Thánh
Gandhi tên thật là MOHANDAS KARAMCHAND GANDHI, chào đời vào sáng
ngày 2 tháng 10 năm 1869 trong một căn nhà nhỏ tại Porbandar
thuộc vùng Kathiawad - một vùng biển phía Tây Ấn Độ - thuộc
Bombay. Thân phụ Mohandas Karamchand Gandhi tên Karamchand Gandhi,
thân mẫu là bà Putlibai, gia đình Gandhi thuộc giai cấp thương
gia (Vaishya, đẳng cấp thứ 3 theo đạo Hindu). Sử sách còn
ghi lại: Ông nội của Mohandas Karamchand Gandhi là Uttamchand Gandhi,
một thương gia nổi tiếng của vùng Porbandar. Mohandas Karamchand
Gandhi là con út trong gia đình có sáu người con, song thân thường
gọi cận bé trai út này là “MONIYA” (cục cưng) thể hiện
sự triều mến nhất trong sáu đứa con của mình.
Năm
Mohandas Karamchand Gandhi lên Bảy (7 tuổi) gia đình chuyển đến
vùng Rajkot. Tại Rajkot, Mohandas K. Gandhi được gởi đến học
tại một trường tiểu học trong vùng cùng với anh trai của
mình. Mohandas K. Gandhi vốn xuất thân từ một gia đình thuộc
gia cấp thương gia, nên những đứa trẻ cùng lớp đều tìm
cách xa lánh và cắt đứt mọi tiếp xúc, dù rằng Mohandas
K. Gandhi là một hoc sinh rất khá và sáng giá của trường.
Một
ngày kia, trông thấy Aku - một người bạn cùng lớp – đi
ngang qua nhà, Mohandas K. Gandhi bảo Aku đợi và chạy vào
bếp lấy một ít bánh ngọt tặng Aku với mong muốn được
làm quen với người bạn thuộc diện “khó tiếp xúc” (untouchable)
này. Niềm vui như bị tan biến khi Mohandas K. Gandhi đối diện
với sự thật, “Cậu không nên đến gần tớ” Aku van xin,
Mohandas K. Gandhi liền hỏi “Tại sao không? Tại sao con người
không thể đến gần con người?”, “Bởi vì tớ là một
người giai cấp thấp, con của một gia đình ở đợ” Aku
buồn bã trả lời. Mohandas K. Gandhi chụp tay Aku và đặt những
miếng bánh ngọt vào đó, Aku không nói lời nào quay mặt vụt
chạy. Bà Putlibai từ cửa sổ chứng kiến sự việc, nhẹ
nhàng gọi Mohandas K. Gandhi vào phòng bảo: “… Những người
thuộc giai cấp cao theo đạo Hindu (high-caste Hindu) không nên
tiếp xúc, va chạm đến những kẻ cùng đinh”, tất nhiên
là Mohandas K. Gandhi không chấp nhận điều này, bởi vì “…
không có gì khác nhau giữa con và Aku”. Bà Putlibai đáp lại
bằng sự im lặng và bảo Mohandas K. Gandhi đi tắm. Rất nhiều
những người cầm bút đồng ý rằng sự im lặng của bà
Putlibai là thái độ của sự đồng ý…
Thời
đó, tục lệ tảo hôn vẫn còn duy trì ở Ấn Độ, gia đình
buộc Mohandas K. Gandhi phải lấy vợ ở tuổi 13. Người bạn
đời của Mohandas K. Gandhi được chọn bởi dòng họ Gandhi
là cô Kasturbai tại Porbandar, cũng ở tuổi 13… Một tiệc
cưới linh đình diễn ra với nhiều người tham dự, người
ta chúc mừng cặp “Tân lang tân giai nhân” này rất nhiều
hoa thơm và lá chuối… Ông Karamchand Gandhi tạ thế ba năm
sau ngày cưới của đứa con út Mohandas K. Gandhi (tức năm Gahdhi
16 tuổi).
Sau
khi tốt nghiệp chương trình Trung học, Mohandas K. Gandhi được
trúng tuyển vào Đại học Samaldas (Samaldas College) tại Bhavgagar.
Sau một học kỳ tại Đại học Samaldas, Mohandas K. Gandhi gặp
một số khó khăn, Mohandas K. Gandhi quyết định thôi học trở
về nhà làm việc phụ giúp gia đình. Thân mẫu và bào huynh
của Gandhi không chấp thuận điều đó, họ đã khuyên nhũ,
động viên Gandhi phải đi lên bằng con đường học vấn và
tạo mọi điều kiện để Gandhi có thể sang Anh Quốc du học.
Ngày 4 tháng 9 năm 1888, Mohandas K. Gandhi rời Bombay sang Anh Quốc
trên một chuyến thuyền buôn trong trang phục của một người
Tây phương.
Tại
Luân-Đôn (London), Mohandas K. Gandhi được Tiến sĩ P.J.Mehta
- một người bạn của cha mình - tận tình giúp đỡ. Tiến
sĩ P.J.Mehta đã ân cần hướng dẫn Mohandas K. Gandhi mọi sinh
hoạt và cách thức thích ứng với “phong cách Tây âu” (European
manners). Mohandas K. Gandhi bắt đầu học thêm tiếng Pháp với
quyết tâm theo học ngành Luật của Đại học tổng hợp Luân
Đôn. Lần thi tuyển đầu tiên, Mohandas K. Gandhi vượt qua các
môn Pháp ngữ, Anh ngữ, Hoá học nhưng lại bị “kẹt chân”
ở môn La-Tinh (Latin), tình thế “kẹt chân” này được cứu
vãn ở “kỳ thi vớt” sau đó. Tháng 11 năm 1888, Mohandas K.
Gandhi chính thức trở thành sinh viên Luật khoa của Đại học
tổng hợp Luân Đôn. Mohandas K. Gandhi kết thúc khoá học và
chính thức nhận văn bằng tốt nghiệp vào ngày 10 tháng 6
năm 1891, với bảng điểm xếp hạng khá. Sau đó hai ngày,
Mohandas K. Gandhi lại theo thuyền buôn trở về Ấn Độ. Trong
thời gian ba năm lưu trú tại Luân Đôn, Mohandas K. Gandhi tham
gia Hội người ăn chay Luân Đôn (London Vegetarian Society), và
người ta thấy nhiều bài báo dưới bút danh Mohandas K. Gandhi
được đăng tải trên tạp chí Vegetarian (Người Ăn chay).
Thuyền
cập vào cảng Bombay, Mohandas K. Gandhi thấy những người thân
trong gia đình đang chờ mình ở đó, nhưng Mohandas không nhìn
thấy hình ảnh kính yêu mà Mohandas K. Gandhi mong đợi nhất,
bà Putlibai vừa từ trần vài tuần trước đó, những người
thân trong gia đình giấu kín tin này vì sợ ảnh hưởng đến
kỳ thi tốt nghiệp của Mohandas K. Gandhi. Trở về cố hương
tại Rajkot, Mohandas K. Gandhi hành nghề luật sư (barrister), nhưng
những thành kiến và sự bất đồng trong bộ phận những
người hành nghề Luật tại Rajkot đã phần nào làm Mohandas
K. Gandhi lâm vào tình thế khó khăn. Công ty Dada, Abdulla &
Co., - chủ công ty là một người Ấn ở Nam Phi – nhìn sự
khó khăn của Mohandas K. Gandhi như một vận hội tốt đến
với mình, bèn ngõ lời mời Mohandas K. Gandhi làm luật sư đại
diện chính thức với mức lương vô cùng hấp dẫn, Mohandas
K. Gandhi nhận lời mời không chút đắn đo. Giới kinh doanh
thời đó nhận định rằng: Ông chủ công ty Dada, Abdulla &
Co. thừa thông minh để hiểu Mohandas K. Gandhi nói tiếng Anh
rất lưu loát, học và hiểu rõ những luật lệ Anh quốc,
hơn thế nữa Mohandas K. Gandhi là một “cây bút bén và đa
năng”. Tháng 4 năm 1893, Mohandas K. Gandhi rời Bombay đến với
phương trời mới Nam Phi (South Africa).
