PHẦN
BA
NỀN
TẢNG CỦA ĐẠO LỘ
NGÀY
MƯỜI MỘT
Kyabje
Pabongka Rinpoche bảo chúng tôi hãy điều chỉnh động lực
nghe pháp và tu hành của mình:
Kinh
Màn Kịch Lớn nói:
Ba
cõi vô thường như mây mùa thu
Hữu
tình chết và tái sinh như trên sân khấu
Đời
sống ngắn ngũi như làn chớp
Trôi
qua nhanh như thác đổ núi cao.
Nói
cách khác, ba cõi - quả đất, núi Tu di và tất cả - giống
như mây thu. Hữu tình sinh rồi chết như trong một màn kịch,
những diễn viên thay đổi liền liền. Đời chúng ta không
kéo dài, không đứng yên mà lướt nhanh qua như thác đổ trên
núi xuống. Bởi thế các bạn phải nghĩ, “Tôi phải thực
hành Pháp ngay tức khắc.” Lam-rim là cửa ngõ tốt nhất dẫn
đến con đường độc đạo mà ba đời chư Phật đều theo.
Bởi thế các bạn phải nghe giảng về Lam-rim để thành Phật
quả vài an lạc cho tất cả hữu tình; rồi bạn phải thực
hành Pháp ấy…
Khi
ấy ngài nhắc lại những đề mục đã bàn, và nói lại tài
liệu hôm trước về vô thường.
Phần
“Phát sinh niềm khao khát được tái sinh tốt đẹp” có
một tiêu đề phụ thứ hai:
b.
Nghĩ về loại khổ hay vui mà bạn sẽ có trong tái sinh kế
tiếp ở một trong hai nẻo luân hồi.
Quán
về những nỗi khổ thuộc các thượng giới sẽ bàn sau, trong
phần Phạm Vi Trung Bình. Bây giờ tôi sẽ nói đến những
thống khổ ở các đọa xứ.
Bạn
chắc chắn phải chết, nhưng chưa biết chừng nào. Sau khi
bạn chết, tâm thức bạn không chấm dứt; do vậy chắc chắn
nó phải tái sinh. Chỉ có hai nơi trong đó nó có thể tái
sinh, thượng giới và hạ giới. Bạ có thể suy lường mình
sẽ đi vào nẻo nào. Như tôi đã từng nói, chúng ta xem tử
vi, bói toán để được báo cho biết đời sau ta sẽ tái sinh
về đâu, nhưng điều ấy thực không cần thiết. Đức Phật
đã tiên đoán cho ta rằng, ta sẽ đi lên cõi trên nếu ta đã
sống hiền thiện, và đi xuống cõi dưới nếu bất thiện.
Bản Sinh Truyện nói:
Hãy
chắc chắn rằn đời sau của bạn
Sẽ
vui hay khổ
Là
do nghiệp thiện hay bất thiện
Bởi
thế hãy từ bỏ tội lỗi
Và
thực hành đức hạnh.
Chúng
ta làm nhiều kế hoạch cho cuộc đời này, mà ta gọi là “Nghĩ
đến tương lai.” Những nó không có nghĩa gì. Hãy nhìn xa
hơn: hãy tìm xem bạn sẽ tái sinh về đâu trong đời kế tiếp.
Nếu làm như vậy, bạn sẽ thấy mình không thể thoát một
trong hai đường là đi lên hoặc đi xuống, và bạn không có
tự do chọn lựa phải đi ngõ nào. nếu ta có quyền chọn
lựa, thì hiện tại ai dại gì còn ở trong các đọa xứ?
Như vậy, tái sinh về đâu trong đời kế tiếp là tùy thuộc
vào nghiệp lực.
Nếu
bạn có nghiệp hỗn hợp, có thứ thiện, có thứ bất thiện,
thì cái nào mạnh hơn sẽ chín trước. Nếu cả hai đều mạnh
ngang nhau, thì thứ nào bạn quen thuộc nhất sẽ chín trước.
Nếu bạn quen thuộc với cả hai loại nghiệp, thì loại nào
phát sinh sớm hơn sẽ chín trước. Luận của Thế Thân (Vasubandhu)
về chính tác phẩm của ngài KhoTàng Siêu Vật Lý nói:
Nghiệp
quay bánh xe sinh tử,
Nghiệp
nặng nhất chín trước;
Kế
đến là nghiệp gần nhất;
Rồi
đến nghiệp quen thuộc nhất;
Rồi
những nghiệp được làm sớm nhất.
(CT.
Cực trọng nghiệp, cân tử nghiệp, thường nghiệp và tích
lũy nghiệp -DG chú)
Đối
với chúng ta, những nghiệp bất thiện mạnh hơn. Những tư
tưởng chúng ta thường chỉ thiên về tham, vân vân. Nếu sự
tình quả là như thế thì đương nhiên những nghiệp phát
sinh từ những tư tưởng ấy sẽ là bất thiện. Ngay cả những
thiện hành của ta cũng vô tình bị rơi vào năng lực của
những tư tưởng bất thiện, và có rất ít hành động hồi
hướng cho những đời sau của ta.
Lấy
ví dụ bạn mắng một đệ tử. Động lực thúc đảy bạn
là một cơn lôi đình. Do đó hành động thực thụ là, bạn
sử dụng những lời lẽ làm cho người kia phải đau đớn.
Còn bước cuối cùng là, bạn thích thú về những gì mình
đã làm. Bởi thế động lực, hành động và bước cuối
đều rất mãnh liệt.
