PHẦN
MỘT
NHỮNG
CHUẨN BỊ SƠ KHỞI
NGÀY
THỨ HAI
Lama
Pabongka Rinpoche mở đầu:
Ðức
Tsongkapa vĩ đại (trong lời Dẫn nhập tác phẩm Ba Nòng Cốt
Của Ðạo Lộ) đã viết:
Tôi
sẽ cố giải thích ý nghĩa
Tinh
túy của tất cả kinh điển
Của
Ðấng Chiến Thắng
Ðạo
lộ được tán dương
Bởi
tất cả chư Phật và những pháp tử của ngài
Ðó
là cửa vào cho những người may mắn muốn đạt giải thoát.
Giáo
lý này là tinh túy của tất cả kinh điển Phật thuyết. Trong
phần Phạm Vi Nhỏ bạn được thúc dục phải từ bỏ những
cõi xấu ác, trong phần Phạm Vi Trung Bình, bạn được thúc
dục phải từ bỏ toàn bộ vòng sinh tử luân hồi, vân vân.
Nhưng bạn sẽ không làm nổi những việc ấy nếu không dựa
vào Lam-rim. Tâm bồ đề tôn quý là con đường mà tất cả
chư Phật và các đấng Pháp vương tử (Bồ tát) đều ca ngợi.
Cửa vào cho những người mong đạt giải thoát chính là chánh
kiến về Tánh không, xa lìa hai cực đoan thường kiến và
đoạn kiến. Bạn cũng không thành tựu được điều này nếu
không dựa vào hệ thống giáo lý Lam-rim. Bởi thế để đạt
thành Phật quả, bạn cần phải phát triển ba nòng cốt ấy
của đạo lộ ở trong lòng tâm thức bạn.
Muốn
phát sinh ba nòng cốt này trong tâm thức, bạn phải dựa vào
Lam-rim. Bởi thế mà ngay từ đầu, bạn hãy khởi động lực
như sau: “Tôi sẽ đạt Phật quả vì lợi lạc cho tất cả
hữu tình - và lý do ấy tôi sẽ tham dự buổi nói chuyện
thân mật này về Ba phạm vi khác nhau của Lam-rim.” Hãy tập
trung tất cả những động lực và hành động của bạn theo
chiều hướng những ý tưởng ấy, rồi hãy lắng nghe.
Và
pháp mà các bạn sắp nghe là pháp gì? Ðó là pháp Tối thượng
thừa, giáo lý đưa người may mắn đến Phật quả. Ðó là
con đường truyền thống của hai vị tiên phong vĩ đại là
Long Thụ và Vô Trước. Ðó là tinh hoa tư tưởng của đức
Atisha vô song và đức Tsongkapa, Pháp vương của ba cõi. Giáo
lý này sâu xa là như vậy đó. Nó có mọi điểm then chốt
được tìm thấy trong tinh hoa của tám vạn bốn ngàn kinh điển,
nó tổ chức những thực tập tuần tự đưa ta đến giác
ngộ.
Những
“câu chuyện thân mật” về những giai đoạn của con đường
đến giác ngộ có thể nằm dưới một tiêu đề căn bản:
“Giáo lý thực thụ.” Nhưng có những tiêu đề được đưa
thêm vào để ấn định bản chất của Lam-rim, những bản
kê khác nhau về nó, và thứ tự giảng dạy giáo lý này. Bạn
phải quen thuộc với những tiêu đề này để biết chắc
cái nào đi với đề mục thiền đặc biệt nào, chúng được
giải thích như thế nào, những trích dẫn đưa ra trong những
tiêu đề ấy, hệ giáo lý khẩu truyền về chúng, và những
chỉ dẫn mà chúng hàm chứa. Nếu không, nghĩa là nếu bạn
nghe một giáo lý khơi khơi không có tiêu đề nào cả, thì
sẽ khó làm cho những thiền quán trở thành lợi lạc cho dòng
tâm thức bạn. Nó sẽ giống như là bạn cố lấy riêng ra
xài hoặc trà, hoặc bơ, muối, soda... sau khi chúng đã được
bỏ chung một bình. Có nhiều loạt tiêu đề khác nhau - một
số dùng cho những Lam-rim ngắn gọn, một số dành cho những
bản dài hơn. Bạn nên theo những tiêu đề của giáo lý mà
bạn đã hấp thụ.
Bây
giờ tôi sẽ theo phần lớn sự thực hành của tôn sư tôi
áp dụng tiêu đề Con Ðường Nhanh. Loạt tiêu đề đặc biệt
này được trang điểm bằng nhiều chỉ giáo khẩu truyền.
Trước đây nó chưa từng được bút ký, nhưng ngài hết sức
cẩn thận khi giảng dạy chúng một cách công khai; và tôi
cũng đã được thụ giáo những tiêu đề ấy một mình với
thầy. Tôi đã hết sức cẩn thận thu thập chúng lại và
viết lên giấy. Những tiêu đề ấy không quá ngắn cũng không
quá dài, và có nhiều dáng vẻ độc đáo đã được cho là
rất công hiệu.
Những
học giả tu viện Nalanda ưa nói đến ba sự thanh tịnh trước
khi giảng pháp:sự thanh tịnh giáo lý khẩu truyền của vị
thầy, sự thanh tịnh của dòng tâm thức nơi môn sinh, và sự
thanh tịnh của Pháp đang được trình bày. Những học giả
của Vikramashìla trong những phần dẫn nhập thường nói đến
tính vĩ đại của tác giả, tính vĩ đại của Pháp, và cách
lắng nghe giáo lý ấy. Tôi sẽ theo truyền thống sau cùng này.
Bài
giảng về những giai đoạn của con đường đến Giác ngộ
có bốn phần chính:
1.
Sự vĩ đại của các tác giả, được nói lên để chứng
minh rằng giáo lý này có một nguồn gốc trong sạch.
2.
Sự vĩ đại của Pháp, được nói để tăng niềm tin tưởng
đối với giáo lý.
3.
Cách chân chính để giảng và nghe nền giáo lý có hai sự
vĩ đại này.
4.
Trình tự theo đó các môn đệ phải được dạy những chỉ
dẫn thực thụ.
Bốn
tiêu đề này được tìm thấy trong tác phẩm (của Tsongkapa)
Những Giai Ðoạn Lớn Của Con Ðường. Bất kỳ loại Lam-rim
nào được trình bày - Con Ðường Dễ, Con Ðường Nhanh, vân
vân - bất kể nó được giảng chi tiết đến đâu, truyền
thống khẩu truyền nói bạn phải khởi bằng những tiêu đề
ấy, nếu không người ta sẽ không phất sinh đầy đủ niềm
tin.
I.
TÍNH CÁCH VĨ ÐẠI CỦA NHỮNG TÁC GIẢ NÓI LÊN ÐỂ CHỨNG
TỎ NỀN GIÁO LÝ NÀY CÓ MỘT NGUỒN GỐC TRONG SẠCH.
Như
lần trước tôi đã nói, theo truyền thống những học giả
Ấn, thì Pháp mà bạn sẽ thực hành phải là do Phật dạy,
được giảng giải bởi những bậc học giả hiền trí, và
được xử dụng để thiền quán bởi những hành giả uyên
bác có thể phát sinh những thực chứng về thần thông và
tuệ giác trong dòng tâm thức họ.
Về
phần chúng ta, chúng ta cần nhiều hơn là đức tin, trí tuệ,
và kiên trì tinh tấn; nếu ta thực hành một Pháp mà chỉ
có vẻ hữu lý, thì ta sẽ không đạt được kết quả nào.
Ta đã thấy tận mắt nhiều người vừa trí tuệ vừa kiên
nhẫn đã lãng phí thì giờ vô ích kiểu ấy. Hơn nữa, dù
một giáo lý có được cho là phát xuất từ những linh kiến
sâu xa đến đâu, thì Ba Nòng Cốt Của Ðạo Lộ như tôi đã
nói với bạn, vẫn quan trọng hơn các Sàdhanas (những phương
pháp đắc quả) và những giáo lý dạy cách chứng các thần
thông, bởi vì những thứ này còn không hơn được cả đến
một dẫn nhập vào ba quy y.
Muốn
tìm về nguồn của một con sông, bạn cần hải đi trở ngược
về lằn ranh tuyết. Cũng thế bạn phải truy tầm một pháp
trở lui về Ðức Phật, bậc Thầy của chúng ta. Nếu có thì
giờ để bàn chi tiết điều này, tôi sẽ khởi sự bằng
đời Ðức Phật và những tiểu sử của những bậc thầy
thuộc tất cả các hệ phái, làm thế nào các ngài đã sử
dụng con đường này để đạt đến những quả vị cao siêu.
Nhưng tôi không đủ thì giờ để bàn dài dòng như thế. Tôi
chỉ kể cho các bạn nghe một ít chuyện mà thôi.
( Khi
ấy Pabongka Dorje Chang (Kim cương trì) kể sơ cho chúng tôi nghe
làm thế nào mà có hai hệ truyền thừa từ đức Phật xuống
Atìsha; và làm thế nào Atìsha đã phối hợp hai hệ phái thành
một dòng. Ngai tiếp:)
Atìsha
viết Ngọn Ðèn Soi Ðường tại Tây Tạng; từ ngữ “Lam-rim”
về sau mới xuất hiện. Trong tất cả những tác phẩm về
giáo lý Lam-rim như Con Ðường Tối Thượng, Giáo lý Tuần
Tự, vân vân, tác phẩm chính về đề tài này - Ngọn Ðèn
Soi Ðường - là kiệt tác của ngài. Bởi thế Atìsha gần
như là tác giả của những pháp môn ấy. Ngay cả Tsongkapa
vĩ đại cũng viết: “Tác giả sách này kỳ thực chính là
Atìsha.” Bởi thế đáng tôi phải kể cho các bạn nghe lịch
sử chi tiết cuộc đời ngài, song vì ít thì giờ tôi chỉ
nói sơ lược.
Tiểu
sử này có ba tiêu đề:
1.
Ngài sinh vào một trong những gia đình quý tộc.
2.
Ngài đã có được những kỳ đức từ thuở ấu thơ.
3.
Sau khi có được những đức ấy, ngài đã làm những việc
gì.
A.
ATÌSHA SINH VÀO MỘT GIA ÐÌNH QUÝ TỘC
Atìsha
sinh tại miền đất nổi tiếng đông Ấn bây giờ là Bengal,
tại một đô thị lớn có một trăm ngàn hộ dân cư, tổng
số dân là ba triệu năm trăm ngàn. Lâu đài của thân phụ
ngài được gọi là “Lâu đài của những lá cờ vàng chiến
thắng.” Có mười ba ngôi chùa vàng, và hai mươi lăm tràng
phan chiến thắng bằng vàng. Gia đình ngài rất giàu có và
có thế lực. Thân phụ ngài là vua Kalyànashrì; thân mẫu là
Prabhàvatì. Lúc ngài ra đời có nhiều điềm lạ.
B.
NGÀI ÐÃ ÐẠT ÐƯỢC NHỮNG KỲ ÐỨC NGAY TRONG ÐỜI NÀY NHƯ
THẾ NÀO
Khi
vị thái tử hài nhi mới mười tám tháng tuỏi, song thân ngài
viếng thăm một ngôi đền ở Vikramapuri. Dân chúng sắp hàng
hai bên đường để xen thái tử. Ngài trông thấy đám đông
và hỏi cha mẹ: “Những người này là ai thế?” Họ trả
lời: “Ðấy là thần dân của con.” Hài nhi nhìn mọi người
với vẻ thương xót và thốt ra lời kệ:
Ước
gì họ đều như tôi:
Giàu
có, nhiều công đức sáng chói,
Thừa
kế ngai vàng, một thái tử đầy quyền lực.
Ước
sao tất cả họ đều tin theo Diệu Pháp!
Mọi
người rất đỗi kinh ngạc. Khi vào đền, mọi người kể
cả cha mẹ ngài đều cầu nguyện không bệnh, sống lâu, giàu
có, khỏi sa vào đọa xứ, được sanh lên thượng giới, vân
vân. Riêng thái tử lại cầu nguyện như sau:
Tôi
đã được tái sanh làm người
Một
người được ưu đãi
Giác
quan tôi không tì vết
Tôi
gặp được Ba ngôi báu
Mong
sao con luôn luôn kính cẩn
Ðội
trên đầu con Ba ngôi báu
Kể
từ hôm nay, xin Ba ngôi báu làm chỗ nương của con
Mong
sao con đừng bao giờ bị công việc gia đình trói buộc
Mong
sao con có năng khiếu về Pháp
Ở
giữa đại chúng Tăng già.
Mong
sao con cúng dường Tam bảo
Mà
lòng không một chút kiêu căng
Mong
sao con nhìn mọi hữu tình với lòng thương xót.
