khối u mê to lớn đè nặng trấn
áp tâm tánh chúng hữu tình. Nó khiến hữu tình mất đi tính
sáng suốt, khó mà nhận thức được chân lý.
Mạt
na thường tương ứng với bốn thứ chấp sai lầm: ngã si,
ngã kiến, ngã mạn, ngã ái cùng với tám món đại tùy phiền
não trong những lúc nó hiện hành.
Do
vậy, đối với tiền lục thức nó là chỗ chứa chấp, chỗ
tích lũy tịnh pháp thì ít mà nhiễm ô thì nhiều.
***
Cực
Hỉ Tâm Sơ Bình Ðẳng Tính
Vô
Công Dụng Hạnh Ngã Hằng Tồi
Như
Lai Hiện Khởi Tha Thọ Dụng
Thập
Ðịa Bồ Tát Sơ Bị Cơ
Ý
nghĩa rằng: Trên
bước đường tu tập, Bồ tát bước sang đệ nhị A tăng
kỳ kiếp, ở vào sơ tâm Hoan hỉ địa thì chế ngự ý niệm
Chấp
ngã, chuyển Mạt na thức thành trí Bình đẳng tính,
nhìn hiện tượng sự vật với cái thấy Nhất chân bình
đẳng.
Ðến
đệ bát Bất Ðộng địa, ý niệm Chấp ngã hoàn toàn
trong sáng mà không còn phải dụng tâm lưu ý diệt trừ: "Vô
công dụng hạnh ngã hằng tồi"!
Xưa
kia, ở nơi nhân chấp ngã, ích kỷ, bảo thủ bao nhiêu,
khi chuyển hóa cải tạo, bồi dưỡng, xây dựng được nó,
thì nó trở thành trí Bình đẳng, thành Tha thọ dụng
thân của một vị Như Lai Phật
...
Và Thân thọ dụng đó trở thành đấng bổn sư của hàng
thập địa bồ tát.
Bài Thứ
Mười Ba
Ðệ Lục
Thứt Tụng
Tam
Tánh Tam Lương Thông Tam Cảnh
Tam
Giới Luân Thời Dị Khả Tri
Tương
Ưng Tâm Sở Ngũ Thập Nhất
Thiện
Ác Lâm Thời Biệt Phối Chi.
Ý
nghĩa rằng: Với
đệ lục thức, nói về cảnh có ba: Tánh cảnh, đới
chất cảnh và độc ảnh cảnh. Nói về lượng có ba:
Hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng. Nói về tánh
có ba: thiện, ác và vô ký. Ðệ lục ý thức có đủ hết
những điều đó. Do vậy, tầm hoạt động của đệ lục
ý thức có đủ hết những điều đó. Do vậy, tầm hoạt
động của đệ lục ý thức lanh lợi, nhạy bén và ưu việt
hết mọi mặt so với bát thức tâm vương.
Ý niệm
tư duy của ý thức, dùng chánh niệm quan sát phân tích, người
ta rất dễ biết cái quả của nó sẽ đưa đảy vào cõi nào
trong ba cõi: Dục, sắc và vô sắc.
Ý
thức tương ứng toàn bộ tâm sở hữu pháp 51 món.
Hoàn
cảnh môi trường thiện đến thì ý thức duyên theo
cảnh thiện. Ngược lại nó có thể là ác, thậm chí
là cực ác, nếu có môi trường có cơ hội phù hợp theo chiều
hướng đó.
***
Tánh
Giới Thọ Tam Hằng Chuyển Dịch
Căn
Tùy Tín Ðẳng Tổng Tương Liên
Ðộng
Thân Phát Ngữ Ðộc Vi Tói
Dẫn
Mãn Năng Chiêu Nghiệp Lực Khiên
Ý
nghĩa rằng: Ðối
với ba tánh: Thiện, ác, vô ký, với ba giới: Dục giới, sắc
giới, vô sắc giới, với ba thọ: lạc thọ, khổ thọ và
xả thọ ý thức tiếp nhận thay đổi liên tục theo hoản
cảnh mà không cần phải có điều kiện hay lý do...
....
Và đệ lục ý thức sinh hoạt gắn liền với căn bản phiền
não, chi mạt phiền não, thiện, bất định tâm sở v.v... 51
món.