Cuối
tháng 5 năm 1893, Mohandas K. Gandhi đặt chân đến Durban – Nam
Phi sau một chuyến hải hành đầy gian khổ. Từ đó, Mohandas
K. Gandhi bắt đầu công việc của mình trong cái nhìn không
mấy thiện cảm của những người dân Nam Phi. Tại Nam Phi,
nạn kỳ thị chủng tộc đã làm phần đời Mohandas K. Gandhi
vốn đã gặp nhiều bất trắc lại càng trở nên khốn khổ.
Chuyện kể rằng, trên một chuyến tàu từ Durban đi Pretoria,
Mohandas K. Gandhi mua một vé tàu hạng nhất (first-class ticket),
nhưng khi lên đến tàu người phục vụ hành khách (conductor)
lại dùng những lời mạ lỵ và quyết không cho Mohandas K.
Gandhi vào toa tàu như trong vé đã ghi: “Này, thằng luật sư
cu-li (làm mướn), mày không được vào trong ngồi chung với
những hành khách da trắng” (Hey, you barrister coolie, you can’t
sit inside with the white passengers). Tất nhiên là chuyện phiền
phức kéo theo sau đó, Mohandas K. Gandhi bị bỏ lại ga xe lửa
trong một đêm dài tối tăm. Mohandas K. Gandhi viết một tờ
đơn gởi đến các cấp lãnh đạo, và tất nhiên không bao
giờ ông nhận được bất kỳ câu trả lời nào. Những sự
kiện dồn dập, ông nhận ra sự bất công trong nạn kỳ thị
chủng tộc, ông đã viết nhiều thư, đơn, các bài viết gởi
đến các cơ quan công quyền, các tờ báo xuất bản ở Nam
Phi, nhưng thái độ duy nhất mà Mohandas K. Gandhi nhận được
từ các nơi ông gởi đến là sự ngó lơ, lạnh lùng…
Năm
1896, Mohandas K. Gandhi xin được trở lại Ấn Độ trong vòng
sáu tháng để lo thủ tục bảo lãnh vợ con sang đoàn tụ.
Gandhi đặt chân đến Calcutta vào một ngày giữa năm 1896,
sau 24 ngày đêm lênh đênh trên đại dương. Từ Calcutta về
Rajkot ông đi bằng đường bộ. Gia đình Mohandas K. Gandhi đoàn
tụ, bà Kasturbai và hai người con trai của Gandhi hết sức
vui mừng trong cuộc đoàn viên này. Cùng năm này, nhiều thuận
duyên liên tục đến “gõ cửa” Mohandas K. Gandhi, ông đã
gặp gỡ, tiếp xúc khá nhiều các nhà lãnh đạo Ấn Độ,
giới truyền thông, như Lokamanya B.G.Tilak của Maharashtra, Gopal
Krishna Gokhale, .v.v. những quan điểm của Mohandas K. Gandhi được
tìm thấy trên vô số các tờ báo, người ta cũng thấy sự
ca tụng và ủng hộ những ý kiến của Mohandas K. Gandhi. Gandhi
đã thực sự tạo ra một “diễn đàn Gandhi” sôi nổi trong
giới báo chí thời bấy giờ. Tháng 11 năm 1896, Mohandas K. Gandhi
nhận được một thư khẩn, đề nghị ông khẩn cấp sang
Nam Phi vì những vấn đề nghiêm trọng của công ty. Mohandas
K. Gandhi nhanh chóng rời Ấn Độ mang theo vợ, hai con và một
cháu trai (con của một người chị).
Trở
lại Nam Phi (18-12-1896), Mohandas K. Gandhi bắt đầu được những
người Tây âu lưu trú lại Nam Phi hết sức quan tâm. Gandhi
đến với các hội thảo do những người Tây âu tổ chức
như một “khách mời đặc biệt”. Vợ, con, cháu của Mohandas
K. Gandhi được gởi đến sống với gia đình Rustomji; sau đó
chuyển đến ở chung với gia đình ông Laughton, cố vấn công
ty Dada, Abdulla & Co. Cũng từ đó, Mohandas K. Gandhi bắt đầu
dấn thân vào sự nghiệp chính trị tại Nam Phi, Ông gặp gỡ
và trao đổi với báo giới về những quan điểm của mình,
Mohandas K. Gandhi thành lập các hội bảo vệ người Ấn tại
Nam Phi, và một trong những điều đặc biệt được ghi lại
về Mohandas K. Gandhi trong thời gian này là ông bắt đầu ăn
thức ăn chay không cần phải qua nấu nướng (uncooked food).
Năm
1901, Mohandas K. Gandhi quyết định hồi hương. Sau khi về đến
Ấn Độ, Mohandas K. Gandhi quyết định thực hiện chuyến tham
quan toàn Ấn Độ. Ông đến Calcutta, gặp lúc Đảng Quốc
Đại Ấn Độ (Indian National Congress) tổ chức cuộc mít-tinh
cho năm đó, Mohandas K. Gandhi được người chủ tịch – ông
Dinshaw Wacha - mời làm khách mời danh dự. Chính cuộc mít-tinh
này là cơ hội tốt để Mohandas K. Gandhi tiếp xúc các giới
chức lãnh đạo cao cấp trong đảng Quốc Đại, như: Pherozeshah
Mehta, Lokamanya B.L. Tilak, G.K.Gokhale,.v.v. Sau những cuộc gặp
gỡ này, Mohandas K. Gandhi tiếp tục thực hiện cuộc hành trình
đi khắp Ấn Độ của mình. Sau cuộc hành trình này, Mohandas
K. Gandhi tiếp tục công việc của một luật sư tại Bombay.
Tháng
12 năm 1902, Mohandas K. Gandhi nhận được bức điện tín gởi
từ Nam Phi báo tin Joseph Chamberlain, Bộ trưởng thuộc địa
Anh Quốc (Colonial Secretary) sẽ đến thăm Natal và Transvaal (thuộc
địa của Anh ở Nam Phi). Đảng quốc đại Ấn Độ tại Natal
cũng ngõ lời thỉnh cầu Mohandas K. Gandhi là nhân vật đại
diện cho cuộc tiếp xúc đó. Mohandas K. Gandhi lên đường đến
Natal kịp thời và bị viên Bộ trưởng thuộc địa Anh Quốc
tiếp đãi lạnh nhạt. Sau cuộc tiếp xúc với giữa Mohandas
K. Gandhi và Joseph Chamberlain đã làm cho những người Ấn ở
đó vô cùng thất vọng. Joseph Chamberlain tiếp tục lên đường
đến Transvaal, những người Ấn này một lần nữa mong cầu
Mohandas K. Gandhi đại diện cộng đồng người Ấn trình bày
những nguyện vọng và sự bất bình của họ trước viên
Bộ trưởng thuộc địa Anh Quốc Joseph Chamberlain. Tuy nhiên,
khi đến Transvaal, bộ luật di trú đã có những thay đổi,
Mohandas K. Gandhi quyết định ở lại Transvaal trong một thời
gian.
Tại
Johannesgurg, Mohandas K. Gandhi nộp đơn xin toà án tối cao mở
một văn phòng luật sư, điều đó được chấp thuận. Văn
phòng luật sư của Mohandas K. Gandhi được ra đời tại Johannesgurg.