Mới
mười tám tháng tuổi, vị thái tử hài nhi đã nói đến chuyện
quy y và phát tâm bồ đề. Ngài đã làm cho chúng ta tin tưởng
ngay từ điểm này trong tiểu sử đời ngài.
Tác
phẩm “Quyển sách của hệ phái Kadampas” cho chúng ta biết
về sự phát triển sớm của ngài:
Khi
thái tử lên ba
Ngài
đã giỏi về toán,
Văn
chương và thi phú.
Khi
lên sáu tuổi
Ngài
có thể phân biệt
Phật
pháp, phi Phật pháp.
Phân
biệt Phật pháp với không phải Phật pháp thật là chuyện
vô cùng khó khăn. Có lẽ chuyện sau đây sẽ cho bạn vài khái
niệm. Có lần Atìsha đã nói: “Ở Ấn Ðộ chỉ có ba người
biết phân biệt Phật pháp và phi Phật pháp là Nàropa, Shàntipa
và tôi. Naropa đã chết, còn tôi đã đi Tây Tạng. Có thời
nào mà xứ Ấn lâm vào một tình thế tệ hơn không?”
Chính
sự kiện Atìsha có thể phân biệt như vậy vào lúc lên sáu,
đối với tôi dường như là dấu hiệu chứng tỏ ngài đã
uyên bác ngay từ lúc nhỏ.
Khi
ngài mười một tuổi, nhiều công nương công chúa xứng đôi
vừa lứa đã tìm đủ nghệ thuật múa hát để quyến rũ
ngài; nhưng những cảnh tượng ấy chỉ gợi cho ngài sự gớm
ghiếc và xuất ly. Có một cô gái làn da ngăm đen vốn là
hóa thân của Tara, đã nói với ngài.
Thái
tử, chớ bị vướng mắc
Hỡi
người diễm phúc, đừng bị vướng
Nếu
một anh hùng như ngươi
Mà
bị tóm trong vũng lầy dục vọng
Thì
cũng như con voi sa lầy.
Nhưng
người mặc áo giáp giới đức thì không chìm đắm.
Ta
hãy suy xét rộng rãi lời nói của nàng. Nàng bảo thái tử
đừng vướng mắc trước hết là vào đời này, và thứ đến
là vào sinh tử luân hồi nói chung. Ví dụ nàng dùng về con
voi sa lầy có nghĩa rằng, vì con voi có thân xác khổng lồ,
nên còn khó gỡ mình ra khỏi sình lầy hơn những con vật
khác. Nếu những người thông thường mà phạm vài điều
quấy, thì chỉ có hại cho bản thân họ chứ không thể phương
hại đến sự lan truyền giáo lý. Nhưng nếu tu sĩ vĩ đại
hoặc những tái sanh của Lamas mà hành xử sai trái, thì sẽ
làm cho sự giảng dạy giáo lý trong vùng ấy mất ảnh hưởng.
Nếu những vị này hành xử thích đáng, thì giáo lý ở vùng
ấy sẽ thịnh. Lại nữa, với tôi dường như điều ấy muốn
nói rằng điều quan trọng nhất là những người lớn như
quý vị cần phải đa văn, có đạo dức, từ bi, và quý vị
nên giữ gìn những truyền thống Gelugpa thuần tịnh.
Vị
thái tử trả lời rằng những lời yêu cầu của nàng làm
cho thái tử rất hài lòng.
Không
lâu sau đó, vua cho một trăm ba mươi kỵ sĩ vây quanh thái
tử. Thái tử giả vờ đi thám hiểm núi rừng ở vùng lân
cận. Mục đích thực thụ của ngài là tìm một bậc đạo
sư. Ngài gặp bà la môn Jitarì đang sống trong một ngọn núi,
ông cho thái tử quy y và thọ giới Bồ tát, và cho thái tử
biết về Bodhibhàdra ở Nalanda, người có duyên nghiệp với
thái tử đời quá khứ. Thái tử liền đi gặp bậc thầy
ấy và dâng cúng ngài nhiều ngọc ngà châu báu. Bodhibhàdra
rất hoan hỉ. Bậc thầy nhập định và làm phép tịnh hóa
ba cửa (thân khẩu ý) cho thái tử. Ngài cũng cho thái tử nhiều
lời chỉ giáo liên hệ đến sự phát tâm bồ đề, đoạn
giới thiệu thái tử đến bậc thầy Vidyakokila, vị này cũng
dạy thái tử về sự phát bồ đề tâm rồi gởi thái tử
đến một bậc thầy từ đời trước của thái tử là Avadhutipà.
Avadhutipà
bảo thái tử: “Hãy trở về kinh đô của phụ vương ngày
hôm nay. Hãy quán xét những khuyết điểm nơi lối sống của
một cư sĩ thế tục.”
Và
thế là thái tử về nhà, khiến cha mẹ ngài rất vui mừng.
Họ hỏi: “Con đi đâu thế, hởi Chadragarbha (Nguyệt Tạng).
Con có mệt chăng? Có sầu muộn chăng? Ôi thật tốt thay con
đã trở về.” Thái tử trả lời:
Con
đã đi tìm thầy học đạo
Vì
thầy là nơi nương tựa quý báu như Phật
Con
đã tìm trong hang núi
Và
những nơi tịch mịch hoang vu
Nhưng
dù đi đến đâu
Con
cũng có thể thấy lỗi lầm của sinh tử.
Bất
cứ người bạn nào con gặp
Ðều
nói cho con nghe những lỗi lầm của sinh tử.
Mặc
dù thế, con vẫn chưa được vừa lòng.
Xin
cho con tự do để quay về với Pháp.
Cha
mẹ thái tử bảo ngài rằng việc sinh tử làm cho ngài đau
khổ như thế, thì thái tử nên làm vua rồi tha hồ mà cúng
dường Tam Bảo, bố thí cho người nghèo, xây chùa, trai tăng,
vân vân. Như vậy ngài sẽ hoàn toàn hạnh phuc. Thái tử trả
lời:
“Con
đã thấy nhiều cảnh khổ sinh tử. Con không chút nào bị
lôi cuốn vào những cạm bẫy của cuộc đời vua chúa. Cung
vàng điện ngọc đối với con không khác nào lao ngục. Những
mỹ nữ không khác gì con gái của ma vương. Ba chất ngọt
ngào (?) chẳng khác nào thịt chó, mủ và máu. Mặc lụa là
trang sức châu báu với đắp một cái mền rách không có gì
khác nhau. Con sẽ vào rừng để thiền định. Hôm nay hãy cho
con một ít thịt, sữa, mật, đường mía để con đi đến
bậc thầy Avadhutìpà.” Ðấy là đại ý những bài ca được
hát cho cha mẹ ngài. Những vị này cho phép ngài làm theo ý
muốn, và thái tử khởi hành vào rừng cùng với một ngàn
kỵ sĩ đi theo.
Ngài
trở thành đồ đệ của Avadhutìpà, người khai thị cho ngài
sự phát tâm bồ đề. Ông bảo: “Hãy đi đến chùa Krshnagiri
(Hắc sơn) nơi tiên Ràhulagupta đang ở. Ông ấy cũng từng
là thầy con trong quá khứ.”
Bậc
thầy Ràhula lúc ấy đang giảng giáo lý mật tông. Khi thấy
thái tử đi vào, mặc dù đã biết thái tử đến để cầu
Pháp, để thử thách ông tung một luồng sét đánh vào thái
tử, rồi đi lên đỉnh núi chỗ có một ngôi tháp Tìrthika
màu đen. Các ẩn sĩ tùy tùng hỏi ông người ấy là ai. Ràhula
trả lời: “Trong năm trăm năm mươi hai đời tái sinh, ông
ấy luôn luôn làm học giả. Bây giờ ông ấy là thái tử
sắp nối ngôi vua Pháp ở xứ Bengal là Kalyànashrì. Ông ta
không màng tới đời sống vương giả, mà mong muốn thực
tập khổ hạnh.”
Mọi
người đều ngạc nhiên. Họ đứng lên mời thái tử gia nhập
vào đoàn họ.
Khi
gặp bậc thầy này, Atìsha nói:
Hỡi
đạo sư thánh thiện xin nghe con đây:
Con
đã từ bỏ gia đình
Con
mong đạt giải thoát
Nhưng
con đã sinh vào nhà danh tiếng
Và
có thể trói buộc vào xứ Bengal.
Con
đã tôn thờ những bậc thầy
Jitàri,
Bodhibhadra, Vidyakokila và Avadhutìpà,
Những
bậc đạo sư có thần thông
Nhưng
ngay đến bây giờ, con vẫn chưa thoát khỏi
Những
bổn phận làm vua.
Nay
con được gởi đến Thầy, hỡi bậc Ðạo sư:
Xin
hãy khai thị cho con giáo lý Ðại thừa
Và
sự phát bồ đề tâm,
Mong
sao con thoát khỏi những trói buộc.
Thái
tử tiếp tục năn nỉ vị thầy suốt mười ba ngày. Cuối
cùng ông đáp ứng, làm pháp quán đảnh Hevajra cho thái tử
và truyền riêng cho ngài tất cả những chỉ giáo. Thái tử
được pháp danh trong mật giáo là Jnànaguhyavajra.
Rồi
Ràhula bảo tám vị nam nữ khổ hạnh lỏa thể có nhiều thần
thông khủng khiếp rằng: “Hãy đi theo ông ấy về Bengal,
làm cho nhà vua đổi ý. Khi thái tử đã được giải thoát
khỏi phận sự làm vua, thì hãy đưa ông đến bậc thầy của
ông là Avadhutìpà.”
Bấy
giờ thái tử trang phục như thần Heruka, đi vào hoàng cung.
Mọi người trông thấy đều nhận ra ngài và rất hoảng sợ.
Ngài lang thang suốt ba tháng, hành xử như một người điên.
Những tu sĩ khổ hạnh đi theo ngài thì chạy nhảy cùng khắp.
Mọi người đều quyết định rằng ngài không còn đủ tư
cách để trị vì nữa, và không ai cầm được nước mắt.
Phụ
thân ngài là người buồn sầu nhất. Ông nói:
Ôi
con tôi! Từ khi sinh con ra
Cha
đã thấy con có giá trị phi thường
Cha
những tưởng con sẽ làm phận sự quốc vương của con
Còn
ai hạnh phúc hơn con nữa?
Sự
ẩn cư trong rừng dã tác hại gì đến tâm con như thế?
Thái
tử đáp:
Thưa
cha, nếu con làm vua
Con
chỉ được sống với cha trong đời này
Nhưng
rồi cha con không nhận ra nhau trong những đời sắp tới.
Thật
sai lầm biết bao khi làm một việc
Không
đem lại lợi ích gì mà chỉ có hại.
Nếu
con từ bỏ đời sống vương giả
Mà
thực hành Con đường bảo đảm
Ðưa
đến giải thoát giác ngộ,
Thì
cha con mình sẽ được hạnh phúc
Trong
những đời tương lai
Bởi
thế, cha hãy buông con ra!
Bà
mẹ nói:
Có
ích gì đây? Ta không thuyết phục con nổi
Nghiệp
là cái tiên quyết
Ðã
ném tất cả chúng ta vào tái sanh trong đời.
Ôi
hỡi người con thánh thiện, cứ việc tu pháp gì con cho là
tốt nhất,
Còn
mẹ sẽ cầu nguyện được gặp con trong tất cả các đời
sau.
Rồi
cha mẹ đều cho phép thái tử xuất gia.
Thái
tử cùng với những tu sĩ khổ hạnh rời cung điện sáng sớm
để đi đến nơi ẩn cư trong rừng của bậc thầy Avadhutìphà,
ở đấy ngài học Phật của trường phái Trung quán. Atìsha
được thụ giáo về những điều vi tế sâu xa của luật
nhân quả, từ năm 21 tuổi cho đến năm 29, ngài gần ngang
với bậc thầy Avadhutiphà. Vắn tắt là ngài đã thiền quán,
chiêm nghiệm về mọi sự mà ngài đã học được. Tác phẩm
Quyển Sách Xanh về những Bùa Chú nói: “Ngài đã theo học
Avadhutìphà trong bảy năm.”
Atìsha
đáng lẽ đã lên ngôi làm vua, sự nghiệp rực rỡ không thua
gì hoàng đế Trung Quốc Li Shi-min, mà hoàng cung có đến mười
vạn ngôi nhà với những tràng phan chiến thắng, hai mươi
lăm ngàn ao tắm, bảy trăm hai mươi lạc viên, và năm mươi
sáu ngàn cây cổ thụ. Ngài cóthể sở hữu ba triệu rưỡi
thần dân. Cung điện của ngài được vây quanh với bảy lớp
trường thành nối liền bằng ba trăm sáu mươi ba ngôi chùa.
