MỞ
ĐẦU
Xin
kính lễ bậc Toàn Giác
Thế
Gian Giải, Thiên Nhơn Sư
Với
lòng tin bất thối chuyển
Nguyện
cho bài lược giải này
Đạt
được nghĩa chân thật nhất
Đem
lợi lạc đến mọi người.
Giáo
lý đạo Phật đặt căn bản trên hai hệ thống Nguyên Thủy
và Phát Triển mà khi xưa thường gọi là Tiểu Thừa và Đại
Thừa.
Hệ
thống nguyên thủy dựa trên tư tưởng A tỳ đạt ma, còn
hệ thống phát triển dựa trên tư tưởng Duy thức học. Cả
hai đều nghiên cứu về tâm thức của con người. A tỳ đạt
ma chia tâm thức ra làm 6 thức. Sáu thức đó là: nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân và ý thức. Duy thức học thì ngoài 6 thức
trên còn nói đến hai thức nữa là mạt na thức và a lại
da thức. A tỳ đạt ma chia tất cả các pháp ra làm 75 pháp,
còn Duy thức học chia các pháp ra làm 100 pháp, gọi là Bách
pháp minh môn luận.
Duy
Thức Tam Thập Tụng là một tác phẩm Đại Thừa Phật Giáo
gồm 30 bài kệ do Bồ tát Thế Thân trước tác. Theo đó thì
tất cả các hiện tượng và ý niệm đều không thật có,
chúng đều duyên khởi, do Chân Tâm bị vọng niệm quấy động
mà chuyển biến và biểu hiện ra. Tánh chất chân thực của
tất cả các hiện tượng và các ý niệm không thể do tri
kiến thường tình mà giải thích được mà phải là sự trực
nhận do kết quả của sự tu tập thiền định khi đạt được
sự đột biến nội tại nơi tâm thức.
Phải
có lòng tin vững chắc và sự phát tâm bất thối chuyển,
nhất tâm kiên cố tu trì theo giáo lý Phật Đà cho đến khi
phá tan được tất cả những vô minh vi tế nhất của phiền
não chướng và sở tri chướng đã tích tập từ thuở vô
thủy thì Chân Tâm mới hiển lộ và hành giả mới thâm nhập
và trực nhận được thật tánh của các pháp.
Trước
khi trước tác Duy Thức Tam Thập Tụng này, ngài Thế Thân
đã viết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận. Câu Xá Luận này cũng
trình bầy về tâm thức nhưng theo quan niệm của Phật Giáo
Tiểu Thừa, theo đó tất cả các hiện tượng và các ý niệm
chỉ bao gồm trong 75 pháp.
Sau
khi được người anh là Vô Trước điểm hóa, Thế Thân chuyển
hướng theo Đại Thừa và trước tác nhiều tác phẩm đại
thừa, chẳng hạn như: Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận,
Duy Thức Nhị Thập Tụng cùng chú giải và Duy Thức Tam Thập
Tụng, theo đó thì tất cả các hiện tượng và ý niệm của
tam giới lục đạo gom lại thành 100 pháp.
Tác
phẩm Duy Thức Nhị Thập Tụng khác với Duy Thức Tam Thập
Tụng ở chỗ tác phẩm thứ nhất chỉ nhằm mục đích phá
vỡ các lập luận của các phái ngoại đạo, còn tác phẩm
thứ nhì thì trình bầy tất cả khía cạnh của tâm thức,
hiển bầy ra cái lý nhất thiết pháp duy tâm tạo, rồi đưa
ra phương pháp tu tập thiền định, nương vào hiện tướng
của các pháp mà nhập được vào thể tánh Chân Như. Vì thế
mà phương pháp tu tập của Duy Thức còn được gọi là tùng
tướng nhập tánh.
Khi
ngài Thế Thân trước tác ra Duy Thức Tam Thập Tụng, ngài
chưa viết lời chú giải. Sau này có tới 10 luận sư chú giải,
trong số này có các luận sư Nan Đà (Nanda), An Huệ (Sthiramati)
và Hộ Pháp (Dharmapala). Nhưng hầu hết các bản chú giải
này đều bị ngoại đạo ở Ấn Độ tiêu hủy. Hiện nay
chỉ có bản chú giải của ngài An Huệ bằng tiếng Phạn
còn lưu truyền ở Tây Tạng.
Vào
khoảng tiền bán thế kỷ thứ bẩy pháp sư Huyền Trang (599-664)
từ Trung Hoa sang Ấn Độ cầu pháp. Ngài đã được luận
sư Giới Hiền (Silabhadra) truyền dậy về Duy Thức tại học
viện Na Lan Đà (Nalanda) trong khoảng thời gian từ năm 633 đến
năm 637. Ngài Giới Hiền khi xưa là đệ tử của ngài Hộ
Pháp, lúc ấy đã trên 100 tuổi và là một luận sư nổi tiếng
về Duy Thức.
Sau
khi tham học bên Ấn Độ được 16 năm (629-645) trở về Trung
Hoa, ngài Huyền Trang đã phiên dịch, chú giải và trước tác
rất nhiều kinh luận Đại Thừa, trong đó có Thành Duy Thức
Luận, chú giải 30 bài tụng về Duy Thức của bồ tát Thế
Thân.
Các
chú giải của pháp sư Huyền Trang về Thành Duy Thức Luận
là tập hợp những chú giải của các luận sư nổi tiếng
khi xưa nhưng phần chính là dựa trên chú giải của ngài Hộ
Pháp.