Vào năm 1904, Madanjit tìm đến Mohandas K. Gandhi bàn về những
dự kiến cho ra đời tờ tuần báo “Indian Opinion” (Quan điểm
người Ấn). Mohandas K. Gandhi đồng ý và xúc tiến mọi thủ
tục. Tờ tuần báo “Indian Opinion” song ngữ: Gujarati và Anh
ngữ nhanh chóng đến với bạn đọc, chủ bút là Mansukhlal
Naaza, Mohandas K. Gandhi giữ vai trò trị sự, xuất bản và phụ
trách cột xã luận (editorial column). Tờ “Indian Opinion” được
độc giả và công chúng ủng hộ nhiệt liệt, vì ở đó người
ta thấy được bức tranh sống động, chân thực của những
người Tây âu bóc lột các nước thuộc địa, tiếng nói
và những khó khăn của nhân dân thuộc địa được công khai
trên mặt báo, đặc biệt là những tâm tư, nguyện vọng của
những người Ấn lưu vong trên xứ sở Nam Phi trong cảnh “nước
mất nhà tan”…. Cùng năm đó, Mohandas K. Gandhi gặp gỡ H.S.L.Polar,
trợ lý tổng biên tập của tờ “The Critic” (bình phẩm,
phê bình), và cả hai người cùng nhận ra nhau họ có chung
một hướng đi… Với những trợ giúp của H.S.L.Polar, tuần
báo “Indian Opinion” thực sự trở thành diễn đàn, thành
cuốn “cẩm nang” cho công chúng, những đóng góp của “Indian
Opinion” không những dừng lại ở lĩnh vực chính trị mà
con mang trong nó nhiều sắc thái khác nhau (ví dụ: mục đồng
án đã làm người dân có cái nhìn mới về thữa ruộng mình
đang có”… Tờ “Indian Opinion” dời trụ sở về Phoenix
gần Durban, tại đây “Indian Opinion” thực sự trở thành
một cơ sở độc lập, với đầy đủ các trang thiết bị
cho một cơ sở báo chí thời đó. Điều tất nhiên là Mohandas
K. Gandhi phải “gồng mình” với cả hai vai trò cùng một
lúc: nhà báo và luật sư. Ông quyết định đưa gia đình sang
Nam Phi lần nữa… Chính vì những công việc căng thẳng của
Mohandas K. Gandhi, bà Kasturbai đã âm thầm chứng kiến cảnh
chồng bà mỗi ngày dùng một nhiều trà và cà phê, trong khi
đó “thức ăn” chính của Mohandas K. Gandhi chỉ toàn là nước
lã…
Tháng
8 năm 1906, chính quyền Transvaal ra thông báo: Tất cả những
người Ấn Độ tại Transvaal phải đến khai báo các chi tiết
cá nhân, sau đó chính quyền sẽ cấp một giấy chứng nhận,
tờ chứng nhận này phải được mang theo người mọi lúc
mọi nơi, phải xuất trình khi các nhân viên chính quyền tra
hỏi. Nếu không có giấy chứng nhận đó, người Ấn sẽ
bị bỏ tù hoặc trục xuất. Cảnh sát có quyền đến nhà
kiểm tra bất kỳ khi nào “cảm thấy cần”… Đứng trước
thông báo này, Mohandas K. Gandhi cho đó là một điều sỉ nhục,
một sự kỳ thị chủng tộc dã man, Ông kêu gọi mọi người
Ấn Độ lưu vong chống lại thông báo đó. Và sau đó mọi
người nhìn thấy Mohandas K. Gandhi “nghỉ mát” trong một
nhà tù ở Transvaal, vì lý do không có “giấy hộ thân”.
Sau đó Mohandas K. Gandhi được gởi đến Pretoria gặp tướng
Smuts. Ông Tướng này tỏ thái độ mềm mỏng hơn với lời
giải thích: “Không phải tôi không thích người Ấn Độ,
tôi chỉ muốn người Ấn sống và tuân theo pháp luật”,
rồi ra lệnh thả Mohandas K. Gandhi. Ra tù, Gandhi cổ vũ một
số người Ấn đến gặp các quan chức địa phương để
giải thích và đưa lên những kiến nghị. Một hôm, trên đường
đến công sở, Mir Alam dùng gậy bất ngờ đánh mạnh liên
tiếp vào Gandhi cho đến khi bất tỉnh, rồi lôi thân thể
Gandhi đặt vào nhà một người Anh rất thân với Gandhi…
Thời gian này người ta ghi nhận rằng Mohandas K. Gandhi vào
nhà giam Transvaal “ngồi bóc lịch” đến ba lần. Lần thứ
ba sau khi ra khỏi nhà giam, Mohandas K. Gandhi đã tổ chức cuộc
mít-tinh và gởi kháng thư đến chính quyền Anh, thư được
hồi âm, Seth Haji Habid va Mohandas K. Gandhi được mời sang Luân
Đôn để trình bày những nguyện vọng và phàn nàn của cộng
đồng người Ấn tại Nam Phi. Kết quả lại thất bại…
Tháng
10 năm 1913, Mohandas K. Gandhi lãnh đạo hơn 6000 công nhân người
Ấn đình công chống lại sự bóc lột và thuế quan của chính
quyền Transvaal tại vùng mỏ Natal. Mohandas K. Gandhi và vô số
công nhân bị bắt và bỏ tù cho vụ này. Lại một lần nữa
các quan chức cấp dưới lại cầu xin sự chiếu xét của
tướng Smuts. Sự việc được chuyển đến tướng Smuts vào
tháng 12 năm 1913. Tuy nhiên trước đó, các nhân viên người
Tây Âu ngành đường sắt cũng đứng dậy biểu tình, đình
công liên tục. Các vụ việc này làm các cấp chính quyền
“rối óc”, vụ việc Mohandas K. Gandhi cũng được chính quyền
“cho qua”… Mohandas K. Gandhi quyết định cùng gia đình trở
về Ấn Độ sau hai mươi mốt (21) năm đóng góp sức mình
cho lợi ích cộng đồng người Ấn tại Nam Phi.
Trong
khi chuẩn bị hành lý thì Gandhi nhận được bức điện tín
của Gokhale gởi từ Luân Đôn, Gokhale nói rằng ông muốn gặp
Gandhi tại Luân Đôn trước khi trở về Ấn Độ. Ngày 18 tháng
7 năm 1914, Mohandas K. Gandhi cùng bà Kasturbai lên đường sang
Anh Quốc. Hai ngày trước khi Gandhi đến Luân Đôn, ngày 4 tháng
8 năm 1914 chiến tranh thế giới bùng nổ. Khi đến Luân Đôn,
Gandhi nghe tin Gokhale đã sang Paris vì lý do sức khoẻ, thông
tin liên lạc giữa Luân Đôn – Paris lại bị cắt đứt vì
lý do chiến tranh. Gandhi thất vọng vì ước nguyện đơn giản
gặp gỡ Gokhale vẫn chưa thực hiện được, Ông ngồi ở
Luân Đôn đợi Gokhale. Trong lúc nhàn rỗi, Mohandas K. Gandhi
tập họp những sinh viên Ấn đang lưu học tại Luân Đôn
thảo luận về phương pháp đấu tranh giành độc lập Ấn
Độ. Một trong những ý kiến khiến Gandhi hết sức lưu tâm
là: “Cuộc chiến này có thể là một vận hội mới cho nền
độc lập Ấn Độ”… Vài hôm sau ông Gokhale cũng về đến
Luân Đôn, Mohandas K. Gandhi đã đến thăm hỏi và thảo luận
với Gokhale về vấn đề độc lập Ấn Độ… Trong một lần
quá vui, Gandhi tự nhiên ngã bất tỉnh, các bác sĩ khám và
cho biết Mohandas K. Gandhi bị viêm màng phổi (pleurisy) khá nặng.