Nhưng ngài Atìsha vĩ đại đã hiến mình cho Chánh pháp và
đã từ bỏ tất cả những cạm bẫy vô song ấy của vương
quyền như thể là người ta nhổ nước bọt vào đống rác.
Ðức Phật đấng Ðạo sư của chúng ta cũng đã từng làm
như vậy: mặc dù nắm chắc uy quyền của một vị chuyển
luân vương trong tay. Ngài đã từ bỏ để xuất gia. Bởi vậy,
bạn phải đọc lại một cách say sưa lịch sử của các ngài.
Nếu bây giờ có ai bảo chúng ta: “Hãy xả giới hoàn tục,
rồi ông sẽ cho làm quận trưởng.” Ta sẽ làm theo ngay không
chút do dự. Thế cũng đủ chứng minh tầm mức sự phát tâm
của chúng ta.
Thật
khó cho chúng ta từ bỏ những vặt vãnh trong căn phòng nhỏ
hẹp của mình, nói gì đến chuyện từ bỏ uy quyền của
vương vị. Hãy xem điều này trái ngược với Atìsha, người
đã vứt bỏ vương vị xem như đờm dãi, người theo thầy
học đạo trải qua bảy năm ròng. Ngài cũng thọ giáo Kim cang
thừa với nhiều bậc đạo sư có thần thông khác, trở thành
một học giả về tất cả cổ thư và mọi ngành giáo lý.
Một hôm ý nghĩ này khởi lên nơi ngài, “Ta rất uyên thâm
về mật giáo.” Nhưng ngài liền mất tất cả kiêu mạn khi
ngài mộng thấy một số nữ thần (dàkinìs) đưa cho ngài
xem nhiều pho sách mật giáo mà ngài chưa từng thấy. Và khi
ngài khởi lên tư tưởng, “Ta sẽ đạt những thần thông
tối thượng về Ðại thủ ấn (mahàmudrà) ngay trong đời
này bằng cách áp dụng một cách hành xử có nhiều tính chất
mật giáo hơn nữa” (nghĩa là có vợ), thì đạo sư Ràhulagupta
hiện đến với ngài bằng thần thông đi xuyên qua tường
vách mà bảo: “Cái gì? Con đã quên chúng sinh rồi sao? Hãy
thụ giới ngay. Ðiều này sẽ làm lợi lạc cho nền giáo lý
và cho nhiều hữu tình chúng sinh.”
Khi
thần Heruka xuất hiện trước ngài, và cũng yêu cầu như thế.
Ngài cũng mộng thấy Ðức Thích Ca Mâu Ni bậc Ðạo sư của
chúng ta, và Ðức Di Lặc, bảo ngài phải thụ giới. Ngài
thụ giới cụ túc với ngài Shìlaraksha (Giới hộ), một tu
viện trưởng thuộc bộ phái Mahàsamgika (Ma ha tăng kỳ vực),
người đã đạt giai đoạn Nhẫn trên đạo lộ chuẩn bị.
Atìsha được thọ cụ túc giới vào năm 29 tuổi.
Atìsha
đã theo học một trăm năm mươi bảy bậc thầy, học tất
cả các học thuật, kinh giáo và mật giáo cùng những bài
dạy truyền khẩu liên hệ. Ngài làm một khảo cứu đặc
biệt về những điểm then chốt trong Tứ Phần Luật dưới
sự hướng dẫn của Dharmarakshita (Pháp hộ), và làm một bộ
luận khổng lồ bao gồm một trăm lẽ tám bài tụng trình
bày phần của Thắng pháp (Abhidharma) gọi là “Luận Về Những
Ðiểm Ðặc Biệt.” Ngài nghe giảng những giáo lý này trong
mười hai năm, và nghiên cứu tường tận. Ngài còn am tường
tất cả những pháp tu khác nhau của mười tám bộ phái (thuộc
bộ phái Vaibhashika - Ðại tỳ bà sa), về những vấn đề
như thành phần nào trong tăng chúng phải tịnh thí một phần
thực phẩm mình xin được, hoặc thứ nước nào được phép
uống, vân vân. Bởi thế ngài trở thành viên ngọc tối thượng
của cả mười tám bộ phái Ấn Ðộ.
Nhưng
mặc dù ngài đã học và hành tất cả kinh giáo và mật giáo
có thể tìm thấy được vào thời ấy tại Ấn, ngài vẫn
không ngừng tự hỏi con đường nào là đường nhanh nhất
đến giác ngộ, và Ràhulagupta bậc thầy của ngài, đang ở
trong hang động núi Krishnagiri, biết được tâm niệm ngài
nhờ tha tâm thông, liền đi đến bảo: “Có gì hay ho trong
việc thấy những linh kiến về các thần bảo hộ, làm xuất
hiện được nhiều bộ loại chư thần trong những đồ hình,
phô diễn được vài thần thông vặt vãnh, hoặc đạt được
định vững như núi đá? Hãy luyện tâm người về lòng từ
mẫn và tâm bồ đề. Ðức Thiên Thủ Quán Thế Âm là vị
bồ tát của lòng từ mẫn, hãy cầu ngài làm thần bảo hộ
cho ngươi và phát nguyện làm lợi lạc loài hữu tình cho đến
khi cõi sanh tử trống rỗng.”
Một
ngày kia, trong khi Atìsha đang kinh hành quanh Kim cang tòa của
Phật tại Bồ đề tràng, ngài nghe cuộc đàm thoại giữa
hai pho tượng. Một lần khác, có hai thiếu nữ đã vượt
được những giới hạn của thân xác con người, đang nói
chuyện trên bầu trời phía nam của Bồ đề tràng. Một cô
hỏi: “Muốn giác ngộ cho toàn vẹn và nhanh thì người ta
nên tu theo pháp nào?” Cô kia bảo: “Hãy tu luyện tâm bồ
đề.” - “Phải đấy, tu bồ đề tâm là phương tiện cao
cả nhất.”
Atìsha
đã dừng kinh hành để nghe cuộc đàm thoại, và ghi hết vào
lòng như một bình chứa nhận hết nước trút từ bình khác.
Có
lần ngài đang đứng cạnh hàng rào bằng đá do bậc thầy
Long Thụ dựng lên, thì nghe ở đấy có một bà già bảo cô
gái: “Bất cứ người nào muốn đạt giác ngộ sớm phải
tu luyện tâm bồ đề.”
Một
pho tượng Phật ở dưới hành lang của ngôi đại điện tại
Bồ đề tràng có lần bảo Atìsha, trong khi ngài đang kinh hành
tại đấy: “Hỡi khất sĩ, nếu ngươi muốn giác ngộ sớm,
thì hãy tu luyện tâm từ, tâm bi và tâm bồ đề.”
Một
lần khác, khi ngài đi quanh vách đá một am cốc nhỏ, pho tượng
Ðức Thích Ca bằng ngà voi nói với ngài: “Hỡi thiền giả,
hãy tu luyện tâm bồ đề nếu ngươi muốn sớm đạt toàn
giác.”
Thế
là Atìsha tu tập phát triển tâm bồ đề hơn bất cứ lúc
nào trước đấy, và vì muốn tu đạt đến trạng thái cao
nhất của tâm bồ đề, ngài tự hỏi: “Ai là người nắm
giữ toàn bộ giáo lý về điều này nhỉ?” Ngài tra tầm
và nhận ra chính Suvarnadvìpi là người nổi tiếng bậc thầy
về tâm bồ đề. Ngài dự định đi đến vị ấy (ở Nam
Dương) để thụ giáo một cách toàn triêt về bồ đề tâm.
Ngài vượt đại dương suốt mười ba tháng trên một con thuyền
với vài thương gia đi buôn bán. Khi ấy Kàmadeva, thần dục
lạc, vì không chịu nổi sự lan truyền của Phật pháp, muốn
ngăn cản tâm bồ đề của Atìsha, nên đã thổi một luồng
gió mạnh để làm cho chiếc thuyền xoay quanh, lại hóa một
con cá voi lớn án ngữ trước mũi không cho thuyền đi tới,
hóa
sấm chớp, vân vân, gây khá nhiều rối loạn. Hiền trí Kshitagarbhà
xin Atìsha xử dụng thần thông giận dữ. Ngài bèn nhập định
quán tưởng thần Yamàtaka màu đỏ hiện ra hàng phục được
đám quỷ quấy phá, và cuối cùng đoàn người đến Nam Dương.
Atìsha
đã trở thành một học giả và hành giả vĩ đại. Như ta
đã nói, lúc mới mười tám tháng tuổi, ngài đã tự thốt
ra những lời chứng tỏ ngài đã am tường về tâm bồ đề.
Thế mà ngài vẫn tình nguyện trải qua bao nhiêu gian khổ để
đi đến Nam Dương, điều ấy chứng tỏ cho chúng ta thấy
trong phái Ðại thừa, không có gì quan trọng cốt cán hơn
là bồ đề tâm.
Atìsha
trải qua cuộc hành trình đến mười ba tháng nhưng không bao
giờ ngài cởi chiếc áo tu sĩ, dấu hiệu của giới pháp.
Ngài không du hành như chúng ta ngày nay. Các tu sĩ bây giờ
mỗi khi đi xa, vừa ra khỏi tu viện là đã khoác y phục thế
gian, một số người lại còn đeo bao gươm dài vào nữa. Tôi
nghĩ có lẽ người ta phải sợ hãi khi trong thấy họ và tự
hỏi, “Có phải là bọn cắt cổ người ta chăng?” vậy
ta phải nêu gương bằng cách đừng cởi pháp phục, dấu hiệu
chứng tỏ ta đã thụ giới cụ túc. Kaedrub Rinpoche nói:
Thân
thể của vị tỷ kheo đẹp là nhờ pháp phục
Khi
nào tu sĩ đã thụ giới
Mà
mặc y phục thế gian
Lối
cư xử ấy làm giáo lý suy tàn.
Một
vài người tuyên bố: “Người ta nên thuần thục từ bên
trong” mà không giữ bề ngoài chút nào. Ðiều này không tốt
cho giáo lý chung. Mọi hoạt động của tăng chúng cần được
thực hiện có giới luật và an tịnh. Xá Lợi Phất đạt
đến địa vị kiến đạo là nhờ thấy cung cách của Ashvaji.
Trở
lại chuyện Atìsha đến đảo Nam Dương. Ngài trong thấy một
vài thiền giả đệ tử của Suvarnadvipì. Atìsha cùng những
đồ đệ của ngài nghỉ ngơi nửa tháng và yêu cầu các thiền
giả kể cho nghe câu chuyện về cuộc đời đạo sư Suvarnadvipì.
Nếu là chúng ta thì khi đến đấy, chúng ta sẽ đến diện
kiến bậc thầy tức khắc; như Atìsha không làm như vậy.
Thay vì thế, ngài xem xét cuộc đời của bậc thầy. Ngài
nêu một tấm gương cho ta: trước hết ta phải tra tầm về
bậc thầy cho đúng cách.
Một
vài người vội vã đi đến bậc thầy Suvarnadvipì và bạch:
“Bạch thầy, nhà đại học giả Dìpamkàra Shrijnana, người
nổi tiếng nhất khắp vùng Ðông và Tây Ấn, đã vượt biển
với bao gian nan suốt mười ba tháng cùng với một trăm hai
mươi lăm đồ đệ đã đến để thụ giáo với ngài về
Bát nhã, bà Mẹ của tất cả những đấng Chiến thắng. Họ
cũng đến để học pháp Ðại thừa về huấn luyện tâm để
phát nguyện và khai triển những hình thức tu tập tâm bồ
đề.”
Suvarnadvipì
nói: “Kỳ diệu thay một học giả vĩ đại như thế đã
đến xứ ta. Chúng ta phải đi chào đón.”
Khi
Atìsha đến gần tòa lâu đài của Suvarnadvipì, ngài và tùy
tùng trông thấy từ xa một đám rước đang đến đón mừng,
dẫn đầu chính là bạc thầy Suvarnadvipì, theo sau là năm trăm
ba mươi tu sĩ. Họ trông như những vị A la hán, mặc ba y có
màu sắc thích đáng với tu sĩ, mang theo đồ đựng nước
và gậy sắt thực đẹp, có sáu mươi hai sa di theo hầu. Tất
cả đoàn gồm năm trăm chín mươi bảy vị đã thụ đại
giới. Vừa trông thấy đám rước trang nghiêm ấy, giống y
những vi la hán thời Phật, đoàn của Atìsha vô cùng hoan hỉ.