Hành
động thiện hay ác của con người biểu lộ qua thân, lời
nói lành hay dữ thổ lộ ra miệng đều do ý thức chủ động,
đóng vai trò chánh. Ðương nhiên có sự tham gia đóng góp gián
tiếp của nhãn, nhỉ v.v...
Ðệ
lục ý thức có khả năng tạo nghiệp nhân, tam giới, lục
đạo và có khả năng hoàn chỉnh nghiệp nhân ấy, dẫn dắt
hữu tình luân chuyển trong tam giới lục đạo...
***
Phát
Khởi Sơ Tâm Hoan Hỉ Ðịa
Câu
Sanh Do Tự Hiện Triền Miên
Viễn
Hành Ðịa Hậu Thuần Vô Lậu
Quán
Sát Viên Minh Chiếu Ðại Thiên
Ý
nghĩa rằng: Hoạt
động của đệ lục ý thức thường gắn liền với hai thứ
phiền não là: "câu sanh", và "phân biệt". Vì vậy, Bồ tát
tu tập hết A tăng kỳ kiếp thứ nhất, chỉ trừ bỏ "phân
biệt phiền não" mà thôi. Nên nhớ: Phân biệt phiền
não tức Kiến hoặc.
Ở
đây cho ta thấy: Sơ tâm Hoan hỉ địa, tức là địa vị kiến
đạo mà "câu sanh phiền não" hãy còn "ngủ im" chờ cơ
hội ngóc đầu quấy rối. Vượt qua địa vị viễn hành,
bước sang A tăng kỳ kiếp thứ ba "Tư hoặc" tức "câu
sanh phiền não" mới hoàn toàn vắng bóng. Bấy giờ Bồ tát
không còn bị giặc kiến tư hoặc khuấy rầy,
mà thọ dụng sự an lành thanh thoát vô lậu.
...
Từ đây, đệ lục ý thức chuyển đổi thành trí diệu
quán sát, sáng soi viên mãn khắp thế giới ba ngàn.
Bài Thứ
Mười Bốn
Tiền Ngũ
Thức Tụng
Tánh
Cảnh Hiện Lượng Thông Tam Tánh
Nhãn
Nhỉ Thân Tam Nhị Ðịa Cư
Biến
Hành Biệt Cảnh Thiện Thập Nhất
Trung
Nhị Ðại Bát Tham Sân Si
Ý
nghĩa rằng: Năm
thức trước (tiền ngũ thức) với ba cảnh, chỉ duyên với
"tánh cảnh", tức là cảnh có thực tánh do sắc, thanh, hương,
vị, xúc; địa, thủy, hỏa, phong, không, hợp thành một chỉnh
thể vật chất nào đó. Về lượng, nó chỉ là Hiện
lượng, nghĩa là ngũ thức xúc cảnh, không có tư duy nhận
thức. Về tánh, môi trường, bối cảnh dù thiện
dù ác hay vô ký, tiền ngũ thức vẫn tiếp nhận hồn
nhiên, bình đẳng không có vấn đề chọn lọc.
Là
người dục giới, sinh hoạt trong phạm vi dục giới
thì tiền ngũ thức mới đủ duyên sinh khởi đầy đủ. Nếu
ai đó tu định Sơ thiền ở "Nhị địa" (Ly sinh hỉ lạc địa)
thì tỷ thức và thiệt thức không có điều kiện để sinh
khởi hiện hành, vì ở cảnh giới này hành giả thọ dụng
Thiền
duyệt thực mà không sử dụng đoàn thực, cho nên
thiệt thức và tỷ thức không đủ duyên sinh khởi.
Tiền
ngũ thức tương ứng với các món tâm sở: Biến hành, Biệt
cảnh, Thiện, Trung tùy, Ðại tùy và Phiền não căn bản: Tham,
sân, si... Tóm lại, Tiền ngũ thức luôn luôn hợp tác với
đệ lục ý thức qua cái từ Ngũ câu ý thức, gây ra
nhiều nguyên nhân buồn bực khổ đau. Ðó là lý do nó tương
ứng với nhiều nhóm tâm sở ấy.