Bác sĩ Jivraj Mehta tận tâm chữa trị. Gokhale rời Luân Đôn
trong lúc Gandhi đang được các bác sĩ điều trị. Bệnh ngày
một trầm trọng, họ khuyên Gandhi nên trở về Ấn Độ càng
sớm càng tốt. Gandhi đồng ý và cùng vợ lên tàu về lại
Ấn Độ.
Thuyền
cập cảng Bombay, dân chúng đón mừng Mohandas K. Gandhi như một
người hùng, vì tiếng thơm của Gandhi đã bay đến Ấn Độ
trước đó. Sau 12 năm tha hương, ông muốn trở lại thăm ngôi
nhà cũ, nhưng hay tin Gokhale đang trong cơn “thập tử nhất
sinh”, Mohandas K. Gandhi cùng bà Kasturbai tức tốc đến Poona
(Pune) thăm Gokhale. Gokhale cầm tay Gandhi không ngăn được dòng
nước mắt, Gokhale nhắn nhủ: “Đừng quên chúng ta là những
người đang đấu tranh cho nền lập Ấn Độ, đừng bỏ quên
ý chí đó”.
Từ
giã Gokhale, Gandhi về Rajkot và Porbandar thăm lại bà con thân
thích, thăm lại ngôi nhà xưa, tìm về chốn kỷ niệm… Rồi
đến Santiniketan thăm lại ngôi trường cũ, nơi đó giáo viên
và học sinh của trường tiếp đón Mohandas K. Gandhi như một
niềm vinh hạnh. Cũng tại Santiniketan, Gandhi lần đầu tiên
được Tagore và C.F.Andrews tiếp đón nồng nhiệt… Và cũng
tại Santiniketan vài ngày sau đó, Mohandas K. Gandhi ngậm ngùi
khi hay tin Gokhale đã trút hơi thở cuối cùng…
Sau
khi làm lễ hoả táng Gokhale, Mohandas K. Gandhi đến gặp các
vị lãnh đạo cao cấp của tổ chức những người cùng đinh
Ấn Độ (the Servants of India Society) và được mời vào tổ
chức, vì tổ chức này hết sức kính trọng Gokhale, tuy nhiên
phần đông thành viên trong hội này không mấy tỏ ra thân
thiện với Mohandas K Gandhi. Ít lâu sau Mohandas K. Gandhi được
mời đến tham quan thủ đô Rangoon - Miến Điện…
Tháng
2 năm 1916, Mohandas K. Gandhi được mời làm chủ toạ một cuộc
mít-tinh tại Đại học Banaras Hindu (Banaras Hindu University, viết
tắt là BSU, tại Varanasi). Và người ta còn thấy Gandhi xuất
hiện trên rất nhiều hội nghị của các đảng phái chính
trị, như: hội nghị về quản trị nhà đất của Tilak và
Besant giữa cuối năm 1916, họp mặt và hội thảo thường
niên của Đảng Quốc đại tổ chức tại Lucknow tháng 12 năm
1916,.v.v. Hơn hai năm trời, Gandhi đã đi nhiều nơi, diễn thuyết
khá nhiều địa phương, công chúng đến với Gandhi ngày một
nhiều.... Và tất nhiên Mohandas K. Gandhi phải đối diện với
muôn vàn khó khăn, phức tạp với một xã hội nhiều màu
sắc như Ấn Độ, các cuộc bất đồng giữa các tôn giáo,
sự bất bình đẳng trong xã hội như nghèo – giàu, cùng đinh
– quý tộc, trí thức – dân đen…
Cùng
năm 1916, tại quận Champaran thuộc tiểu bang Bihar nông dân
gặp phải những khó khăn trong chính sách của những người
Anh về nông nghiệp. Rajkumar Shukla, một nông dân cố tìm diện
kiến Mohandas K. Gandhi, mời Gandhi về Champaran để chứng kiến
sự lầm thang của người dân trong vùng và lên tiếng dùm
họ. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Mohandas K. Gandhi phải tham dự
cuộc mít-tinh của Đảng Quốc đại tổ chức tại Lucknow
(thủ phủ tiểu bang Uttar Pradesh ngày nay), nên hẹn dịp khác.
Dù vậy, Rajkumar Shukla vẫn cố theo nài nỉ, cuối cùng Gandhi
hứa sẽ đến Champaran sau khi về đến Calcutta. Rajkumar Shukla
theo chân Gandhi như một cái bóng, nơi nào có Gandhi thì phía
sau có Rajkumar Shukla. Khi Mohandas K. Gandhi vừa đến Calcutta thì
Rajkumar Shukla đã đợi sẵn ở đó, hai người cùng đón tàu
về Bihar. Gandhi thăm quận Champaran vào đầu năm 1917. Khi vừa
đến nơi Mohandas K. Gandhi thấy trên những ngả đường giăng
câu khẩu hiệu: “Gandhi không được lưu lại lâu ngày ở
Champaran. Hãy rời khỏi đây như đoàn tàu đã chuyển bánh
rời Champaran”. Tất nhiên, Gandhi không tuân theo những câu
khẩu hiệu đó, Gandhi chỉ đón nhận sự hân hoan chào đón
của những người dân cùng khổ trong làng. Gandhi đã đi từ
làng này qua xóm nọ thăm hỏi hơn 8000 nông dân (cultivator),
quan tâm đến sự giáo dục của từng đứa trẻ, thăm hỏi,
bắt tay từng cụ già… những hình ảnh đó tạo ra sự an
ủi, thanh thản trong lòng mọi người… Mohandas K. Gandhi không
thể kéo dài thời gian ở Bihar, những nơi khác lần lượt
đến và xin Mohandas K. Gandhi chiếu cố đến thăm thôn xóm
của họ. Người làng Ahmadabah đến sau người làng Champaran,
nên từ giã Champaran Mohandas K. Gandhi đến Ahmadabah… Gandhi
vận động nông dân chống lại những món thuế phi lý và
sự bóc lột của chính phủ Anh tại Ấn. Điều này được
vô số người dân ủng hộ, kể các các quan chức, những
người cầm đầu nhiều công hội cũng hết sức tán thành,
điển hình như các quan chức tại Gujarat: Vallabhbhai Patel, Shankarlal
Banker, Mahadev Desai, v.v.
Mùa
xuân năm 1917, Ngài Chelmsford, phó quốc trưởng Ấn Độ (the
Viceroy of India), mở cuộc hội thảo bàn về những diễn
biến về cuộc chiến thế giới, khách mời là tất cả các
nhà lãnh đạo cao cấp tại Ấn Độ, tất nhiên Mohandas K.
Gandhi cũng nằm trong số đó. Cùng năm này sức khoẻ Mohandas
K. Gandhi bắt đầu xuống cấp, ông từ chối mọi thuốc men
và mọi lời khuyên về sức khoẻ, dấu hiệu xuống dốc của
cơ thể ngày một rõ rệt, nhưng Mohandas K. Gandhi vẫn quả
quyết rằng tinh thần sẽ chiến thắng tất cả. Sức khoẻ
ông chưa bình phục, thì tin mừng được toan tải trên toàn
cầu “Chiến tranh kết thúc”. Mohandas K. Gandhi đi Matheran,
từ Matheran ông đến Poona. Tại Poona một bác sĩ tốt bụng
lại phát tâm khám và khuyên Gandhi nên dùng ít sữa và tiêm
ít thuốc. Gandhi đồng ý cho vị bác sĩ đó tiêm ít thuốc,
nhưng từ chối việc dùng sữa. Bà Kasturbai đứng cạnh đó
lên tiếng: “Ông không thể dùng được sữa bò, sữa trâu,
nhưng sữa dê (goat’s milk) cũng không dùng nữa sao!”, “Ừ
đúng đấy, sữa dê cũng có hàm lượng sinh tố cao, giúp người
bệnh chóng phục hồi, ông uống thử chút đi!” ông bác sĩ
“đệm” vào, Gandhi khẽ gật đầu…
Sức
khoẻ tạm thời bình phục, Mohandas K. Gandhi trở lại Ahmedabad.