Rồi
những bậc hiền trí tinh thông ngũ minh như Atìsha và Kshitagarbha,
và những tỷ kheo thông ba tạng, khởi sự đi đến tư thất
của thầy Suvarnadvipì. Họ đều mang dép đúng luật và đắp
ba y nhuộm vàng của xứ Kashmir, được phái Mahasamghika ưa
chuộng. Ðể mọi người bản xứ có thể tu phước cúng dường,
họ mang bát khất thực bằng sắt đã được tu bổ chỉnh
tề, và đem theo tất cả dụng cụ đúng luật của tỷ kheo,
như bình chứa nước bằng đồng có thể chứa một drona đơn
vị đo ở Magadha (Ma kiệt đà), và chiếc gậy bịt sắt mà
đức Thế Tôn thường ca ngợi. Tất cả đều đội mão học
giả với những chóp mão cùn không nhọn để chứng tỏ sự
vắng bóng kiêu mạn. Và tất cả đều thịnh trọng cầm những
chiếc phất trần. Cả đoàn gồm một trăm hai mươi lăm vị
đi hàng một tháp tùng Atìsha, cách khoảng nhau đúng phép -
một dòng người đi toàn hảo như môt cáik ráng cầu vồng
ngũ sắc. Mọi sự thật huy hoàng; làm cho chư thiên hoan hỉ
mưa hoa xuống cúng dường. Mọi người dân trên quần đảo
đều ngạc nhiên tán thán những cung cách của hai bậc đạo
sư này, và phát sinh tịnh tín. Atìsha dâng vị thầy một cái
bình trong suốt đựng đầy vàng, bạc, xa cừ, san hô, hổ
phách. Cử chỉ tốt lành này báo trước ngài sẽ thụ giáo
tất cả những chỉ giáo về đào luyện tâm bồ đề, hệt
như một cái bình chứa tất cả những gì mà một bình khác
trút sang.
Họ
lui về phòng của bậc thầy trong tòa lâu đài với lọng che
bằng bạc. Tại đây, bậc thầy Suvarnadvipì đầu tiên dạy
họ mười lăm (trong số bảy mươi) đề tài từ tác phẩm
của đức Di Lặc “Sự Trang Hoàng Cho Thực Chứng”, kèm
theo những chỉ giáo khẩu truyền liên hệ. Bậc thầy ngay
tức khắc rất hài lòng với Atìsha, họ cùng nghỉ đêm tại
một nơi. Và thế là bắt đầu mười hai năm ròng trong thời
gian ấy Atìsha và những môn đệ của ngài thụ giáo toàn
bộ những lời giảng dạy về ý nghĩa thâm áo của tôn kinh
Bát Nhã Ba La Mật Ða - “Bà Mẹ Thánh” theo hệ truyền thừa
mà Di Lặc truyền cho Vô Trước. Họ cũng nhận những chỉ
giáo đặc biệt về sự đào luyện tâm bồ đề nhờ phương
pháp đổi địa vị mình với người khác; hệ phái này là
từ Ðức Văn Thù truyền xuống Shantideva. Họ học hỏi, quán
tưởng, và thiền định về những lời chỉ giáo ấy một
cách toàn triệt. Nhờ trao đổi địa vị mình với người,
họ đã phát triển tâm bồ đề chân thực trong tâm thức,
ở dưới chân bậc thầy.
Một
ngày kia, bậc thầy gọi Atìsha - bây giờ đã làm chủ nền
giáo lý - tiên đoán ngài đi Tây Tạng sẽ có nhiều môn đệ.
Thưa
ngài, ngài không nên ở lại đây
Mà
hãy đi về hướng Bắc
Hướng
về phương Bắc, đến Xứ Tuyết
C.
NHỮNG VIỆC NGÀI ÐÃ LÀM SAU KHI CÓ ÐƯỢC NHỮNG SỞ ÐẮC.
Có
hai phần: (1) Ngài làm gì ở Ấn; (2) Ngài làm gì ở Tây Tạng.
1)
TẠI ẤN ÐỘ
Khi
Atìsha trở về Ma kiệt đà (Magadha), ngài sống tại Bồ đề
tràng, và đã ba lần ngài đánh bại tranh luận những người
theo các tà giáo, đưa họ về chánh pháp. Ngài còn làm sáng
nền giáo lý bằng những cách khác nữa. Vua Mahàbala (Ðại
lực) đề cử ngài đến cai quản thư viện của tu viện Vikramashìla.
Mặc dù Atìsha chính yếu là theo truyền thống đại chúng
bộ (Mahasamghika), ngài còn tinh thông những truyền thống của
tất cả bộ phái khác; và chỉ vì ngài không có đầu óc
bè phái nên đã trở thành viên bảo châu tột đỉnh của
tất cả hội chúng ở Ma kiệt đà cũng như khắp xứ Ấn.
Ngài được toàn thể công nhận là bậc thầy của toàn bộ
giáo lý của ba tạng kinh và bốn loại mật giáo. Còn về
sự giảng dạy thì người ta có cảm nghĩ gần như là chính
Ðức Phật đã tái thế.
2)
TẠI TÂY TẠNG
Những
giáo lý phổ cập đầu tiên đến Tây Tạng vào lúc bấy giờ
đã mai một. Sự truyền bá giáo lý hậu kỳ đã được thịnh
hành. Nhưng một số người tập trung vào tạng luật và bỏ
qua mật giáo; một số khác thì ngược lại. Kinh giáo và mật
giáo trở thành đối chọi nhau như nước với lửa. Nhiều
bậc học giả nổi danh từ Ấn đến Tây Tạng, bị viễn
ảnh vàng ở đấy dụ dỗ. Họ lừa bịp người bản xứ
với nhiều mật điển xấu ác và đầy dục tính. Tình trạng
đã hóa thành hết sức khó khăn để gieo rắc nền giáo lý
thuần tịnh của đấng Chiến thắng. Quốc vương Tây Tạng
bấy giờ là Lhalama Yeshe Oe rất đau lòng trước tình trạng
ấy. Vì muốn hoàng truyền nền giáo lý thuần tịnh, ông đã
gửi hai mươi mốt sinh viên thông minh của Tây Tạng sang Ấn
hầu mong khi họ trở về sẽ thành những bậc hiền trí có
thể ích lợi hơn cho dân Tây Tạng. Tất cả họ đều chết
chỉ còn lại hai vị Rinchen Zangpo và Legdaen Sherab; cả hai đều
trở nên tinh thông giáo lý nhưng vẫn chưa có thể rước Atìsha
theo họ về Tây Tạng. Khi về nước, họ yết kiến vua để
bàn cách làm thế nào để hòa hợp kinh giáo và mật giáo
với cách hành trì và tin tưởng của mọi học giả Ấn. Họ
nói: “Những học giả kia không ích lợi gì cho Tây Tạng.
Ở Vikramashìla, có một vị tăng dòng dõi vua chúa đã đạt
giải thoát. Ngài có danh hiệu là Dipankara Shrijnàna. Nếu bệ
hạ mời được vị ấy thì chắc chắn sẽ lợi lạc cho Tây
Tạng. “Họ cũng nói rằng tất cả những học giả khác
đều đồng ý về điểm này.”
Lời
nói của họ làm cho vua an tâm, nhưng quan trọng hơn nữa là,
vua đã phát sinh một lòng tin mãnh liệt không lay chuyển ngay
khi vừa nghe đến danh hiệu của ngài. Vua phái Gyatsoen Senge
cùng với tám vị khác đi rước Atìsha về. Họ đem nhiều
vàng, nhưng họ đã thất bại. Chính vị vua cầu Pháp cũng
đi tìm thêm vàng để có thể rước bậc hiền trí ấy về
xứ mình.
Trưởng
bộ lạc Garlog biết vị vua đang tìm cách để truyền bá Phật
pháp nên bắt cóc nhà vua cầm tù và hăm dọa sẽ giết nếu
không bỏ ý định, Jangchub Oe cháu gọi vua bằng chú, đến
tìm cách giải thoát cho ngài, nhưng viên tù trưởng nói: “Một
là người bỏ ý định rước học giả ấy về nước, và
ngươi phải làm nô lệ cho ta, hai là đem một số vàng bằng
sức nặng của vua, thì ta mới thả vua về.” Jangchub Oe hứa
giao vàng. Ông đưa ra hai trăm lượng vàng mang theo, nhưng người
tù trưởng nhất định không chịu. Cuối cùng ông đem tất
cả số vàng nặng bằng sức nặng của con người vua trrừ
cái đầu. Tù trưởng cũng không bằng lòng, bảo: “Tôi cần
cả đầu, tất cả.”
Jangchub
không có cách nào kiếm thêm vàng, nên đến cửa ngục khóc
và thưa với nhà vua: “Chú ơi, chú đã sống rất nhân từ,
nhưng chú phải là nạn nhân của nghiệp của quá khứ. Nếu
cháu cử binh để đánh bại tên tù trưởng này thì sẽ có
rất nhiều người chết và cháu sợ chúng sẽ đọa vào cõi
thấp xấu. Tên tù trưởng này bảo cháu không được đi mời
vị học giả này về, và phải làm nô lệ cho y. Nhưng nếu
chúng ta từ bỏ Pháp Phật thì tức đã đầu hàng tên tù
trưởng tội lỗi này. Cháu nghĩ là tốt hơn chú hãy kiên
trì với chánh pháp. Y bảo cháu phải đem một trọng lượng
vàng bằng cả người chú, nhưng cháu chỉ kiếm được số
vàng nặng bằng thân thể chú ngoại trừ cái đầu. Y không
chịu, nên bây giờ cháu lại ra đi tìm thêm vàng cho đủ số
để chuộc chú về. Trong thời gian đó, xin chú hãy nghĩ đến
nghiệp quá khứ của chú, cầu xin Ba ngôi báu, và nhất là
chú nên dũng cảm mà tạo phước nghiệp.”
Ðức
vua cười lớn mà bảo: “Ta cứ tưởng là cháu đã sống
một đời dễ chịu sung túc nên không chịu nỗi gian nan, không
có chút can đảm nào. Bây giờ ta mới thấy cháu có thể chấn
hưng truyền thống của tổ tiên sau khi ta chết. Cháu đã hành
động rất tốt, ta rất hài lòng. Ta nghĩ thật sai lầm nếu
ta chết mà chưa thiết lập được một nền chánh pháp không
lỗi lầm cho xứ Tây Tạng. Ta đã già, và nếu chưa chết
bây giờ thì ta cũng chỉ sống thêm mười năm nữa là cùng.
Nếu ta bỏ ra quá nhiều vàng như thế chỉ để sống thêm
chừng ấy tuổi, thì thật làm cho Ba ngôi báu cũng thất điên
bát đảo. Trong những đời quá khứ của ta trong vòng vô thỉ
sinh tử, ta chưa có một lần nào được chết cho chánh pháp.
Vậy thì, cháu đừng đưa cho tên tù trưởng một vụn vàng
nào cả, thật tốt biết bao nếu ta được chết cho chánh
pháp. Mà chúng ta có thể đào đâu ra được số vàng để
chuộc cái đầu ta? Hãy đem hết vàng đi Ấn Ðộ, và làm
mọi cách cháu có thể làm để thỉnh bậc hiền trí Atìsha
về.
Nếu
ngài cho con tiếp kiến, thì hãy trao lại thông điệp này của
ta: “Con hy sinh mạng sống vì giáo lý của Phật và của chính
ngài. Xin hãy che chở cho con trong những đời còn lại, bằng
lòng bi mẫn của ngài. Ý định duy nhất của con là rước
ngài về Tây Tạng; và con làm thế chỉ vì mong cho giáo lý
Phật được lan truyền khắp xứ. Bởi vậy xin ngài hãy chấp
nhận lời yêu cầu của con. Xin hãy gia hộ cho con để chắc
chắn chúng ta sẽ gặp gỡ trong những đời vị lai.” Này
cháu, cháu hãy quên chú đi, và nghĩ đến những lời dạy
của đức Phật.”
Nhà
vua đã yếu, giọng ngài rất đổi thương tâm, nhưng Jangchub
có thể tin chắc ngài chỉ nghĩ đến thần dân Tây Tạng,
đến giáo lý Phật, và đến Atìsha. Ông bất đắc dĩ phải
từ giả người chú thân yêu. Lòng ông thêm can đảm, và ông
đã hành động đúng theo ước nguyện của người chú.