Đa
số những hành vi tội lỗi của chúng ta đều mãnh liệt tương
tự như thế, nhưng những thiện hành thì như sau. Ngày xưa
có một người hay bị tán loạn mỗi khi tụng Một Trăm chư
Thiên Cõi Trời Đâu Suất. Y thường nói chuyện với nhiều
người khác trong khi tụng đi tụng lại nhiều lần từ đầu
chí cuối. Chúng ta cũng lẩm bẩm cái lỗ miệng, nhưng tâm
thì lại tràn ngập những chuyện thế gian. Chút ít hạn ta
có được thì lại bị phá hỏng bởi tức giận và tà kiến.
Cả đến những hành vi bất thiện nhỏ nhất của chúng ta
cùng mỗi ngay một tăng gấp đôi kích thước. Hơn nữa, trong
những đời quá khứ, khi làm sâu bọ, côn trùng, thủy quái,
thú săn mồi, vân vân, chúng ta đã phạm bao nhiêu tội khổng
lồ. Những tội ấy, cùng với những tội ta đã phạm trong
đời này, làm nên số lượng bao la những tội rất cường
liệt mà ta đã tích lũy. Chúng ta không thể nào hối chuộc
được tất cả những tội này trước khi chết bằng sự
sám hối và hứa không tái phạm. Điều này vượt ngoài khả
năng hiện tại của chúng ta. Căn cứ trên nhận thức, điều
này chứng tỏ chúng ta quen thuộc với tội lỗi hơn là với
đức hạnh: và nếu thế thì khả năng duy nhất là chúng ta
sẽ đi đến các đọa xứ trong tái sinh kế tiếp.
Chúng
ta không thể quyết chắc sẽ không rơi vào đọa xứ nếu
chưa đạt đến mức “nhẫn” trong đạo lộ chuẩn bị.
Người ta bảo ngay cả những bồ tát ma ha tá (đại hữu tình)
cũng đã tái sinh vào đấy.
Giả
sử đêm nay bạn ngủ trong một gian phòng đẹp trên giường
êm dịu: nhưng rồi thình lình một tai biến đột ngột làm
bạn chết. Vào cái giờ đáng lẽ bạn thức dậy theo lệ
thường, thì có thể bạn đã đi đến một nơi mà tất cả
đồi núi đều ngập lửa. Khi ấy bạn sẽ nói gì?
Bạn
sẽ không phát sinh động lực mạnh đủ để từ bỏ nếu
bạn chỉ thiền quán về sự có thể sinh vào đọa xứ như
kiểu bạn nhìn chòng chọc vào một vật gợi tò mò. Như Long
Thụ nói: “Hãy quán niệm sự cực nóng hay cực lạnh của
các địa ngục như thế là bạn đã ở đấy một ngày…”
Nghĩa là, bạn phải thiền quán để phát sinh tuệ giác đi
sâu vào sự tái sinh vào đọa xứ này hay khác (điều này
cũng gần giống như gia đoạn “phát sinh” trong pháp quán
về một vị thần bảo hộ). Bạn phải đâm ra sợ hãi.
Thường
chúng ta rất xem trọng những phép thiền quán để thấy được
thánh thể của một vị thần bảo hộ, nhưng còn lợi ích
hơn nếu trong một lúc đầu ta quán ra một thân thể ở địa
ngục. Những thống khổ của địa ngục cực nóng sẽ dễ
gây nên sự biến cái đầu tiên trong tâm thức chúng ta và
làm cho ta phát sinh ý thức từ bỏ. Đây là một kết quả
tốt lành. Chúng ta cũng dễ trở nên buồn sầu; sự buồn
sầu có đức lớn, vì nó làm tiêu tan thói kiêu mạn, vân
vân. Như Shatideva nói:
Đức
tính của đau khổ là
Do
buồn sầu nó tẩy trừ kiêu mạn.
Người
ta phát triển tâm bi mẫn
Đối
với những chúng sinh trong luân hồi;
Tránh
gây tội lỗi, hoan hỷ với đức hạnh.
Chúng
ta dễ phát tâm từ bỏ khi được tái sinh làm người. Vì
lý do ấy mà ta nên thiền quán về khổ.
Sự
thiền quán về các nỗi khổ trong các đọa xứ có 3 phần:
Suy tư về những nỗi khổ ở (1) Địa ngục, (2) Ngạ quỷ,
(3) Súc sinh.
b-1.
Nghĩ về những thống khổ của địa ngục.
Có
4 tiêu đề phụ.
b-1.1.
Các đại địa ngục hay địa ngục rất nóng.
Những
địa ngục cực nóng có vị trí như sau. Địa Ngục Sống
Lại Liên Tục ở cách 32.000 do tuần dưới Bồ đề đạo
tràng ở Ấn. Những địa ngục nóng khác nằm dưới địa
ngục này cách nhau 4.000 do tuần. Tất cả nền đất và núi
trong địa ngục ấy toàn bằng sắt nung đỏ. Mặt đất ở
đấy cũng như ở cõi người, không bằng phẳng chút nào.
Khi
bạn sắp bị tái sanh vào địa ngục nóng, thì bạn làm gì
được? Gungtang Rinpoche nói:
Đời
người vô thường
Ngắn
như một giấc ngủ
Đầy
những chiêm bao vô nghĩa
Một
vài giấc vui, một vài giấc buồn.
Khi
thình lình bạn thức dậy
Với
một đời sống trong đọa xứ,
Thì
bạn sẽ làm gì?
Nghĩa
là vào lúc bạn chết có những ảo giác là mình rất lạnh,
bởi thế bạn phát sinh một lòng khát khao hơi nóng, điều
này khởi động cái nghiệp đưa đến tái sanh vào những địa
ngục nóng. Khi chết giống như bạn rơi vào giấc ngủ. Khi
sinh qua giai đoạn trung ấm là như bạn nằm chiêm bao. Rồi
thình lình bạn thấy mình ở trong địa ngục nóng, là giống
như khi thức dậy.
Lửa
địa ngục 7 lần nóng hơn lửa ở cõi người. Hãy so sánh
2 loại lửa này. Ngọn lửa ở cõi người là quá lạnh so
với lửa địa ngục đến nỗi nó giống như nước được
làm cho mát lạnh nhờ trầm Goshirsha.
Ngài
Mục Kiền Liên có lần mang một đóm lửa nhỏ ở địa ngục
về đến cõi người và đặt nó trên bờ đại dương. Tất
cả nhân loại đều bị nổi điên điên về nơi nóng này
và họ không thể chịu được nếu để như vậy. Nếu bạn
sinh ra giữa một đống lửa như thế, thì sẽ không có vấn
đề gì nếu thân thể bạn nhỏ và bị ngọn lửa ngốn ngấu
tức khắc. Nhưng thân thể chúng ta khổng lồ như một dãy
núi. Điều này thật cũng không sao nếu gót chân bạn chai
lì như da chân của một vài người. Nhưng không đâu: Thân
thể bạn giống như thân thể một hài nhi.
Bởi
thế nỗi khổ của đại ngục nóng thực không thể chịu
đựng: khổ vì có một cái thân khổng lồ để bị đốt
cháy; khổ vì có da thịt ít khả năng chịu đau như da thịt
của một trẻ sơ sinh; khổ vì ngọn lửa đốt thân mình cực
kỳ nóng bức; vân vân. Có 8 địa ngục nóng:
b-1.1.1.
Địa ngục sống lại liên tục.
Ở
đây không có ngục tốt canh giữ. Những người sinh vào địa
ngục này là những hữu tình tái sanh do năng lực của ác
nghiệp. Những hữu tình này vừa thấy người khác là tức
khắc nổi giận; bất cứ cái gì chúng tóm được cũng trở
thành khí giới. Chúng chặt nhau ra thành từng mảnh; tất cả
đều ngất xỉu té xuống đất. Rồi một tiếng nói từ trên
trời nói với chúng: “Bây giờ ngươi sẽ được làm cho
sống lại. “Một ngọn gió lạnh đập vào thân thể chúng
làm cho xương thịt tản mát của chúng liền lại với nhau
như trước. Rồi chúng lại làm như cũ. Mỗi ngày chúng đều
rơi vào những cơn chết ngất; mỗi ngày chúng có hàng trăm
cái chết khác nhau và được sống lại hàng trăm lần. Chúng
ta phải phát triển tuệ quán đi sâu vào hình ảnh ấy, cảnh
tượng sẽ như thế nào khi ta sinh vào địa ngục ngay bây
giờ, khi bị cắt bị xẻ, khi chết ngất được làm cho sống
lại v.v… Trong đời này nếu ta bị đâm một nhát dao, nó
chỉ giết ta một lần mà còn đau khổ kinh hoàng không thể
kể xiết. Thế mà trong địa ngục ấy ta sẽ phải chết đi
sống lại nhiều lần mỗi ngày và sẽ trải qua nỗi kinh hoàng
và đau đớn ấy nhiều lần. Lại nữa đời chúng ta ở đấy
rất dài, không thể so sánh với những đời người ngắn
ngũi. Long Thụ nói:
Nỗi
khổ bị đâm 300 lần trong chỉ một ngày
Cũng
không thể sánh với nỗi khổ nhỏ nhất trong địa ngục
Không
thấm vào đau so với nỗi khổ của địa ngục.
b-1.1.2.
Địa ngục đen tối.
Từ
địa ngục này trở xuống có những ngục tốt canh giữ như
là ngục tốt Đầu Voi và dạ xoa Đầu Heo. Những ngục tốt
này và những người làm việc trong địa ngục ấy có thân
thể khổng lồ như núi, mắt đầy những tia máu đỏ khủng
khiếp; chúng chỉ la lên những tiếng như “đánh”, “giết.”
Trong lúc thiền quán bạn cảm thấy sợ hãi như thể chúng
sắp đến giết mình. Những ngục tốt tóm lấy bạn đặt
nằm ngửa trên nền sắt nung đỏ, chúng dùng giây thừng bằng
sắt nóng quất vào thân thể khổng lồ của bạn để lại
nhiều lằn roi và vết đen. Một vài ngục tốt cưa dọc theo
những lằn roi này như một người thợ mộc cưa gỗ. Những
ngục tốt khác lại lấy rìu, búa để chặt. Sau khi bạn đã
bị cưa xẻ như thế, những miếng thịt và giọt máu nhỏ
trên nền sắt nóng vẫn còn liên kết với ý thức của bạn,
và nó làm tăng thêm nỗi thống khổ mà bạn trải qua.
Những
nguyên nhân để bị sinh vào trong địa ngục này là làm 10
điều bất thiện, đánh đập súc vật v.v…
b-1.1.3.
Địa ngục ép lại để bị nghiền nát.
Tái
sinh ở đây thường là nghiệp sát đã đến thời kỳ chín
mọng. Hai ngọn núi giống như hai cái đầu dê đực to lớn
chạy xáp lại với nhau và bạn bị nghiền nát ở giữa không
có lối thoát. Hai ngọn núi lại xa ra và cơ thể của bạn
phục hồi như cũ. Việc ấy cứ tái diễn nhiều lần. Một
số chúng sinh bị nghiền thành bột giữa hai khối đá; một
số bị giã bằng chày như giã mè; một số bị nghiến nát
trong những đinh sắt. Bạn có thể bị nghiền nát giữa nhiều
dụng cụ khác nhau: những dụng cụ này là những thứ bạn
dùng để giết người hay súc vật trong quá khứ. Chẳng hạn
bạn giết một con rận với hai ngón tay thì về sau trong địa
ngục bị giết bằng cách bị nghiền nát giữa hai núi đá
như hình móng tay.
b-1.1.4.
Địa ngục kêu gào
Bạn
bị đặt trong một cái nhà bằng sắt nung đỏ không có cửa
ra vào, trong ngoài toàn là lửa. Bạn đau khổ vì nghĩ ta sẽ
không có cách thoát. Nỗi thống khổ lớn làm cho bạn gào
thét rên la.
b-1.1.5.
Địa ngục gào lớn.
Bạn
bị đặt trong một cái nhà bằng sắt ở trong một cái nhà
khác giống hệt. Nỗi đau khổ của bạn cũng gấp hai lần
vì nghĩ, ta chỉ có thể thoát khỏi một trong hai cái nhà này
mà thôi.
Phạm
mười điều ác, hoặc uống rượu bê tha có thể là nhân
cho sự tái sinh vào trong những địa ngục này. Một quyển
kinh cũng nói tương tự:
Nếu
uống rượu thì bị tái sinh
Vào
một nơi gào thét
Người
phục rượu sẽ bị sinh vào
Địa
ngục vây quanh địa ngục này.
b-1.1.6.
Địa ngục nóng
Bạn
bị đâm trên một cái dùi bằng sắt đỏ rực cháy từ hậu
môn trở lên, đâm đến đỉnh đầu, khiến cho tất cả ruột
gan của bạn đều cháy và những ngọn lửa gầm thét toát
ra từ miệng, mắt v.v… của bạn. Bạn bị nấu trong một
cái lò lớn bằng nước đồng sôi. Sau đó những mảnh xương
của bạn được phục hồi tình trạng cũ để rồi lại bị
nấu.
b-1.1.7.
Địa ngục cực nóng
Địa
ngục này nóng gấp hai lần địa ngục trên. Thịt gân ruột
rà của bạn đều bị hầm nấu, lìa khỏi xương. Khi chỉ
còn xương, bạn lại được ráp lại như cũ. Một vài chúng
sinh bị ép lại giữa hai dĩa sắt làm cho thân họ bẹp dí.
Những dây sắt nóng đỏ quấn quanh thân thể một vài người
và thịt xương lòi ra như bột nhồi dưới sức ép. Một vài
chúng sinh bị đâm bằng chĩa ba nóng đỏ từ hậu môn lên
đỉnh đầu; lưỡi chúng thè ra dài nhiều do tuần cho trâu
bò kéo thành xn luống cày, v.v… một vài chúng sinh bị ép
giữa hai lá sắt như cái bìa sách, và thân thể chúng bị
nghiền nát. Có nhiều cách trải qua thống khổ tương tự.
(Khi
ấy Papongka Rinpoche kể câu chuyện về Kokalika, một đệ tử
của Đề bà đạt đa bị sinh vào địa ngục ấy.)
b-1.1.8.
Địa ngục không nghỉ ngơi (vô gián địa ngục)
Trong
địa ngục này không có cơ hội nào để nghỉ, và nỗi thống
khổ ở đây lớn hơn bất cứ địa ngục nào ở trên. Khi
chúng ta đốt đá hay sắt trong lửa, chúng trở thành như một
với ngọn lửa, không thể phân biệt. Những thân thể của
chúng sinh ở trong địa ngục này cũng thế, không khác với
ngọn lửa. Người ta có thể bảo rằng có rất nhiều chúng
sinh trong địa ngục này chỉ nhờ nghe âm thanh rên siết của
chúng. Chúng bị đốt bằng 11 ngọn lửa: bốn ngọn lửa ở
bốn phương chính, bốn ngọn lửa ở bốn hướng trung gian,
hai ngọn lửa ở trên và dưới, và ngọn lửa ở bên trong
thân thể họ. Chúng giống như những que lửa; nỗi thống
khổ của chúng không có cùng tận, Long Thụ nói:
Trong
tất cả các nhân của hạnh phúc,
Ái
diệt là chúa tể
Trong
tất cả các khổ,
Nỗi
khổ ở địa ngục Vô gián là nhất.
Nói
cách khác địa ngục vô gián có nhiều đau khổ hơn tất cả
nỗi khổ trong ba cõi cọng lại, bao gồm có địa ngục cực
nóng.
Mặc
dù những địa ngục có những đau khổ như thế, chúng ta
nghĩ “Tôi sẽ không tái sinh vào đó.” Nhưng ta không bao
giờ có thể chắc chắn mình không tái sinh vào đấy khi ta
từ giã cuộc đời này. Ta không thể bảo đảm là mình không
đi xuống các đọa xứ. Chúng ta đã tích lũy nhiều nguyên
nhân khiến ta chắc chắn sinh vào địa ngục; những nhân ấy
rất mạnh và chưa hề giảm sút. Những trường hợp tệ nhất
về vi phạm một trong mười bất thiện sẽ khiến ta tái sinh
vào địa ngục, những trường hợp trung bình khiến ta sinh
vào ngạ quỷ và nhẹ nhất thì vào súc sinh. Người ta bảo
rằng chúng ta sẽ tái sinh trong địa ngục Sống Lại Liên
Tục vì phạm những tà hạnh không giữ giới Biệt giải thoát
và sinh vào địa ngục Vô gián nếu ta bất chấp mình có phạm
trọng giới hay không. Vậy chúng ta hãy coi chừng.
Trong
dòng tâm thức của chúng ta có nhiều ác nghiệp trầm trọng;
phạm những tiểu giới và ác hạnh đi ngược lại giới điều
của Biệt giải thoát và giới Mật tông, tức giận Bồ tát,
không kính trọng bậc thầy, v.v… Nếu chúng ta phạm một
giới trọng về mật tông, ta sẽ bị tái sinh vào địa ngục
vô gián trong một thời gian dài bằng số lượng sát na trôi
qua từ khi phạm giới cho đến khi sám hối để giữ giới
lại. Trong quá khứ chúng ta bất chấp khi phạm những tiểu
giới trong giới Biệt giải thoát; chúng ta vi phạm những điều
luật và đã tích lũy nghiệp để lần lượt tái sinh vào
tám địa ngục nóng.
Trong
những tái sinh này, chúng ta phải trải qua những thống khổ
cho đến khi quả báo của nghiệp chấm dứt, vì chúng ta không
thể tách rời ý thức với thân xác Long Thụ nói:
Những
nỗi thống khổ như thế hoàn toàn
Không
thể chịu đựng
Người
ta sẽ kinh nghiệm chứng hàng tỷ lần
Bao
lâu ác nghiệp chưa chấm dứt
Thì
ta vẫn còn phải sống.
Thọ
mạng trong tám địa ngục nóng rất dài. Những thọ mạng
ngắn nhất là của chúng sinh trong địa ngục Sống Lại Liên
Tục. 50 năm của đời người bằng 1 ngày trong cõi trời Tứ
Thiên Vương; 30 ngày làm một tháng, 12 tháng làm thành 1 năm.
Một đời trong địa ngục Sống Lại Liên Tục là 500 năm
tại đấy, nghĩa là bằng số năm tính theo nhân loại là:
1.62 x 10 lũy thừa 12. “Lời Đức Văn Thù” nói rằng con
số này là 1.66 x 10 lũy thừa 12, nhưng điều này sai. Bạn
phải tham khảo văn bản này do tu viện Meru ấn hành hoặc
những bản Lam-rim thuộc Hệ phái Phương Nam.
Có
vẻ lạ lùng nếu ta nói rằng những địa ngục nóng này cách
xa chúng ta nhiều do tuần, nhưng kỳ thật giữa bạn và các
đọa xứ không cách nhau xa lắm. Sở dĩ bạn thấy còn xa chỉ
vì bạn còn thở được. Hãy nghĩ về điều ấy: không thể
chắc chắn bạn đi đến những địa ngục ấy sang năm tới
hay vào ngày mai. Nếu bạn đi đến những địa ngục ấy thì
bạn sẽ làm gì?
Hiện
tại chúng ta không thể chịu nổi khi thân xác ta bị lửa
đốt hay kim đâm; vậy làm sao chúng ta có thể chịu đựng
nổi nếu sinh vào những địa ngục ấy? Như những tu sĩ phái
Kadam ngay xưa đã nói, hầu như chỉ có một chân của chúng
ta là đứng trong cõi người; chúng ta đã để một chân kia
trên mép nồi đồng ở địa ngục, chúng ta đã tạo nhân
để sinh vào đấy.
Sau
khi sinh vào các đọa xứ thì không thể thoát khỏi nơi ấy
hay tìm một nơi trú ẩn được. Vậy trước khi bị rơi vào
đấy chúng ta phải nỗ lực với thời gian còn lại của ta
trên đời này. Nếu chúng ta không đạt được điều tốt
nhất là Phật quả hay tốt nhì là một hành giả có thành
tựu, thì ít nhất chúng ta cũng cố gắng làm cách nào thoát
khỏi tái sinh vào các đọa xứ bằng cách sám hối tội lỗi
v.v…
b-1.2
Những địa ngục xung quanh.
Bao
quanh phía ngoài những địa ngục nóng như một hàng rào sắt
nóng vây quanh thế giới hệ này, có bốn địa ngục: địa
ngục Hầm lửa, địa ngục Ao thối, địa ngục Dao nhọn và
địa ngục Thác nước không thể vượt qua.
Khi
đến lúc nghiệp ác của chúng sinh ở trong địa ngục nóng
bắt đầu giảm dần; những chúng sinh ấy thoát khỏi những
địa ngục nóng và đi đến những địa ngục xung quanh. Cũng
có những chúng sinh tái sinh ngay vòa những địa ngục ngày.
Khi
một số chúng sinh sẵn sàng để thoát khỏi địa ngục nóng,
chúng nảy ra ý tưởng chạy trốn; chúng đi qua cổng địa
ngục nóng đến địa ngục hầm lửa. Chân của chúng cháy
lên đến gối, và vừa khi kéo chân ra chúng lại lành. Những
ống chân chúng bị đốt cháy như vậy mỗi khi chúng bước
đi; chúng trải qua hàng trăm năm để đi qua hầm lửa ấy,
liên tục bị hành hạ bởi nỗi đau đớn này với hy vọng
thoát khỏi nó.
Sau
đó chúng thoát khỏi hầm lửa nhưng lại gặp Ao Thối. Chúng
ngụp lặn trong đó cho đến cổ và quằn quại; nhiều sâu
bọ có mỏ nhọn như chim rút vào thân thể của chúng để
ăn rồi thoát ra làm cho thân thể chúng lỗ đổ như những
cái rây.
Những
chúng sinh ấy trải qua nhiều trăm ngàn năm để vượt qua
đầm lầy với hy vọng giải thoát. Chúng đạt đến đồng
bằng gồm toàn những mủi dao bén chĩa lên. Chúng phải chịu
đựng nỗi đau đớn khi những mủi dao đâm vào đùi. Cuối
cùng chúng thoát khỏi đồng bằng và đi đến một khu rừng,
ở đấy những cây cối đều có lá như những cái gươm.
Chúng tưởng lầm ấy là những cây thật nên bước đi trên
ấy, và những lá như gươm cắt vào thân thể chúng rồi lành,
rồi lại cắt lại. Như thế đấy là những nỗi khổ chúng
trải qua. Khi những chúng sinh này thoát khỏi khu rừng, thì
chúng gặp thân cây Sala có nhiều lưỡi sắc bén. Chúng nghe
thấy tiếng kêu của những người thân nhất từ trên ngọn
cây, nhưng khi chúng leo lên thì những ngọn dao sắt chĩa xuống
đâm vào thân thể chúng. Chúng lần mò trèo lên trong khi phải
chịu đựng những nỗi đau đớn như vậy. Khi chúng lên đến
ngọn cây, nhưng khi chúng leo lên thì những ngọn dao sắt chĩa
xuống đâm vào thân thể chúng. Chúng lần mò trèo lên đến
ngọn thì bị những con chim hung dữ móc mắt và não chúng
ra ăn. Rồi những tiếng kêu vang lên từ bên dưới và chúng
tuột xuống để bị những mũi sắt nhọn chĩa lên đâm vào
thân thể chúng. Khi chúng xuống tới gốc cây, thì bị chó
và thú dữ ăn thịt từ dưới chân trở lên. Những chúng
sinh này phải trải qua nỗi đau đớn của sự leo lên tụt
xuống như thế cho đến khi hết nghiệp.
Người
ta bảo rằng ba loại tấn công bằng khí giới này phải được
xem như là một trong những Địa Ngục Xung Quanh.
Khi
những chúng sinh thoát khỏi những địa ngục này chúng lại
đến địa ngục Thác Nước Không Thể Vượt Qua. Nước trong
ấy hòa lẫn với lữa đốt nấu cơ thể chúng như nước
sôi luộc chín đậu. Chúng phải trải qua nỗi khổ này tromg
một thời gian dài.
Tất
cả chúng ta đều sẵn sàng bị tái sinh vào địa ngục nóng.
Bởi thế điều quan trọng là phải nỗ lực làm sao để khỏi
bị sinh vào đấy bằng cách thay đổi cách cư xử của chúng
ta.
b-1.3.
Nghĩ về nỗi khổ trong các địa ngục lạnh.
Những
địa ngục lạnh nằm ngang tầm với những địa ngục nóng
và ở về phía Bắc, chính vì vậy mà xứ sở của chúng ta
mới lạnh như thế. Những địa ngục lạnh cách xa nhau về
chiều thẳng đứng hai ngàn do tuần. Bạn có thể tự hỏi:
“Như thế thì những địa ngục lạnh không thể ngang với
địa ngục nóng, vì những địa ngục nóng cách xa nhau chiều
thẳng đứng là bốn ngàn do tuần. “Có thể là bốn ngàn
do tuần giữa mỗi mặt đất của địa ngục nóng. Nhưng mỗi
địa ngục lạnh lại có những núi tuyết cao hai ngàn do tuần,
bởi thế những địa ngục lạnh kỳ thật ngang hàng với
địa ngục nóng.
Nếu
khi sắp chết bạn muốn có những cảm giác mát lạnh trên
thân thể, thì điều này tác động cái nghiệp tái sinh vào
các địa ngục lạnh. Bạn kinh quá cõi Trung ấm như trong một
giấc mộng rồi bạn tái sinh vào địa ngục lạnh giống như
thức dậy. Có những ngọn núi tuyết phủ ở những nơi này
cao nhiều do tuần. Không có mặt trời, mặt trăng, lửa v.v…
trời tối đen đến nỗi bạn không thể thấy được những
chuyển động của cánh tay mình. Mặt đất là một cánh đồng
băng giá, một cơn bảo hoành hành ở trên cao; và ở giữa
là một ngọn gió lạnh buốt. Không có một cách nào để
sưởi ấm - không có lửa, mặt trời, y phục, không gì cả.
Có
tám địa ngục như thế, mỗi địa ngục lại tuần tự lạnh
hơn cái ở trước. Có địa ngục Nứt Nẻ, ở đấy thân
thể của bạn bị nứt ra. Địa ngục kết tiếp càng lạnh
hơn: ở đây những vết nứt tuôn ra máu mủ. Địa ngục kế
tiếp càng lạnh hơn nữa: thân thể cóng lại như đá làm
cho bạn không thể cử động, không nói gì được ngoài ra
hai môi đánh vào nhau kêu “Brr.” Trong địa ngục kế tiếp
bạn cũng không nói được tiếng nào mà chỉ có thể thốt
ra một tiếng yếu ớt từ sau cổ họng. Trong địa ngục kế
tiếp bạn lại không thể làm âm thanh này mà miệng bạn ngậm
chặt, hai hàm răng nghiến lại. Địa ngục kế tiếp lạnh
hơn nữa thì thân thể bạn cứng như một cái thây chết trở
màu xanh và có tiếng nứt nẻ như một hoa sen xanh. Địa ngục
kế tiếp lại càng lạnh hơn, da thịt bạn nẻ ra như những
hoa sen đỏ. Trong địa ngục kết tiếp, thịt bạn nở ra trăm
ngàn đường nẻ như cánh hoa sen. Trong địa ngục Ba Ba và
những địa ngục dưới, những thân thể của chúng sinh nằm
trên ruộng đồng băng giá và những đỉnh núi tuyết phủ
giống như là những cái đinh bằng châu ngọc trang hoàng các
bảo tháp; những thân thể này đông cứng lại đến nỗi
chúng không di chuyển được. Bức thư gởi một môn đệ của
Chandra Gomin nói:
Một
ngọn gió lạnh buốt da
Cắn
vào trong xương của chúng
Run
lên và gập lại
Những
sâu bọ sản phẩm của nghiệp chúng
Rỉa
ăn trên hàng trăm vết nứt cơ thể
Mỡ,
mật và tủy của chúng nhỏ ra.
Nghĩa
là nhiều con ruồi có mỏ độc bu quanh thân thể của chúng
sinh địa ngục để tấn công. Ngay cả những giọt máu rơi
xuống đất cũng còn nối liền với ý thức của chúng sinh
này; chúng đau đớn khi những giọt máu ấy đông lại và
nứt ra. Thêm nữa chúng sanh này trải qua những đau đớn như
đang bị hành hạ bởi những cơn bệnh thời khí.
Bản
Sinh Truyện nói đến nguyên nhân tái sinh vào những địa ngục
này như sau:
Những
kẻ có tà kiến chấp không
Đời
sau sẽ ở trong những nơi này
Đầy
bóng tối và gió lạnh
Chúng
sẽ mắc những bệnh
Ăn
mòn đến xương tủy;
Vậy
tà kiến như thế có ích gì?
Nói
cách khác, nguyên nhân là ôm giữ tà kiến chấp không, chẳng
hạn cho rằng luật nhân quả không thật có.
Chúng
ta đã tích lũy nhìêu nguyên nhân để sinh vào những ngục
ấy và cho đến bây giờ chúng vẫn chưa giảm bớt. Những
nhân ấy là ăn trộm quần áo của người khác, lột những
tấm y đắp ngoài các pho tượng, hay ném những chúng sinh như
rận rệp vào chỗ băng giá.
Thọ
mạng của những chúng sinh trong địa ngục nóng là như sau.
Mặc dù tác phẩm của Vô Trước nói rằng những hữu tình
này có thọ mạng bằng nửa thọ mạng chúng sinh ở địa
ngục nóng. Thế Thân lại nói:
Khi
làm cho trống không một thùng mè
Bằng
cách lấy ra từng hột
Cách
khoảng một trăm năm
Đấy
là thọ mạng của
Chúng
sinh trong địa ngục này.
Những
địa ngục ở dưới mỗi tầng tăng lên gấp 21 lần.
Nói
khác đi, thọ mạng ở đây dài bằng số lượng tất cả
những hột mè ấy họp lại, mỗi hột kể như một trăm năm.
Một phần tám mươi giạ mè (một giạ là 36 lít) có 15.000
hột mè. Bởi thế sẽ cần một số năm bằng 9,6 x10 lũy thừa
9, để làm trống cái thùng mè. Đây là thọ mạng chúng sinh
trong địa ngục lạnh đầu tiên. Trong những địa ngục dưới
đó thọ mạng tăng lên 21 lần ở mỗi địa ngục.
b-1.4.Nghĩ
về những nỗi khổ trong các địa ngục cõi người
Những
địa ngục này ở trên bờ biển, vân vân. Một lần một
vài thương gia mời bậc thánh tăng Sangharakshita cùng đi đến
một hòn đảo. Ngài đi chậm lại sau rốt đoàn người và
đi đến bờ biển ở đấy có một ngôi chùa đẹp. Năm trăm
tu sĩ ở đấy mời ngài vào. Buổi trưa họ gây gỗ nhau, nhưng
sau đó mọi sự trở lại bình thường. Ngài hỏi nguyên nhân
và biết đấy là do trong đời quá khứ, vào thời pháp Ca
Diếp, họ không thân thiện với nhau và thường đánh lộn.
Vị thánh tăng cũng trông thấy những chúng sinh hình thù giống
bức tường, cột nhà, cái chày, sợi thừng, cái chổi, ông
nước, cái chảo nấu ăn. Về sau khi trở về ngài đã hỏi
Phật Thích Ca về chuyện này. Chúng ta đã nghe Phật trả lời
nguyên nhân chúng sinh giống cái cột nhà ở trong chương bàn
đến những nghi lễ chuẩn bị (Ngày Thứ Bốn, trang…). Chúng
sinh giống cái chày đã từng làm một vị tăng vào thời Phật
Ca Diếp, ông nổi nóng bảo một chú tiểu: “Ngươi phải
bị giã ra bằng một cái chày mới được.” Do lời mắng
nhiếc này, hậu quả ông bị hy sinh làm chúng sinh cớ hình
thù ấy.