Tại Ahmedabad, Gandhi nhận được thư mời đến Madras. Tại
Madras, Gandhi đã gặp gỡ C.Rajagopalachari, một nhân vật lãnh
đạo mà Gandhi rất ngưỡng mộ, và cuộc hội thảo các nhân
vật lãnh đạo cao cấp diễn ra ở đó. Báo giới và các sử
gia đánh giá cuộc hội thảo này là tiếng chuông đầu tiêng
đánh thức người dân Ân Độ đứng lên giành lại độc
lập. Rời Madras, Mohandas K. Gandhi trở lại Bombay tham gia phong
trào “đóng cửa tiệm” vào ngày 6 tháng 4 năm 1919. Trong
khi đó tại Delhi, Lahore, Amrissar người ta đã bắt đầu phong
trào “đóng cửa tiệm” từ ngày 30 tháng 3, cảnh sát Delhi
đã thực hiện lệnh giới nghiêm trong cả thành phố vào ngày
này. Một thư mời Mohandas K. Gandhi trở về Delhi, nhưng ông
đáp lại rằng: ông sẽ đến Delhi sau khi thực hiện xong phong
trào “đóng cửa tiệm” ở Bombay. Phong trào này thành công
rực rỡ, ngày đó người ta thấy không một cửa tiệm nào
trong thành phố Bombay mở cửa, không thấy bóng dáng bất kỳ
chiếc xe nào chuyển bánh trên đường… Và toàn Ấn Độ
ngày đó, ngày 6 tháng 4 năm 1919, đồng loạt đứng lên chống
đối chính quyền Anh tại Ấn Độ cùng một tư thế, không
ồn ào, không giết chóc, không đạn bom, tất cả im lặng,
một sự “im lặng sấm sét” trong các sách Thiền, một sự
“im lặng đến rợn người” trong các bộ sử thi Ấn Độ…
tất cả đã được Mohandas K. Gandhi âm thầm vận động. Những
nơi Mohandas K. Gandhi đã đi qua đều lưu lại ở xứ sở đó
những làn gió của tinh thần “bất bạo động” (Ahimsa,
Non-violence).
Mohandas
K. Gandhi bị bắt tại Palwal trên đường đi đến Punjab, và
bị cưỡng bức trở lại Bombay. Các tin tức Mohandas K. Gandhi
bị bắt đăng tải đầy các tờ báo, dán khắp nơi ở Bombay.
Vô số đám đông tụ tập trên các nẻo đường Bombay để
chờ đón Mohandas K. Gandhi, nhưng khi ông vừa đến ga, một
viên cảnh sát chờ sẵn ở đó “mời” ông về thẳng đồn
cảnh sát. Sau cuộc “vấn an sức khoẻ” của các cảnh sát,
Gandhi hứa sẽ dùng “giải pháp mềm dẻo hơn” và đề nghị
cảnh sát tổ chức một cuộc mít-tinh cộng đồng để ông
“sửa lỗi”. Cuộc mít-tinh được tổ chức tại Sabarmati
Ashrama, dưới sự giám sát của hàng ngàn cảnh sát thường
phục có, cảnh phục có. Mohandas K. Gandhi bắt đầu buổi diễn
thuyết bằng câu: “I have made a Himalayan miscalculation”, công
chúng cười “ồ” một tràng nhạo nhễ, những người bạn
thân tỏ vẻ thất vọng và điên tiết, chỉ vì họ chỉ nghĩ
“nghĩa đen” của câu nói trên. Gandhi bắt đầu bài nói
chuyện của mình, không gian và thời gian dường như chết
lặng, người ta không dám thở mạnh để có thể chú tâm
lắng nghe những lời nói của Gandhi…
Cùng
năm này, tiểu bang Punjab xảy ra vụ đụng độ kinh hoàng giữa
người dân và chính quyền: 379 người bị giết, 200 người
bị thương trong cuộc đàn áp đẫm máu tại Jallianwala Bagh
(ngày nay người dân Punjab dùng từ “Jallianwala Bagh” để
ám chỉ “sự tàn sát dã man”). C.F.Andrews bấy giờ đang
ở đó, ông viết bức thư gởi đến Gandhi với nội dung:
chỉ có Mohandas K. Gandhi mới làm dịu đi cơn phẫn nộ của
dân chúng. Gandhi hồi âm rằng ông sẽ không trở lại vùng
đất ông đã bị trục xuất khi chưa có một quyết định
nào của chính phủ. Tháng 10 năm đó, Phó quốc trưởng Ấn
Độ ký quyết định đồng ý cho Mohandas K. Gandhi tự do đi
lại trong vùng đất Punjab. Gandhi quyết định đến Punjab,
tại đây ông được người dân vô cùng kính trọng, quây
quần bên ông tỏ lòng kính ngưỡng. Cảnh “dầu sôi lửa
bỏng” ở Punjab lắng dần. Cũng tại Punjab, Mohandas K. Gandhi
đã gặp Jawaharla Nehru. Gandhi trở thành người đứng đầu
đảng Quốc đại vào năm 1920. Từ đó Ông được dân chúng
tôn vinh là người lãnh đạo mọi phong trào giành độc lập
Ấn Độ. Mohandas K. Gandhi cũng bắt đầu chuyển hướng đảng
Quốc đại vốn chủ yếu của giai cấp trí thức và tư sản
thành một tổ chức của quần chúng, thu nhận cả nông dân,
giai cấp trung lưu.v.v. Mohandas K. Gandhi kịch liệt chống lại
chủ nghĩa đấu trang bạo động, khủng bố, phương châm hành
động của ông chủ yếu dựa trên những phương pháp hoà
bình. Phương pháp chính yếu của Gandhi dựa trên hai nguyên
tắc: Satyagraha (nguyên tắc chân lý) và Ahimsa (bất bạo động).
Tình
hình chính trị Ấn Độ ngày càng trở nên tồi tệ, điều
này khiến chính phủ Ấn “nát óc”, tình trạng căng thẳng
xảy ra khắp nơi. Ngày 1 tháng 8 năm 1920, trong một bức thư
gởi đến Phó quốc trưởng Chelmsford, Gandhi bày tỏ thái độ
không hợp tác chiến dịch do Phó quốc trưởng đề ra. Gandhi
xin trả lại huy chương vàng “Kaiser-i-Hind” nhận được
năm 1915. Và trong một cột báo của tờ “Young India” (tuổi
trẻ Ấn Độ) Gandhi cho đăng các quan điểm nhằm bảo vệ
quyết định “không cộng tác” (Non-co-operation) và “bất
bạo động” (non-violent) của mình. Ngày 26 tháng 12 năm 1920,
tại cuộc họp thường niên của đảng Quốc đại, Mohandas
K. Gandhi được thắng cử với phần đông người tán thành.
Ngày
17 tháng 11 năm 1921, Hoàng tử xứ Wales đến thăm Bombay, lúc
đó Mohandas K. Gandhi cũng đang ở Bombay. Hôm sau, Hoàng tử xứ
Wales đến thăm một thành phố lân cận, hốt hoảng khi nhìn
thấy cảnh “đường không người, phố không xe”. Tác giả
của “màn kịch” “đường không người, phố không xe”
kia không ai khác ngoài Motilal Nehru và Jawaharlal Nehru, tất nhiên
là họ cùng một số người liên can đến vụ việc được
đưa vào “nhà đá” để “đào tạo”. Chính phủ Anh tại
Ấn thời bấy giờ nghi ngờ Mohandas K. Gandhi chính là “đạo
diễn” vụ nầy, và quyết định “tặng” Gandhi bản án
sáu năm tù giam tại nhà tù Yeravda ở Poona.