Ở
Tây Tạng có nhiều người tin theo rất nhiều tín ngưỡng
sống sượng mà họ cho là mật tông. Một vài phái như vậy
là Ðạo sư Váy Ðỏ, Hiền trí Váy Xanh vô sỉ, và Mười
Tám Khất Sĩ của Artso. Muốn dẹp những người này một cách
êm thắm (“dứt đẹp”), vua Jangchub Oe cầu xin Tam Bảo chỉ
dẫn cho biết trong đình thần ai là người sẽ thỉnh Atìsha
về được. Tất cả những lần xin xăm bói tinh tú đều ám
chỉ vị dịch giả tên Nagtso. Vị này khi ấy đang ở Ngôi
Chùa Vàng tại Gungtang. Vua triệu vời ông tới Ngari, nhưng
sợ ông không chịu sang Ấn, vua bèn mời ông lên trên ngai
và tặng ông nhiều quà và bảo: “Ông phải năn nỉ Atìsha,
hãy thay ta mà nói với ngài như sau, “Ngài đã được nhiều
người ca tụng sự uyên bác, đạo đức, và lòng từ bi của
ngài. Tổ tiên tôi, những vị vua trong quá khứ và đình thần,
đã thiết lập nền giáo lý của Phật tại vương quốc này.
Giáo lý ấy đã trở thành tục lệ, được phát triển, lan
rộng. Nhưng hiện tại nền giáo lý của Phật đang lâm vào
tình trạng đáng buồn. Một giống nòi quỷ sứ đã đã thắng
lướt. Những bậc học giả quá cố chắc sẽ phải rầu rĩ
về chuyện này. Cả tôi lẫn chú tôi đã gửi rất nhiều
vàng sang xứ Ấn, hao tốn rất nhiều người và của mà vẫn
không đưa được ngài về. Vua chúng tôi đã không chịu nổi
việc này và đã đích thân đi tìm vàng. Một tộc trưởng
ác độc đã cầm tù vua. Nhà vua đã bỏ mạng. Nếu thấy
chúng tôi đã tỏ nhiều can đảm như vậy mà ngài vẫn làm
cho chúng tôi thất vọng, chúng tôi những chúng sinh ngu muội
ở vùng đất Tây Tạng xa xôi này, thì làm sao ngài còn được
xem là từ bi và là nơi nương tựa của mọi hữu tình?”
“Ta
còn đây một ngàn bốn trăm lượng vàng. Hãy đem theo mà dâng
cho bậc đạo sư và nói: Xứ Tây Tạng chúng tôi giống như
đô thị của quỷ đói. Tìm vàng ở xứ tôi chẳng khác nào
tìm rận trên con cừu, thật rất khó khăn. Số vàng này là
tài sản của toàn thể dân Tây Tạng. Nhưng nếu ngài không
chịu đến Tây Tạng, hỡi bậc đạo sư, thì điều đó chứng
tỏ người ít từ bi làm sao. Khi ấy chúng tôi không bao giờ
biết làm gì để tự cải thiện mình nữa.” Này Ngatso, ông
đang nắm giữ tạng Luật. Hãy đích thân kể cho Atìsha câu
chuyện của chúng ta. Nếu ngài từ chối, thì hãy trình bày
hoàn cảnh thế nào cho ngài hoàn toàn thông cảm.
Vua
khóc nhiều tới nỗi nước mắt vua rơi xuống mặt bàn, xuống
bắp vế. Nhà phiên dịch Ngatso, mà tên thực là Tsultrim Gyaelwa,
từ trước chưa từng đi đây đi đó, và hoàn toàn không thích
phiêu lưu đến vùng đất xa xôi. Nhưng ông ta không nỡ nào
nói lên tất cả những điều ấy. Chúng ta có câu ngạn ngữ:
“Người nào thấy người khác khóc sẽ khởi sự khóc theo.”
Ông chưa từng gặp Yeshe Oe, nhưng biết những gì vua nói là
hoàn toàn đúng sự thật. Ông biết vị vua chú đã tiêu phí
nhiều vàng, và cả hai chú cháu đã từ bỏ hạnh phúc riêng
tư chỉ vì mong muốn hạnh phúc cho thần dân. Vua đã làm cho
Ngatso rất xúc động. Ông không thốt được lời nào, toàn
thân run lên và mặt ông tràn đầy nước mắt tới nỗi ông
không thể nhìn lên vua. Vua yêu cầu ông hãy liều mạng sống
và tay chân, nhưng ông không có gì ràng buộc với hạnh phúc
cõi đời này, và nói ông sẽ tuân lệnh ra đi.
Ông
nhận một ngàn bốn trăm lượng vàng từ tay nhà vua và bảy
vị bộ trưởng, rồi khởi hành đi Ấn Ðộ. Nhà vua tiễn
ông một quãng đường dài và bảo: “Này tỷ kheo, ông đang
làm việc nhân danh tôi. Ông đang liều cả mạng sống và chân
tay, với một sự kiên nhẫn lớn lao ông đang đi đến chốn
gây nhiều khó khăn gian khổ cho ông. Khi ông trở về, tôi
sẽ đền ơn ông.” Nhà vua đi trở lui một đỗi đường
mà bảo: “Hãy cầu nguyện đức Ðại Bi Quán Thế Âm trong
khi ông du hành.”
Khi
nhà phiên dịch Nagtso và đoàn tùy tùng đến kinh đô Nepal,
họ gặp một người đàn ông cao ráo nói với họ rằng: “Tôi
thấy các ngài đi xa vì một sứ mệnh trọng đại. Các ngài
sẽ thành công nếu giữa đường cứ niệm: Nam mô Tam Bảo!
Cầu xin Chánh pháp vi diệu, suối nguồn của chư Phật trong
ba đời, sẽ lan truyền trên Xứ Tuyết. Hành trình các ngài
sẽ an ổn nếu các ngài vừa đi vừa niệm như thế.” Ðoàn
người lữ hành hỏi ông ta là ai, ông nói: “Rồi đây các
ngài sẽ biết.”
Còn
nhiều hóa thân khác nhau của Dromtoenpa (sẽ là cao đồ của
Atìsha về sau). Những hóa thân này đã dẹp nhiều nguy hiểm
đe dọa Nagtso và đoàn tùy tùng trên đường đi.
Cuối
cùng họ tới cổng Vikramashila. Trên cổng có một điếm canh,
và Ngatso hiểu được Tạng ngữ nên gọi xuống qua một khe
hở trên điếm canh. Tiếng nói từ bên kia vọng xuống: “Thưa
các ông Tây Tạng, các ông từ đâu đến.” Họ trả lời:
“Chúng tôi từ vùng thượng Ngari.”
“Có
một người gác cổng. Các ngài cứ giao cho người ấy giữ
đồ đạc. Hãy ngũ ngon tại một chỗ trú đêm nào đó. Ngày
mai cổng sẽ mở ngay khi trời vừa sáng.”
Họ
đưa số vàng cho con trai người gác cổng cất vào buồng trong,
nó nói: “Hãy tin tôi như bản thân. Ðừng lo lắng. Chúc ngủ
ngon.”
Họ
nghĩ rằng một bé trai mà biết nói những lời như thế thực
không phải người tầm thường, và điều đó làm cho họ
an tâm.
Sáng
hôm sau, vừa khi cổng mở, một đứa bé xuất hiện. Nó đội
một chiếc mão nhọn và phục sức như một dân du mục Tây
Tạng - áo đủ hai lớp len, mang một cái bát bằng gỗ. Em
bé hỏi: “Các vị người Tây Tạng này từ đâu đến? Coi
các vị đi đường cũng không đến nỗi nào.”
Ðoàn
lữ hành của Nagtso cảm thấy thật ấm lòng khi gặp được
một người nói thổ ngữ của dân du mục. Họ trả lời:
“Chúng tôi đến từ miền thượng Ngari. Chúng tôi đã có
một chuyến hành trình êm xuôi. Cái gì đã đưa bạn đến
đây? Bây giờ bạn đi đâu?”
Ðứa
bé trả lời:
“Cháu
cũng người Tây Tạng. Cháu đang đi về Tây Tạng. Những người
Tây Tạng chúng ta có thói vào tai ra miệng. Chúng ta quá ngây
ngô, không thể giữ một bí mật nào cả. Cho nên chuyện gì
quan trọng phải làm thật kín đáo. Gyatsoen Senge đang ở trong
khu vực người Tây Tạng. Cứ hỏi lần đường, rồi các
ngài sẽ gặp.” Nói xong cậu bé bỏ đi.
Ðoàn
người đi vào một con đường dài, theo con đường ấy và
gặp môt ông già trông rất thánh thiện tay cầm chiếc gậy
trúc. Ông hỏi: “Các ông từ đâu đến? Có chuyện gì quan
trọng khiến các ông đến nơi này?”
Họ
trả lời: “Chúng tôi từ miền thượng Mgari đến đây. Chúng
tôi đến để thỉnh ngài Atìsha uyên bác về. Nhà của Gyatsoen
Senge ở đâu, thưa cụ?”
Ông
già thánh thiện chống gậy đứng và lăn tròn đôi mắt. “Thằng
bé gặp các ông sáng nay nói không sai. Người Tây Tạng không
giữ mồm miệng gì cả. Cứ nói toạc mọi sự ra cho mọi
người ngoài đường biết hết. Các bạn còn mong làm được
việc gì với kiểu thẳng như ruột ngựa ấy! Cũng may mà
bạn nói với tôi. Nhưng bây giờ, đừng nói cho ai biết ngoài
trừ Atìsha. Tôi sẽ chỉ đường đi đến Gyatsoen Senge.”
Ông
già đi chậm rãi, thế mà Nagtso không tài nào theo kịp. Nagtso
trông thấy ông đứng đợi trên ngưỡng cửa lối vao khu vực
người Tây Tạng.
Ông
giàbảo: “Những việc trọng đại cần phải làm từ từ.
Gấp rút một cách từ từ. Ðiều bạn muốn đang ở một
khoảng cách rất xa, bạn phải trèo ngọn núi theo từng bước
một. Ðây nhà ông ta đây.”
Nagtso
đi vào và dâng vàng cho Gyatsoen Senge, vị dịch giả. Gyatsoen
trông thấy ông liền hỏi: “Ông từ đâu tới?”
Nagtso
kể tỉ mĩ câu chuyện mình.
Gyatsoen
nói: “thì ra bạn đã có lần là đệ tử tôi. Thế mà tôi
không nhận ra. Ðừng cho ai biết bạn tới đây để thỉnh
Atìsha, mà hãy nói các bạn đến để học. Ở đây co một
trưởng lão tên Ratnàkarashànti là người có rất nhiều uy
lực, và là thầy của Atìsha. Chớ để ông ta nghi ngờ việc
các bạn dự định làm. Bây giờ chúng ta sẽ dâng cúng ông
một lượng vàng. Hãy nói với ông: “Chúng tôi đã không
mời được học giả nào cả.” Rồi đừng hấp tấp vội
vàng gì hết; đừng lo lắng gì hết. Khi thời cơ thuận tiện
đến, ta sẽ khéo léo mời Atìsha đến đây.”
Nagtso
và Gyatsoen Senge cùng đi thăm trưởng lão Ratnà và hiến tặng
lượng vàng. Nagtso nói chuyện một lát với ông ta, như những
gì đã định nói.
Vị
trưởng lão nói: “Thật kỳ diệu, những bậc hiền trí khác
không thể nào hàng phục hữu tình được. Ðiều ấy không
phải nói quá đáng. Giáo lý Phật đã xuất phát từ xứ Ấn
thật đấy, nhưng nếu không có Atìsha thì chúng hữu tình
ở đây cũng mòn mõi công đức.” Ông ta còn nói nhiều điều
khác.
Trong
một thời gian, họ rất khó mà gặp được Atìsha. Nhưng những
hóa thân của Quán Tự Tại đã cung cấp nhiều cơ hội tốt
lành cho Atìsha du hành đến Tây Tạng. Vào một ngày, khi không
còn vị vua chúa hay học giả nào của Ấn ở quanh quẩn để
có thể nghi ngờ chuyện xảy đến, Gyatsoen Senge gọi Nagtso
đến và đưa ông vào phòng Atìsha. Họ dâng cúng cho ngài một
đồ hình (mandala) về thế giới cao một trượng, vây quanh
bằng vàng ròng.
Dịch
giả Gyatsen Senge thay mặt nói về quốc vương xứ Tây Tạng
là một vị Bồ tát, và Pháp đã được lan truyền dưới
ba triều đại của ba vị pháp vương Songtsean Gampo, Trisong
Detsaen, và Raela Saen. Ông kể nào là vua Langdharma đã tàn hại
nền giáo lý như thế nào, thế nào vị lama vĩ đại là Gompa
Rabseal đã cố bảo tồn Tăng già, làm cho số lượng tăng
chúng nhiều thêm. Ông nói về sự hi sinh của vị vua thúc
phụ đã làm để rước cho được Atìsha đến Tây Tạng.
Ông nói lại thông điệp của Jangchub Oe, và mô tả loại Pháp
quái gở đang thắng thế tại Tây Tạng.
Gyatsoen
nói:
“Bạch
đại sĩ, vị Bồ tát vua của xứ Tây Tạng đã phái người
này đến gặp ngài. Xin ngài chớ từ chối, bảo để đến
sang năm tới sẽ đi. Hãy thương xót xứ Tây Tạng chúng tôi.
Atìsha
nói:
“Vua
xứ Tây Tạng là một vị bồ tát. Ba vị pháp vương là những
hóa thân của Bồ tát. Gompa Rabsel cũng là Bồ tát hóa thân,
nếu không thế thì ông đã không thể khơi dậy những tàn
lửa của nền giáo lý. Những vị vua Tây Tạng đều là Bồ
tát. Thật không phải lẽ nếu tôi bất tuân mệnh lệnh của
một vị Bồ tát. Tôi cảm thấy hổ thẹn trước vị vua này.
Ngài đã tốn nhiều vàng bạc. Những người Tây Tạng các
ngài đang lâm vào tình trạng thực đáng thương. Nhưng tôi
đang giữ chìa khóa của nhiều ngôi điện thờ trong tu viện
này, tôi lại già cả. Tôi có nhiều phận sự phải chu toàn.
Ði Tây Tạng thì tôi không còn hi vọng gì về nước lại.
Tuy thế tôi sẽ xem xét lại vấn đề này. Bây giờ, các vị
cứ giữ lấy số vàng cái đã.” Rồi ngài cho họ lui ra.
Atìsha
xét xem nếu vì lòng thương tưởng những môn đồ Tây Tạng
tương lai mà ngài đi đến đấy, thì việc ấy có lợi ích
gì cho nền giáo lý của Phật hay không. Ngài cũng xét xem việc
này có làm ngài giảm bớt thọ mạng không. Các vị thần
linh như Quán Tự Tại, Tara vân vân, đều cho ngài biết nếu
ngài ra đi thì điều ấy rất lợi ích cho tất cả hữu tình
và cho nền giáo lý. Nhưng ngài cũng sẽ giảm thọ nếu ngài
ra đi. Atìsha hỏi giảm thọ bao nhiêu. Thần cho biết, nếu
không đi ngài sẽ sống tới chín mươi mốt tuổi, mà đi ngài
chỉ sống tới bảy mươi ba, vậy có nghĩa ngài giảm thọ
đến gần hai mươi năm. Khi ấy Atìsha nghĩ đến tất cả
những lợi lạc của việc đi Tây Tạng, nếu vì thế mà giảm
thọ thì cũng không sao. Ý Thức về mục đích nơi ngài thật
mãnh liệt tới nỗi ngài không kể gì tới thọ mạng.
Tuy
nhiên, Atìsha lại không muốn đi ngay, vì Tăng chúng ở Ấn
và cư sĩ ngoại hộ sẽ bảo rằng nguồn cội giáo lý Phật
tại Ấn sẽ đi đến suy tàn. Muốn tránh những lời như vậy,
Atìsha đã dùng phương tiện thiện xảo là, thay vì nói với
mọi người rằng ngài sắp đi Tây Tạng, ngài lại nói ngài
sẽ làm một cuộc du hành rộng rãi chiêm bái Phật tích tại
Bồ đề tràng và những nơi thánh địa, đi chỗ này chỗ
kia. Dromtoenpa vốn dĩ là một ông vua Pháp chính hiệu, khôn
khéo hóa mình làm những thương gia. Không để ai ngờ vực
gì cả, họ đã đem theo về Tây Tạng nhiều thánh tượng
của đức Manjuvaja (một hóa thân của Guhyasamàja) vân vân,
biểu tượng cho những thân Phật, và nhiều kinh điển, biểu
tượng cho Lời của đấng giác ngộ. Atìsha đến vị Trưởng
lão thầy ngài để hỏi ngài có được phép đi Nepal và Tây
Tạng chăng, vì ở những nơi ấy có nhiều bảo tháp và thánh
địa đặc biệt ngài muốn viếng thăm cho biết. Vị trưởng
lão quan sát thấy Atìsha dường như rất muốn ra đi, và những
người Tây Tạng coi bộ cũng nhất quyết rước Atìsha về
bằng được, bởi thế ngài cho phép Atìsha ra đi một thời
gian. Nagtso vị dịch giả phải hứa đưa Atìsha trở về Ấn
trong vòng ba năm tới.
Thế
là Atìsha và đồ đệ rời xứ Ấn để đi đến vương quốc
Nepal. Quốc vương Tây Tạng đi đón với ba trăm kỵ sĩ và
lễ chào mừng trọng hậu. Người ta kể lại rằng dân chúng
địa phương vừa trông thấy ngài đã phát sinh tín tâm thanh
tịnh đối với Tam bảo, dòng tâm thức của họ được nhiếp
phục.
(Pabongka
Dorje Chang còn nói chi tiết cuộc gặp gỡ của Atìsha và nhà
dịch thuật vĩ đại là Richen Zangpo)
Khi
ấy vua Jangchub Oe trình bày với Atìsha như sau. Trong quá khứ
ba vị vua Pháp đã chịu đựng bao nhiêu gian khó để thiết
lập nền Giáo lý Phật tại phương Bắc xứ Tuyết. Nhưng
Langdharma đã phá hoại Phật pháp. Tổ tiên của Jangchub Oe
những vị vua pháp ở Ngari, đã tái lập chánh pháp ở Tây
Tạng không kể đến mạng sống của họ. Nhưng hiện tại,
có nhiều người chỉ chuyên thực hành mật giáo mà bỏ luật.
Những người khác thì lại thề chỉ theo luật mà bài xích
mật tạng. Kinh giáo và mật giáo được xem là đối nghịch
nhau như nước với lửa. Mọi người mạnh ai nấy tu theo kiểu
mình ưa thích, và nhất là hai đạo sư Váy đỏ và Váy xanh
giảng dạy một thứ lý thuyết chơi bời phóng đãng cho những
hành giả tóc dài theo những mật điển xưa cũ. Nền giáo
lý đã suy đồi tới nỗi chỉ còn giống như những tiếng
bập bẹ vô ý nghĩa. Vua tiếp tục kể lể chi tiết dông dài
cho Atìsha nghe, mắt vua đầm đìa những giọt lệ. Ngài nói:
“Hỡi
ngài Atìsha từ bi, bây giờ ngài đừng giảng dạy những giáo
lý sâu sắc cao siêu của chánh pháp cho những đồ đệ thiếu
văn hóa của ngài tại Tây Tạng. Tôi chỉ xin ngài giảng dạy
về luật nhân quả. Lại nữa, xin ngài từ bi giảng dạy một
pháp gì không lỗi lầm, dễ thực hành, một pháp mà chính
ngài đã tu tập, bao gồm toàn thể chánh đạo, một pháp gì
sẽ lợi lạc cho tất cả mọi người Tây Tạng và được
nói trong mọi Kinh điển của Ðấng Chiến Thắng - trong kinh
giáo, mật giáo và trong các luận giải.
Lại
nữa, thưa ngài, người ta có cần phải thọ giới Biệt giải
thoát mới có thể đủ tư cách để thọ giới liên hệ đến
bồ đề tâm hay không? Người ta có thể đạt giác ngộ mà
không cần phối hợp phương pháp (tức là giới luật-DC chú)
và tuệ giác không? Có được phép tham dự một buổi giảng
về mật tông mà chưa được làm lễ quán đảnh (khai đạo)
hay không? Có được phép trao truyền một lễ khai đạo về
tuệ giác thực thụ (nghĩa là, một lễ khai đạo trong đó
bậc thầy chỉ định cho đệ tử phải lấy một người nào
làm vợ) cho những người đã phát nguyện giữ tịnh giới
không? Có được phép làm những pháp thực hành của con đường
mật giáo khi chưa từng thọ pháp quán đảnh Kim cang thượng
sư không?
Ðấy
chỉ là một số ít trong những câu hỏi vua đặt ra. Atìsha
rất hoan hỉ khi nghe những lời ấy, và đã soạn tác phẩm
Ngọn Ðèn Soi Ðường Ðến Giác Ngộ. Chỉ trong ba tập ngắn
gọn, ngài đã làm sáng tỏ tất cả những tư tưởng trong
kinh giáo và mật giáo. Tác phẩm khởi đầu như sau:
Kính
lễ tất cả các đấng Chiến thắng trong ba đời
Kính
lễ Pháp và Tăng
Theo
yêu cầu của Janchub Oe,
Vị
đệ tử thánh thiện của con
Con
sẽ thắp lên Ngọn Ðèn
Soi
Ðường đến Giác ngộ.
Atìsha
không khen đệ tử Janchub Oe là thánh thiện chỉ vì đã cúng
dường ngài hậu hỉ, mà đúng hơn vì những lời lẽ ông
hỏi về pháp. Bổn sư tôi dạy rằng, chắc chắn Atìsha sẽ
không hài lòng chút nào nếu ngài được yêu cầu như sau:
‘Cho tôi một pháp gia trì cao cấp hoặc một phép quán đảnh
thứ yếu.’
Tác
phẩm NGỌN ÐÈN SOI ÐƯỜNG bao gồm giải đáp cho những câu
hỏi trên. Ngay sau khi nó xuất hiện, những giáo lý quái đản
sống sượng tan biến vào nơi từ đó chúng đã đến.
Atìsha
hoằng pháp ở vùng Ngari. Khi ba năm sắp hết, do lời hứa
với vị trưởng lão, Dịch giả Nagtso nói, “Bây giờ ta phải
trở về Ấn Ðộ”
Atìsha
giả vờ đồng ý, và họ đến Puhreng. Nhưng trước kia Tara
đã nhiều lần nói với Atìsha rằng, “Sẽ có lợi ích cho
nền giáo lý nhiều nhất nếu ông nhận một đệ tử cư sĩ
vĩ đại ở Tây Tạng.” Bây giờ nữ thần Tara nhắc lại
nhiều lần, “cư sĩ ấy sẽ đến” bởi thế Atìsha trông
đợi. Ngài nói, “Cư sĩ nào đâu, thật bà ấy đã nói dối
ta.”
Một
hôm Dromtoenpa xuất hiện trong khi Atìsha đang viếng nhà một
thí chủ. Drom đi đến phòng Atìsha và được cho biết ngài
đang đến nhà người ngoại hộ và đang trên đường về.
Ông nói: “Tôi không thể dính lại đây mà đợi thêm giây
lát nào nữa trong khi chưa gặp được bậc hướng đạo sư
tâm linh của tôi trong đạo Ðại thừa. Tôi sẽ đi đến nơi
ông.” Drom bỏ ra đi, và gặp Atìsha trên một con đường
nhỏ. Drom Rinpoche lạy dài rồi gần Atìsha. Ngài đặt tay lên
đầu ông và nói những điều chúc lành bằng Phạn ngữ.
Trong
khi Atìsha đang ở nhà người ngoại hộ, ngài bảo: “Tôi
cần thêm một phần ăn cho người đệ tử may mắn của tôi.”
Và bởi thế ngài đang mang theo thức ăn. Atìsha là một người
ăn chay nghiêm ngặt, và bữa ăn ngài khất thực được hôm
ấy là những bánh tròn làm bằng bột lúa mạch chiên bơ.
Drom ăn bánh lúa mạch, để dành lại chất bơ trong và đổ
vào một bình đèn đủ để thắp suốt đêm. Ông đặt đèn
ấy bên cạnh chiếc gối của Atìsha, và tương truyền suốt
chuỗi ngày còn lại trong đời Atìsha ông đều cúng đèn như
vậy. Ðêm ấy Atìsha đã làm phép quán đảnh chính yếu cho
Drom và nhận ông làm pháp tử.
Họ
khởi hành từ Puhreng và đi đến Kyirong ở vùng Mangyul, dự
tính sẽ đi qua Nepal trên đường về Ấn. Nhưng đường bị
phong tỏa vì có cuộc chiến bùng nổ; họ không thể đi thêm
nửa. Khi ấy Drom giục Atìsha quay về Tây Tạng, trong khi Nagtso
năn nỉ ngài phải về Ấn. Vị dịch giả này cảm thấy buồn
rầu vì không thể về lại Ấn Ðộ.
Atìsha
bảo ông: “Ông không cần phải lo lắng quá như vậy. Không
phải lỗi tại ông, vì ông không thể nào giữ được lời
hứa của mình.”
Lời
ngài nói làm cho Nagtso rất sung sướng; ông bảo: “Vậy thì
tốt, chúng ta hãy quay về Tây Tạng.”
Thế
là Atìsha quyết định về Tây Tạng. Ngài không thể tiếp
tục hành trình đi Ấn Ðộ, vì đường sá đã bị phong tỏa
vào lúc ấy, do hậu quả cọng nghiệp của Tây Tạng.
Họ
gửi một bức thư sang Ấn nói, “Atìsha không thể đi Nepal
theo lệnh của Trưởng lão, vì giữa đường gặp đánh nhau.