Vì
muốn làm hiển lộ thật tướng của Chân Tâm, một việc
mà không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được, nên
Duy Thức Học đã phải tạm đặt ra các danh từ mới để
đặt tên cho các hiện tượng, khái niệm cùng tánh chất của
tất cả các pháp, rồi từ đó lý giải ra cái chân lý rốt
ráo của đạo Phật. Các danh từ dùng trong Duy Thức đều
rất trừu tượng và mới lạ. Các danh từ nầy lại bắt
nguồn từ tiếng Phạn, rồi lại được chuyển dịch ra tiếng
Trung Hoa nên môn Duy Thức Học càng trở nên khó khăn và rắc
rối.
Cuốn
Duy Thức Tam Thập Tụng Lược Giải nầy được trình bầy
theo lối huân tập nhằm cho những người mới nghiên cứu
về Duy Thức làm quen được với những danh từ và những
lý luận mới lạ của Duy Thức.
Khi
nghiên cứu về Duy Thức, xin cứ thong thả để ý kỹ từng
danh từ và những giải thích về ý nghĩa của các danh từ
đó. Nếu thấy vẫn còn chưa nắm vững xin cứ tiếp tục
đọc, các vấn đề đó sẽ được lập lại và từ từ sẽ
được thông suốt.
Cuốn
lược giải này được viết dựa theo các tác phẩm về Duy
Thức của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu, Thiền Sư Nhất Hạnh. Có nhiều đoạn đã được lấy
ở tác phẩm Lăng Nghiêm Ảnh Hiện và Lăng Kính Đại Thừa
của Giáo Sư Nghiêm Xuân Hồng. Cũng có nhiều phần dựa vào
các băng giảng về các kinh Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm và Lăng
Già Tâm Ấn của Thiền Sư Thanh Từ cùng các băng giảng về
Duy Biểu Học của Thiền Sư Nhất Hạnh. Tuy nhiên không phải
vì vậy mà kiến giải ở đây hoàn toàn giống những kiến
giải trong các tác phẩm và băng giảng nêu trên. Sự khác
biệt này không phải để bàn luận đúng và sai mà chỉ muốn
được ghi lại những kiến giải về Duy Thức Học của một
cá nhân trong thời điểm này. Tuy nhiên mọi sự phê bình và
chỉ dẫn đều được hoan hỷ đón nhận.
Đặc
biệt xin đa tạ giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã hoan hỷ cho phép
tùy nghi trích dẫn và sao chép lại các đoạn văn trong các
tác phẩm của giáo sư.
Mục
đích của cuốn Lược Giải này là muốn làm một chiếc bè
nhỏ để tạm đưa quý vị lênh đênh trên dòng sông Duy Thức.
Nếu đã tắm mình trên dòng sông đó rồi thì xin đừng để
ý gì đến chiếc bè nhỏ này. Cũng xin đừng mê mẩn mãi
trong dòng sông đó mà quên đi sự tu trì hầu quay về được
với Chân Tâm.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Viết
tại tu viện Long Beach
Long
Beach, CA, USA.
Mùa
thu năm 1995.
Thích
Trí Châu
TIỂU
SỬ BỒ TÁT THẾ THÂN
Bồ
tát Thế Thân sanh tại Bá Lộ Sa (Purusapura) còn gọi là Phú
Lâu Sa Bổ La, bây giờ là thành phố Peshawar thuộc vương quốc
Kiền Đà La (Gandhara) ở Bắc Ấn vào khoảng năm 316 Tây Lịch
tức 860 năm sau khi đức Phật diệt độ. Ngài là người con
thứ hai của một gia đình Bà La Môn, cha là Kiều Thi Ca (Kausika),
mẹ là Tỷ Lân Trì (Virinci).
Khi
ngài mới ra đời thì anh ngài là Vô Trước (Asanga) đã là
tu sĩ theo Phật Giáo Đại Thừa. Ngài có người em là Tỷ
Lân Trì Tử (Virincivatsa), theo Phật Giáo Tiểu Thừa. Riêng
ngài thì thuở ban đầu theo Phật Giáo Tiểu Thừa, về sau
được ngài Vô Trước điểm hóa nên chuyển theo Đại Thừa.
Tên
tiếng Phạn của ngài là Vasubandhu, dịch âm là Bà Tu Bàn Đầu,
có nghĩa là vị thân thuộc của trời nên dịch theo nghĩa
là Thế Thân hoặc Thiên Thân. Còn tên của anh ngài có nghĩa
là không chấp chước tức không bị dính mắc vào đâu cả.
Tên của em ngài thì lấy theo tên mẹ, Tỷ Lân Trì (Virinci)
là tên mẹ, Tử (vatsa) là con.
Vô
Trước tu theo Đại thừa, vì muốn giác ngộ lý rốt ráo của
các kinh điển nên ngài bỏ vào rừng tu thiền định trong
suốt 12 năm. Theo truyền thuyết thì ngài đã nhập định lên
cõi trời Đâu Xuất và được bồ tát Di Lặc đọc cho năm
bộ luận để truyền lại cho hậu thế. Năm bộ luận đó
là:
1.
Du Già Sư Địa Luận
2.
Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
3.
Thập Địa Kinh Luận
4.
Trung Biên Phân Biệt Luận
5.
Kim Cang Bát Nhã Luận
Ban
đầu Thế Thân theo học với phái Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc
Tiểu Thừa, lấy Đại Tỳ Bà Sa Luận (Vaibhasika) làm căn bản.
Khi nghiên cứu luận Đại Tỳ Bà Sa, có nhiều điểm ngài
còn nghi ngờ nên ngài hóa trang để đi đến Ca Thấp Di La
tức Kashmir bây giờ để điều nghiên thêm về Đại Tỳ Bà
Sa vì Ca Thấp Di La là nơi giảng giải luận chính thống Đại
Tỳ Bà Sa.
Tại
Ca Thấp Di La, ngài nhập chúng và theo học với ngài Ngộ Nhập
được 4 năm, trong khoảng năm 342 đến 346 Tây Lịch.