***
Ngũ
Thức Ðồng Y Tịnh Sắc Căn
Cửu
Duyên Bát Thất Hảo Tương Lân
Hiệp
Tam Ly Nhị Quan Trần Thế
Ngu
Giả Nan Phân Thức Dữ Căn
Ý
nghĩa rằng: Căn
có phù trần căn, tức là con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi,
sắc thân thô phù hiển lộ ai cũng nhìn thấy được. Còn
một thứ căn được gọi là Tịnh sắc các bác sĩ nói
chung, bác sĩ nhãn khoa, răng hàm mặt, bác sĩ tai mũi họng,
biết được một phần tinh tế hơn người thường. Người
thường có người suốt đời không hề để ý tìm biết về
thứ căn này. Không thể cắt nghĩa, giải thích chính xác Tịnh
sắc căn: Rằng cái gì làm cho thấy, chổ nào làm cho nghe...
mà chỉ có thể nói: Như thị... như thị.
Năm
thức, nương tịnh sắc căn mà phát sinh. Phù trần căn chỉ
là một số dữ kiện: địa, thủy, hỏa, phong... Kết hợp
thành một "thắng nhân" của thức.
Thức
phát khởi, sinh công dụng còn phải nhờ đến "thắng duyên"
nữa. Do vậy, nhãn thức cần hội đủ chín duyên mới sinh
được cái thấy, đó là: Không, minh, căn, cảnh, tác ý,
phân biệt, nhiễm tịnh, căn bản và chủng tử. Nhỉ
thức, bỏ bớt một, bỏ minh, còn lại tám. Tỷ, Thiệt,
Thân thức, bỏ hai, không, minh, còn bảy. Ðó là những
điều kiện không thể thiếu để cho tiền ngũ thức hoạt
động hiện hành.
Ðể
Tiền ngũ thức sinh khởi và hoạt động, có ba thức cần
phải trực tiếp cọ sát (Hợp) nó mới sinh thức, đó là:
Tỷ, Thiệt và Thân thức. Ngược lại, hai thức cần cách
hở, có cự ly là: Nhãn và Nhĩ thức.
Người
bình thường không mấy ai quán sát để ý vấn đề thức
và căn như đã nói trên. Người ta cứ yên trí rằng:
Hễ con mắt thì...để thấy. Lỗ tai... để nghe... thật đơn
giản!
***
Biến
Tướng Quán Không Duy Hậu Ðắc
Quả
Trung Do Tự Bất Thuyên Chân
Viên
Minh Sơ Phát Thành Vô Lậu
Tam
Loại Phân Thân Tức Khổ Luân
Ý
nghĩa rằng: Ngày
mà hành giả tu Duy thức quán, triệt ngộ chân lý, thấy rõ
vạn pháp giai không, duyên sinh như huyễn, chuyển đệ bát
thức thành Ðại viên cảnh trí, đệ thất thức thành
Bình
đẳng tánh trí, chuyển đệ lục thức thành Diệu quan
sát trí thì tiền ngũ thức chuyển thành sai biệt trí.
"Sai biệt trí" ở đây gọi: Hậu đắc trí. "Sai biệt
trí" không trực nhập bản thể chân như mà chỉ trực nhận
tính sai biệt của vạn pháp: Rằng tính của vạn pháp không
ô nhiễm như xưa nay mình đã tưởng về nó.
...
Do vậy, khi con người thành tựu Duy thức tánh, chứng Bồ
đề, Niết bàn vô thượng mà trí sai biệt vẫn là trí
sai
biệt, nó không trực nhận chân như.
Tuy
nhiên, ngày đệ bát thức trở thành Ðại viên cảnh trí
thì tiền ngũ thức cũng trở thành "Vô lậu", nghĩa là
cái nhìn vạn pháp của chúng không còn gây bất mãn, bất
bình, bực bội để rồi đau khổ nữa.
...
Bấy giờ tiền ngũ thức góp phần vào công việc phụng sự
chánh pháp, ứng cơ thị hiện, trục loại tùy hình, phổ hiện
sắc thân, xiển dương diệu pháp trong sự nghiệp cứu hộ
chúng sinh thoát vòng trầm luân khổ hải.