Năm
1924, bệnh tình Gandhi tái phát, kéo theo chứng bệnh mới viêm
ruột thừa cấp tính. Một cuộc giải phẫu dưới sự giám
sát của chính phủ hoàn toàn thành công, nhưng sự bình phục
diễn ra rất chậm. Chính phủ quyết định thả tự do cho
Gandhi. Ông đến Juhu một địa danh gần Bombay để dưỡng
bệnh. Gandhi quyết định rời bỏ chính trường để tập
trung tâm hồn mình vào những tiến triển tâm linh. Người
ta nhận thấy rằng sáu năm kể từ ngày ra tù, Mohandas K. Gandhi
không bao giờ bàn đến việc chính trị. Người ta chỉ thấy
ông đến các tu viện, đền thờ bàn luận giáo lý với các
nhà sư, người ta tìm thấy trên đầu giường của ông Kinh
Phật và cả các bộ Thánh điển Hindu nữa… Năm 1928, Phó
quốc trưởng ngỏ ý mời Mohandas K. Gandhi đến thăm hỏi,
Gandhi nhận lời và một cuộc gặp gỡ không nồng ấm kéo
theo.
Ngày
31 tháng 12 năm 1929, Jawaharlal Nehru được bầu làm chủ tịch
Đảng Quốc đại, người ta hy vọng đất nước Ấn Độ
sẽ hoàn toàn độc lập sau cuộc bầu cử này. Nhưng khi Đảng
Quốc đại chưa làm được điều đó, thì giá muối và thuế
muối gia tăng, thậm chí chính phủ còn đánh thuế vào những
người dân nghèo thu nhặt muối tự nhiên trên biển. Vào ngày
2 tháng 3 năm 1930, Mohandas K. Gandhi viết một bức thư rất
dài gởi ông Tân Phó quốc trưởng Irwin than phiền về những
khó khăn trong những chính sách của người Anh tại Ấn và
đề xuất một cuộc gặp mặt để thảo luận, nhưng ông
Tân Phó quốc trưởng trả lời thông qua một vị thư
ký với nội dung “trách ngầm” Gandhi là một người “phá
bỏ luật lệ”. Toàn dân Ấn Độ quyết định ủng hộ quan
điểm của Gandhi, bắt đầu từ 6:30 sáng ngày 12 tháng 3 năm
1930, hàng vạn người chứng kiến và hô hào ủng hộ “chiến
dịch” Mohandas K. Gandhi cùng 78 người dân Ấn từ những giai
cấp khác nhau “thầm lặng chống đối” trên quãng đường
dài 241 dặm từ nhà Gandhi đến bờ biển Dandi, khẩu hiệu
cho cuộc chống đối này là “Vứt đi Luật muối” (Salt
law would be broken). Sau 24 ngày, cuối cùng “đôi mắt” của
chính quyền Ấn Độ và ống kính báo chí thế giới bắt
đầu dõi theo Gandhi. Chính phủ Ấn Độ hoàn toàn “bó tay”
trước chiến dịch này, vì họ nhận thấy rằng mỗi ngày
con số tham gia vào chiến dịch “vứt đi Luật muối” tăng
lên vùn vụt, từ số trăm lến đến số ngàn, người già,
phụ nữ, trẻ em lần lượt xuất hiện gia tăng vào chiến
dịch… Chiến dịch kết thúc vào ngày 5 tháng 4 năm 1930 khi
đoàn đến bờ biển Dandi.
Vài
ngày sau đó Mohandas K. Gandhi lại bị cảnh sát bắt và đưa
đến nhà tù Yeravda. Trong tù Gandhi hoàn toàn im lặng và tự
tại. Trong khi đó, khắp mọi miền Ấn Độ người dân lần
lượt đứng lên học theo phong trào “vứt đi Luật muối”
của Gandhi, chính quyền hoàn toàn ngỡ ngàng, không thể nào
“dập tắt” phong trào “vứt đi Luật muối”. Rồi chuyện
cũng “lọt vào tai” Thủ tướng Anh, Ông ra lệnh phóng thích
Gandhi và bàn chuyện trả hoà bình cho Ấn Độ. Gandhi
được phóng thích năm 1931, sau khi ra khỏi nhà tù ông yêu
cầu Phó quốc trưởng Irwin cho ông một cuộc phỏng vấn.
Cuộc phỏng vấn được đáp ứng ngay sau đó, tất nhiên khi
đối diện cả hai đều nhận ra họ đến từ hai thế giới
khác nhau. Cùng lúc đó, tại Luân Đôn nội các Anh đang trong
một hội nghị bàn tròn bàn xoay quanh vấn đề tương lai của
Ấn Độ. Tháng 8 năm 1931, Gandhi lên tàu sang Luân Đôn sau một
buổi tiệc nhỏ.
Mohandas
K. Gandhi trải qua 84 ngày ở Anh Quốc, hầu hết thời gian này
ông dành cho các cuộc họp mặt và hội thảo. Churchill từ
chối gặp gỡ Gandhi, tuy nhiên người đàn ông Ấn Độ này
đã làm “quyến rũ” mọi người bởi phong cách đặc biệt
của mình. Ngay cả đức Vua và Hoàng hậu cũng phải mời Mohandas
K. Gandhi ngồi chung một buổi tiệc trà. Một phóng viên phỏng
vấn Gandhi: “Ông có nghĩ rằng trang phục ông đang mặc đủ
tiêu chuẩn để tham dự một tiệc trà như thế này chăng?”,
“Tôi nghĩ chiếc áo mà đức vua đang mặc đủ cho cả hai
người” Gandhi mỉm cười trả lời, tất nhiên là phóng
viên kia chết điếng người trong câu trả lời “nửa vời”
mà thâm thuý đó.
Tại
hội nghị bàn tròn người ta hoàn toàn không hề đả động
gì đến vấn đề độc lập Ấn Độ, người Anh đã “đánh
lạc hướng” qua đề tài “những khác biệt giữa Ấn giáo
và Hồi giáo”, để rồi cuối cùng kết luận một cách vu
vơ rằng: những cuộc nổi dậy ở Ấn Độ hoàn toàn chỉ
vì lý do tôn giáo. Gandhi trở về Ấn Độ không mang theo bất
kỳ tin tức mới mẻ nào. Niềm hy vọng người Ấn như vụt
tắt.
Đầu
năm 1932, Mohandas K. Gandhi muốn diện kiến vị Tân Phó quốc
trưởng, Willingdon; Tuy nhiên Willingdon trả lời rằng thời
gian đàm phán đã chấm dứt. Gandhi thông báo với các cơ quan
chức năng là ông sẽ tiếp tục tổ chức một chiến dịch
chống đối. Tân Phó quốc trưởng Willingdon cho đó là một
sự hăm doạ, bèn ra lệnh nhốt Gandhi vào nhà tù Yeravda. Tháng
3 năm 1932, Gandhi tuyên bố ông sẽ tuyệt thực cho đến chết.
Tin này được lan rộng một cách nhanh chóng, các bản tin chép
tay được dán khắp nơi. Các nhà lãnh đạo hoàn toàn sửng
sốt trước quyết định này của Gandhi, nhiều người từ
các giai cấp khác nhau kéo đến nhà tù Yeravda xin thế mạng
cho Gandhi, hoặc tuyệt thực bên ngoài, hoặc đòi phá ngục
vào trong. Tagore gởi đến Gandhi bức điện tín với nội dung
khuyên nhủ và chia sẻ, Tiến sĩ B.R.Ambebkar hứa hẹn sẽ tìm
mọi cách cứu thoát Gandhi. Gandhi bắt đầu tuyệt thực vào
ngày 20 tháng 9 năm 1932, đến ngày thứ ba thì Gandhi ngã quỵ,
lính gác xốc ông vào nhà tắm tạt nước, hồi lâu Gandhi
tỉnh dậy với giọng nói thều thào và ngày một yếu dần,
huyết áp tăng cao… Người cai tù hoảng sợ cho phép bà Kasturbai
và những người thân vào bên trong. Tagore đến thăm Gandhi
vào ngày tuyệt thực thứ năm. Sau đó, tin tức về cái chết
gần kề của Gandhi cũng đến tai chính phủ, và ông được
trả tự do vào một ngày đầu năm 1933.