Bị
phiền não vì Thế Thân hay đưa ra những ý kiến riêng để
lập luận và bác bỏ những phân tích quá giáo điều và chi
li của các vị thầy, ngài Ngộ Nhập bèn nhập định và biết
được Thế Thân không thuộc hệ phái của Ca Thấp Di La. Ngài
liền khuyên Thế Thân nên trở về Kiền Đà La trước khi
bị nguy hiểm vì chân tướng bị phát giác.
Thế
Thân trở về Kiền Đà La, chuẩn bị thực hiện một dự
án vĩ đại mà ngài có trong đầu từ lâu. Để không bị
bó buộc và thực hiện được dự án của mình, Thế Thân
ở tịnh xá riêng trong trung tâm của Bá Lộ Sa, tự túc sinh
sống bằng cách thuyết giảng giáo lý Phật Đà cho công chúng.
Cứ sau mỗi buổi thuyết giảng, ngài đúc kết những lời
giảng thành những bài kệ, tất cả tổng cộng đến hơn
600 bài kệ, giải nghĩa toàn thể hệ thống Đại Tỳ Bà Sa,
tạo thành bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma-kosa), nói
lên tất cả những chỗ thiếu sót và không hợp lý của Đại
Tỳ Bà Sa và trình bầy kiến giải của mình. Bộ luận nầy
cũng được gởi đến Ca Thấp Di La theo lời yêu cầu của
những học giả ngưỡng mộ ngài ở địa phương đó.
Chúng
Hiền (Sanghabhadra) là một luận sư về chính thống Đại Tỳ
Bà Sa, đã từng cùng với Thế Thân tham học với ngài Ngộ
Nhập ở Ca Thấp Di La, nghe ngài Thế Thân sau khi tham học về
đã làm luận Câu Xá bài phá nhiều điểm cổ truyền của
bản tông, liền viết ra hai bộ luận gọi là phá tà hiển
chánh, A Tỳ Đạt Ma Bảo Luận và A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông
Luận, để phản bác lại luận cứ của ngài Thế Thân.
Tuy
nhiên vì hai bộ nầy chấp theo cựu thuyết nên nội dung còn
nhiều chỗ lủng củng không được thông suốt nên các học
giả trong Hữu Bộ khi nghiên cứu giáo lý bản phái chỉ tham
cứu bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của ngài Thế Thân mà
thôi, còn hai bộ luận của ngài Chúng Hiền biên soạn thì
bị coi là phản bội với giáo nghĩa của Hữu Bộ. Câu Xá
Luận sau này được gọi là Tân Tỳ Bà Sa Luận, và ngài Thế
Thân được coi là tân giáo chủ của phái Hữu Bộ. Sau khi
đúc kết xong bộ Câu Xá Luận, Thế Thân thường du phương
hoằng hóa. Cho tới bấy giờ ngài không những không thèm để
ý đến những bộ luận Du Già của người anh mà còn phỉ
báng tất cả các kinh luận Đại Thừa, cho đó chỉ là lý
thuyết suông.
Biết
được thái độ của nguời em như vậy, Vô Trước quyết
đưa em mình vào con đường Đại Thừa. Ngài phái hai đệ
tử mang kinh luận Đại Thừa đến tìm cách đọc cho Thế
Thân nghe. Sau khi nghe hết các bộ kinh và luận Đại Thừa
đó, Thế Thân nhận ra Phật Giáo Đại Thừa thật ra rất
thâm sâu cả về lý thuyết lẫn thực hành, chứ không phải
chỉ lý thuyết suông như ngài hằng nghĩ trước kia. Hối hận
vì xưa kia đã phỉ báng Đại Thừa, ngài muốn cắt lưỡi
tự tử. Các đệ tử của Vô Trước vội khuyên can và khẩn
thiết yêu cầu ngài tới thăm Vô Trước.
Thế
Thân trở về Bá Lộ Sa gặp Vô Trước và trong cuộc đàm
luận với người anh về Phật Giáo Đại Thừa, ngài đã nắm
được các yếu chỉ của giáo lý Đại Thừa. Vô Trước khuyên
Thế Thân không nên tự tử mà nên dùng tài uyên bác của
mình để quảng bá giáo lý Đại Thừa hầu chuộc lại lỗi
lầm phỉ báng Đại Thừa khi xưa.
Cũng
có thuyết cho rằng vì muốn thuyết phục em mình quay về với
Đại Thừa, Vô Trước đã viết thư cho Thế Thân báo rằng
mình đang đau nặng và chỉ có thể yên tâm nhắm mắt nếu
Thế Thân hứa làm cho một việc, đó là đọc tất cả các
kinh Đại Thừa cho mình nghe. Dĩ nhiên là Thế Thân bằng
lòng thỏa mãn lời yêu cầu của người anh. Sau khi đọc hết
các bộ kinh Đại Thừa mà Vô Trước đưa cho, Thế Thân hoát
nhiên ngộ nhập được ý nghĩa thâm sâu của Đại Thừa.
Ngài hối hận tỏ ý muốn cắt lưỡi tự tử để tạ cái
tội đã phỉ báng Đại Thừa, nhưng Vô Trước đã can ngăn
và khuyên ngài hãy dùng cái lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa
khi xưa để hoằng dương chánh pháp Đại Thừa.
Từ
đó về sau, Thế Thân chỉ chuyên tu trì, nghiên cứu, hoằng
dương và trước tác các luận giải thuộc Đại Thừa mà
thôi. Ngài trước tác trên 500 luận giải Đại Thừa, trong
đó có các luận giải sau:
1.
Chú giải về Trung Biên Phân Biệt Luận
2.
Duy Thức Nhị Thập Tụng và chú giải
3.
Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận
4.
Duy Thức Tam Thập Tụng
5.
Tam Tự Tánh
6.
Phật Tánh Luận
Ngài
tịch tại A Du Đà (Ayodhya) thuộc Trung Ấn năm 396 Tây Lịch
tức Phật Lịch 940, thọ 80 tuổi. Cũng có thuyết cho rằng
ngài tịch tại xứ Nepal thuộc Bắc Ấn.
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG
(âm
hán)
1
Do
giả thuyết ngã pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến
Thử
năng biến duy tam
2
Vị:
Dị thục, Tư lương
Cập
Liễu biệt cảnh thức
Sơ
A lại da thức
Dị
thục, Nhất thiết chủng
3
Bất
khả tri Chấp, Thọ
Xứ,
Liễu. Thường dữ Xúc
Tác
ý, Thọ, Tưởng, Tư
Tương
ưng duy Xả tho
4
Thị
vô phú vô ký
Xúc
đẳng diệc như thị
Hằng
chuyển như bộc lưu
A
la hán vị xả
5
Thứ
đệ nhị năng biến
Thị
thức danh Mạt na
Y
bỉ chuyển duyên bỉ
Tư
lương vi tánh tướng
6
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh
ngã mạn, ngã ái
Cập
dữ xúc đẳng câu
7
Hữu
phú vô ký nhiếp
Tùy
sở sanh sở hệ
A
la hán, Diệt định
Xuất
thế đạo vô hữu
8
Thứ
đệ tam năng biến
Sai
biệt hữu lục chủng
Liễu
cảnh vi tánh tướng
Thiện,
bất thiện câu phi
9
Thử
tâm sở biến hành
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, bất định
Giai
tam thọ tương ưng
10
Sơ
biến hành xúc đẳng
Thứ
biệt cảnh vị: dục
Thắng
giải, niệm, định, huệ
Sở
duyên sự bất đồng
11
Thiện
vị: tín, tàm, quý
Vô
tham đẳng tam căn
Cần,
an, bất phóng dật
Hành
xả cập bất hại
12
Phiền
não vị: tham, sân
Si,
mạn, nghi, ác kiến
Tùy
phiền não vị: phẫn
Hận,
phú, não, tật, xan
13
Cuống,
siễm dữ hại, kiêu
Vô
tàm cập vô quý
Trạo
cử dữ hôn trầm
Bất
tín tinh giải đãi
14
Phóng
dật cập thất niệm
Tán
loạn, bất chánh tri
Bất
định vị: hối, miên
Tầm,
tứ, nhị các nhị
15
Y
chỉ căn bản thức
Ngũ
thức tùy duyên hiện
Hoặc
câu hoặc bất câu
Như
đào ba y thủy
16
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh vô tưởng thiên
Cập
vô tâm nhị định
Thùy
miên dữ muộn tuyệt
17
Thị
chư thức chuyển biến
Phân
biệt, sở phân biệt
Do
thử bỉ giai vô
Cố
nhất thiết duy thức
18
Do
nhất thiết chủng thức
Như
thị như thị biến
Dĩ
triển chuyển lực cố
Bỉ
bỉ phân biệt sanh
19
Do
chư nghiệp tập khí
Nhị
thủ tập khí câu
Tiền
dị thục ký tận
Phục
sanh dư dị thục
20
Do
bỉ bỉ biến kế
Biến
kế chủng chủng vật
Thử
biến kế sở chấp
Tự
tánh vô sở hữu
21
Y
tha khởi tự tánh
Phân
biệt duyên sở sanh
Viên
thành thật ư bỉ
Thường
viễn ly tiền tánh
22
Cố
thử dữ y tha
Phi
dị phi bất dị
Như
vô thường đẳng tánh
Phi
bất kiến thử bỉ
23
Tức
y thử tam tánh
Lập
bỉ tam vô tánh
Cố
Phật mật ý thuyết
Nhất
thiết pháp vô tánh
24
Sơ
tức tướng vô tánh
Thứ
vô tự nhiên tánh
Hậu
do viễn ly tiền
Sở
chấp ngã pháp tánh
25
Thử
chư pháp thắng nghĩa
Diệc
tức thị Chân Như
Thường
như kỳ tánh cố
Tức
Duy Thức Thật Tánh
26
Nãi
chí vị khởi thức
Cầu
trụ duy thức tánh
Ư
nhị thủ tùy miên
Do
vị năng phục diệt
27
Hiện
tiền lập thiểu vật
Vị
thị duy thức tánh
Dĩ
hữu sở đắc cố
Phi
thật trụ duy thức
28
Nhược
thời ư sở duyên
Trí
đô vô sở đắc
Nhĩ
thời trụ duy thức
Ly
nhị thủ tương cố
29
Vô
đắc bất tư nghì
Thị
xuât thế gian trí
Xả
nhị thô trọng cố
Tiện
chứng đắc chuyển y
30
Thử
tức vô lậu giới
Bất
tư nghì thiện thường
An
lạc giải thoát thân
Đại
Mâu Ni danh pháp
BA
MƯƠI BÀI TỤNG DUY THỨC
(phiên
dịch)
1
Ngã
và pháp không thật
Các
chủng tướng chuyển hiện
Đều
là do thức biến
Thức
năng biến có ba
2
Là
Dị thục, Tư lương
Và
thức Liễu biệt cảnh
Thứ
nhất A lại da
Dị
thục, Nhất thiết chủng
3
Không
thể biết thọ thân
Xứ
nào. Thường cùng Xúc,
Tác
ý, Thọ, Tưởng, Tư
Chỉ
tương ưng Xả thọ
4
Tánh
vô phú vô ký
Các
biến hành cũng vậy
Hằng
chuyển như nước dốc
A
la hán thì xả
5
Thức
năng biến thứ hai
Gọi
là thức Mạt na
Nương
kia chuyển, duyên kia
Tư
lương làm tánh tướng
6
Tương
ưng bốn phiền não
Là
ngã si, ngã kiến
Cùng
ngã mạn, ngã ái
Và
tâm sở xúc thẩy
7
Tánh
hữu phú vô ký
Sanh
theo A lại da
Chứng
La hán, Diệt định
Xuất
thế đạo không còn
8
Thức
năng biến thứ ba
Có
sáu loại khác nhau
Tánh
tướng là biết cảnh
Thiện,
bất thiện, vô ký.
