PHẦN
BA
NỀN
TẢNG CỦA ĐẠO LỘ
NGÀY
THỨ TÁM
Kyabje
Pabongka Rinpoche trích dẫn câu của Tsongkapa:
Người
nào không màng hạnh phúc thế gian
Muốn
cho sự tái sinh may mắn của mình có ý nghĩa
Sẽ
theo một con đường khiến chư Phật hài lòng
Hỡi
những kẻ may mắn! Hãy tịnh tâm lắng nghe.
Dòng
thứ nhất ám chỉ chánh kiến phù hợp với Phạm Vi Trung Bình;
dòng thứa hai ám chỉ Phạm Vi Nhỏ của Con Đường. Dòng thứ
ba nói đến bồ đề tâm và Phạm Vi Lớn.
(Sau
khi nhập đề như vậy để chúng tôi khởi động lực tốt,
ngài nhắc lại những tiêu đề đã giảng, và ôn lại hai
tiêu đề chính đầu tiên của thân bài chính thức của bài
giảng Lam-rim. Những tiêu đề này bàn đến sự phục vụ
bậc thầy. Rồi ngài tiếp tục:)
Những
tiêu đề đặc biệt này chỉ đề cập đề tài như một
đề mục thiền. Con Đường Nhanh và Con Đường Dễ không
nói rõ làm cách nào người ta nên tra tầm một bậc thầy
hướng đạo tâm linh có khả năng; bởi thế bây giờ tôi
sẽ bàn đến điều này dựa trên tác phẩm Lời Đức Văn
Thù.
Nếu
như trên đã nói, nương tựa một bậc thầy là có lợi lạc
như vậy, và không nương tựa có những khuyết điểm như
kia, thì làm thế nào ta nên nương tựa bậc thầy?
Nương
tựa vào bậc thầy không mà thôi chưa đủ, bạn phải nương
một bậc thầy có thể giảng dạy con đường toàn diện.
Một người chỉ có vài đức tính - như có lòng tốt, chẳng
hạn - đôi khi lại không có khả năng giảng dạy con đường
toàn diện. Dù người đệ tử có thể có tín tâm, trí tuệ
và kiên trì, nhưng nếu bậc thầy không làm chủ hoàn toàn
kinh điển và mật điển, thì những môn đệ sẽ đành trọn
đời để tu chỉ một vài pháp như quy y, vài pháp quán chư
thiên, thiền định về khí lực và huyệt đạo, vân vân.
Sự tái sinh may mắn của người môn đệ như vậy không trở
thành có ý nghĩacho lắm. Bởi thế bạn phải nương tựa một
bậc hướng đạo tâm linh có khả năng toàn diện.
Có
nhiều khả năng khác nhau: truyền giới Biệt Giải Thoát, giới
mật tông và Bồ đề tâm giới v.v.. Đây tôi sẽ nói đến
những khả năng của một bậc thầy có thể giảng dạy Lam-rim
toàn diện. Bạn phải tra tầm xem một vị thầy có đủ những
khả năng như vậy hay không, trước khi tìm đến nương tựa.
Không những bạn cần xem xét khả năng bậc thầy nào bạn
muốn nương, mà bất cứ người nào muốn hướng dẫn người
khác về Luật tạng, Kinh tạng hay Mật tạng, đều phải tự
xét mình có đủ khả năng trong lĩnh vực ấy hay không. Nếu
chưa đủ khả năng, thì phải làm sao cho đủ khả năng cái
đã. Không phải chỉ cần có đủ bộ sậu đồ lề của mật
tông như bình cam lồ cho thọ mạng hoặc dụng cụ làm lễ
tắm chư thiên (xem Ngày Thứ Năm), hay thuộc lòng những nghi
thức ấy mà đã là đủ tư cách để làm thầy.
Có
những loạt điều kiện khác nhau: một loạt điều kiện để
làm tu viện trưởng và thầy truyền giới có thể dạy giới
luật; một loạt để làm thầy về pháp Đại thừa nói chung,
một loạt để làm thầy về các mật điển. Tôi sẽ mô tả
những tư cách của bậc thầy thuộc pháp Đại thừa nói chung.
Quyển Trang Nghiêm Kinh của đức Di Lặc nói:
Hãy
nương một bậc thầy
Đã
được điều phục, rất an, rất tịnh,
Người
có nhiều đức tính hơn mình,
Kiên
trì, một kho tàng kinh điển,
Thực
chứng chân như
Có
tài biện thuyết, có từ bi,
Đã
từ bỏ sự thất vọng.
(Về
cung cách của đệ tử).
Như
vậy có mười đức tất cả: dòng tâm thức của bậc thầy
phải được điều phục nhờ giới. Tâm tán loạn của bậc
thầy phải được rất an nhờ định chỉ nhất tâm. Sự chấp
thủ bản ngã nơi bậc thầy phải rất tịnh nhờ trí tuệ.
Khi một cây hương trầm được đặt giữa những que cũi khác,
thì cũi cũng thơm lây, cũng thế bạn sẽ có những đức tính
và khuyết điểm của vị thầy. Bởi thế thầy phải có nhiều
đức tính hơn bạn. Thực chứng chân như là như vầy. Thầy
đã khám phá tri kiến nhờ trí tuệ do học hỏi (văn tuệ).
Kiến là tri kiến theo bộ phái Pràsangka. Đây là tăng thượng
tuệ; tôi không nói đến trí tuệ có được khi ngài ta khám
phá ra tri kiến theo bộ phía Svàtantrika (Kinh Lượng bộ) và
dưới đó (xem Ngày Thứ Hai Mươi Hai, trang…) Phần còn lại
đã dễ hiểu.
Những
bậc thầy cần có đủ những đức nói trên, và chắc chắn
có ít nhất năm điều này: một dòng tâm thức đã điều
phục nhờ một trong ba môn học tăng thượng là giới,v.v…,
từ và bi, và thực chứng chân như, Geshe Potowa nói:
“Mọi
người trong gia đình thầy Yerpa tôi tin rằng thầy chưa từng
học nhiều, lại không kiên nhẫn khi bị trái ý, cho nên chẳng
được cái gì. Nhưng Yerpa có năm đức tính này và bất cứ
ai gặp thầy cũng được lợi lạc.”
Nyaentoenpa
tuyệt đối không có tài giảng dạy, nhưng có thể thảo luận
tất cả những vấn đề người ta hỏi. Người ta tưởng
rằng không ai hiểu được khi nghe Nyaentoenpa giảng, nhưng không
phải thế. Ông có năm đức tính, và ai ở gần ông cũng được
lợi lạc.
Mặc
dù những bậc thầy lý tưởng luôn luôn hiếm hoi, song điều
cốt yếu là bạn phải nương một vị nào có nhiều đức
tính hơn lỗi lầm, người đặt nặng về đời sau hơn đời
này, và nghĩ đến người khác hơn bản thân. Nếu bạn không
làm vậy, mà lại đi theo một vị thầy bất chính, bạn có
thể trở thành như Chuỗi Ngón Tay (Vô Não) người đã gặp
tà sư dạy cho con đường quái đản để gây những tội lỗi
kinh hoàng. Bởi thế trước hết phải tra tầm thật kỹ bậc
thầy, rồi chỉ nương tựa nơi ông nếu thấy ông xứng đáng.
Môn
đệ cũng phải có năm đức tính: phải thật thà không có
óc bè phái, phải có trí tuệ phân biệt phải quấy; phải
khát khao giáo lý, phải tôn kính bậc thầy; và phải nghe giảng
với sự hướng tâm thích đáng (nghĩa là có động lực tốt).
Nếu có năm đức này, họ sẽ tiến bộ trong Phật pháp. Vậy,
làm thế nào để thờ kính một bậc thầy?
1.2.3.
TẬN TỤY VỚI THẦY TRONG Ý NGHĨ
Có
hai tiêu đề phụ: (1) Căn bản: Luyện tập cho mình có đức
tin nơi thầy; (2) Nhớ lại lòng tử tế của thầy và phát
sinh tâm kính trọng thầy.
Hai
tiêu đền này dùng cả kinh điển và luận lý, nên lập thành
một tòa nhà vững chãi. Nếu thiền quán về đề tài này,
bạn sẽ sung sướng thờ thầy hết mình đúng cách. Nếu không
suy tư về những điều này, thì bạn chỉ muốn xin thầy giảng
dạy, mà ngoài ra không có sự liên hệ nào khác.
a.
Căn bản: Luyện cho mình có đức tin nơi Thầy.
Có
ba tiêu đề phụ.
Ở
đây đức tin là có thái độ xem thầy như Phật. Điều này,
và tri kiến xem tất cả hữu tình đã từng làm mẹ mình,
là hai đề mục Lam-rim khó triển khai nhất. Mặc dù khó, song
nếu bạn không nỗ lực quán hai mục này thì bạn sẽ không
triển khai được những đạo lộ khác trong dòng tâm thức.
Đức
tin là căn bản để phát triển mọi sự tốt lành. Kinh Ngọn
Đèn Ba Ngôi Báu nói:
Đức
tin là sự chuẩn bị, nó sinh sản như bà mẹ:
Đức
tin nuôi dưỡng và tăng trưởng mọi đức tính khác.
Một
lần có người xin Atìsha hai lần: “Atìsha, xin ngài giảng
cho tôi.” Atìsha không nói gì cả, và người kia lập lại
lời yêu cầu bằng cách la lớn, Atìsha nói: “Nào nào! Tôi
không điếc đâu. Đây là lời chỉ giáo của tôi: Hãy có
lòng tin! Tin! Tin!”
Gyaelwa
Ensapa nói:
Tóm
lại, những kinh nghiệm và thực chứng của bạn lớn hay nhỏ
Là
do đức tin của bạn lớn hay nhỏ
Bậc
thầy từ bi của bạn là nguồn suối của mọi thành công.
Hãy
quán sát đức tính của thầy mà bỏ qua những khuyết điểm.
Nắm
trong tay những chỉ giáo của thầy
Và
hứa tuân hành trọn vẹn.
Nói
cách khác, thực chứng của bạn tùy thuộc bạn có lòng tin
hay không, và lòng tin ấy lớn hay nhỏ. Bạn phải có lòng
tin xem thầy mình như chính đức Phật, nếu bạn muốn đạt
thành vô thượng bồ đề; bởi thế bạn nhất thiết không
được nhầm lẫn về chỉ giáo mà bạn nhận được.
Dù
bạn nhận chỉ giáo sai, bạn vẫn có thể đạt những thành
tựu thấp nếu bạn tin tưởng vào đấy. Ở Ấn, có người
xin một bậc thầy chỉ giáo. Bậc thầy nói: “Marileja,”
có nghĩa là “đi cho khuất.” Người kia không hiểu, lại
tưởng đầy là một lời chỉ giáo, và cố chữa bệnh cho
mình và người khác bằng cách nhẩm đọc số lần câu “thần
chú” ấy.
Một
khác hiểu nhầm om vale vule vunde svàhà là thần chú của nữ
thần Chunda (Chuẩn Đề). Những chữ “V” trong câu chú đáng
lẽ phải là “ch”. Ông ta niệm chú này nhiều lần, và trong
một mùa đói kém không thể nấu đá để ăn thay cơm.
Nếu
bạn thiếu niềm tin, thì bạn sẽ không được cái gì từ
nơi trí tuệ của mình cả. Có ba loại đức tin; đức tin
mà bạn cần luyện trong phần này cả Lam-rim là “đức tin
thanh lọc.” Đó là đức tin xem thầy như Phật thật.
Kỹ
thuật đào luyện đức tin này, theo hệ phái bắt nguồn từ
Ketsang Jamyang và môn đệ, có ba phần là:
a-1.
Lý do vì sao bạn phải xem Thầy như Phật
Bạn
phải xem thầy như Phật vì bạn muốn lợi lạc, không muốn
mất mát. Bạn xem thầy như Phật thì bạn sẽ thành đạt
không khó khăn tất cả những ước nguyện trong đời này
và những đời sau - quả là một lợi ích lớn lao. Ví dụ:
một bà già tin vào một cái răng chó (tưởng là xá lợi);
khi ấy cái răng phát xuất những viên xá lợi. Quyển Sách
Xanh Bùa Chú nói:
Những
gia trì của bậc thầy thực sự không có lớn hay nhỏ: Điều
ấy hoàn toàn tùy thuộc nơi môn đệ.
Nghĩa
là sự gia trì của bậc thầy tự nó không có lớn nhỏ, nhưng
bạn nhận được sự gia trì lớn hay nhỏ là do bạn có đức
tin nhiều hay ít nơi bậc thầy như Phật hay như Bồ tát vân
vân. Bạn có thành tựu được những thần thông hay không
là do lòng bạn kính trọng tầy nhiều hay ít. Atìsha nói rằng
Tây Tạng không có những hành giả vĩ đại bởi vì người
Tây Tạng chỉ xem thầy như người thường.
Bậc
thầy có thể là Phật thật, song nếu bạn không đào luyện
đức tin thì bạn sẽ không thấy được những đức tính
của thầy; ngược lại bạn chỉ chịu một sự mất mát -
những loại khổ khác nhau. Đức Phật có vô lượng thiện
đức, nhưng Devadatta và Upadhàna chỉ có thể trông thấy hào
quang tỏa ra bề rộng khoảng chừng một cánh tay từ thân
ngài; họ không thấy được những đức khác của Phật. Bởi
thế họ bị mất mát lớn lao. Geshe Potowa nói:
Nếu
bạn không kính trọng bậc thầy
Thì
dù nương tựa Phật cũng vô ích,
Như
trường hợp Upadhàna.
a-2.
Lý do tại sao bạn có thể xem Thầy như Phật.
Không
những bạn phải xem thầy như Phật mà thực sự bạn có thể
làm việc ấy. Có 2 cách: dù bạn tán thán chỉ một phần
những đức tính của thầy, bạn cũng đã có thể chấm dứt
sự thiếu niềm tin; và lòng tin khi ấy sẽ thắng lướt những
lỗi lầm vụn vặt có thể thấy nơi bậc thầy. Bạn cần
sử dụng 2 điều này để làm cho những lỗi lầm mà bạn
thấy nơi thầy chống đỡ niềm tin của bạn. Hãy nghĩ về
2 điều ấy.
Trong
Mật điển Quán Đảnh Kim Cương Thủ có câu:
Hãy
thấy những đức tính của bậc thầy,
Không
bao giờ nắm lấy lỗi lầm của ông.
Bạn
sẽ đạt được thần thông
Khi
bạn thấy đức tính của thầy
Bạn
sẽ không được thần thông
Khi
bạn nắm lấy lỗi của thầy.
Nói
cách khác, vì những thói quen ác nghiệp của ta, mà ta thường
chỉ để ý đến những lỗi lầm của bậc thầy, và điều
này tự nhiên sẽ chấm dứt bất cứ ý nghĩ nào muốn nhìn
lỗi của thầy, cũng như mặt trời che khuất ánh sáng mặt
trăng ở trên bầu trời. Điều này được sáng tỏ bởi sự
kiện rằng, vì bạn không nghĩ về những lỗi lầm của chính
mình nên cũng không thể không thấy chúng. Bạn có thể thấy
vài lỗi nhỏ nơi bậc thầy, nhưng không nghĩ đến những
phương tiện khéo léo của thầy để điều phục môn đệ,
bạn cũng đủ giữ niềm tin nơi ông.
Hơn
nữa, trong lúc chúng ta là những người sơ cơ, thì bậc thầy
đối với chúng ta là những người phàm. Khi chúng ta đạt
được dòng định nhất tâm gọi là “dòng pháp tương tục,”
thì ta sẽ gặp được những ứng thân tối thượng, và vào
sơ địa Bồ tát chúng ta sẽ gặp những báo thân vân vân…
Một ngày kia cả đến toàn thể vũ trụ đối với ta cũng
sẽ hiện ra tướng hoàn toàn thanh tịnh.
a-3
Làm thế nào để nhìn bậc Thầy cho thích đáng.
Ở
đây, muốn xem thầy là Phật ta phải sử dụng vừa kinh luận
để đạt đến niềm tin chuyển không lay chuyển.
Có
4 tiêu đề phụ.
a-3.1
Đức Kim Cương Trì cho bậc Thầy là Phật
Có
nguy cơ cho rằng một số người nghĩ “những bậc thầy không
phải là Phật thật, ta phải xét lại đoạn này của Lam-rim
về chuyện thờ kính thầy .” Nhưng tiêu đề này cốt yếu
khuyên ta không nên có những tà kiến như vậy trong phần sâu
xa nhất của tâm ta.
Bạn
nên nghĩ như sau, Thầy là Phật, nhưng ta không thầy được
điều ấy. Lý do là, đức Kim Cương Trì hiện tại đang ở
giữa chúng ta, dưới hình dạng những bậc thầy. Vua Mật
điển Hevajra nói:
Trong
thời vị lai, hình dạng vật lý của ta
Sẽ
là thân tướng những bậc thầy…
Trong
năm ngàn năm ta sẽ mang
Hình
dạng những bậc đạo sư.
Hãy
nghĩ họ là ta và phát sinh lòng kính ngưỡng
Trong
thời gian ấy…
Vào
thời đại suy đồi tương lai
Thân
tướng ta sẽ là thân tướng những kẻ tiện dân;
Đây
là những phương tiện khác nhau mà ta sử dụng,
Ta
sẽ hiện hình theo cách ấy.
Một
quyển kinh nói với chúng ta:
Thật
đầy ý nghĩa nếu nhìn thấy ta!
Trong
đời vị lai, ta sẽ thị hiện
Thân
tướng những vị trú trì.
Ta
sẽ trú trong hình dáng những bậc thầy.
Nhiều
Kinh tạng và Mật tạng bảo rằng trong đời mạt pháp, chính
đức Kim Cương Trì sẽ hiện hình làm một bậc thầy. Vì
lòng từ bi Ngài dạy, “Các con sẽ gặp ta… đừng tuyệt
vọng, các con sẽ nhận ra ta.” Điều này rõ ràng có nghĩa
như Kinh và Mật nói, và bạn nên xem thời nay như là thời
đại suy đồi. Đức Kim Cương Trì với lòng từ bi nhìn thấy
chúng ta và biết chúng ta đã trở nên thê thảm như thế nào
do nghiệp và vọng tưởng, nên ngài đã hóa hiện làm những
bậc thầy của chúng ta. Trong thân tái sinh hiện tại của
ta, chúng ta có thể biết được làm thế nào để thay đổi
cách hành xử của mình, để thực hành những lời chỉ giáo,
vân vân. Bởi thế Ngài biết rõ không có thời gian nào tốt
hơn để làm việc lợi ích cho chúng ta.
Nếu
bạn nghĩ sự thật không phải như vậy, và đưa ra những
lý luận để nói bậc thầy này bậc thầy nọ không phải
là hóa thần của Kim Cương Trì, thì tiến trình loại trừ
của bạn sẽ không còn sót lại người nào là hóa thân của
Kim Cương Trì hết trọi. Điều này mâu thuẩn vói lời trích
dẫn ở trên là, ít nhất trong số các bậc thầy cũng phải
có một hóa thân của Phật. Hãy nghĩ lại điều này. Nếu
bạn chỉ áp dụng những lý lẽ để chứng minh họ không
phải là Phật, thì bạn sẽ không tìm ra hóa thân, vậy lỗi
là ở sự tư duy của bạn. Thay vì thế bạn nên nghĩ: “Tất
cả những bậc thầy của tôi đều là hóa thân của Phật.”
Những
trích dẫn này cũng đủ cho hạng người dễ dàng tin tưởng.
Tuy nhiên nếu ta chứng minh bằng lý luận thì càng thuyết
phục hơn nữa.
a-3.2.
Chứng cứ bậc thầy là tác nhân để làm việc chư Phật.
Như
tôi đã nói ở đoạn trên về ruộng phước, vầng trăng duy
nhất trong bầu trời hiện ra nhiều phản ảnh tách biệt trên
mặt nước, ở trong nhiều bình chứa khác nhau. Cũng tương
tự như thế, căn bản trí của tất cả chư Phật - nghĩa
là phối hợp giữa đại lạc và tánh không - Căn bản trí
của tất cả chư Phật cùng với một vị với tất cả pháp
giới, và xuất hiện dưới nhiều hình dạng khác nhau đối
với người đệ tử: làm Thanh Văn đối với những môn đệ
đáng được điều phục bằng Thanh Văn, làm Độc giác đối
với môn đệ đáng điều phục bởi Độc Giác, làm Bồ tát
hay Phật đối với những môn đệ đáng được điều phục
bởi Bồ tát hay Phật. Trong kinh Cha Con Gặp Gỡ chúng ta đọc:
Vì
lợi lạc cho hữu tình,
Chư
Phật hiện thân làm Đế Thích, Phạm Thiên;
Với
một số người, Ngài hóa thân làm quỷ sứ.
Người
thế gian không thể nhận điều này.
Nói
cách khác đức Phật hiện hình nhiều cách: làm quỷ hay làm
trời cho những người đáng được quỷ hay trời hàng phục,
Ngài còn hiện chim chóc hay thú rừng, v.v… cho những người
đáng được hàng phục bằng những hình dạng ấy. Các Ngài
hiện thân cho chúng ta như những bậc thầy phàm phu tùy theo
giới hạn của phước báo chúng ta; các Ngài cũng có thể
thị hiện những phương tiện thù htắng hơn một vị thầy
tầm thường, như là hiện ra Báo Thân vân vân, nhưng chúng
ta không thể thấy được thân ấy. Và nếu các ngài hiện
hình thành những dạng thấp hơn chúng ta như chim thú, vân
vân, thì cũng không ích gì, vì chúng ta không tin những loài
ấy.
Trong
quyển Cúng Dường Đạo Sư có nói:
Con
khẩn cầu Ngài chỗ quy y đầy từ mẫn, người bảo hộ cho
con:
Ngài
Mandala của ba thân quý báu của chư Phật;
Nhưng
với phương tiện thiện xảo
Ngài
chỉ làm một phàm phu để hướng dẫn hữu tình,
Như
một cái lưới huyễn thuật để cứu vớt chúng con.
Ba
thân của chư Phật được chứa đựng trong ba sự huyền bí
của bậc thầy (xem Ngày Mười Hai, trang…). Bậc thầy là
một hóa thân của chư Phật được tạo ra để làm các thiện
sự. Giả sử một vũ công trong một điệu múa lễ ở tu viện
khoắc vào y phục của giáo thọ sư để vũ trong vai ấy. Rồi
ông lại mặc y phuc của một pháp vương để vũ trong vai này.
Ông chỉ có thay đổi phục trang; còn vũ công chỉ là một
người ấy. Hoặc, bạn có thể viết nhiều chuyện khác nhau
với cùng một thứ mực đỏ. Bởi vậy hãy nghĩ: “Những
bậc thầy của chúng ta không ai khác hơn là hóa thân của
đấng Kim Cương Trì, đấy là những phương tiện khéo của
ngài để điều phục chúng ta.”
Củi
không bắt lửa nếu bạn không dùng một cái gương hội tụ
để bắt lửa mặt trời; bạn có thể có nhiều thức ăn
khác nhau, như chúng không đi vào bụng được nếu không qua
cửa miệng. Cũng thế sở dĩ bạn nhận những sự gia trì
và bạch tịnh nghiệp của chư Phật, là nhờ nương tựa vào
bậc thầy. Bậc thầy là tác nhân của tất cả thiện hành
của chư Phật, vì thầy giúp cho bạn thực hiện tất cả
những thiện nghiệp.
Nếu
vậy thì đừng nghi ngờ gì nữa thầy là một vị Phật. Thiện
hành của chư Phật là những sự gia trì mà các ngài ban phát
trong lúc hoạt động vì lợi lạc cho hữu tình. Bạn phải
nhận những sự gia trì này tùy thuộc vào bậc thầy. Nếu
sự cần thiết là phải như vậy, thì không thể nào bậc
thầy lại là phàm phu: họ phải là những vị Phật. Nếu
họ là phàm phu thì hóa ra trung gian cho những thiện hành chư
Phật chỉ là phàm phu. Như thế có nghĩa là chư Phật cần
có sự giúp đỡ của phàm phu. Nhưng chư Phật không cần giúp
đỡ như thế. Khi chư Phật làm việc lợi lạc hữu tình,
các ngài còn không cần đến sự giúp đỡ của Thanh Văn,
Duyên Giác hay Đại Bồ tát, thì làm sao ta có thể nói các
ngài cần đến sự giúp đỡ của người phàm?
Bởi
thế chư Phật hóa thân làm những người thường để hữu
tình có đủ phước duyên trông thấy được. Các ngài còn
hóa hiện thuyền, cầu vân vân, nhưng những vật này đối
với ta như chỉ là công việc của những người thợ mộc,
chúng ta không tìm ra được cái gì khác về chúng.
Sakya
Pandit trích dẫn thí dụ về kính hội tụ:
Mặt
dù những tia mặt trời nóng,
Không
thể có lửa nếu không có kính hội tụ;
Cũng
thé nếu không có bậc thầy
Thì
ta không thể nhận được ân phước của chư Phật.
Và
Da Oe Rinchen, vị lama Kagyu trích dẫn cùng một ví dụ ấy:
Hãy
xem giữa những tia sáng mặt trời
Một
tấm gương trong suốt
Rồi
tập trung tia sáng vào bùi nhùi…
Những
môn đệ nhận được những thiện sự chư Phật nhờ nương
một bậc thầy. Nếu thầy không phải Phật, thì Phật sẽ
không cần đến sự phụ tá của ông ta, cũng như người giàu
không nhờ kẻ ăn xin giúp đỡ. Bạn phải xét kỹ điều này:
thầy và Phật là một, bởi vì nếu không thế, thì hóa ra
Phật lại tùy thuộc vào thầy.
a-3.3.
Chư Phật Bồ tát vẫn đang làm việc cho hữu tình.
Đấng
Kim Cương Trì hiện đang hóa thân để làm việc lợi lạc
cho tất cả hữu tình. Chư Phật biết một cách không lầm
hoàn cảnh của tất cả chúng sinh, thương chúng hơn bà mẹ
thương con một, và luôn luôn cố hết sức để thi hành những
thiện sự. Làm sao các ngài lại không làm việc vì chúng ta
trong thời đại thống khổ hiện này?
Khi
chư Phật mới phát bồ đề tâm lần đầu, các ngài đã vì
tất cả chúng ta mà phát. Các ngài cũng vì chúng ta mà tích
lũy phước đức và trí tuệ. Cá ngài cũng đã đạt vô thượng
bồ đề vì lợi ích cho tất cả hữu tình. Bây giờ khi các
ngài đã đạt kết quả, thì không thể nào các ngài lại
không tiếp tục giúp ích chúng ta. Tất cả chư Phật không
nỡ lòng nào bỏ mặc chúng ta mà không làm việc để cứu
vớt… Chắc chắn các ngài phải làm.
Nếu
tất cả chư Phật quyết định làm lợi lạc cho chúng ta,
thì các ngài không có cách nào khác hơn cách sau đây.
Chư
Phật không lấy nước rửa sạch tội lỗi;
Không
lấy tay ban phép
Làm
cho hữu tình hết khổ đau;
Các
ngài không chuyển di thực chứng của mình
Về
chân chư cho kẻ khác.
Các
ngài giải thoát hữu tình
Bằng
cách giảng dạy giáo lý chân như.
Những
hóa thân của chư Phật đang làm việc này; không có ai khác
dạy những phương pháp để tái sinh lên thượng giới và
để được sự hù hắng quyết dịnh, những lợi lạc tối
thượng.
Trong
Bài Cầu Nguyện Của Ketsang Jamyang chúng ta đọc:
Chư
Phật Bồ tát quá khứ
Vẫn
còn làm việc vì các hữu tình.
Hãy
biết đây không chỉ là một lời xác định suông
Nói
đúng thật với những bậc thầy đủ tư cách.
Bậc
tôn sư tôi bảo,
“Có
một vị Phật gia trì ngồi trên đầu mỗi hữu tình.”
a-3.4.
Bạn không thể chắn chắn về tướng bề ngoài.
Bạn
phải cả quyết rằng những bậc thầy hiện tại của bạn
là Phật thật, là những tác nhân thi hành thiện sự của
chư Phật. Nhưng bạn vẫn không thấy thầy mình là Phật được.
Bạn nói, “Tôi chỉ thấy họ như người thường, vì tôi
thấy nơi họ có những lỗi này lỗi kia.” Ta hãy phân tích
điều này.
Những
gì ta trông thấy thì không đáng tin cậy, không chắc chắn.
Cái nhìn của chúng ta do nghiệp của ta mà có. Chúng ta đã
tạo một vài loại nghiệp này mà không tạo những nghiệp
khác, nhưng ta không thể bảo mình có nghiệp này, không nghiệp
kia. Chandrakìrti nói trong tác phẩm Thực Hành Trung Đạo rằng:
“Một quỷ đói thấy dòng sông là mủ chảy…” Khi ba loại
chúng sinh có nghiệp khác nhau - một vị trời - một con người
và một ngạ quỷ - nhìn một bát nước giải khát, thì một
chúng sinh thấy ra là cam lồ, một thấy là nước một thấy
là mủ máu. Đối với quỷ đói thì mặt trăng mùa hạ có
vẻ nóng và mặt trời mùa đông có vẻ lạnh. Mật điển
Bánh Xe Thời Gian và luận Abhidharma (Thắng pháp) được lập
cho hai hạng đệ tử; trong một bài giảng núi Tu Di được
mô tả là tròn, trong bài khác lại nói vuông. Bậc thầy Vô
Trước trông thấy bồ tát Di Lặc dưới hình dạng hai con
chó què hai chân sau, đầy dòi bọ hôi thối. Buddhajnàna trông
thấy Đức Văn Thù dưới dạng một thầy tu ăn ở với một
phụ nữ, cày ruộng, và ăn cháo nấu bằng dòi. Tất cả người
địa phương chỉ thấy Tilopa là một ông chài điên khùng
mà không bao giờ ngờ ngài là một hành giả vĩ đại, và
ngay cả Naropa cũng thấy ông ta đang nướng một con cá sống.
Krshnàcharya trông thấy Vajravaràhi như một phụ nữ bị phong
cùi. Bởi thế chúng ta phải mừng những vị thầy hướng
đạo tâm linh cho ta không hiện tướng một con ngựa, con chó
hay con lừa - mà ta thấy thầy là một con người. Chaen Ngawa
Lodroc Gyaelsaen nói:
Xét
số lượng ác nghiệp của chúng ta
Và
những chướng ngại do nghiệp
Thì
ta có thể cho mình may phước
Vì
được trông thấy thầy như một con người.
Chúng
ta có phước lớn
Đã
không thấy thầy ra con chó hay con lừa.
Bởi
thế hãy kính lễ bậc thầy từ đáy lòng ngài,
Hỡi
người con của đấng Thích Ca.
Lại
nữa, tướng bên ngoài là không đáng tin cậy: vì mọi sự
có vẻ như thật có, nên ta có thể rút ra kết luận sai lầm
rằng nó có thật.
Một
lần có vị tỳ kheo khá nước đi tìm nước uống và thấy
một ngạ quỷ. Con quỷ không trông thấy sông Hằng mặc dù
thực sự nó đang bước trên ấy.
Lại
nữa, không phải chỉ vì bạn không thể thấy bậc thầy như
Phật
thật, bởi vì bạn không có dòng tâm thức của một người
có đủ phước đức để thấy như vậy. Nghĩa là bạn không
có nhận thức đặc biệt giúp bạn trông thấy thầy theo cách
ấy.
Điều
ấy hoàn tất sự phân tích của chúng ta.
Ngay
cả khi một người nào không có vẻ gì là Phật, thì cũng
không có nghĩa rằng vị ấy không phải là Phật. Và dù cho
người ấy có vẻ như Phật thật, thì bạn cũng không thể
bảo đảm ông ta thật là Phật. Một hôm A la hán Ưu bà cúc
đa (Upagupta), vị tổ thứ tư trong Phật giáo, đang giảng Pháp,
có con quỷ Kàmadeva quấy rối. Ngài hàng phục được con quỷ
và bảo, “Ta chưa hề gặp Phật, vậy ngươi làm ơn biến
hóa ra giống hệt ngài cho ta xem.” Quỷ liền hiện hình Phật
đủ tướng hỏa tướng phụ, vân vân, không thêm bớt. Tôn
giả Ưu ba cúc đa suýt sụp lạy vì được diện kiến đức
Thế tôn, nhưng quỷ liền biến mất không để cho ngài kịp
đảnh lễ.
Trong
quá khứ, những hành giả vĩ đại như Long Thụ hiện tướng
những thầy tỳ kheo thường, nhưng kỳ thực các vị vấy
đều là Phật.
Lại
nữa, nếu những tà kiến về lỗi của thầy sanh khởi, thì
bạn không nên chấm dứt chúng ngay. Ví dụ, trước khi giặt
áo dơ bạn phải xem kỹ từng vết bẩn. Cũng thế, bạn nên
để cho những tà kiến ấy (về lỗi lầm của thầy) sanh
khởi. Tại sao? Vì bạn không biếc bậc thầy có những lỗi
lầm dường như ấy hay không. Như tôi đã vạch ra, tại sao
những tướng do nghiệp thấy lại không thể sai lầm? Người
có bệnh về mật sẽ thấy một võ ốc trắng thành ra vàng;
một người bệnh phong sẽ thấy núi tuyết hơi xanh; người
ngồi trên thuyền đang đi thì thấy cây trên bờ như chuyển
động; người mắt bị vảy cá thì có ảo giác trông thấy
tóc rụng, vân vân.
Nếu
những nguyên nhân sai lầm tạm thời nhỏ nhặt ấy có thể
che mờ chúng ta dến thế, thì làm sao chúng ta không thể sai
lầm vè những vật đang hiện hữu, khi chúng ta có vô số
nguyên nhân để lầm lạc - nghiệp và những vọng tưởng
vô minh.
Tôi
biết có một lạt ma tái sinh bị bênh mật trong khi di hành
hương. Ông trông thấy ba hộp bạc đựng xá lợi trong nhà
ông trọ thành ra vàng, nhưng về sau, khi hết bệnh, những
hộp ấy lại thành màu bạc trở lại.
Khi
Gyaelwa Ensapa viếng thăm tượng Di Lặc ở Rong, ông tranh luận
với một vài học giả Sakya ở đấy, nhưng họ không hiểu
một điểm khó liên hệ đến thuật ngữ Phật giáo. Ensapa
trích từ Bát Nhã Bát Thiên Tụng bằng Phạn ngữ để làm
sáng tỏ ý nghĩa những từ ngữ ấy, nhưng những người phái
Sakya không tin ông. Họ nói ông là một ác ma, không phải là
người của tông phái Gelug. Vậy, bạn không nên nhìn bề ngoài,
mà hãy tìm những đức tính của người, những thực chứng
và sự từ bỏ của họ.
Chỉ
như Phật mới thấy được pháp thân, thân của chân lý. Chư
Bồ tát cũng còn không thấy được pháp thân, tuy nhiên có
thể thấy được báo thân. Và ngay cả muốn thấy được
ứng thân, thì bạn phải là người phàm có nghiệp thanh tịnh.
Lam-rim Tinh Túy của Cam Lồ nói:
Bao
lâu bạn chưa thoát khỏi
Tấm
màn che của nghiệp và chướng ngại do nghiệp
Thì
dù cho tất cả chư Phật hiện ra thực sự trước bạn
Bạn
cũng không đủ phước đức để trông thấy
Thân
tướng tối thượng của các ngài
Trang
hoàng với các tướng hảo và tướng phụ
Bạn
chỉ có đủ phước đức để thấy
Cái
gì hiện ra trước bạn ngay bây giờ.
Ngay
cả trong thời Phật tại thế, có một kẻ ngoại đạo không
thể thấy được các tướng hảo và vẻ đẹp của Phật,
mà chỉ có thể thấy một khối lỗi lầm nơi ngài. Devadatta
xem những việc Phật làm chỉ là lừa bịp.
Cách
nhìn đúng là thấy bậc thầy là thước đo giá trị của
một tướng cướp từ miền thượng Golog Arig du hành đến
Lhasa để xem pho tượng đức Thích Ca giống ngôi chùa chính,
nhưng cả đến những ngọn đèn thắp bằng bơ y cũng không
thể trông thấy, nói gì đến pho tượng. Tiền thân của Oen
Gyarlsae Rinpoche bảo y thanh lọc nghiệp chướng; tên cướp
bèn làm một lễ dâng cúng ngàn lần và đi nhiễu quanh chùa,
nhưng vẫn không trông thấy tượng. Nhưng bấy giờ y có thể
trông thấy những ngọn đèn bơ.
Khi
Lozang Droendaen Rinpoche ở đại học Gomang (một chi nhánh của
tu viện Drepung) đang giảng thời pháp truyền khẩu về Kinh
Pháp Cú, có một tỷ kheo trong thính chúng không thể nghe lời
giảng cũng không trông thấy quyển sách; ngược lại ông thấy
thịt phay đặt trước mặt giảng sư. Khi giảng sư đang thuyết
pháp, vị tỷ kheo ấy tưởng tượng ra ngài đang ăn thịt,
và cuối ngày ấy, ông tưởng tượng mình trông thấy mọi
người gom thịt lại.
Bất
cứ gì cũng có thể xảy đến, khi nhãn quan ta chỉ là hiện
tướng của nghiệp lực. Tầng mức của hiện tướng hiện
ra cho bạn là tùy thuộc vào mức độ thanh lọc nghiệp chướng
của bạn.
Cái
thấy của bạn không đáng tin cậy; bởi thế, không những
bạn tuyệt đối không thể lượng giá bậc thầy, mà bạn
còn không thể lượng giá bất cứ ai - người cọng sự, bạn
bè, chó giữ nhà, chư thiên, quỷ thần vân vân. Bạn chỉ
có thể lượng giá chính mình. Vượt khỏi giới hạn ấy
một bước là bạn rơi vào ngay vào hoài nghi.
Khi
Gyaelwa Ensa sắp đạt đến sự hợp nhất (giữa đại lạc
và Tánh không), có những người gọi ông là Ensa khùng. Ông
vua Pháp Karmayama giả trang làm một đệ tử của Tsongkapa.
Một lần Tsongkapa sắp tiết lộ một vài điều sâu xa khó
hiểu liên hệ đế mật điển. Karmayama đã ngăn ngài lại.
Điều ấy làm cho Gyaeltsaen Zangpo nổi tức, khiến Kaedrub Rinpoche
phải bảo ông ta đừng có làm ồn náo lên.
Đức
Phật Thế Tôn dạy, “Chỉ có Như Lai mới có thể lượng
giá một con người.”
Ở
Ấn, có một tu sĩ tập sự đi đến đảo Vachigira để xác
minh lời đồn đãi rằng tất cả đàn ông ở đấy đều
là nam thần Dakas và tất cả phụ nữ ở đấy là nữ thần
Dakinis. Nhưng khi đi đấy, ông không thể thấy được đức
tính nơi người nào cả, mà lại phát sinh lòng tin đối với
một kẻ lừa bịp.
Nàvo
Boenchung nói như sau về Milarepa:
Những
người chưa trông thấy Milarepa nổi tiếng
Nói
những điều lớn lối về ông ta:
“Ông
ấy như những hành giả Ấn vĩ đại!”
Nhưng
khi đã đi đến nơi
Thì
chỉ thấy một ông già lõa thể đang ngủ…
Những
câu chuyện như thế nhạo báng tất cả những gì ta đang thấy.
Bởi thế chúng ta không biết gì ngay cả về những người
bạn thân nhất của mình. Vậy, để chắc ăn, ta hãy tập
luyện để nhìn thấy mọi sự vật là trong sạch. Nhiều học
giả cứ tưởng rằng Shàntideva vĩ đại, một vị chân Pháp
vương tử, chỉ sống vì ba chuyện: ăn, ngủ và thư dãn. Họ
không thể thấy những thiện đức nơi ngài. Nhãn quan của
chúng ta cũng không đáng tin cậy tương tự như thế.
Bạn
không thể chắc rằng điều gì mình là lỗi lầm thì thực
sự lỗi lầm. Bạn thấy sự vật cách nào thì bạn nhận
thức sự vật cách ấy. Upadhàna, một vị sư thông ba tạng
vẫn giữ ý tưởng và quan niệm sai lầm (tà kiến), vì ông
nghĩ, “Tôi thấy Phật đúng như thật: những lời dạy của
ngài và những nguyên nhân của nghiệp đều là những trò
bịp để tư phụng bản ngã. Nói rằng ngài không còn lậu
hoặc là không đúng.” Upadhàna mà còn có thể sai lầm, huống
gì chúng ta!
Khi
một vị thầy không ngủ mà tụng đọc suốt đêm ngày, thì
những học trò rất ưa ngủ sẽ thấy tự thâm tâm họ rằng
đấy là một lỗi lầm. Nếu học trò uống rượu, họ sẽ
tự cho mình may mắn nếu gặp ông thầy uống rượu; họ sẽ
xem uống rượu là một đức tính. Vậy thì, không những điều
bạn cho là lỗi có thể là không lỗi, mà bạn còn không chắn
điều gì là đức hạnh nữa. Họ không thể biết bậc thầy
lỗi lầm để giáo hóa bạn hay không. Kinh Cha Con Gặp Gỡ
và kinh Đại Bát Niết Bàn nói nhiều về chuyện những đức
Như Lai thị hiện làm những người thù địch, hà tiện, què
quặt, điên cuồng, vô luân, vân vân, khi nào thấy cần thiết
làm như vậy.
Nói
chung kinh điển và mật điển có thể có tính cách quyết
định hoặc cần giải thích; có nhiều cách giải thích khác
nhau về sự việc một quyển kinh nào đó có nêu được hiểu
theo nghĩa đen hay không. Nhưng khi đấng Chiến thắng Kim Cương
Trì nói rằng trong tương lai ngài sẽ xuất hiện dưới hình
thức những bậc thầy, thì đấy là một lời nói có tính
quyết định, theo nghĩa đen, một lời nói mà chúng ta cũng
có thể xác nhận. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng ngoài bậc
thầy, không ai dạy cho ta đạo lộ đưa đến giải thoát và
toàn trí. Vậy thì thật phi lý, mâu thuẫn, nếu ta có ý nghĩ:
“Thầy tôi, mà theo đức Kim Cương Trì nói là một vị Phật,
thật sự không phải là Phật vì ông có những lỗi lầm này
nọ.”
Trên
đây là bằng chứng quyết định; bạn có thể hiểu rằng
vị thầy là một vị Phật ngay từ đầu. Khi bạn tin chắc
rằng lý luận và tham chiếu kinh điển trên đây đã chứng
minh thầy là một vị Phật, là bạn đã khai triển một nhận
thức để đi sâu vào vấn đề làm thế nào để tận tụy
với bậc thầy, làm thế nào để có được kinh nghiệm hợp
nhất bậc thầy với tất cả chư Phật.
Về
sự hòa lẫn tâm bạn với tâm bậc thầy: khi bạn đạt toàn
giác, tâm bạn và tâm thầy vốn dĩ vừa là đại lạc vừa
là Pháp thân - hòa lẫn và trở thành một vị duy nhất. Ở
điểm này bạn đạt giác ngộ, tự bản chất bạn trở thành
một bậc thầy: bạn thành tựu ư cách bậc thầy. Thân lời
ý của bạn hòa lẫn một cách chặt chẽ với thân lời ý
của thầy. Đây là lý do bạn phải có liên lạc chặt chẽ
với thầy: tâm bạn phải luôn luôn tiến gần hơn đến sự
phù hợp với tâm thầy.
b.
Phát khởi niềm kính trọng Thầy bằng cách nhớ lại sự
tử tế của Thầy.
Theo
Ketsang Jamyang và môn đệ, đây có bốn tiêu đề: (1) bậc
thầy tử tế hơn chư Phật rất nhiều; (2) tử tế ở chỗ
giảng dạy Pháp; (3) tử tế cho chỗ gia trì cho dòng tâm thức
bạn; (4) ở chỗ lôi cuốn bạn vào vòng của ông bằng những
quà tặng vật chất.
b-1.
thầy tử tế hơn chư Phật nhìeu
Điều
này có hai phần.
b-1.1.
Thầy tốt hơn chư Phật nói chung.
Bậc
thầy, về phương diện đức hạnh, thì ngang với chư Phật.
Nhưng sự tử tế của thầy thì thường lớn hơn của chư
Phật. Từ vô lượng kiếp quá khứ, vô số Phật đã dẫn
dắt vô biên hữu tình, nhưng ta lại không có trong số ấy.
Cúng
Dường Đạo Sư nói:
Con
khẩn cầu thầy, chỗ nương đầy từ bi, người che chở con:
Ngài
dạy một cách chân xác thánh đạo của đấng Thiện Thệ
Cho
những hữu tình khó điều phục trong thời mạt pháp này,
Những
kẻ không kham giáo hóa bởi vô lượng Phật quá khứ.
Nói
cách khác, 75 ngàn vị Phật, rồi 76 ngàn vị nữa, và 77 ngàn
vị,v.v… xuất hiện ra đời chỉ để làm mục tiêu cho đức
Phật đấng đạo sư chúng ta xây dựng kho công đức. Hơn
nữa, chỉ trong kiếp này mà thôi, đức Phật Câu Lưu Tôn,
Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, vân vân, đã hướng dẫn vô số
đệ tử, mà các ngài vẫn không thể làm cho chúng ta quy phục.
Bây giờ bậc thầy đang dạy cho chúng ta con đường toàn diện
không lỗi lầm này, mà ngay cả chư Phật xuất hiện trước
đây cũng không thể nào làm tốt hơn. Vậy, mặc dù về phương
diện đức tính, thầy ngang với chư Phật, song về lòng tử
tế thì thầy vượt hơn cả chư Phật.
Geshe
Potowa nói rằng thầy cũng giống như người cho kẻ sắp chết
ăn vào thời đói kém, trong khi chư Phật giống như những
người cho ăn thịt vào thời no đủ. Giả sử chúng ta đã
thoát khỏi cơn nghèo khó, đã làm ăn khá giả, mà có người
cho chúng ta thực phẩm và tài sản. Cũng thế, ta sẽ thấy
nhiều Phật, nhận được cảm hứng từ các ngài, vân vân,
khi chúng ta đã đạt đến những đạo lộ cao siêu, nhưng
chư Phật không ích gì cho ta khi ta đang ở trong tình trạng
thảm hại như bây giờ. Bậc thầy giống như người cho ăn
khi đói khổ, dạy cho ta trong lúc ta sắp rớt vào hố thẳm
của các đọa xứ. Đây là một phương tiện để dẫn dắt
chúng ta, để ta có một vài hy vọng đạt thành Phật quả.
Đây là lòng từ bi của bậc thầy. Kaedrub Rinpoche nói: “Hỡi
bậc thầy tối thượng vô tỉ, người tử tế hơn tất cả
chư Phật…” Nghĩa là, chúng ta có thể có lòng tin ở chư
Phật Bồ tát đấy, nhưng chúng ta chưa từng gặp các ngài.
Bây giờ ngay lúc ta đang thiếu vốn Pháp, thì bậc thầy dạy
cho ta, như vậy thầy còn từ mẫn hơn cả Phật.
b-1.2.
Thầy còn tốt hơn cả Đức Thích Ca Mâu Ni
Ngày
xưa vua Chuyển luân Aranemi có một ngàn con trai người nào
cũng phát tâm bồ đề, hứa sẽ săn sóc một nhóm đệ tử.
Nhưng họ thấy rằng những đệ tử sẽ khó điều phục vào
thời đại hỗn mang khi mà thọ mạng con người chỉ còn một
trăm năm, bởi thế họ đều tảng lờ những đệ tử này.
Thầy chúng ta, khi ấy là bà la môn Samandraràja (Phổ Hiền
Vương), cũng phát tâm bồ đề nguyện sẽ hàng phục hữu
tình trong thời kỳ hỗn độn ấy. Bởi vậy đức Thích Ca
đạo sư chúng ta tốt hơn đối với những đệ tử thời
kỳ đầu tiên, nhưng với những phàm phu như chúng ta, thì
bậc thầy còn tốt hơn cả Thích Ca Mâu Ni nữa.
Sau
đức Phật, còn có nhiều học giả và hành giả ở Ấn, như
bảy vị tổ trong giáo lý, tám mươi vị đại lực thần thông,
sáu viên bảo châu của đất Ấn, và hai viên tối thượng.
Và Tây Tạng có biết bao bậc thánh: trong thời kỳ truyền
Pháp đầu tiên có Padmasambhàva, vua Trisong Detsean, Shàntirakshita,
và những người còn lại của 25 đệ tử Padmasambhàva; trong
kỳ truyền bá lần hai có năm vị chúa tể là Sakya, Marpa,
Milarepa, Atìsha và đệ tử ngài là Tsongkapa và đồ đệ vân
vân. Nhưng không vị nào trong số ấy giảng dạy cho ta cam
lồ diệu pháp, phương pháp cứu ta ra khỏi biển lớn khổ
đau.
(CT.
Trong đoạn này, Pabongka kể ra nhiều nhân vật có công truyền
thừa giáo lý Phật ở Ấn và Tây Tạng. Bảy vị tổ của
nền giáo lý là những vị tiếp theo sau đức Thích Ca Mâu
Ni, được ngài giao trách nhiệm duy trì và quảng bá nền giáo
lý. Tám mươi bậc đại thần thông là những hành giả đã
thành tựu về mật điển trong hệ phái Những Hành Động
Dâng Hiến. Sáu viên bảo châu Ấn Độ là những vị đại
sĩ Long Thụ (Nagarjuna), Thiên Thân (Vasubandhu), Trần Na (Dignaga)
và Pháp Xứng (Dharmakirti). Hai viên tối thượng là hai bậc
thầy về luật tạng Gunaprabha và Shàkyaprabha.
Ở
Tây Tạng, Padmasambhava là bậc thánh vĩ đại xuất phát từ
vùng đất Oddiyana huyền bí đến để dẹp tan những chướng
ngại cho việc hoằng truyền Chánh pháp dưới triều vua Trisong
Detsaen và bậc thầy Ấn Shantarakshita - tổ sư của phái Nyingma
trong Phật giáo Tây Tạng. Năm vị chúa tể của phái Sakya
là năm bậc thầy đầu tiên đã sáng lập ra trường phái
Sakya. Marpa và đệ tử ngài là Milarepa là những vị tổ sáng
lập ra phái Kagyu. Atìsha và các đệ tử ngài mở đầu những
hệ phái Kadampa. Je Tsongkapa phối hợp cả ba dòng Kadampa cùng
với những pháp hành trì của ba trường phái Gelug (Hoàng mạo).
Tóm
lại, như Shàntideva đã nói trong quyển Hành Hạnh Bồ Tát:
Vô
số chư Phật làm việc
Cho
lợi ích của tất cả hữu tình
Đã
tịch diệt, và do những ác nghiệp của tôi
Tôi
không ở trong số chúng được các ngài chữa lành.
Nói
khác đi, chúng ta nên nghĩ như sau, “Chúng ta đầu thai không
nhằm chỗ, cũng không đến được những nơi các ngài viếng
thăm. Lại nữa, mọi bậc thánh quá khứ người thì không
dẫn dắt ta được, người thì bỏ rơi ta. Chúng ta là những
cặn bã của cặn bã. Quả thực thầy ta có lòng bi mẫn lớn
xiết bao khi cứu vớt chúng ta.”
b-2.
Sự tử tế của Thầy trong việc giảng Pháp
Những
đại Bồ tát ngày xưa đã tự hiến mình, hiến con trai con
gái quyến thuộc… cho những quỷ Dạ xoa ăn thịt, chỉ để
nghe một bài kệ về Pháp. Khi đức Đạo sư chúng ta tái sinh
làm Vyilingalita, ngài đã đâm vào cơ thể mình ngàn cọc nhọn
để được dạy Pháp. Khi tái sanh làm vua Gnashava ngài đốt
thịt mình bằng một ngàn đèn dầu và nhảy vào hố lửa;
làm vua Paramavarna ngài sử dụng da mình làm giấy và xương
sườn làm bút. Đức Atìsha vĩ đại chịu đựng gian khổ
lớn lao vượt biển trong mười ba tháng để thụ giáo Lam-rim,
bất kể hiểm nguy về bảo tố, thủy quái vân vân. Những
người như Marpa và Milarepa đã trải nhiều gian khổ để thụ
giáo. Ngay cả ngày nay việc du hành đến Ấn cũng không dễ,
thế mà những dịch gia ngày xưa đã liều thân mạng để
đi đến đấy thụ giáo; còn dâng lên những bậc thầy những
mandalas bằng vàng để đền ơn giảng dạy. Ngay đến nhớ
lại những gian nguy mình đã trải cũng đủ làm họ rùng mình.
Vậy bậc thầy của bạn thật tử tế xiết bao, khi dạy cho
bạn toàn thể đạo lộ - ngay cả Phật cũng không cho bạn
một giáo hóa nào tốt hơn - mà không đòi hỏi bạn phải
chịu chỉ một gian nan nhỏ nhất. Atìsha nói: “Bạn phải
có công đức lớn lắm mới có thể nhận được nền Giáo
Pháp sâu xa như thế mà không chút nhọc công. Hãy nghiêm túc
và khéo thực hành.”
Giả
sử có người sắp chết vì đã ăn vào một lúc ba thứ: thuốc
bổ, thực phẩm và độc dược. Một y sĩ đầy từ bi là
người giúp anh ta nôn độc tố ra, chuyển thực phẩm đã
nuốt vào thành thuốc, và chuyển thuốc đã nuốt vào thành
cam lồ bất tử. Chúng ta cũng đã làm những nghiệp bất thiện
sẽ đưa ta xuống các đạo xứ - điều này như ăn phải chất
độc. Bậc thầy làm cho chúng ta tịnh hóa những nghiệp ấy.
Bình thường chúng ta sẽ tích lũy những đức hạnh để có
được những thứ trên thế gian này như sức khỏe, tặng
phẩm, danh tiếng. Bậc thầy khiến ta đổi hướng, có một
động lực lành mạnh, làm cho những cầu nguyện thanh tịnh,
và hồi hướng công đức. Đức hạnh của ta đã được chuyển
thành một cái gì lợi lạc cho những đời sau. Thầy cũng
khiến cho ta chuyển hóa thiện hành ta đã tích lũy để được
tái sinh tốt đẹp và thành đạt vô thượng bồ đề. Còn
ai có thể tốt hơn thế nữa? Lam-rim Tính Túy Của Cam Lồi
nói:
Nếu
người ta bảo chúng ta không thể đền ơn
Người
đã dạy cho ta một bài kệ,
Dù
có cúng dường vị ấy nhiều kiếp
Bằng
số lượng chữ cái trong bài,
Thì
làm sao đến đáp được ơn lớn
Vì
đã được cho toàn thể đạo lộ?
Một
người được xem là tử tế xiết bao
Khi
đã đưa người khỏi vòng lao ngục
Lại
còn cất nhắc trở thành giàu sang.
Bậc
thầy dạy cho ta phương tiện
Thoát
khỏi ba đường ác
Cũng
đã là tử tế, vì chúng ta
Sẽ
giàu sang toại ý khi làm trời, người.
Thầy
còn dạy con đường tối thượng
Để
làm lắng dịu mọi nỗi bất hạnh của sinh tử Niết bàn.
Thầy
dẫn ta đến trạng thái Ba Thân vi diệu:
Còn
có sự tử tế nào hơn thế nữa chăng?
b-3.
Sự tử tế của Thầy đã gia trì cho tâm và dòng thức của
bạn.
Tất
cả thực chứng mà bạn triển khai được trong dòng thức
đều nhờ sự gia trì của bậc thầy. Nếu bạn dùng pháp
đạo sư du già như nguồn sinh lực của đạo lộ, bạn sẽ
làm những tiến bộ nhanh trên đường tu: đây là điểm then
chốt trong năng lực gia trì của bậc thầy. Khi Tilopa đánh
vào mặt Nàropa bằng một mandala bằng bùn, Nàropa liền có
khả năng duy trì định chứng nhất tâm kéo dài trong bảy
ngày. Ngay cả sự việc ta có thể nhớ được những giáo
lý khác nhau mà trước đây ta không thể nhớ chẳng hạn,
cũng là nhờ lực gia trì của thầy.
Năm
nay, ngày 24 tháng tư, tôi nhận được một dấu hiệu rõ ràng
về lực gia trì của bậc tôn sư tôi, người che chở cho tôi,
nơi tôi nương tựa. Sự gia trì ấy làm chìa khóa giảng Lam-rim
hiện tại tiến hành tốt đẹp. Một lần tôn sư tôi, Người
che chở cho tôi, nơi tôi nương tựa, đang làm một lễ dâng
cúng tại Dagpo với chừng 25 geshe tham dự. Tôi cũng có ở
đấy, song tôi quá xúc động đến nỗi mắt tôi đẫm lệ
suốt cả thời lễ “Cúng dường Đạo sư, Bất khả phân
giữa Đại lạc và Không tánh” một bản văn về triển khai
về pháp Cúng dường Đạo sư. Ngay cả việc ấy cũng là năng
lực gia trì của bậc thầy.
Khi
bạn khẩn cầu bậc thầy, thì bạn sẽ thành tựu tất cả
thiện sự và mọi điều bạn mong muốn trong đời này và
những đời sau. Bậc đại thần thông Tilopa nói: “Này Nàropa,
điều lợi ích nhất tất cả là bậc thầy. “Và Gyaelwa Goetsang
nói:
Nhiều
người thiền quán về giai đoạn tu tập
Nhưng
thiền quán về đạo sư là pháp thiền cao nhất.
Nhiều
người thực hành pháp tụng đọc
Nhưng
khẩn cầu đạo sư là pháp tụng đọc cao nhất
Nếu
bạn luôn luôn khẩn cầu bậc thầy
Thì
bảo đảm bạn sẽ thực chứng được
Trạng
thái bất khả phân ly với bậc thầy.
Kyabje
Pabongka kể vài mẫu chuyện: chuyện một người ở Retreng
cúng đèn bơ cho một bức tượng của Drom Toenpa nên những
ước nguyện của ông được thành tựu; chuyện Atìsha được
Dombhìpa gia hộ như thế nào; chuyện Drubkang Geleg Gyatso gia
hộ Purchog Ngagwang Jampa, vân vân.
b-4.
Sự tử tế của bậc thầy là lôi cuốn bạn vào vòng đệ
tử bằng tài thí.
Người
ngày nay chờ đợi tài thí, do vậy bậc thầy loi cuốn vào
vòng ông bằng tài vật, rồi đưa ông vào chánh pháp.
Khi
tôn sư tôi, người che chở tôi, chỗ nương cậy của tôi,
đang ở trong một am ẩn cư, có người tôi tớ trong gia đình
Drimé Tengka, một người vùng thượng Kongpo, được phái đến
để xin ngài bói xúc xắc; ông ta mang theo bọc đầy da đầy
bơ để cúng dường. Thầy tôi đang ở tuốt trên một ngọn
núi cao, nên khi lên tới, người kia rất mệt. Y đến trước
mặt thầy tôi mà nói: “Cái ông lama này chắc phải là một
con thú hoang mới ưa sống trên chót núi như thế này.” Thầy
tôi cho y uống trà, thực phẩm ngon, và những quà tặng; người
kia phát sinh tịnh tín và về sau phải công nhận: “Nhưng
vị lama đã ban phúc lớn cho tôi. Những gì ngài cho tôi ăn
thật tuyệt.” Thế là y đã bị đưa vào tròng bậc thầy
và đã phát sinh tịnh tín.
Nói
đến “tài vật” thì không có một giới hạn nào về những
gì mà bậc thầy cho ta: chẳng hạn đấy có thể là sự săn
sóc của thầy đối với đệ tử.
Atìsha
bảo rằng bất cứ đức tính gì ngài có được đều nhờ
những bậc thầy. Ngài muốn nói nhờ sự tử tế từ bi của
thầy mà ta có được mọi đức tốt lành. Chúng ta không phân
tích sự việc cho kỹ, và cứ tưởng hạnh phúc hiện tại
của ta, tiện nghi tiếng tăm ta có được, đều do nỗ lực
của riêng ta, song không phải vậy. Hãy lấy ví dụ hai người
anh em: người thì được đưa vào tu viện trở thành một
phần tử của Tăng đoàn, nghĩa là một đối tượng cho người
kia làm chỗ quy y. Khi vị tu sĩ tình cờ gặp em trong một ngôi
chùa, thì họ hành xử theo số phần khác nhau của họ: một
người theo Pháp, một người theo tài vật.