Việc này làm cho chúng tôi phải trở lại Tây Tạng một thời
gian nữa. Ngài có thể đợi đến khi chiến cuộc kết thúc
rồi sẽ mời Atìsha về chăng? Bởi vì việc này sẽ rất
lợi lạc cho tất cả hữu tình, ngài có bằng lòng cho phép
Atìsha ở lại Tây Tạng chăng? Trong lúc Atìsha ở Tây Tạng,
ông ấy sẽ viết nhiều bộ luận giống như bộ luận gửi
kèm theo đây.” Họ gửi bản chép của Atìsha tác phẩm Ngọn
Ðèn Soi đường, cùng với nhiều vàng.
Vào
thời ấy, Ấn Ðộ không phải như xứ Tây Tạng chúng ta ngày
nay đâu. Những tác phẩm đều phải đệ trình cho một hội
đồng học giả, từng tờ một được chuyền cho những vị
trong hội đồng này phán đoán giá trị. Tác phẩm nào không
lỗi về văn phạm và nội dung thì được gửi lên cho vua
xem, và tác giả được thưởng. Chỉ có những tác phẩm này
mới được phép xuất bản. Còn những luận án nào có nội
dung lầm lạc - mặc dù có thể viết bằng thơ văn bay bướm
- thì bị cột vào cái đuôi chó. Con chó được dẫn đi qua
các đường phố, khiến cho tác giả và tác phẩm đều bị
chọc quê. Nhà vua được yêu cầu đừng cho ấn hành tác phẩm
đó. Những trước tác của Atìsha thực không cần phải trải
qua một thử thách như vậy; song cũng được đưa đến cho
hội đồng học giả. Họ rất đỗi hài lòng, vì tác phẩm
ngắn gọn của Atìsha đề cập được một cách súc tích
toàn bộ đề tài của tất cả kinh giáo và mật giáo, và
căn cứ vào tác phẩm này, người ta có thể tự mình đọc
hiểu tất cả kinh điển.
Những
học giả đồng thanh khoái chí tuyên bố: “Không những việc
Atìsha đi Tây Tạng có lợi cho Tây Tạng, mà còn rất có lợi
cho Ấn Ðộ chúng ta nữa. Nếu ông ấy ở Ấn, ông sẽ không
bao giờ viết được một tác phẩm như thế. Vì người Ấn
chúng ta minh triết hơn, kiên nhẫn hơn. Ông ấy biết dân Tây
Tạng ít minh triết, và thiếu kiên trì, nên đã viết bộ
luận ngắn gọn rất ích lợi này.” Họ không tiếc lời
ca ngợi việc Atìsha đi Tây Tạng.
Trưởng
lão Ratnàkarashànti viết thư cho đoàn tùy tùng của Atìsha
như sau: “Những học giả hiền trí ca ngợi Atìsha như thế
đấy, nên tôi phải cho phép ông ta ở lại Tây Tạng, vì điều
ấy sẽ lợi lạc cho hữu tình. Tôi chỉ yêu cầu ông ấy
viết thêm luận giải về tác phẩm kia, để bù lại sự kiện
ông ấy đã không trở về Ấn.” (Tuy nhiên, tác phẩm trình
bày trong sách này, bản dịch các lời luận giải tác phẩm
Ngọn Ðèn Soi Ðường được cho là chính ngài Atìsha giải,
thì tương truyền không phải vậy.)
Nagtso
vô cùng sung sướng khi được bức thư ấy, ông bảo: “Tôi
đã gánh một trách nhiệm nặng như núi do Trưởng lão phó
thác. Bây giờ tôi đã được nhẹ gánh.”
Không
lâu trước khi Atìsha đi đến tỉnh Trung ương Tây Tạng, Drom
Rinpoche viết thư cho những nhân vật quan trọng ở đấy rằng,
“Tôi đã khổ công hết sức để rước Atìsha đến tỉnh
Trung ương, vậy khi nào quý vị nhận được thư lần tới,
thì hãy khởi hành ra đón tiếp ngài tức khắc.” Trong bức
thư sau ngài viết: “Yêu cầu những bậc thầy trong tỉnh
Trung ương, như là Kawa Khàkya Wangchung, vân vân, hãy khởi hành
ngay để đón ngài.” Drom đã trưng ra tên của Kawa như là
bậc thầy quan trọng nhất của Tây Tạng.
Khi
khởi hành cuộc đón rước, một người tên Kutoenpa la lớn:
“Thế thì tên tôi ở đâu?” Người ta bảo ông: “Ông ở
trong số vân vân ấy.” - “Tôi không phải là người để
xếp vào hạng vân vân!” Ông nói thế và cố chen lấn đi
dẫn đầu đoàn rước. Thế là cả bọn chen giành đi hàng
đầu.
Những
thầy Tây Tạng hồi đó thường đội mũ rộng vành, mặc
áo choàng thêu, vân vân, xem như dấu hiệu chứng tỏ ta đây
là những tu sĩ cao cấp. Vừa khi Atìsha trông thấy họ từ
xa tiến lại, ngài nói: “Thôi rồi một lũ ác ma Tây Tạng
đã xuất đầu lộ diện rồi đây!” rồi ngài lấy khăn
trùm đầu lại. Khi ấy những lạt ma cao cấp bèn xuống ngựa,
mặc vào ba y đến gần. Atìsha lấy làm hoan hỉ đón nhận
họ.
Cuối
cùng ngài đến tỉnh Trung ương, và làm nhiều việc ở đây
để chuyển Bánh xe Chánh pháp. Ngài chứng tỏ là một năng
lực lớn đằng sau những lời giảng dạy. Atìsha ở ba năm
ở Tsang và các tỉnh trung tâm, tổng cộng mười bảy năm
ngài ở Tây Tạng. Những tác phẩm Lịch Sử Phái Kadampas nói
ngài ở đây chỉ có mười ba năm, nhưng truyền thống chúng
ta kể từ Tsonkapa vĩ đại, thì nói mười bảy năm. Vì ngài
đã nói:
“Nagtso
tận tụy với ngài (Atìsha) suốt thời gian hai năm ở Ấn
và mười bảy năm ở Tây Tạng. Như thế ông ta đã hầu hạ
ngài tận tâm suốt mười chín năm.”
Lý
do chính yếu khiến Janchub Oe cố hết sức để thỉnh Atìsha
đến Tây Tạng là để ngài giảng giáo lý, và quan trọng
nhất là nền giáo lý của ngài là tác phẩm Ngọn Ðèn Soi
Ðường.
Hành
trình đến Tây Tạng của ngài đã được nữ thần Tara tiên
đoán. Bậc thầy của ngài là Halakrshna nói:
“Nếu
ông đi Tây Tạng, thì con sẽ giàu hơn cha. Cháu sẽ giàu hơn
con. Chắt sẽ giàu hơn cháu. Chít sẽ giàu hơn chắt. Rồi
sau đó, tình trạng sẽ lụn bại dần.”
Ở
đây, “Cha” là Atìsha. “Con” là Dromtoenpa, Legdaen Sherab,
vân vân. “Chít” là Sangyae Boentoen, Sangyae Gompa, và những
người khác cùng thời đại với ông. Câu “sẽ giàu có hơn”
có nghĩa là nền giáo lý sẽ được lan truyền từ thế hệ
này đến thế hệ khác. Atìsha đã làm sống lại những truyền
thống giáo lý gần như mai một, và hoằng dương những truyền
thống hiếm hoi khác. Ngài đã thanh lọc những giáo lý này
khỏi những tư tưởng tà vạy hòa lẫn vào và làm cho do bẩn;
bởi thế ngài đã làm cho nền giáo lý tôn quý trở thành
vô cấu.
Nhưng
sau đó, trên những đoạn đường, những từng bực của đạo
lộ, nền giáo lý lại bị che mờ vì những mật điển vô
dụng và những phép điểm đạo nhỏ nhen, làm cho gần như
lụn bại.
Giáo
lý về Những Giai Ðoạn Trên Ðường Ðến Giác Ngộ này đã
được truyền cho Drom. Drom hỏi, “Tại sao thầy cho những
người khác những chỉ giáo về mật tông, còn Lam-rim thì
thầy chỉ truyền cho con mà thôi?”
Atìsha
đáp, “Ta không tìm được người nào khác ngoài con ra để
phó thác giáo lý ấy.”
Ngài
đã truyền pháp này riêng cho Drom. Drom truyền lại giữa công
chúng, nên từ đấy phát sinh ra ba hệ phái. Truyền thống
Kadampa cổ điển truyền từ Potawa đến Sharawa. Phái này đề
cập những bước đường tiến đến giác ngộ nhờ trung gian
những tác phẩm cổ điển vĩ đại. Truyền thống Kadampa Lam-rim
được truyền từ Gampopa đến Neuzurpa. Phái này đề cập
Lam-rim ngắn gọn, đưa ra những giai đoạn của con đường
giác ngộ theo thứ tự của chúng. Truyền thống Kadampa khẩu
truyền giáo truyền từ Geshe Chaen Ngawa đến Zhoenue Oe. Phái
này đề cập đến những chỉ giáo của các bậc thầy về
những giáo lý như tinh túy của mười hai móc xích duyên sinh.
Những
giáo lý nói trên hiện vẫn còn tồn tại nhưng không mang tên
cũ. Lối giải thích cổ truyền phát xuất từ Ngagwang Norbu,
một người giữ chiếc ngai tu viện trưởng Ganden, nói rằng
những người thiên về kiểu học hàn lâm viện nhất thì
nên thực hành Lam-rim theo năm đề tài tranh luận chính yếu.
Ðây chính là truyền thống Cổ điển. Những người không
thực hành cách đó được, nhưng lại có nhận thức sắc
bén, có sự kiên trì, thì nên nghiên cứu và quán niệm những
Lam-rim lớn và trung bình (của Tsongkapa). Lối thực hành này
là truyền thống Kadampa Lam-rim. Những người nào không thể
thực hành điều này được thì nên theo một vài chỉ giáo
ngắn gọn, như Con Ðường Dễ hay Con Ðường Nhanh. Họ sẽ
theo tất cả những phần trong các giai đoạn của Con Ðường.
Ðây là truyền thống Kadampa Khẩu giáo. Bậc tôn sư tôi, nơi
nương tựa tối thượng của tôi, đã cho tôi các giải thích
truyền thống ấy.
Như
tôi đã nói với các bạn, Tsongkapa đã phối hợp cả ba truyền
thống ấy thành một dòng. Tôi cũng đã nói Tsongkapa viết
những Lam-rim Con Ðường Lớn, Con Ðường Trung Bình, Con Ðường
Nhỏ. Ðức Văn Thù xuất hiện nhiều lần trước mặt Tsongkapa,
hai vị ấy thiết lập một liên hệ thầy trò. Ðức Văn Thù
đã truyền cho Stongkapa vô lượng diệu pháp sâu xa về kinh
giáo và mật giáo. Ðiều này có thể tìm thấy trong tiểu
sử của Tsongkapa. Bởi thế ta có thể cho rằng Tsongkapa hấp
thụ pháp Lam-rim từ Ðức Văn Thù, nhưng chính Tsongkapa thì
lại tập trung nỗ lực để phăng manh mối của truyền thống
này trở lui về Phật Thích Ca Mâu Ni đức Ðạo Sư của chúng
ta. Ngài không bao giờ bảo truyền thống này đến từ một
linh kiến nào cả, hay đến từ một hệ truyền thừa nào
mới mẽ hơn, vân vân. Ðấy là một trong những điều kỳ
diệu về lịch sử đời ngài.
Khi
Tsongkapa viết Những Giai Ðoạn Lớn Của Ðạo Lộ đến đoạn
nói về tuệ quán đặc biệt, Ðức Văn Thù đã nói đùa với
ngài: “Không phải tất cả điều này đều thuộc về giáo
lý ta nói về Ba Ðiều Nòng Cốt của Ðạo lộ hay sao?”
Tsongkapa
thưa với Ðức Văn Thù ngài sẽ viết sách này theo cách như
sau: Ngài sẽ lấy Ba Nòng Cốt xem như huyết mạch của con
đường, và sử dụng những điều ngài đã bàn trong Ngọn
Ðèn Soi Ðường làm khởi điểm. Ngài sẽ lóc hết khỏi nó
những chỉ giáo của những phái Kadampa khác. Nhưng Tsongkapa
nghĩ rằng cho dù ngài có viết phần nói về tuệ quán đặc
biệt trong Lam-rim vĩ đại của ngài, thì điều này cũng không
lợi lạc hữu tình bao nhiêu. Ðức Văn Thù lại bảo ngài:
“Cứ viết về tuệ quán đặc biệt đi, vì nó sẽ có lợi
lạc trung bình cho các hữu tình.”
Có
nhiều chi tiết huyền bí bất khả tư nghì trong tiểu sử
của ngài như vậy. Ngang đây đáng lẽ tôi phải nói chi tiết
về tiểu sử đức Je Tsongkapa, nhưng chúng ta không có nhiều
thì giờ để làm việc ấy. Các bạn nên khảo cứu kỹ về
những cuốn tiểu sử đã được viết về ngài.
Giáo
lý của Tsongkapa bao gồm tất cả những lời giảng dạy của
Atìsha. Nó cũng chứa đựng những chỉ giáo sâu sắc vô song
đặc biệt, nhờ đó chúng ta có thể đạt đến chỗ hợp
nhất với bậc Vô-học ngay trong một đời, ở vào thời đại
suy đồi này. Những trước tác về Lam-rim của Tsongkapa chứa
đựng nhiều điều cực kỳ thâm thúy mà ta không thể tìm
thấy ngay cả trong những Lam-rim của những phái Kadampa trong
quá khứ. Ta sẽ thấy rõ điều này sau khi đọc những tấc
phẩm ấy một cách chi tiết.
Về
Lam-rim, có nhiều hệ phái truyền từ Tsongkapa xuống. Những
hệ phái chính nổi tiếng nhất trong số này là tám truyền
thống khẩu thuyết liên hệ đến tám giáo lý lớn. Hôm qua
chúng ta đã nói điều này. Hai tác phẩm Tính Chất Của Vàng
Ròng và Lời Ðức Văn Thù được nói là căn cứ theo kinh
mà viết ra. Con Ðường Dễ và Con Ðường Nhanh được nói
là liên hệ đến các mật điển.
Ở
đây sẽ nói sơ qua làm thế nào Hệ phái Lời Ðức Văn Thù
ở phương nam được truyền thừa. Bản luận giải về quyển
này ở phương Nam là bản ngắn hơn trong hai bản luận giải.
Ðức Dalai Lama đệ ngũ đề nghị một kiểu giảng ngắn hơn
bằng cách đánh dấu vài đoạn trong kinh. Ngài cũng cho một
số chỉ giáo khác về các pháp quán tưởng “quy y”, “ruộng
phước”, và những pháp quán liên hệ đến nhà tắm, vân
vân. Những chỉ giáo này khác hẳn những chỉ giáo của các
hệ phái ở tỉnh Trung ương. Ðức Dalai Lama truyền hệ phái
Phương Nam cho Lama Purchog Ngagwang Jampa Rinpoche ở Epa, vị này
còn truyền cho Lozang Kaetsuen, chức vị tu sĩ chuyên trông coi
chỗ ở của Ðức Dalai Lama. Tiểu sử vị này có một chi
tiết lạ lùng đặc biệt. Ông có trí thông minh phi thường,
và đã sáng chế ra nhiều kiểu giảng dạy giáo lý - khi thì
nhiều chi tiết hơn, khi thì ít chi tiết hơn. Ðể giải quyết
những rối ren, ông biết cần phải thỉnh vấn ngay Ðức Dalai
Lama, vị chúa tể của Pháp. Ông xin một buổi tiếp kiến,
và thụ giáo tất cả giáo lý trong chừng một hai tiếng đồng
hồ. Ðức Dalai Lama đã cho ông làm tu viện trưởng trong cung
Potala. Ông trải qua phần cuối cuộc đời để tu tập ở
một nơi cô tịch gọi là Lamrim Choeding, tại đây ông đã
đạt đến một trình độ tu hành rất cao.
Lozang
Kaetsuen truyền giáo lý cho Puentsog Gyatso, một học giả uyên
bác ở Yerpa, người đã hoàn tất mọi bài giảng thực hành
trong vòng ba tháng (xem Ngày thứ nhất) Puentsog Gyatso đã tu
tập đến một trình độ phi thường là thực chứng tâm tịnh
chỉ và tuệ quán đặc biệt, và đã giảng lại cho nhiều
đệ tử ở Yerpa. Ông tu các năng lực thần thông nhờ các
phép quán mandala về thân của thần Heruka, và tương truyền
phần lớn những tu sĩ thuộc Hệ phái Phương Nam đã theo mẫu
mực này.
Puetsog
Gyatso, truyền xuống Lama Kachoe Taendar ở Epa, vị này truyền
cho Tu viện trưởng Gedun Jamyang. Gedun Jamyang viết một tác
phẩm riêng về hệ phái Phương Nam, vì sợ rằng có một số
điểm sai lầm liên hệ đến vấn đề những đoạn nào trong
kinh Lời Ðức Văn Thù đã thực sự được đức Ðức Dalai
Lama đệ ngũ đánh dấu dành cho Hệ phái Phương Nam. Tác phẩm
của ông chỉ lưu hành dưới dạng những bản chép tay cho
đến khi Kyabje Drubkang Geleg Gyatso cho làm thành bản gỗ.
Gelun
Jamyang truyền cho Je Ngagwang Tutob; Tutob truyền đến Taem Gyatso
đang hoàn tất sự học, ông được cắt phiên làm việc vặc
vãnh, và theo truyền thuyết, ông đã đạt chánh kiến về
Trung đạo (chánh kiến về Tánh không) trong khi bổ củi. Ông
truyền pháp Hệ phái Phương Nam cho Seto Lama Kaeldaen. Seto Lama
có chuyện kỳ lạ này trong tiểu sử: Ông hoàn toàn không
vướng bận bất cứ thứ gì người ta cúng dường cho ông
như tiền, khăn quàng cổ (theo tục lệ Tây Tạng), áo len và
những thứ tương tự. Mà ông cũng không cho ai lại những
thứ ấy. Ông chỉ liệng chúng vào trong một hang động cạnh
chỗ ông ở. Nhiều thế hệ sau đó, người ta lục lọi mới
tìm thấy những đồng tiền và len đã bị mối ăn. Sở dĩ
ông không cho ai những thứ này vì nghĩ rằng điều ấy về
sau có thể làm tăng thói kiêu mạn nơi ông.ư
Seta
Lama truyền giáo lý này cho Lozang Choepel, vị này lại truyền
cho Geshe Tubtaen Rabgyae. Mỗi khi Tabtaen tu quán, ông thường tụng
những lời cầu nguyện pháp Lam-rim, xong ông giữ im lặng.
Những người đến viếng ông tưởng rằng ông ngủ, nhưng
kỳ thực ho đang chứng kiến sự tịnh chỉ nhất tâm của
ông. Ông truyền hệ phái này cho một tu sĩ tên Jangchub Togme.
Người
này chỉ là một tu sĩ bình thường, không phải một vị geshe
- tiến sĩ Phật học, cũng không phải là một lama - thượng
tọa. Ông sống trong am ẩn cư Dragri. Hàng ngày sau khi dâng
cúng những chiếc bánh theo thường lệ, ông thiền quán theo
Lam-rim một cách nhất tâm trên thảm cỏ ngoài am. Ông phát
triển tâm từ và tâm bi đến mức độ luôn luôn cảm thấy
buồn bã. Hàng ngày những trẻ mục đồng thường giải trí
bằng cách lén nhìn ông. Ðối với chúng thì ông có vẻ chỉ
là một ông già đang cám cảnh tủi thân khóc một mình.
Vào
thời gian này, Hệ phái Phương Nam của Lời Ðức Văn Thù
có nguy cơ suy tàn vì hệ phái giảng kinh chỉ trao cho ông thầy
này. Một tu viện trưởng của đại học Dagpo đã hồi hưu
tên là Lozang Jinpa - vị này lại là người truyền giới xuất
gia cho chính tôn sư tôi - cố truy tầm cho ra những người
khác thuộc truyền thống giảng Hệ phái Phương Nam, nhưng
khám phá ra rằng chỉ có ông thầy này đã thực thụ thọ
pháp ấy mà thôi. Lozang Jinpa hoài nghi ông thầy này, không
nghĩ ông có thể giảng kiểu “Nói chuyện thân mật”, nhưng
nếu không yêu cầu ông giảng, thì truyền thống sẽ bị gián
đoạn.
Một
ngày kia ông đến thăm vị tỷ kheo mà nói: “Bây giờ không
có ai nắm giữ truyền thống giảng lời Ðức Văn Thù thuộc
Hệ phái Phương Nam. Thực đáng tiếc vô cùng nếu truyền
thống này bị gián đoạn. Ông có thể truyền cho tôi chỉ
vì để khỏi gián đoạn dòng truyền thừa không? Khi ấy tôi
có thể đưa cho ông bài giảng đã được làm cho văn hoa với
những trích dẫn trong kinh, và những luận chứng hợp lý.”
Ông
thầy nói: “Làm sao một người như tôi có thể trao truyền
được?”
Ông
cứ tiếp tục nói mình không đủ khả năng làm chuyện đó,
nhưng cuối cùng ông chịu giảng, thì ông đã chêm vào những
chỉ giáo sâu sắc kết quả của kinh nghiệm thân chứng. Je
Lozang Jinpa rất đổi kinh ngạc về việc này. Ông nói: “Tôi
hổ thẹn bảo ông ta: ‘ thì ra tôi thực sự đến để thụ
giáo.’ Và ông ca tụng: “Ông ấy mới chính là một geshe
vĩ đại của phái Kadampa thuộc truyền thống Khẩu giáo.”
Chính
Lozang Jimpa cũng đã đạt được tịnh chỉ và tuệ quán đặc
biệt, và cũng nhờ thực hành phép quán mandala thân của thần
Heruka. Ông sống ở tu viện Bangrim Choede thuộc miền Hạ Dagpo.
Je Kalzang Taenzin là em trai ông, về sau ở am thất ẩn cư Lhading
thuộc miền Thượng Dagpo. Ông thường mời Lozang viếng thăm
Lhading, Lozang không thể đi đến đấy; nhưng một hôm nhập
định ông ta thấy mọi chi tiết trong ngoài của am thất. Ông
bảo người em trai về sau khi ông này đến thăm: “Tôi đã
thấy nơi ẩn cư của chú từ trong ra ngoài.” Ông còn kể
những chi tiết như có những cây gì bên phải và bên trái
của ngôi nhà. “Và còn một vật trắng thật lớn luôn luôn
lay động trên một lan can của ngôi nhà nữa. Cái gì vậy?”
Ðó là một cái màn lung lay theo gió; Lozang đã thấy trong khi
nhập định.
Lozang
truyền hệ phái này cho em trai Kaelzang Taenzin. Vị này trở
thành học giả uyên bác về cả kinh điển lẫn mật điển.
Mỗi khi ngài giảng dạy, thường có những luồng ánh sáng
luôn đi từ đôi mắt ngài, bao quanh thính chúng đồ đệ.
Cuối thời giảng, những luồng ánh sáng ấy lan trở lại
vào đôi mắt ngài. Mọi người đều trông thấy nhiều lần
như thế. Nhiều người kinh ngạc khi vừa thấy ngài giảng
dạy lại vừa thấy ngài tản bộ trên đường kinh hành, vân
vân. Ngài có những linh kiến về toàn thể phước điển trong
pháp thực hành Cúng dường Ðạo sư. Khi ngài viên tịch trên
đỉnh sọ đầu ngài có một hình vẻ kỳ diệu về ruộng
phước Cúng dường Ðạo sư. Chiếc sọ này hiện vẫn còn
ở am thất Lhading.
Ngài
truyền giáo lý cho Kaelzang Kaedrub, vị này cũng đạt những
thần thông nhờ pháp quán Heruka. Và ngài đã trao truyền cho
chính tôn sư tôi, người bảo hộ và nơi nương tựa của
tôi.
Ðấy
là vắn tắt về sự truyền thừa của Hệ phái Phương Nam
đối với Lời Ðức Văn Thù. Các bạn cần xem kỹ chi tiết
hơn. Hãy tham khảo những bản tiểu sử đáng tin cậy.
Bây
giờ, về Hệ phái truyền thừa Lời Ðức Văn Thù ở Tỉnh
Trung ương, thì Ðức Dalai Lama đệ ngũ truyền cho Jimpa Gyatso,
một người giữ ngai tu viện Genden. Cuối cùng hệ phái này
truyền đến Lozang Lhuendrub, một người kế vị khác chiếc
ngai Ganden. Je Lozang Jimpa đã tiếp nhận truyền thống này nơi
ông ta.
Những
bài kiểu “Nói chuyện thân mật” về Con Ðường Nhanh có
lịch sử như sau. Vị Panchen lama là Lozang Yeshe, người thấy
tất cả, đã đọc bản kinh, nhưng chưa ai từng hỏi ngài
bài giảng truyền thừa của hệ phái. Khi về già, mắt ngài
bị lòa, và khi có người muốn được truyền khẩu một vài
đoạn quan trọng trong kinh, họ phải viết lại bằng chữ
thật lớn những đoạn ấy. Bấy giờ học giả uyên bác Lozang
Namgyael đang ở am thât Jadrael. Ô