9
Các
tâm sở biến hành
Biệt
cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, bất định
Đều
tương ưng ba thọ
10
Các
biến hành: xúc thẩy
Các
biệt cảnh gồm: dục
Thắng
giải, niệm, định, huệ
Cảnh
sở duyên không đồng.
11
Thiện
gồm: tín, hổ, thẹn
Không
tham thẩy ba thứ
Chăm,
yên, không phóng dật
Xả
bỏ và không hại
12
Phiền
não gồm: tham, sân
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Tùy
phiền não gồm: phẫn
Hận,
phú, não, tật, xan
13
Dối,
nịnh và hại, kiêu
Không
hổ và không thẹn
Trạo
cử với hôn trầm
Không
tin cùng giải đãi
14
Phóng
dật và mất niệm
Tán
loạn, không chánh tri
Bất
định gồm: hối, miên
Tầm,
tứ, hai đều hai
15
Nương
nơi thức căn bản
Năm
thức hiện theo duyên
Hoặc
cùng hoặc chẳng cùng
Như
sóng nương nơi nước
16
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh trời vô tưởng
Và
hai định vô tâm
Ngủ
say và chết giấc
17
Tất
cả thức chuyển biến
Phân
biệt, bị phân biệt
Do
đây kia đều không
Nên
tất cả duy thức
18
Do
thức nhất thiết chủng
Biến
như vậy, như vậy
Vì
năng lực triển chuyển
Kia
kia phân biệt sanh
19
Do
tập khí các nghiệp
Cùng
tập khí hai thủ
Nên
dị thục trước hết
Lại
sanh dị thục sau
20
Do
kia kia biến kế
Biến
kế chủng chủng vật
Biến
kế sở chấp này
Tự
tánh vô sở hữu
21
Tự
tánh y tha khởi
Do
duyên phân biệt sanh
Viên
thành thật nơi đó
Xa
lìa biến kế trên
22
Nên
nó cùng y tha
Chẳng
khác không chẳng khác
Như
các tánh vô thuờng
Thấy
đây mới thấy kia
23
Nương
nơi ba tánh kia
Lập
ba không tánh này
Nên
Phật mật ý nói
Tất
cả pháp không tánh
24
Trước
là tướng không tánh
Kế
không tự nhiên tánh
Sau
đó lìa tánh trước
Là
tánh chấp nghã pháp
25
Đây
thắng nghĩa các pháp
Cũng
tức là Chân như
Vì
tánh thường như vậy
Tức
Thật Tánh Duy Thức
26
Khi
chưa khởi được thức
Cầu
trụ Duy Thức Tánh
Thì
hai thủ tiềm ẩn
Vẫn
chưa thể diệt trừ
27
Nếu
còn một chút gì
Cho
là Duy Thức Tánh
Là
còn có Sở Đắc
Chẳng
thật trụ Duy Thức
28
Nếu
khi đối sở duyên
Trí
đều không sở đắc
Mới
thật trụ Duy Thức
Vì
đã lìa hai thủ
29
Không
đắc chẳng nghĩ bàn
Là
trí xuất thế gian
Xả
hết hai trọng chướng
Nên
chứng quả chuyển y
30
Đấy
là cõi vô lậu
Thiện
Thường chẳng nghĩ bàn
Thân
giải thoát an vui
Gọi
là Đại Mâu Ni
CHƯƠNG
I
CÁC
THỨC NĂNG BIẾN TRONG DUY THỨC HỌC
Duy
thức học là một môn học nghiên cứu và khảo sát tất cả
các tính chất của tâm thức con người và các hiện tướng
của vũ trụ vạn vật. Từ đó Duy Thức Học chứng tỏ được
rằng tất cả các pháp đều từ nơi Chân Tâm mà chuyển hiện
ra, được gọi là Pháp Tướng. Chân Tâm là nguồn gốc của
tất cả các pháp, là thể tánh chân như của các pháp, được
gọi là Pháp Tánh.
Nguồn
gốc của Duy Thức có thể tìm thấy trong các bài kinh, bài
tụng hay các bài luận giải của Phật giáo nguyên thủy và
đại thừa như kinh A Hàm, kinh Hoa Nghiêm, kinh Giải Thâm Mật,
kinh Lăng Già Tâm Ấn, kinh Lăng Nghiêm, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá
Luận, Du Già Sư Địa Luận, Bách Pháp Minh Môn Luận, Duy Thức
Nhị Thập Tụng, Duy Thức Tam Thập Tụng, Bát Thức Qui Củ
Tụng, v.v...
Bồ
tát Thế Thân đã trước tác ra bộ Bách Pháp Minh Môn Luận,
theo đó thì tất cả mọi hiện tượng, nhận thức, khái niệm
và tư tưởng đều không ra ngoài 100 pháp. Tất cả Pháp Tướng
đều nằm trong 100 pháp đó. Ngài cũng viết 30 bài tụng gọi
là Duy Thức Tam Thập Tụng để giải thích mọi khía cạnh
của vũ trụ và vạn vật để sau đó chỉ ra được cái thật
tánh của tất cả các pháp. Thật tánh này chính là cái Pháp
Tánh hay là cái Chân Tâm đã nói ở trên. Do đó phương pháp
của ngài được gọi là Tùng Tướng Nhập Tánh, nương nơi
hiện tướng mà nhập được thể tánh chân như.
Theo
Duy Thức Học thì tất cả pháp đều không thật có, chúng
chỉ là biểu hiện của Tâm Thức, không có tự thể chân
thật, luôn luôn sanh diệt và biến chuyển không ngừng. Trong
kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ông A Nan: A Nan phải biết,
diệu tánh vốn viên minh, rời các danh tướng, xưa nay không
có thế giới và chúng sanh. Nhơn vọng có sanh, nhơn sanh có
diệt, sanh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chơn.
Thật
tánh của chúng sanh vốn trong sáng cùng khắp. Do cái tự tánh
trong sáng đó, chúng sanh lại vọng tưởng là có tánh sáng
mà đem ra chiếu soi nên chân tâm bị chuyển biến thành ra
tâm thức. Tâm thức còn được gọi là tâm hay là thức. Từ
nơi chân như rốt ráo thanh tịnh lại khởi ra phân biệt cái
có và cái không. Cứ thế tâm vọng tưởng phân biệt cứ
huân tập tới lui không ngưng nghỉ trong tâm thức tạo ra các
hình ảnh, các hiện tướng mà Duy Thức gọi là chủng tử
và hiện hành.
Các
chủng tử và hiện hành cứ chập chùng xoay vần, chiếu soi
lẫn nhau. Các chiếu soi này, lúc là năng, lúc là sở, lúc
là chủ thể, lúc là đối tượng, liên tục lập đi lập
lại, huân tập, tăng thượng, sanh diệt chuyển biến không
ngưng nghỉ, tạo nên vô lượng các loại chủng tử và hiện
hành mới. Khi đầy đủ nhân duyên thì các chủng tử và hiện
hành này chín mùi, chuyển biến thành một chúng sanh chánh
báo trong một thế giới y báo. Chánh báo đó là cái thân xác
ngũ uẩn của chúng ta, còn gọi là ngã và y báo là thế giới
và vạn vật nơi chúng ta nương tựa và sinh sống, còn gọi
là pháp. Chánh báo và y báo là cái nghiệp báo mà chúng ta
nhận lãnh, là quả báo của vô lượng các hành nghiệp mà
chúng ta đã tạo ra trong vô lượng kiếp quá khứ. Chánh báo
hay ngã là nghiệp quả riêng của mỗi chúng sanh, còn gọi
là biệt nghiệp. Y báo hay pháp là nghiệp quả chung, là cảnh
giới nơi đó chúng sanh nương tựa, ăn ở và sinh sống, còn
gọi là cộng nghiệp.
Tùy
theo nghiệp báo, sanh làm loài nào thì hiện ra các cảnh tướng
và chúng sanh của loài đó. Loài người thì có thế giới
của loài người, có sơn hà hải địa, có anh và có tôi.
Có loài tế bào hay hộ trùng ở trong thế giới của thân
thể con người, có loài ở trong thân thể của loài vật,
của loài cá, của loài chim và ở ngay cả trong cây cỏ và
gỗ đá. Có những loài vô hình ở trong không gian, nương nơi
các gò hoang, miếu trống, nơi các cây cổ thụ hoặc đôi
khi gá vào căn thân của các loài chúng sanh khác.
Vũ
trụ và thế giới của loài này không phải vũ trụ và thế
giới của loài kia. Như cùng một dòng sông mà con người thấy
là dòng nước, loài quỷ thấy là dòng lửa còn bậc trời
thì thấy là dòng lưu ly.
Chúng
sanh không biết rằng các cảnh giới vũ trụ và thế gian đều
do Tâm biến hiện nên tùy theo mỗi loài mà chấp cái này là
Ngã, cái kia là Pháp. Mỗi loài đều có những Ngã và Pháp
khác nhau mà nào đâu biết tất cả đều là hư dối do vọng
tưởng phân biệt sanh ra.
Vì
khởi vọng niệm mà thể tánh chân như vốn thanh tịnh bị
dấy động và biến hiện ra sơn hà và hải địa, có chúng
sanh và thế giới. Thể tánh chân như ví như biển cả, chúng
sanh và thế giới ví như những đợt sóng và vọng niệm được
ví như những cơn gió thổi sóng nhấp nhô liên tiếp, ngọn
sóng sau đẩy ngọn sóng trước, ngọn sóng này diệt thì ngọn
sóng khác sanh liên tiếp không ngưng nghỉ.
Mặt
biển vốn thanh tịnh không có sóng mòi nhưng vì gió nổi lên
nên hiện ra có sóng mòi. Chúng sinh và thế giới cũng vậy,
vốn đồng một thể với Chân tâm thanh tịnh nhưng vì vọng
niệm dấy lên nên các chủng tướng hiện khởi, chuyển biến
mà hiện ra có hình tướng, chứ thật ra chỉ là giả như
hoa đốm giữa hư không. Chân tâm khi bị dấy niệm ví như
mặt biển chuyển sóng cồn, không còn là chân tâm thanh tịnh
nữa mà trở thành Mặt Biển Tâm Thức. Từ biển tâm thức
này mà chúng sanh và thế giới được thành lập như lời
kệ của đức Thế tôn trong kinh Lăng Già Tâm Ấn:
Ví
như gió biển cả
Đây
do gió mạnh thổi
Sóng
to vỗ biển rộng
Không
có khi đoạn dứt
Biển
tàng thức thường trụ
Gió
cảnh giới nổi dậy
Lớp
lớp các sóng thức
Ào
ạt mà chuyển sanh.
Vì
vọng niệm chiếu soi nên khởi ra Kiến Phần tức là chủ
thể của cái thấy gọi là phần Năng Kiến. Kiến phần chiếu
soi trở vào cái chân tâm thanh tịnh và thấy lờ mờ cái ánh
của hình tướng và cho là có tướng thật. Cái hình tướng
ấy là đối tượng của Kiến phần gọi là Tướng Phần,
là phần bị thấy, là phần Sở Kiến.
Kiến
phần lấy cái hình ảnh giả có này đưa trở lại vào tâm
thức thành một chủng tử mới. Chủng tử mới này lại được
chiếu soi mà chuyển biến và biểu hiện ra một tướng phần
mới. Cứ thế các chủng tử và hiện hành cứ thay phiên làm
nhân duyên, trùng trùng duyên khởi, tương sanh, tương duyên
chuyển hiện thành vô số những chủng tử và hiện hành mới,
ví như ngọn nến được chiếu soi bởi nhiều lớp gương
mà hiện lên muôn vàn hình ảnh chập chùng bất tận.
Các
chủng tử và hiện hành này càng được chiếu soi thì càng
chuyển biến, càng hiện đậm nét lên và trở nên mỗi lúc
một thô kệch và nặng nề hơn, cho đến khi có đủ nhân
duyên thì chuyển hiện thành thế giới và chúng sanh.
Sự
chuyển hiện ra chúng sanh và sơn hà hải địa từ vô lượng
những chủng tử và hiện hành nơi Tâm thức được ví như
sự đâm chồi nẩy mộng từ những hạt giống nơi mặt đất
trở thành cây nhánh và hoa lá. Tánh chất của sự tăng trưởng
biến đổi mà thành hình này được Duy Thức gọi là tánh
chất Dị Thục. Dị là khác, Thục là chín có nghĩa là biến
khác đi mà chín mùi.
Vì
vọng niệm mà Tâm thức bị chuyển biến và biểu hiện khác
đi, không còn là biển chân như thanh tịnh vô biên nữa mà
là căn thân và thế giới thô kệch hạn hẹp. Để nhấn mạnh
đến tánh chất chuyển biến mà thành hình, Duy thức học
gọi tâm thức đã chuyển biến này là Dị Thục Thức.
Dị
thục có ba nghĩa. Thứ nhất là khác thời gian mà chín, dị
thời nhi thục, có nghĩa là từ dạng chủng tử mà chuyển
biến thành căn thân và thế giới đòi hỏi một thời gian.
Thứ hai là khác loại mà chín, dị loại nhi thục, như trái
cam, trước khi chuyển thành trái cam thì là nụ, là hoa, hoa
tàn thì ra trái, khi còn nhỏ thì xanh và sần sùi, khi chín
thì lớn, trơn láng và có mầu vàng. Thứ ba là biến khác
đi mà chín, biến dị nhi thục, ví như trái cam khi còn xanh
vị chua, khi chín thì vị ngọt.
Nương
nơi Dị Thục thức, mạt na thức được sanh khởi. Mạt na
là âm tiếng Phạn của chữ Manas, có nghĩa là tư lương nên
mạt na thức còn được gọi là tư lương thức. Đặc tính
của thức này là mê muội, chấp trước và so đo, chấp Kiến
phần và Tướng phần là thật thể, chấp tất cả các chủng
tử và hiện hành là thật có. Mạt Na thức cứ bám sát và
ôm chặt lấy Dị Thục thức cho là của mình, cho là hằng
còn tỷ như rễ cây bám chặt lấy mặt đất.
Các
chấp chước đó càng ngày càng kiên cố khiến cho các chủng
tử và hiện hành của các pháp trở nên thô kệch, rắn chắc
lại cho tới một lúc nào đó hội đủ các điều kiện nhân
duyên thì chuyển biến thành thế giới vật chất mà Duy Thức
gọi là Đới Chất Cảnh, là cảnh giới có giới hạn, bị
bao lại, bị cột lại. Các chủng tử và hiện hành được
ví như những hạt giống, nhân duyên được ví như những
điều kiện tăng trưởng như sự hòa hợp của đất, nắng,
mưa, ánh sáng cùng bóng đêm khiến cho hạt giống đâm chồi
nẩy mộng.
Khi
thế giới và chúng sanh được thành hình thì chúng không còn
được biết như là kết quả dị thục của tâm thức nữa
mà bị mê vọng chấp là những cảnh giới hữu chất ở ngoài
tâm thức. Cảnh giới này chỉ được nhận biết qua cửa
ngõ của các giác quan thô kệch nơi mỗi chúng sanh như mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân gọi là Ngũ Căn. Ngũ Thức nương nơi
ngũ căn này mà nhận biết được cảnh giới sắc trần.
Nhưng
chỉ riêng ngũ thức thôi thì các sự nhận biết đó sẽ rất
đơn sơ và rời rạc. Nhãn thức chỉ biết sự có hình ảnh
và không có hình ảnh chứ không biết rõ hình ảnh đó là
gì, mầu sắc ra sao, nhĩ thức chỉ biết có tiếng động hay
không có tiếng động, tỷ thức chỉ biết có mùi hay không
có mùi, thiệt thức chỉ biết có vị hay không có vị, thân
thức chỉ biết có sự xúc chạm hay không xúc chạm thôi.
Phải có sự hòa hợp của ngũ thức với ý thức thì mới
biết rõ được tánh chất của cảnh giới sắc trần. Ý thức
và Ngũ thức hợp lại thành sáu thức gọi là Tiền Lục Thức
hay là Liễu Biệt Cảnh Thức.
Nguyên
thủy thì Tâm chính là Bản Tánh Chân Như nhưng chỉ vì vọng
niệm từ vô thủy nên biến hiện ra có ba phần là Dị Thục
thức, Mạt Na thức và Liễu Biệt Cảnh thức. Các thức này
hình như riêng biệt nhưng thật ra vốn chẳng khác vì đều
gốc ở thể tánh chân như.
Ý
thức được ví như thân cây, Tiền ngũ thức được ví như
những cành cây vươn ra từ thân cây. Mạt na thức là rễ
cây, luôn bám chặt vào mặt đất Dị thục thức. Tâm cũng
được ví như nước của biển cả, bẩy chuyển thức gồm
Mạt na thức và Tiền lục thức ví như những lớp sóng mòi,
do nước của biển cả dấy động lên mà có chứ thực ra
không có thật thể. Vì muốn trùng tuyên nghĩa này, đức Thế
tôn nói kệ nơi núi Lăng Già:
Ví
như nước biến đổi
Lớp
lớp sóng mòi chuyển
Bẩy
thức cũng như vậy
Tâm
cùng hòa hợp sanh
Là
chỗ tàng thức kia
Bao
nhiêu các thức chuyển.
Bồ
tát Thế Thân đã cô động các ý nghĩa trên trong hai bài tụng
đầu của Duy Thức Tam Thập Tụng.
BÀI
TỤNG THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI
Do
giả thuyết Ngã Pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến
Thử
năng biến duy tam
Vị:
Dị Thục, Tư Lương
Cập
Liễu Biệt Cảnh Thức
Sơ
A Lại Da Thức
Dị
Thục, Nhất Thiết Chủng.
Dịch
là:
Ngã
và Pháp không thật
Các
chủng tướng chuyển hiện
Đều
là do Thức biến
Thức
năng biến có ba
Là
Dị Thục, Tư Lương
Và
thức Liễu Biệt Cảnh
Thứ
nhất A Lại Da
Dị
Thục, Nhất Thiết Chủng.
Có
nghĩa là tất cả các pháp bao gồm cả chúng sanh lẫn thế
giới đều là giả, không thật có. Tất cả đều do Thức
chuyển biến mà hiện khởi ra. Thức có khả năng chuyển hiện
ra các pháp đó được chia làm ba loại là Dị Thục, Tư Lương
và Liễu Biệt Cảnh Thức.
Như
trên đã trình bầy, Dị Thục Thức là thức năng biến thứ
nhất, còn được gọi là Tàng Thức Sơ Năng Biến, Căn Bản
Thức, A Lại Da Thức, Tàng Thức, Nhất Thiết Chủng Thức
hay là Thức Thứ Tám.
Tư
Lương Thức là thức năng biến thứ hai, còn được gọi là
Mạt Na Thức hay là Thức Thứ Bẩy.
Liễu
Biệt Cảnh Thức là các thức năng biến thứ ba, còn được
gọi là Tiền Lục Thức gồm Ý Thức và năm thức trước.
Ý Thức còn gọi là Thức Thứ Sáu hay là Phân Biệt Thức.
Năm thức trước còn được gọi là Tiền Ngũ Thức gồm Nhãn
Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức tức
là năm thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Kinh
Hoa Nghiêm nói Tam giới duy Tâm, Vạn pháp duy Thức. Tất cả
các pháp trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới
đều do tâm sanh. Các pháp trùng trùng duyên khởi, thế giới
hiện hữu cả trong tâm tôi lẫn tâm anh. Trong anh có tôi và
trong tôi có anh. Tâm trùm tất cả pháp giới, tất cả pháp
giới đều do tâm sanh. Vạn hữu và vũ trụ có thể nằm trọn
trong một hạt cải và hạt cải có thể thâu nhiếp cả vạn
pháp. Một là tất cả, tất cả là một. Tất cả đều do
mê vọng, do mê vọng mà kết nên nghiệp duyên và do nghiệp
duyên mà muôn pháp hiện khởi. Nên nói tất cả đều là huyễn
hóa như trăng đáy nước, như hoa trong gương.
Kinh
Lăng Già ví thế gian như Hoa Hư Không. Hư không đâu có hoa
đốm nhưng vì con mắt nhậm nên thấy hoa đốm giữa hư không.
Vì chúng sanh quá mê muội không biết rõ như thế nên đức
Phật rất thương sót cho chúng sanh. Thương sót không phải
vì thấy chúng sanh khổ não trong sanh tử luân hồi, mà thương
sót vì chúng sanh không biết mình vốn có sẵn cái chân như
thanh tịnh, cứ vọng tưởng phân biệt, thấy có mình, có
người, có vạn vật, có thế giới và vũ trụ nên cứ phải
trầm luân đau khổ trong sanh tử luân hồi.
Hãy
nghe Đại Huệ dùng kệ tán thán Phật trong kinh Lăng Già Tâm
Ấn:
Thế
gian lià sanh diệt
Ví
như hoa hư không
Trí
chẳng thấy có không
Mà
khởi tâm đại bi
Xa
lìa nơi tâm thức
Trí
chẳng thấy có không
Mà
khởi tâm đại bi
Xa
lìa chấp đoạn thường
Thế
gian hằng như mộng
Trí
chẳng thấy có không
Mà
khởi tâm đại bi
Muốn
trở về với chân tâm, phải quán các pháp như huyễn. Biết
được các pháp không thật thì mới có thể phá vỡ được
màn vô minh kiên cố của ngã chấp và pháp chấp có từ vô
thủy che lấp chân tâm. Một khi vọng tưởng phiền não của
ngã chấp và pháp chấp không còn nữa, màn vô minh đã được
phá vỡ thì chân tâm được hiển lộ. Chân Tâm còn được
gọi là Bản Tánh Chân Như hoặc Phật Tánh hay là Chân Tâm
Diệu Minh. Chư Phật ba đời cũng đều ở trong biển Chân
Như này mà xuất hiện.