Bảy
năm kể từ ngày được phóng thích, Gandhi đã tiếp tục nỗ
lực, dùng hết sức mình đấu tranh và đóng góp cho các mối
quan hệ xã hội và cho công cuộc giành độc lập Ấn Độ,
Ông cũng khuyến khích người dân Ấn Độ không quên việc
phát triển tâm linh và tinh thần đoàn kết tôn giáo mà Ấn
Độ vốn đã có từ ngàn đời. Tất nhiên, nhiều nhà lãnh
đạo Ấn Độ thời bấy giờ không chấp nhận quan điểm,
chính sách (bất bạo động) của Gandhi, kể cả Jawaharlal Nehru.
Tháng 10 năm 1934, Gandhi cắt đứt quan hệ thành viên chính
thức với đảng Quốc đại, vì ông không tán đồng các khuynh
hướng bạo động của những người đang đứng đầu trong
đảng này. Gandhi về Sevagram ở Maharashtra tĩnh dưỡng trong
một căn phòng nhỏ. Tuy vậy, Gandhi vẫn đóng vai trò cố vấn
cho đảng Quốc đại trong một thời gian khá dài.
Năm
1939, Đệ nhị thế chiến bùng nổ, chính phủ Anh tại Ấn
quyết định gia nhập quân đội Ấn Độ vào phe đồng minh
(allies’ side). Đảng Quốc đại hứa sẽ hết sức ủng hộ
quân Anh khi Ấn Độ hoàn toàn tự do, độc lập, nhưng ông
Churchill và chính phủ Anh phớt lờ điều đó, họ từ chối
hợp tác với Đảng Quốc đại. Từ đó, người ta ghi nhận
rằng các nhà lãnh đạo tối cao của Đảng Quốc đại liên
tục xuất hiện trong căn phòng nhỏ ở Sevagram của Gandhi để
bàn thảo về những chương trình hành động…
Tháng
9 năm 1940, cuộc mít-tinh toàn quốc của đảng Quốc đại
diễn ra tại Bombay, tất cả tán thành cho một cuộc chống
lại chính quyền thuộc địa, và họ cũng quyết định mở
một cuộc mít-tinh nhằm vào chiến dịch chống lại chủ nghĩa
đế quốc mà người Anh đang thực hiện, tất nhiên cuộc
mít-tinh này bị cấm. Nehru bị bắt và vài tháng sau đó con
số thành viên đảng Quốc đại bị bỏ tù lên đến hơn
30000 người. Không hiểu vì sao Gandhi vẫn tại ngoại?!
Tháng
12 năm 1941, chính phủ phóng thích tất cả các tù nhân hoạt
động theo khuynh hướng Gandhi. Năm 1942, quân đội Nhật vượt
Thái bình dương, xuyên qua Malaya và Miến Điện, và quân đội
Nhật có thể xâm lược Ấn Độ, người Anh bắt đầu nghĩ
đến việc dàn xếp cho Ấn Độ.
Trước
sự đe doạ xâm lăng của Nhật Bản, Gandhi đề xuất việc
thành lập một chính phủ lâm thời nhằm chống lại quân
xâm lược, nhưng đề kiến đó bị phớt lờ. Tháng 3 năm
1942, Churchill tuyên bố nội các đồng ý về một chương trình
dành cho Ấn Độ, và ông Stafford Cripps đã thoả thuận việc
đến Ấn Độ tìm kiếm những nhà lãnh đạo Ấn Độ có
khả năng tiếp nhận chương trình đó. Ngày 22 tháng 3 năm
1942, Stafford Cripps đến Delhi gặp mặt Gandhi, Nehru, Azad, Jinnah
và các nhân vật lãnh đạo tối cao nhiều đảng phái khác.
Stafford Cripps hứa hẹn sẽ trao trả tự do hoàn toàn cho Ấn
Độ sau cuộc chiến, tuy nhiên các thành viên đảng Quốc đại
không đồng ý, vì họ không tin vào những lời hứa hẹn đó,
người Anh đã cố tình nuốt lời và lừa bịp nhân dân Ấn
Độ nhiều lần trước đó…
Tháng
8 năm 1942, cuộc mít-tinh toàn quốc của đảng Quốc đại
lại tổ chức tại Bombay, ông Maulana Abul Kalam Azad làm chủ
toạ, thành lập một chính phủ lâm thời. Mohandas K. Gandhi
dõng dạc tuyên bố: “Đây là thời điểm người Anh phải
ra đi” (the time has come for the English to go). Đêm đó Gandhi
và vô số thành viên đảng Quốc đại bị bắt, người ta
nhốt ông tại điện Aga Khan ở Poona (Pune). Mahadev Desai, Kasturbai,
Naidu, Mirabehn và rất nhiều người của đảng Quốc đại
cũng bị nhốt ở đó. Trong khi đó, bên ngoài dân chúng đã
đứng lên nổi dậy khắp nơi, một cuộc hỗn chiến diễn
ra trên đất Ấn, nhân dân Ấn Độ đã phá đổ tất cả
các cơ sở, các toà nhà của chính phủ, người ta gọi cuộc
nổi dậy này là biểu tượng của sự “đạp đổ chủ nghĩa
bành trướng đế quốc Anh tại Ấn Độ”… Đình công, biểu
tình, và hỗn loạn nổi dậy khắp mọi nơi trên toàn đất
Ấn. Phó quốc trưởng Linlithgow quy cho Gandhi là người “xúi
giục dân chúng tạo phản”. Trong những bức thư dài nhiều
kỳ Phó quốc trưởng Linlithgow gởi đến Gandhi, Linlithgow đã
cố gắng thuyết phục Gandhi từ bỏ cuộc “xúi giục dân
chúng tạo phản”. Tháng 2 năm 1943, Gandhi lại tuyệt thực
nhằm chống lại các loại thuế, các chi phí bất công mà
người dân Ấn Độ phải gánh chịu, lần tuyệt thực này
như một tiếng chuông hướng vào toà án tối cao Ấn Độ.
Gandhi ngã quỵ sau 21 ngày tuyệt thực, một thử thách tưởng
không thể vượt qua, nhưng ông vẫn tiếp tục sống. Bà Kasturbai
chăm sóc ông, nhưng khi Gandhi bình phục chính là lúc sức khoẻ
bà Kasturbai tuột dốc. Mohandas K. Gandhi cố gắng mọi cách
cứu nguy và chữa trị, nhưng tất cả đều vô hiệu. Ngày
kia, bà Kasturbai lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng trong vòng
tay Gandhi. Gandhi lặng thinh, mọi người xung quanh đều khóc.
Vài tuần sau ngày bà Kasturbai qua đời, Gandhi cũng bị rơi
vào tình thế hiểm nguy của bệnh sốt rét. Dân chúng lại
lên án chính quyền, biểu tình đòi thả tự do cho Mohandas
K. Gandhi diễn ra khắp nơi, chính quyền cũng tin rằng Gandhi
đang đến gần cửa tử và ra lệnh phóng thích ông. Như một
phép lạ, Gandhi dần bình phục và trở lại bình thường.
Người dân Ấn Độ tin rằng cơ thể Gandhi ví như linh hồn
xứ Ấn đang hồi sinh. Và họ hy vọng.