Toàn
Văn Ba Mươi Bài Tụng
*
Do giả thuyết ngã pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến
Thử
năng biến duy tam
*
Vị dị thục tư lương
Cập
liễu biệt cảnh thức
Sở
A lại da thức
Dị
thục nhất thiết chủng
*
Bất khả tri chấp thọ
Xứ
liễu thường dữ xúc
Tác
ý thọ tưởng tư
Tương
ưng duy xả thọ
* Thị
vô phú vô ký
Xúc
đẳng diệc như thị
Hằng
chuyển như bộc lưu
A
la hớn vị xả
* Thứ
đệ nhị năng biến
Thị
thức danh Mạt na
Y
bỉ chuyển duyên bỉ
Tư
lương vi tánh tướng
* Tứ
phiền não thường câu
Vị
ngã si ngã kiến
Tinh
ngã mạn ngã ái
Cập
dư xúc đẳng câu
*
Hữu phú vô ký nhiếp
Túy
sở sanh sở hệ
A
la hớn diệt định
Xuất
thế đạo vô hữu
* Thứ
đệ tam năng biến
Sai
biệt hữu lục chủng
Liễu
cảnh vi tánh tướng
Thiện
bất thiện câu phi
* Thử
tâm sở biến hành
Biệt
cảnh thiện phiền não
Tùy
phiền não bất định
Giai
tam thọ tương ưng
* Sở
biến hành xúc đẳng
Thứ
biệt cảnh vị dục
Thắng
giải niệm định tuệ
Sở
duyên sự bất đồng
* Thiện
vị tín tàm quí
Vô
tham đẳng tam căn
Cần
an bất phóng dật
Hành
xả cập bất hại
* Phiền
não vị tham sân
Si
mạn nghi ác kiến
Tùy
phiền não vị phẩn
Hận
phú não tật xan
* Cuống
siểm dữ hại kiêu
Vô
tàm cập vô quí
Trạo
cử dữ hôn trầm
Bất
tín tinh giải đải
* Phóng
dật cập thất niệm
Tán
loạn bất chánh tri
Bất
định vị hối miên
Tầm
từ nhị các nhị
* Y
chỉ căn bản thức
Ngũ
thức tùy duyên hiện
Hoặc
câu hoặc bất câu
Như
ba đào y thủy
* Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh vô tưởng thiên
Cập
vô tâm nhị định
Thùy
miên dữ muộn tuyệt
* Thị
chư thức chuyển biến
Phân
biệt sở phân biệt
Do
thử bỉ giai vô
Có
nhất thiết duy thức
*
Do nhất thiết chủng thức
Như
thị như thị biến
Dĩ
triển chuyển lực cố
Bỉ
bỉ phân biệt sanh
* Do
chư nghiệp tập khí
Nhị
thủ tập khí câu
Tiền
dị thục ký tận
Phục
sanh dư dị thục
* Do
bỉ bỉ biến kế
Biến
kế chủng chủng vật
Thử
biến kế sở chấp
Tự
tánh vô sở hữu
* Y
tha khởi tự tánh
Phân
biệt duyên sở sanh
Viên
thành thật ư bỉ
Thường
viễn ly tiền tánh
* Cố
thử dữ y tha
Phi
dị phi bất dị
Như
vô thường đẳng tánh
Phi
bất kiến thử bỉ
* Tức
y thức tam tánh
Lập
bỉ tam vô tánh
Cố
Phật mật ý thiết
Nhất
thiết pháp vô tánh
* Sơ
tức tướng vô tánh
Thứ
vô tự nhiên tánh
Hậu
do viễn ly tiền
Sở
chấp ngã pháp tánh
* Thử
chư pháp thắng nghĩa
Diệc
tức thị chân như
Thường
như kỳ tánh cố
Tức
duy thức thật tánh
* Nải
chí vị khởi thức
Cầu
trụ duy thức tánh
Ư
nhị thủ tùy miên
Du
vị năng phục diệt
* Hiện
tiền lập thiểu vật
Vị
thị duy thức tánh
Dĩ
hữu sở đắc cố
Phi
thật trụ duy thức
* Nhược
thời ư sở duyên
Trí
đô vô sở đắc
Nhỉ
thời trụ duy thức
Ly
nhị thủ tướng cố
* Vô
đắc bất tư nghì
Thị
xuất thế gian trí
Xả
nhị thô trọng cố
Tiện
chứng đắc chuyển y
* Thử
tức vô lậu giới
Bất
tư nghì thiện thường
An
lạc giải thoát thân
Ðại
mâu ni danh pháp