Bạn
có thể là một tỳ kheo có ít trách nhiệm, đầy là nhờ
lòng tử tế của tu viện trưởng và vị thầy truyền giới
cho bạn, vì bạn giống như đấng Đạo sư của chúng ta mà
giới thể tự nhiên đầy đủ không cần sự can thiệp của
một tu viện trưởng. Bây giờ, bạn có thể đọc nhiều ngàn
trang sách mỗi ngày và phân tích ý nghĩa: đây là nhờ sự
tử tế của bậc thầy đã dạy cho bạn học vỡ lòng. Nếu
bạn chưa được phép quán đảnh nào để làm cho bạn thuần
thục hay để chuẩn bị cho bạn, thì bạn không được đọc
ngay cả những sách về mật giáo. Người có được quán đảnh
là đã đi vào ngưỡng cửa những mật điển, một điều
hi hữu hơn cả sự xuất hiện của chư Phật. Chính do lòng
từ bi mà bậc thầy Kim cang thừa đặt vào dòng tâm thức
của bạn những hạt giống chắc chắn sẽ chín thành kết
quả là bốn thân, chỉ trong vòng mười sáu đời nếu bạn
không phạm giới. Bạn phải tính những sự tử tế của bậc
thầy và nghĩ, “Ngài đã cho ta cái này, cái này, cái này…”
Nhưng chưa hết đâu. Bạn đã có được một thân người,
bạn có thể hạnh phúc trong đời này, có tài sản, vân vân.
Đấy là tất cả những hậu quả của sự giữ giới và hành
hạnh bố thí trong những đời trước, và đấy là nhờ lòng
tử tế của những bậc thầy đã khiến cho bạn thực hành
những pháp ấy.
Bạn
có thể nghĩ, “Không phải luôn luôn là một bậc thầy ấy:
nhiều thầy khác nhau trong nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi
người đã đóng góp những sự tử tế của riêng họ.”
Nhưng những bậc thầy ấy xuất phát từ một căn bản duy
nhất là tâm chư Phật, cái trí căn bản của phối hợp đại
lạc và tánh không, cùng một vị với pháp giới. Tất cả
những bậc thầy đều là đấng Kim Cương Trì thị hiện nhiều
hình dạng khác nhau. Ở Tây Tạng chẳng hạn có chúng sinh
là cha để của giống nòi;
(CT:
Theo huyền thoại Tây Tạng, giống nòi phát xuất từ một
nữ yêu quái mặt khỉ với một con vượn trắng lớn. Con
vượn này là một hóa thân của bồ tát Quán Thế Âm, đã
tu khổ hạnh thiền định nhiều năm trong lúc nữ yêu quái
cứ đứng ngòai của động mà rên rỉ, muốn cặp bồ với
vượn. Cuối cùng vượn phải đầu hàng, và hậu quả là
giống nòi Tây Tạng; nên họ ảnh hưởng của vượn tâm từ
bi, và từ nữ yêu quái họ ảnh hưởng tính đa nghi, ươn
ngạnh, hà tiện và ưa nhục dục.). Có những người thiết
lập nền luật; những nhà dịch kinh những ông vua và đình
thần chuyên quảng bá và duy trì nền giáo lý; những bậc
thầy dịch thuật và những bậc hiền trí; những tái sinh
của đức Đức Dalai Lama; vân vân. Tất cả những vị này
đều là những hiện thân khác nhau của một bồ tát Thánh
Quan Tự Tại, Người Cầm Sen Trắng. Những bậc thầy chúng
ta cũng thế, chỉ là một thực thể duy nhất.
Đức
Je Rinpoche nói: “Người ta cần hiểu rằng những gì nói trên
đều là chỉ giáo nổi tiếng về pháp Đạo Sư Du già. Nhưng
sẽ không ăn thua gì nếu người ta chỉ thiền quán về đề
tài ấy vài lần mà thôi.”
Nghĩa
là, muốn thấu hiểu rằng bậc thầy là hiện thân của tất
cả chư Phật, rằng vị ấy “là” cái trang, thì bạn phải
thực hành pháp Cúng Dường Đạo Sư, vân vân. Nhưng nếu bạn
không hiểu rõ ý nghĩa mà chỉ tụng đọc những lời văn
thì không được cái gì.
Vậy,
khi bạn hiểu rằng tâm của tất cả chư Phật là đồng một
vị với tinh túy của pháp thân, đại lạc và tánh không,
và từ tính chất này chư Phật thị hiện dưới dạng bậc
thầy trong nhiều hóa thân khác nhau. Nếu bạn không hiểu điều
này, bạn sẽ nghi ngờ ngay cả khi đảnh lễ những bậc thầy
danh tiếng ngồi giảng trên tòa cao; bạn lại còn dễ coi thường
ông thầy hèn mọn trong tu viện của bạn, người dạy cho
bạn tập đọc. Khi bạn có được hiểu biết này, để tập
cho mình một nhìn một vị thầy với tâm kính trọng như nhìn
Phật, thì bạn cũng có thể luyện tập để xem tất cả những
bậc thầy như Phật; khi ấy làm hài lòng một vị thầy cũng
là làm hài lòng tất cả những bậc thầy. Bạn phải xem tất
cả thầy đều tử tế như nhau, không thiên vị trong cách
phụng sự của bạn.
Người
ta bảo ta nên tụng đọc những bài kệ về lòng tử tế của
bậc thầy khi ta quán về đề mục ấy. Những bài kệ sau
đây được thốt lên bởi đồng tử Manibhadra (Bảo Hiền)
trong chương nói về sự tử tế của bậc thầy:
Những
hướng đạo tâm linh cho con, người giảng dạy Pháp,
Đủ
tư cách dạy con tất cả pháp;
Các
vị ấy xuất hiện với ý định duy nhất: dạy cho con
Những
phận sự trước mắt của bồ tát.
Các
thầy giống như mẹ con trên đường tu tập.
Như
nhũ mẫu cho con bầu sữa của thiện đức;
Thầy
thiện xảo trong từng ngành đưa đến giác ngộ
Thầy
chấm dứt cho con những nẻo đường hiểm nguy.
Như
lương y giải cứu con khỏi già chết
Như
vị trời Đế Thích mưa xuống những giọt Cam lồ;
Làm
tăng trưởng bạch pháp như vầng trăng đang lên.
Và
như ánh dương soi đường đến an lạc.
Thầy
như núi bất động trước thân thù
Tâm
thầy không đầy vơi như biển lớn
Thầy
là người thân che chở con một cách toàn vẹn -
Đấy
là những ý tưởng đưa con đến với bậc thầy.
Chư
Bồ tát những người đang khai hóa tâm con
Những
người Con Phật đưa con đến giác ngộ
Họ
hướng dẫn con; chư Phật ca ngợi họ-
Con
đến với họ bằng tâm tưởng tốt lành.
Thầy
như những anh hùng bảo vệ con khỏi thế gian;
Là
thuyền trưởng, chỗ nương và sự che chở;
Thầy
là mắt, là nguồn an ủi-
Bằng
tư tưởng ấy, hãy kính trọng những bậc thầy.
Từ
bản Lam-rim Tinh Chất Cam Lồ:
Con
đã từ bỏ đời sống tại gia: một hầm lửa rực
Trong
cô tịch con thực hành những công việc của hiền nhân;
Con
được nếm vị ngọt của diệu Pháp
Đấy
là nhờ lòng tử tế của các bậc tôn sư.
Con
đã gặp giáo lý của đức Tsongkapa vĩ đại
Trong
muôn ngàn kiếp khó mà tìm được
Đây
là lòng tử tế của những bậc thầy thánh thiện.
Thầy
là người che chở con khỏi các đạo xứ,
Là
thuyền trưởng giải thoát con ra khỏi biển luân hồi,
Là
hướng đạo đưa con lên tái sinh cao và giải thoát.
Là
lương y chữa lành bệnh vọng tưởng kinh niên,
Là
dòng sông dập tắt ngọn lửa thống khổ lớn
Là
mặt trời soi sáng con đường giải thoát.
Là
người giải cứu con ra khỏi ngục tù sinh tử
Là
vầng mây mưa xuống Diệu pháp nhiệm mầu;
Là
bạn lành giúp con xua tan những điều tai hại
Là
cha mẹ nhân từ luôn luôn yêu thương…
Hãy
quán những điều ấy khi bạn tụng đọc, và nhớ lại sự
tử tế của bậc thầy.
Sự
tận tụy bằng việc làm sẽ được bàn theo quyển Lời Đức
Văn Thù. Bạn không nên lẫn lộn phần này với ba nghi thức
chuẩn bị cuối.
Khi
ấy Kyabje Pabongka Rinpoche trở lại nói về mỗi đề tài thiền
quán, và trước mỗi đề tài ngài đều làm lễ khẩn cầu,
và quán tưởng cam lồ tịnh hóa đang tuôn xuống.