Tháng
5 năm 1945, hai tháng sau ngày Đức đầu hàng. Đảng Lao động
dưới sự điều khiển của Nội các Anh, Attlee giữ chức
Thủ tướng. Vài tháng sau ngày Nhật Bản thất bại thảm
hại, người Anh đã chính thức tuyên bố “buông tay” và
hứa trả lại Ấn Độ cho những người chủ thực sự của
nó. Cuộc đấu tranh giành độc lập Ấn Độ đang tiến đến
đỉnh thành công. Chính quyền Anh tại Ấn tuyên bố cuộc
bầu cử quốc hội cho Ấn Độ. Đảng Quốc trại “thắng
lớn” trong cuộc bầu cử này. Sau cuộc bầu cử một số
thành viên thuộc Hồi giáo đặt vấn đề chia cắt Pakistan,
Mohandas K. Gandhi trả lời trong tiếng khóc: “Bạn có thể
cắt tôi làm hai, nhưng xin đừng làm điều đó với Ấn Độ”
(Cut me in two, but do not cut India in two).
Tháng
2 năm 1946, chính phủ Anh cử phái đoàn Đặc sứ nội các
đến Ấn Độ, gồm: Pethick-Lawrence, Stafford Cripps, A.V.Alexander.
Sau chuyến viếng thăm và điều tra này, phái đoàn Đặc sứ
nội các Anh tuyên bố sẽ rút các cơ quan quyền lực của
Anh khỏi Ấn Độ.
Ngày
24 tháng 8 năm 1946, Jawaharlal Nehru chính thức nhậm chức Phó
Tổng thống chính phủ Ấn Độ lâm thời. Sau ngày chính phủ
lâm thời Ấn Độ được thành lập, Gandhi ước ao được
về tĩnh dưỡng tại Sevagram, tuy nhiên những người đứng
đầu đảng Quốc đại xin Ông ở lại Delhi để giúp họ
cố vấn mọi vấn đề. Gandhi quyết định ở lại Delhi. Nhân
ngày 15 tháng 10 năm 1946, tập đoàn Hồi giáo quyết định
gia nhập vào chính phủ lâm thời, Gandhi cho rằng đây là thời
gian tốt nhất để ông có thể về thăm Sevagram. Khi vừa rời
Delhi, Gandhi nghe tin các nhóm Hồi giáo đang nổi loạn ở Bengal,
nhiều vụ án thảm khốc xảy ra ở đó. Gandhi quyết định
dời bỏ ý định về Sevagram, ông đến thẳng quận Noakhali
thuộc đông Bengal, với hy vọng sẽ mang lại an bình cho nơi
đó. Tại Bihar hàng ngàn người bị giết chết, mấy ngàn
người bị thương, Gandhi chết lặng trước thảm cảnh đó,
ông khuyên mọi người hãy bình tâm và khuyên rằng “người
Ấn đừng nên tiếp tục sát hại người Ấn”. Gandhi bắt
đầu đi từ làng này sang làng khác, từ nhà này đến nhà
nọ, nơi nào ông đến nơi đó được mang theo thông điệp
của bình an. Nơi nào những làn sóng phản đối nổi dậy,
nơi đó Mohandas K. Gandhi đến và mọi bạo động đều tan
biến…
Ngày
3 tháng 6 năm 1947, Thủ tướng Anh – Attlee – tuyên bố phân
chia Ấn Độ, Đảng quốc đại và tập đoàn Hồi giáo đồng
ý ký vào văn bản.
Phó
quốc trưởng cuối cùng của Anh tại Ấn Độ – Mountbatten
– băn khoăn và không muốn kéo dài thêm tình trạng cai trị
người Anh trên đất Ấn. Ông quyết định thu ngắn để nhân
dân Ấn Độ sớm đón ngày vui mừng. Cuộc họp bàn giữa
hai chính phủ quyết định chọn ngày 15 tháng 8 năm 1947 là
ngày trao trả độc lập cho Ấn Độ. Nhân dân Ấn Độ như
“mở cờ trong bụng” khi nghe tin này loan tải. Ông Mountbatten
– Phó quốc trưởng Ấn Độ – tôn vinh Mohandas K. Gandhi là
“Kiến trúc sư xây dựng ngôi nhà tự do Ấn Độ thông qua
những viên gạch bất bạo động” (the architech of India’s
freedom through non-violence).
Ngày
13 tháng 1 năm 1948, Mohandas K. Gandhi bắt đầu tuyệt thực nhằm
chống đối lại việc làm của những kẻ Hồi giáo cuồng
tín tạo nên một “hình ảnh Gandhi phản bội” trong mắt
của vô số tín đồ Hindu quá khích. Người dân Ấn vô cùng
xót xa trước hình ảnh một Gandhi ở tuổi 78 tuyệt thực
và lên tiếng, và phản đối. Vụ việc được giải quyết
sáng tỏ, Mohandas K. Gandhi thôi tuyệt thực và được đưa
về an dưỡng tại Birla House. Ngày 20 tháng 1 cùng năm, trong
một buổi lễ cầu nguyện, một vụ nổ mìn nhằm ám sát
Gandhi, may thay mục tiêu bị lệch, quả mìn nổ gần chỗ Gandhi
cầu nguyện, người bên cạnh la lớn: “Babuji, mìn đang nổ
bên cạnh ngài đó”, Gandhi quay lại hỏi: “Có người dân
nghèo nào bị thương không? Hãy lo cho họ” và tiếp tục
cầu nguyện như không có chuyện gì xảy ra.
Ngày
30 tháng 1 năm 1948, Mohandas K. Gandhi bị một tín đồ Hindu quá
khích ám hại bằng súng ngắn khi Gandhi đang dạo vườn cùng
hai cháu gái tên Manu và Abha. Tên sát nhân lúng túng tìm cách
thoát thân, Gandhi chỉ tay hướng theo lối rào sau, ra lệnh
mọi người đừng đuổi theo và thầm khấn “Rama, Rama”.
Linh hồn vĩ đại của người Ấn ra đi trong sự thanh thản
lúc 5 giờ 46 phút chiều cùng ngày. Lễ hoả tán thi hài Mohandas
K. Gandhi được tiến hành ngày sau đó trên một khu đất lớn,
ngày nay người Ấn gọi khu đất này là Shanti Bagh có nghĩa
là “cõi bình an”, “cõi vĩnh hằng”. Sau khi hoả thiêu
xong, người Ấn đã đem số tro của thi hài Mohandas K. Gandhi
rải trên toàn cõi Ấn Độ, rải xuống sông Ấn, sông Hằng,
sông Yamuna và những con sông lớn trên khắp Ấn Độ. Những
lớp tro được rải lên giải đất Ấn Độ hoá thành linh
hồn hoà nhập vào “đại thể” che chở người Ấn, và
người Ấn tưởng tượng rằng “Thánh Gandhi đang ôm lấy
Ấn Độ trong đôi tay khổ hạnh nhưng ấm áp tình người”.
Ngày
nay nhân dân Ấn Độ gọi Mohandas K. Gandhi bằng những tên
gọi thể hiện tấm lòng tôn kính, trìu mến như: Babuji (Cha
kính yêu), Mahatma Gandhi (Linh hồn vĩ đại, siêu thánh / Great
soul), hoặc Vị cha già dân tộc (the Father of the Nation).
LÊ
BÍCH SƠN
Delhi,
ngày 2 tháng 10 năm 2003
(Sinh
nhật lần thứ 134 của Thánh Gandhi)
Tài
liệu tham khảo:
THE
STORY OF GANDHI by Rajkumari Shanker, New Delhi 2002.
MAHATMA
– LIFE OF MOHANDAS KARAMCHAND GANDHI (VCD, English version, 2 Vols),
Gandhi Films Foundation, 2003
THE
TIMES OF INDIA, New Delhi Oct 2nd 2003
DELHI
TIMES, New Delhi Oct 2nd 2003
Đọc
Thêm: