MỤC
LỤC
Lời
giới thiệu
Pabongka
Rinpoche
Lam-rim
Lời
dẫn nhập của Trijang Ripoche
Phần
một: Những chuẩn bị sơ khởi
01.
Ngày thứ nhất
02.
Ngày thứ hai
I.
Tính cách vĩ đại của những tác giả nói lên để chứng
tỏ nền giáo lý này có một nguồn gốc trong sạch.
03.
Ngày thứ ba
II.
Tính cách vĩ đại của pháp được nói để tăng niềm kính
pháp.
III.
Cách thích đáng để giảng dạy và lắng nghe nền giáo lý
có hai vĩ đại ấy.
Phần
hai: Những nghi thức chuẩn bị
04.
Ngày thứ tư
IV.
Thứ tự những chỉ giáo thực thụ
05.
Ngày thứ năm
a.
Thành phần thứ nhất: Kính lễ
b.
Thành phần thứ hai: Cúng dường
06.
Ngày thứ sáu
c.
Thành phần thứ ba: Sám hối tội lỗi
d.
Thành phần thứ tư: Hoan hỉ
e.
Thành phần thứ năm: Thỉnh chuyển pháp luân
f.
Thành phần thứ sáu: Thỉnh cầu ruộng phước đừng nhập
Niết bàn
Phần
ba: Nền tảng của Ðạo lộ
07.
Ngày thứ bảy
08.
Ngày thứ tám
09.
Ngày thứ chín
10.
Ngày thứ mười
11.
Ngày mười một
12.
Ngày mười hai
13.
Ngày mười ba
Phần
thứ tư: Phạm vi trung bình
14.
Ngày mười bốn
15.
Ngày mười lăm
Phần
thứ năm: Phạm vi lớn
16.
Ngày mười sáu
17.
Ngày mười bảy
18.
Ngày mười tám
19.
Ngày mười chín
20.
Ngày hai mươi
21.
Ngày hai mươi mốt
22.
Ngày hai mươi hai
23.
Ngày hai mươi ba
24.
Ngày hai mươi bốn
25
Lời
cuối sách của Trijang Rinpoche
Phụ
lục 3 Ba nòng cốt của Ðạo lộ
Phụ
lục 4 Trang hoàng yết hầu những người may mắn
Phụ
lục 5 Pháp luyện tâm bảy điểm
Lời
giới thiệu
Năm
1921, khoảng bẩy trăm tăng ni cư sĩ tụ họp tại am thất
Chuzang gần Lhasa để nghe pháp tu Lam-rim do bậc thầy Kyabie
Pabongka Rinpoche giảng. Suốt ba tuần lễ kế tiếp họ được
hấp thụ những thời pháp nổi tiếng nhất đã từng được
giảng ở Tây Tạng.
Từ
ngữ “Lam-rim” có nghĩa là những bước tiến đến giác
ngộ. Nó ám chỉ một số giáo lý đã được phát huy tại
Tây Tạng trong một ngàn năm qua, dựa trên tác phẩm cô đọng
khúc chiết của bậc thầy Atisha người Ấn, nhan đề Dipankàra
Shrijnàna (Ngọn Ðèn Soi Ðường) soạn vào khoảng năm 982-1054.
Tác phẩm Giải Thoát Thoát Trong Lòng Tay này là tinh túy truyền
thống Lam-rim Tây Tạng. Ðối với người Tây phương, sách
này đã thành một trong những giáo lý ý nghĩa nhất về Lam-rim.
Trên
hai ngàn năm trăm năm trước, Phật Thích Ca đã trải qua bốn
mươi lăm năm giảng dạy giáo lý một cách rộng rãi cho vô
số người thuộc nhiều hạng khác nhau. Ngài không thiết kế
sẵn những bài giảng, mà tùy theo nhu cầu tâm linh của thính
giả. Bởi thế, bất cứ ai khảo cứu toàn bộ tác phẩm của
Ðức Phật cũng thấy thực khó tìm cho ra một con đường
rõ rệt để áp dụng thực hành. Tầm quan trọng của pháp
Lam-rim do Atisha kết tập là, ngài đã sắp xếp lại những
lời giảng dạy của đức Phật theo một trât tự hợp lý,
vẽ ra một đường lối từng bước một để bất cứ ai
muốn theo cũng có thể hiểu và thực hành được, dù người
ấy thuộc trình độ nào.
Không
những luận sư Atisha y cứ vào những gì Phật thuyết, mà
ngài còn mang theo đến Tây Tạng những giáo lý truyền khẩu
còn lưu hành qua một hệ truyền thừa không gián đoạn, cả
về lý thuyết (tuệ giác) lẫn thực hành (pháp tu để đạt
tuệ giác ấy), truyền từ đức Phật đến hai ngài Di Lặc
(Maitreya) và Văn Thù (Manjusri) xuống đến Vô Trước và Long
Thụ (Nagarjuna) và nhiều luận sư vĩ đại khác của xứ Ấn
cho đến những bậc thầy của luận sư Atisha. Như vậy, không
những Atisha đã viết những van bản Lam-rim đầu tiên, mà
ngài còn thu thập những giáo lý khẩu truyền vô cùng quan
trọng tồn tại đến ngày nay, được giảng dạy cho người
tây phương nhờ những vị tu sĩ vĩ đại đương thời như
đức Dalai Lama thứ mười bốn.
Ðồ
đệ của Atisha lập thành một tông phái lấy tên là Kadam,
phần lớn những truyền thống của phái này được phái Gelug
(mũ vàng hay Hoàng mạo) của Phật giáo Tây Tạng hấp thụ.
Phái Gelug do Tsongkapa (1357-1419) sáng lập. Nhiều tu sĩ phái
Kadam và Gelug viết những luận giải Lam-rim, nổi tiếng là
kiệt tác của Tsongkapa nhan đề Những giai đoạn chính của
Con đường tu tập (Lam-rim Chen-mo): năm 1921 Pabongka Rinpoche đã
giảng dạy dựa trên cơ cấu của tác phẩm này, những bài
pháp mà về sau đã được tập hợp thành tác phẩm GIẢI
THOÁT TRONG LÒNG TAY. Tuy nhiên, trong khi tác phẩm của Tsongkapa
có tính bác học thì tác phẩm của Pabongka lại tập trung
nhiều hơn vào việc đáp ứng nhu cầu thực hành cho những
hành giả. Tác phẩm này đi vào chi tiết khi bàn các vấn đề
như làm thế nào để chuẩn bị cho thiền, pháp Ðạo sư Du
già và sự phát bồ đề tâm. Bởi thế sách Giải thoát này
là một tác phẩm đặt trọng tâm ở thực hành, phù hợp
với những hành giả phương tây trong thời đại này cũng
như với Phật tử Tây Tạng sống ở tây phương.
Trong
số những người có mặt tại pháp hội vào năm 1921 là Kyabje
Trijang Dorje Chang (1901-1981) một trong những đệ tử thân cận
Pabongka Rinpoche, về sau là thầy giáo đạo cho đức Dalai Lama
thứ 14 và là bổn sư của nhiều lạt ma thuộc phái mũ vàng
(Gelug) đào thoát khỏi Tây Tạng vào năm 1959. Trijang Rinpoche
ghi chú những lời giảng dạy của thầy mình, và suốt 37
năm sau đó đã khổ công duyệt lại những ghi chú ấy cho
đến khi tác phẩm sẵn sàng để được ấn loát thành tác
phẩm Giải thoát trong lòng tay, bằng Tạng ngữ.
Pabongka
Rinpoche có lẽ là vị lạt ma mũ vàng có nhiều ảnh hưởng
nhất của thế kỷ này. Ngài nắm giữ tất cả những trường
phái quan trọng về kinh giáo và mật điển, và truyền lại
cho hầu hết những tu sĩ xuất sắc nhất của Hoàng mạo phái
trong hai thế hệ kế tiếp. Bảng kê những bài thuyết giảng
khẩu truyền của ngài thật vĩ đại cả về chiều sâu lẫn
chiều rộng. Ngài cũng là bổn sư của Kyabje ling Rinpoche (1903-1983),
vị phó đạo của đức Dalai Lama thứ 14, và của nhiều bậc
tôn sư khác rất được kính nể. Toàn bộ tác phẩm của
ngài chiếm mười lăm pho sách lớn, bao gồm mọi khía cạnh
giáo lý Phật. Ai đã từng thụ giáo với một vị tu sĩ thuộc
Hoàng mạo phái, đều chịu ảnh hưởng của Pabongka Rinpoche.
Một tác phẩm tương tự quyển sách này có lẽ sẽ không
bao giờ được viết trở lại, vì lẽ đó mà tôi nói sách
này là cao điểm của giáo lý thuộc truyền thống Lam-rim.
Có
bốn trường phái chính trong Phật giáo Tây Tạng, trường
phái nào cũng có giáo lý Lam-rim riêng, nhưng phái Nyingma, Sakya
và Kagyn không nhấn mạnh nhiều đến Lam-rim như phái Gelug.
Mặc dù thông thường, trong chương giảng dạy ở các tu viện
Hoàng mạo pháp, pháp Lam-rim chỉ được giảng dạy cho các
tu sĩ vào giai đoạn thuần thục của họ trên đường tu tập,
song với người tây phương, pháp này lại thường được
giảng dạy trước tiên. Và đấy là giáo lý mà những bậc
thầy thuộc Hoàng mạo phải thường giảng dạy nhiều nhất;
nó là sở trường của đức Dalai Lama, của hai vị giáo đạo
ngài Serkong Rinpoche, Song Rinpoche, và những vị pháp sư uyên
bác như geshe Ngawang Dhargyey, geshe Rabten, geshe Sopa, Lama Thubten
Teshe và Lama Thubten Zopa Rinpoche.
Trong
lời Dẫn nhập ngắn gọn của ngài, Kyabje Trijang Rinpoche cho
độc giả thấy thực diễm phúc như thế nào để được
dự pháp hội năm ấy. Quả thế, sách này là tác phẩm rất
hiếm có trong số những kinh sách Tây Tạng, ở chỗ nó là
bút ký của một nền giáo lý khẩu truyền chứ không phải
là một luận văn. Do vậy, không những chúng ta nhận được
một số lời dạy rất quý báu, nghĩa là tinh yếu của tám
Lam-rim nòng cốt, mà chúng ta còn thấy được bằng cách nào
những lời giảng ấy đã được giảng dạy ở Tây Tạng.
Những điểm chi tiết về những nét đặc sắc của giáo lý
này có thể tìm thấy trong phần giới thiệu của Trijang Rinpoche
vào cuối Ngày thứ Nhất.
Mỗi
chương tương ứng với một ngày giảng dạy, thường khởi
đầu bằng một mẫu chuyện ngắn để khơi dậy nơi người
nghe một động lực tốt. (Muốn biết qua chi tiết toàn thể
tiến trình đưa đến giác ngộ theo cách trình bày trong sách
này, xin xem dàn bài trang 5). Trong đây, phần động lực tu
tập đã được giản lược, những chương đầu, Ngày thứ
Nhất, nói đầy đủ về động cơ và trình bày một cách
tuyệt hảo toàn thể pháp Lam-rim. Có thể nói toàn bộ tác
phẩm chỉ là một bình giảng về chương này. Pabongka Rinpoche
luôn luôn khai thị sự phát bồ đề tâm là cách ý nghĩa nhất
để lèo lái cuộc đời ta, và những nhận thức tuần tự
được đúc kết trong Ngày thứ Nhất đưa ta đến mục đích
ấy. Ở phần cuối sách, ngài nói, “Hãy làm bất cứ gì
bạn có thể làm, để chứng tỏ sự giảng dạy của tôi
không là công uổng... Nhưng trên hết, hãy làm sao để việc
phát bồ đề tâm là pháp tu chính yếu của bạn.
Những
giáo lý này chứa đựng nhiều điều mới mẻ xa lạ, nhất
là đối với người tây phương, nhưng nếu kiên trì học
hỏi và tư duy, hành giả sẽ được sáng tỏ.
Ghi
chú về bản dịch Anh ngữ:
Tôi
(Michael Richards) đã cố làm cho bản dịch càng dễ đọc càng
hay, mà không mất sự chính xác. Tuy nhiên, vì tác giả Trijang
Rinpoche vốn là một thi sĩ nổi tiếng, chắc chắn bản dịch
này đã mất đi một phần vẻ đẹp của bản văn Tạng ngữ.
Dù sao tôi nghĩ tôi cũng đã duy trì được bản chất bình
dị tự nhiên của những bài giảng của Pabongka Rinpoche, và
đem lại cho bản dịch tính chất trực chỉ đầy năng lực
của nguyên tác.
Ðể
giúp độc giả tây phương dễ hiểu, tôi đã trình bày tài
liệu này theo một cơ cấu có hệ thống mà bản Tạng ngữ
không có. Có tất cả mười một phân đoạn mà nguyên bản
không phân chia. Những tiêu đề tóm tắt đại ý được trình
bày trong phần Phụ lục 1, có thể xem như một bảng mục
lục chi tiết.
Tôi
không dịch tất cả những tiếng Phạn, mà để nguyên từ
nào không có tương đương Anh ngữ. Chẳng thà như vậy còn
hơn là đặt ra một từ Anh mà có lẽ đối với độc giả
còn xa lạ hơn danh từ tiếng Phạn. Vả lại càng ngày càng
có nhiều từ Phạn ngữ về Phật học trong các từ điển
Anh ngữ.
Xin
chân thành tri ân Bổn sư Gen Rinpoche Geshe Ngawang Dhargyey người
đã giảng dạy bản văn này tại Thư viện tàng trữ những
tác phẩm và văn khố của Tây Tạng, và đã khẩu truyền
cho tôi toàn bộ tác phẩm vào năm 1979. Tôi cũng rất tri ân
Amchok Rinpoche, người đã nổ lực làm việc suốt năm năm
để duyệt lại toàn bộ tác phẩm, cải thiện bản dịch
này với những đề nghị tuyệt hảo. Gala Rinpoche cũng đã
giúp tôi khi dịch Ngày thứ 11 và 12 tại Úc vào năm 1980-1981,
và Rilbur Rinpoche, một trong số ít những đệ tử còn sống
sót của Pabongka Rinpoche, đã cho tôi những hồi ức về bậc
thầy của mình; đối với cả hai vị, tôi đều chân thành
ghi ân.
Tôi
cũng cảm ơn nhiều bằng hữu và cọng sự ở Dharamsala về
sự trợ giúp, khuyến khích và nâng đỡ của họ: Losang Gyatso,
lúc bấy giờ là người thông dịch cho Geshe Dhargyey, đã đề
nghị tôi dịch sách này; Gyatsho Tshering và các cọng sự tại
thư viện Tây Tạng; Jean Pierre Urolixes, Mervyn Stringer cùng tất
cả mọi người ở bệnh viện Delek về sự giúp đỡ của
họ trong thời gian tôi bị tai nạn giao thông vào năm 1983;
cám ơn David Stuart đã lấy lại bản dịch thảo Ngày Chín
và Mười từ Jammu, ở đấy bản dịch được hoàn tất sau
tại nạn; cảm ơn Cathy Graham và Jeremy Russell đã có những
gợi ý quý giá để cải thiện bản thảo; cảm ơn mẹ tôi
và cha đã quá cố, những người luôn nâng đỡ tôi: cảm
ơn Alan Hanlay, Lisa Heatdh và Michael Perrott; cảm ơn các bạn
Keith Kevan và Andy Brennand; và Angela người vợ thân yêu đã
san sẻ tất cả những khó nhọc mà công việc lâu dài đem
lại. Nàng luôn luôn kiên nhẫn và hy vọng; sự khuyến khích
và hy sinh của nàng là vô bờ bến.
Cuối
cùng, tôi xin ghi ơn Eva Van Dam và Robert Beer về những minh họa
tuyệt hảo của họ, Gareth Sparham và Trisha Donnelly về cuộc
phỏng vấn Rilbur Rinpoche, ghi ơn thầy Sonam Jampa đã viết chỉ
mục (Index) và những vị trong nhà xuất bản Widom về ian ấn
sách này: Nick Ribush, Robina Courtin, Sarah Thresher, Lydia Muellbaauer
và Maurice Walshe.
Đôi nét
về Ngài Pabongka Rinpoche
Do
Rilbur Rinpoche ghi lại
Pabongka
Rinpoche
Thầy
tôi, người tử tế trong ba cách, người đã giáp mặt thần
Heruka, người mà tôi cảm thấy khó nỗi thốt lên danh hiệu
Lord Pabongka Vajradhra Dechen Nyingpa Pael Zango, sinh ở miền Bắc
Lhasa vào năm 1878. Thân phụ ngài là một quan chức nhỏ nhưng
gia đình ngài không giàu lắm.
Lúc
ngài ra chào đời, có ánh sáng chiếu khắp phòng, mặc dù
đang đêm tối mịt, và bên ngoài, người ta trông thấy một
vị thần hộ mạng đứng trên mái nhà.
Pabongka
Rinpoche là một hóa thân của học gia vĩ đại Jangkya Rolpao
Dorje (1717-1786), trong khi trước đấy ngài là tái sinh
của
một vị geshe uyên bác ở tu viện Sera-mae. Ngài nhập viện
vào năm lên bảy, theo học chương trình thông thường của
tu sĩ, lấy bằng geshe (tiến sĩ Phật học) và theo học hai
năm ở Ðại học Mật giáo Gyutoe. Bổn sư của ngài là Dagpo
Lama Rinpoche Jampeal Lhuendrub Gyatso, ở Lhoka. Ngài hẳn là một
vị bồ tát hóa thân, và Pabongka Rinpoche là đệ tử đầu
của ngài. Ngài sống trong một hang động ở Pasang và việc
hành trì chính yếu của ngài là bồ đề tâm; thần hộ mạng
của ngài là Quán Tự Tại (Avalokitesvara). Ngài thường niệm
câu thần chú OM MANI PADME HUM mỗi đêm năm vạn lần. Khi lần
đầu gặp Dagpo Rinpoche tại một lễ tsog ở Lhasa, Kyabje Pabongka
đã xúc động đến rơi lụy vì niềm kính ngưỡng.
Xong
khóa học, Pabongka Rinpoche viếng thăm Dagpo Lama Rinpoche trong
động của ngài, và được đưa đến một nơi nhập thất
tu Lam-rim gần đấy. Dagpo Lama Rinpoche cho một đề mục Lam-rim
để Pabongka Rinpoche về thiền quán, rồi sau đó trở lại
trình bày chỗ mình đã ngộ. Dagpo lại dạy một pháp khác
để thiền quán, cứ thế tiếp tục trong mười hai năm (hỏi
còn chuyện gì lạ lùng hơn thế!)
Pabongka
có bốn đại đệ tử là Kyabje Ling Rinpoche, Kyabje Trijang Rinpoche,
Khangsar Rinpoche và Tathag Ringpoche, một vị nhiếp chính của
Tây Tạng. Vị này là thấy giáo đạo chính của đức Dalai
Lama khi ngài còn thơ ấu và là người đã thế phát quy y cho
ngài
Tôi
sinh ở tỉnh Kham về phía đông Tây Tạng, trong số những
vị thầy đầu tiên của tôi có hai vị là đệ tử của Pabongka
Rinpoche. Bởi thế tôi lớn lên trong bầu không khí tin tưởng
tuyệt đối vào Pabonka như là tin chính đức Phật. Một trong
hai vị thầy của tôi có một tấm ảnh của Pabongka Rinpoche
đang nhỏ những giọt cam lộ từ giữa hai lông mày. Chính
mắt tôi trông thấy chúng, bởi thế, các bạn có thể tưởng
tượng tôi sung sướng xiết bao khi cuối cùng tôi được diện
kiến ngài.
Nhưng
còn lý do riêng tư khiến tôi đặt hết tin tưởng vào Pabongka
Rinpoche. Tôi là con trai duy nhất trong một gia đình khá giả,
và mặc dù đức Dalai Lama thứ 13 đã công nhận tôi là một
vị lama tái sinh, và Pabongka Rinpoche bảo tôi nên vào tu viện
Sera ở Lhasa, cha mẹ tôi không mấy hoan nghênh việc này. Nhưng
không bao lâu thì ông chết, và tôi có thể khởi hành đi Lhasa.
Bạn không thể nào tưởng tượng nổi sự sung sướng của
tôi khi khởi sự cuộc du hành suốt hai tháng trường trên
lưng ngựa ấy. Lúc ấy tôi mới mười bốn tuổi, và đi tu
quả là chuyện mà một bé trai ở tuổi ấy nên làm. Tôi có
cảm tưởng rằng cơ hội đi Lhasa để thụ giới và sống
cuộc đời của một bậc chân tu như lời đức Dalai Lama phán
dạy, tất cả chuyện đó đều là một phép lạ của Pabongka
Rinpoche.
Khi
tôi mới đến Lhasa, Pabongka Rinpoche đang ở Tashi Choeling, một
hang động phía trên tu viện Sera. Tôi xin một buổi gặp và
ít hôm sau, tôi cùng mẹ tôi và người gia nhân cưỡi ngựa
lên núi. Chúng tôi không định trước giờ gặp, nhưng khi
chúng tôi vừa lên đến, thì Pabongka đã cho người hầu dọn
thức ăn và trà bánh mới làm xong. Ðiều này làm tôi tin chắc
Pabongka có thiên nhãn thông, vì ngài cũng là một hiện thân
của đấng Kim cương trí (Vajradhara).
Sau
khi ăn xong, tôi đến ra mắt Rinpoche. Tôi nhớ rõ việc này
như mới hôm qua. Một cầu thang hẹp dẫn lên căn phòng nhỏ
của ngài, ở đấy ngài đang ngồi trên giường. Ngài trông
giống như bức ảnh của ngài - mập, thấp người. Ngài bảo,
“Ta biết con sẽ đến, và bây giờ chúng ta đã gặp nhau.”Ngài
vuốt hai bên má tôi. Khi tôi đang ngồi đấy, thì có một
vị tân tiến sĩ (geshe) từ tu viện Sera đi vào dâng cho Rinpoche
một đĩa tsampa đặc biệt vốn chỉ làm vào dịp có người
lãnh bằng tiến sĩ. Rinpoche nhận xét thật là một điềm
lành, khi vị tân tiến sĩ này đến mà có tôi hiện diện
ở đấy, và ngài bảo ông ta hãy đổ đầy bát của tôi như
đã đổ cho ngài... Bạn cũng có thể tưởng tượng điều
ấy làm tôi xúc động đến mức nào.
Căn
phòng hầu như trống trơn. Cái vật lạ lùng nhất là một
pho tượng hai tấc Anh bằng vàng ròng của Dagpo Lama Rinpoche,
bổn sư Pabongka Rinpoche. Pho tượng được vây quanh bằng nhiều
vật cúng dường nhỏ bé. Sau lưng tượng là năm bức tranh
(thangka) trình bày linh kiến của Khaedrubje về Tsongkapa sau khi
vị này đã viên tịch. Ngoài ra trong phòng chỉ có một chỗ
để ngồi uống trà. Tôi cũng có thể nhìn thấy trong góc
có một gian phòng nhỏ để thiền, và tôi không ngừng trộm
nhìn về phía ấy (tôi chỉ mới là bé trai 14 tuổi, rất tò
mò) Rinpoche bảo tôi cứ việc vào nhà xem cho biết. Nó chỉ
gồm một tọa cụ và một bàn thờ nhỏ. Rinpoche gọi tên
tất cả những tượng trên bàn thờ: từ trái sang phải có
thầy Tsongkapa, Heruka, Yamantaka và Paelgon Dramze, một vị hóa
thân của thần Mahakala. Dưới những pho tượng ấy bày những
đồ cúng.
Tôi
chưa thành tu sĩ, nên Jamyang, người thị giả lâu năm của
Rinpoche được sai đi lấy một quyển lịch để định ngày
cho tôi xuống tóc, mặc dù tôi chưa mở miệng xin xuất gia
gì cả. Rinpoche quả đang cho tôi mọi sự tôi hằng khao khát,
và tôi cảm thấy ngài thật quá từ bi. Khi từ giả ngài,
lòng tôi sung sướng như bay bổng tận mây xanh.
Người
hầu của Rinpoche là một người có vẻ hung hãn, người ta
bảo ông ấy là hóa thân của một vị thần hộ pháp. Một
lần, vào dịp Rinpoche du hành xa, ông ta đã phá cái nhà cũ
kỹ của thầy mình để xây lại một tư dinh rộng lớn gần
bằng tư dinh của đức Dalai Lama. Khi Rinpoche trở về ngài
hoàn toàn không hài lòng, bảo: “Tôi chỉ là một ẩn sĩ
quèn, đáng lẽ ông không nên xây cho tôi một ngôi nhà như
thế này. Tôi không có tiếng tăm, và cốt tủy những gì tôi
dạy là sự từ bỏ đời sống xa hoa thế tục. Bởi thế
tôi rất lúng túng vì những căn phòng sang trọng này.”
Tôi
thụ giáo Lam-rim với Pabongka Rinpoche nhiều lần. Những người
Trung Quốc đã tịch thu hết mọi sổ ghi chú của tôi, nhưng
kết quả của lời dạy ấy tôi vẫn còn đeo mang trong mình,
một cái gì rất đặc biệt. Mỗi khi nghe ngài dạy tôi lại
mong muốn trở thành một thiền sư thực thụ, rút vào một
am ẩn cư, bôi tro đầy mặt mà ngồi thiền. Càng lớn cảm
giác này càng phai dần trong tôi, và bây giờ thì tôi hoàn
toàn không nghĩ gì tới chuyện ấy, nhưng tôi thực tình muốn
trở thành một thiền gia chân chính như thầy tôi.
Thầy
làm nhiều pháp quán đảnh như pháp quán đảnh Yamantaka, Heruka
và Guhyasamàja. Chính tôi cũng nhận những pháp ấy từ nơi
thầy. Tôi thường vào tư thất của thầy để làm những
lễ khai đạo quan trọng trong mật giáo, còn thầy thì thường
xuống tu viện để giảng dạy cho tất cả mọi người. Thỉnh
thoảng thầy lại đi chiêm bái các tu viện. Viếng thăm Pabongka
Rinpoche có lẽ cũng giống như thăm viếng Lama Tsongkapa lúc
sinh tiền.
Mỗi
khi dạy, ngài thường ngồi suốt tám tiếng đồng hồ không
cử động. Khoảng chừng hai ngàn con người tới đó nghe pháp
và nhận lễ quán đảnh, với những giáo lý đặc biệt thì
số người theo học ít hơn, nhưng khi ngài truyền bồ đề
tâm giới thì có tới mười ngàn người hiện diện. Khi ngài
làm phép quán đảnh của thần Heruka ngài thường có một
vẻ rất lạ lùng. Ðôi mắt ngài mở lớn, long lanh, khiến
tôi tưởng như ngài là thần Heruka, một chân dạng ra một
chân co lại. Tôi bị kích động mãnh liệt tới nỗi òa khóc
như thể đã thấy chính vị thàn Heruka. Thật là chuyện đặc
biệt lạ lùng.
Với
tôi, ngài là vị lạt ma quan trọng nhất của Tây Tạng. Ai
cũng biết bốn đệ tử chính của ngài vĩ đại tới mức
nào. Thế mà ngài lại là thầy của họ. Ngài bỏ nhiều thì
giờ nghĩ về ý nghĩa thực tiễn của giáo lý, và thực chứng
những giáo lý ấy bằng tim của ngài. Ngài đã thực hành
tất cả những gì ngài học gần đến mức dộ viên mãn.
Ngài không chỉ nói suông mà cố thực chứng mọi sự. Lại
nữa, không bao giờ ngài nổi giận; bất cứ sự giận dữ
nào cũng hoàn toàn bị dập tắt bởi bồ đề tâm nơi ngài.
Nhiều khi có những hàng dài người đứng chờ ngài ban phép
lanh, thế mà Rinpoche vẫn hỏi thăm từng người một, vỗ
đầu họ. Ðôi khi ngài cho thuốc. Ngài luôn luôn từ hòa.
Tất cả điều này làm cho ngài thật đặc biệt.
Theo
tôi, ngài có hai đức chính yếu; về phương diện mật tông,
ngài đã thực chứng và có khả năng hóa hiện là thần Heruka,
còn về phương diện kinh điển thì ngài có khả năng giảng
Lam-rim.
Ngay
trước khi viên tịch, ngài được mời giảng vắn tắt về
Lam-rim ở ngôi chùa của bổn sư ngài, tu viện Dagpo Shidag Ling
ở Lhoka. Ngài đã chọn một bản văn ngắn nhan đề “Con
đường nhanh” của Panchen Lama thứ hai. Ðấy là bài Lam-rim
đầu tiên mà Dagpo Lama Rinpoche đã dạy cho ngài, và ngài nói
nó sẽ là bài pháp cuối cùng ngài giảng dạy. Mỗi khi viếng
thăm tu viện của bổn sư, Pabongka Rinpoche thường xuống ngựa
mỗi khi vừa thấy tòa nhà xuất hiện. Và từ chỗ xuống
ngựa, ngài lạy dài cho đến khi tới cổng. Khi rời tu viện
thì ngài đi lùi cho tới khi không còn trông thấy bóng. Lần
này khi rời tu viện, ngài lạy thêm lần nữa khi ngôi chùa
đã khuất dạng, và đến ở lại trong một ngôi nhà lân cận.
Hơi đau bụng, ngài lui vào nghỉ đêm. Ngài bảo thị giả
đi ra trong khi ngài tụng kinh cầu nguyện, và ngài tụng lớn
tiếng hơn lệ thường. Lúc ấy nghe dường như ngài đang giảng
về Lam-rim. Khi ngài tụng xong, các người hầu đi vào phòng
thì thấy ngài đã chết. Mặc dù rất đỗi bối rối. Thatag
Rinpoche cũng sao bảo được chúng tôi phải làm gì. Tất cả
chúng tôi đều đau buồn. Di hài của Pabongka Rinpoche được
bọc trong lụa thêu và hỏa táng theo nghi thức cổ truyền.
Có một bảo tháp thực đẹp được xây lên nhưng người
Trung Quốc đã phá hủy. Tuy thế tôi cũng lấy lại được
vài xá lợi của ngài, và đã hiến tặng cho tu viện Sera-mae.
Ngày nay các bạn có thể đến đấy chiêm ngưỡng xá lợi.
Ngày
nay tôi có thành công phần nào về phương diện học giả,
và về phương diện hành giả, tôi cũng là một lama có hạng,
song những điều ấy không có gì là quan trọng. Ðiều duy
nhất có ý nghĩa đối với tôi, ấy là được làm đệ tử
của Pabongka Rinpoche.
Rilbur
Rinpoche
(Rilbur
Rinpoche, người ghi lại tiểu sử trên đây, sinh tại miền
đông Tây Tạng vào năm 1923. Lúc lên năm, ông được đức
Dalai Lama 13 nhận ra là hóa thân thứ sáu của Ser-mae Rilbur
Rinpoche. Ông vào Ðại học tu viện Sera ở Lhasa năm 14 tuổi,
đỗ tiến sĩ Phật học năm 24 tuổi. Ông thiền định, giảng
dạy cho đến năm 1959, sau đó chịu áp bức tàn khốc của
Trung Quốc trong 21 năm. Năm 1980 ông được phép làm vài hoạt
động tôn giáo, và ông đã giúp xây một tháp mới để thờ
Pabongka Rinpoche tại Sera, vì Trung Quốc đã phá hủy cái tháp
đầu tiên. Sau đó ông sang Ấn sống ở tu viện Namgyal tại
Dharamsala.)
Lam Rim
Một
Chỉ dẫn Sâu sắc, Hoàn toàn Chính xác để Trao truyền Pháp
Giải thoát vào Lòng Tay của Bạn,
Tinh
hoa Tư Tưởng của Tsongkapa, bậc
Tướng
quân Chánh Pháp Vô song
Văn
tự ghi lại Một Bài Giảng Khúc Chiết về các Giai Ðoạn
Trên Con Ðường đến Giác Ngộ.
Tinh
túy của mọi Kinh điển
Cô
đọng Pháp vũ Cam lồ
Lời dẫn
nhập của Trijang Rinpoche
Hỡi
Lama Lozang Dragpa
Ngài
là một với Thích ca mâu ni và Kim cương trí,
Tổng
thể của mọi nơi nương tựa tuyệt hảo,
Một
mandala toàn vẹn với ba đức nhiệm mầu của Giác ngộ
Hãy
mưa xuống cho chúng con mười triệu
điều
lành
Ôi
hỡi đấng đạo sư của con, Người che chở
cho
con.
Người
với Cỗ xe tối thượng,
đã
chiến thắng cực đoan tìm bình an vị kỷ,
Người
không màng tiện nghi thế tục
Ðã
đề cao Ba vô lậu học
Và
giáo lý của Ðấng Chiến Thắng
Người
mà những thiện sư cao cả không bị hoen ố vì tám chuyện
bận tâm của
thế
gian
(lợi,
hại, khen, chê, vinh, nhục, được, thua)
Ngài
chính là suối nguồn của mọi điều lành.
Mọi
lời Thầy nói ra đều là thuốc hay
Ðể
xua tan hàng trăm chứng bệnh;
Tâm
non dại của chúng con thật là những bình chứa nhỏ nhoi
Ðối
với giáo lý bao la của Thầy
Một
nguồn suối diệu pháp ngọt ngào như thế
Giáo
lý vi diệu này mà bị quên lãng
Thì
thực đáng buồn xiết bao
Ở
đây con chỉ ghi lại được một phần nhỏ.
Trijang
Rinpoche
Trong
quá khứ có vô lượng vi Phật đã xuất hiện, nhưng những
chúng sinh vô phúc như tôi đã không đủ xứng đáng để làm
đệ tử trực tiếp của đức Thích ca mâu ni, người Che chở
tốt nhất, Người nổi bật như một đóa sen trắng muốt
trong số ngàn đức Phật vĩ đại những bậc cứu tinh của
thời kiếp may mắn này. Trước hết trong quá khứ chúng ta
đã phải cố gắng phát khởi thiện tâm dù trong một giây
lát, nhờ thế mà ta mới được tái sinh làm một con
người. Rồi chúng ta lại được chỉ dạy con đường chân
chính không chút lỗi lầm này, con đường sẽ dẫn ta đến
trình độ toàn trí, lúc đó ta sẽ đạt giải thoát.
Nhưng
nói tóm lại, tôi đã được cứu vớt nhiều lần thoát khỏi
vô số điều xấu ác đủ loại khác nhau, và được đưa
tiến đến càng ngày càng vần vô lượng điều vi diệu. Chính
bậc đạo sư thánh thiện quang vinh của tôi đã làm việc
này. Lòng từ bi của ngài thật là vô bờ bến. Danh hiệu
của ngài tôi xin trân trọng nhắc lại vì một mục đích
tốt lành - là JetsunJampa Taenzin Trinlae Gyatso Paelzangpo. Mặc
dù những người như tôi rất thiếu trưởng thành, thiếu
văn hóa và thiếu tính sáng tạo, có một thời tại nơi ẩn
cư Chuzang, tôi đã được thưởng thức những giáo lý khẩu
truyền của ngài khai thị vào diệu pháp Tối thượng thừa.
Ðấy là một thánh địa đã trở nên thiêng liêng nhờ sự
hiện diện của nhiều thiền gia vĩ đại.
Ngài
đã khai giảng khóa học khẩu truyền này vào ngày ba mươi
tháng bảy năm Con Chim Sắt, 1921 (tức năm Dậu, thuộc hành
Kim, theo âm lịch), và kéo dài trong 24 ngày. Mọi người đã
phải vất vả lắm mới đến được đấy. Họ đến từ
ba tu viện chính ở Lhasa, từ miền Trung Tây Tạng, từ tỉnh
Tsang, Amdo và Kham, để thưởng thức vị cam lồ của giáo
lý khẩu truyền từ nơi ngài, như những người khát cháy
cổ khá khao được nước uống. Có khoảng ba mươi vị lamas
và tái sinh lamas, và nhiều vị tinh thông ba tạng giáo điển,
tất cả gồm trên bảy trăm người. Giáo lý ngài giảng dạy
phối hơp nhiều truyền thống Lam-rim khác nhau - những chặng
đường đến giác ngộ. Có hai truyền thống khẩu quyết liên
hệ đến bản kinh Ngôn thuyết của đức Văn Thù. Một trong
những truyền thống này rất chi li, đã phát triển ở tỉnh
miền Trung Tây Tạng; một truyền thống khác thịnh hành ở
miền nam. Ngài còn giảng dạy một giáo lý cô đọng, Lam-rim
Con Ðường Nhanh; và trong phần Phạm Vi Rộng Lớn nói đến
sự đổi địa vị mình với người, ngài dạy cách luyện
tâm gồm bảy điểm.
Mỗi
phần của giáo lý được làm cho phong phú thêm bằng những
lời chỉ dạy rút từ những giáo lý khẩu truyền bí mật.
Mỗi phần đều được minh họa bằng những ẩn dụ, luận
lý hình thức, những mẫu chuyện, và những trích dẫn đáng
tin cậy. Sự giảng dạy này người sơ học cũng có thể hiểu
được một cách dễ dàng, nhưng sự thực hành thì lại dành
cho mọi tình độ trí thức và tâm linh. Giáo lý này thật
bổ ích vì nó gợi nhiều cảm hứng tốt. Ðôi khi chúng ta
phải phì cười đâm ra tỉnh táo hẳn lên, và bừng sống
dậy. Ðôi lúc chúng ta phải rơi lụy, khóc ròng. Lại có những
lúc ta đâm ra hãi sợ, và cảm thấy muốn hăng hái từ nỏ
mọi sự để hoàn toàn dấn mình vào việc thực hành giáo
lý. Cái cảm giác muốn từ bỏ này trào dâng mãnh liệt.
Ðấy
những lời giảng dạy của ngài kỳ diệu như thế đấy,
phát sinh những cảm xúc tương tự như trên. Làm sao tôi có
thể ghi hết lại giấy được! Tuy nhiên thật đáng tiếc
biết bao nếu những điểm then chốt trong những lời giảng
dạy đầy cảm hứng này phải bị mai một. Ý nghĩ ấy khiến
tôi mạnh dạn viết ra quyển sách này. Bậc tôn sư đã khuyên
tôi: “Một số những người hiện diện không thể theo dõi
hết những lời giảng. Tôi e rằng tôi không tin cậy nổi
những lời ghi chú mà mọi người ghi trong lúc nghe. Bởi thế
yêu cầu ông hãy ấn hành một quyển sách, để vào trong
ấy bất cứ gì ông cảm thấy chắc chắn.”
Trong
tác phẩm này tôi đã ghi lại một cách chân xác những lời
dạy của thầy tôi, với hi vọng làm lợi lạc cho những ai
muốn tu tập thành công.
Tu
Viện Quảng Đức
01-02-2005
10:23:45