Kyabje
Pabongka Rinpoche kể lại, những chúng sinh ấy đã kinh quá những
điều từ thời Phật Ca Diếp cho đến hiện tại.
Ngày
xưa có một thuyền trưởng tên Kotikarna sinh ra đã có một
đôi hoa tai với viên ngọc trị giá mười triệu đồng vàng.
Ông đã dong thuyền đi rát xa để kiếm châu báu. Ông nằm
ngủ quên bên bờ biển nên những thương gia khác tiếp tục
cuộc hành trình không có ông. Khi thức dậy, ông thấy một
ngọn gió mạnh đã xóa mất con đường, và ngay cả con lừa
chở hành lý cho ông cũng không thể đánh hơi được lối
đi. Ông lang thang khắp nơi không tìm được lối. Có một
cái nhà trông như lâu đài trong đó có một người đàn ông
được vây quanh bằng bốn thần nữ. Người thuyền trưởng
thấy về đem người ấy hưởng hạnh phúc như thần tiên,
nhưng ban ngày thì gian nhà lại biến thành sắt nóng rực lửa,
những phụ nữ biến thành bốn con chó nâu. Người đàn ông
té úp mặt xuống đất và những con chó ăn ngoặm từng miếng
thịt của y. rồi khi đêm về, mọi sự trở lại như đêm
trước. Ông hỏi người đàn ông nguyên nhân gì mà ra như
vậy. Người ấy trả lời ngày xưa y là một người đồ
tể trong thành Sthirà, nhưng theo lời khuyên của thánh tăng
Kàtyàyana ông đã phát nguyện không giết về đêm. Ông đã
không thể giữ giới ấy vào ban ngày, cho nên hậu quả là
như vậy. Y nói rằng y có hai con trai ở Sthirà cũng là một
đồ tể, và yêu cầu Kotikarna nhắn tin về cho con như sau:
“Con đừng giết hại nữa; khi con cúng dường cho ngài Kàtyàyana
đến khất thực, thì con nên hồi hướng công đức cho cha.”
Để làm bằng chứng, người ấy nói với Kotikarna rằng y
có chôn một hủ vàng tại chỗ cất những cây gươm, trong
nhà người con.
Kotikarna
tiếp tục đi tới thì thấy một ngôi nhà đẹp trong đó có
một nam hai nữ tuyệt đẹp đang hưởng tuyệt đỉnh của
hạnh phúc. Nhưng về đêm thì hoàn toàn ngược lại: hai phụ
nữ biến thành rắn ăn thịt người đàn ông từ trên đầu
trở xuống. Kotikarna hỏi người ấy tại sao như vậy thì
được trả lời rằng khi làm một người đàn bà la môn ở
thành Sthirà y thường ngoại tình, nhưng y phát nguyện với
Katyàyana sẽ không làm chuyện ấy ban ngày. Đây là hậu quả.
Ròi y nhờ Kotikarna đem tin về cho còn trai ở Sthirà. Để làm
chứng, y bảo Kotikarna rằng y đã giấu một hủ vàng dưới
cái lò sưởi.
Rồi
thuyền trưởng tiến lên và trông thấy một cái ngai có bốn
chân, chân có một ngạ quỷ đỡ…
(Và
Kyabje Pabongka Rinpoche kể phần cuối câu chuyện.)
Đây
là vài địa ngục trên nhân gian. Một lần ở Ấn Độ, khi
thượng tọa Shrìmàn đi có việc, ngài trông thấy hình dạng
một tòa nhà đẹp trên nền trời; nhà ấy rực lửa và trong
ấy có một người kiếp trước làm đồ tể. Người tớ
của y đang ở trong một ngọn núi đầy xương, phải chịu
nhiều đau đớn.
Có
câu chuyện về một người thiến súc vật bị tái sinh một
thân thể lớn như núi. Đây là nghiệp báo trầm trọng của
y.
Chúng
ta đã tích lũy nhiều loại nghiệp, mà hậu quả chắc chắn
là ta sẽ gặp những cảnh tương tự. Ta có thể thề rằng
những chuyện ấy sẽ xảy đến cho chúng ta.
Một
hành giả vĩ đại có hôm trông thấy một con cá trong hồ
Yardrog. Con cá ấy chính là tái sinh của Tan Lama ở tỉnh Tsang.
Khi còn sống, ông thường ăn nhiều thứ người ta cúng dường.
Thân cá bằng nửa chu vi cái hồ và đang bị nhiều sinh vật
ăn bám rỉa xác nó. Vị hành giả chỉ con cá cho những người
đứng xung quanh mà bảo: “Đừng ăn của cúng dường. Đừng
ăn của cúng dường.” Chúng ta ăn của cúng dường vì chúng
ta là tu sĩ. Người ta bảo những con công có thể ăn độc
dược (mà không chết.) Vậy nếu ta tu tập Pháp và biết cách
ăn của cúng dường, ta có thể ăn mà không bị những quả
báo như vậy. Nhưng không nên cứ thản nhiên mà ăn của cúng
dường chỉ vì mình đã thụ giới. Luật nói:
Thà
ăn hoàn sắt nóng;
Người
giới hạnh lỏng lẻo
Không
có sự tự chế
Đừng
ăn của cúng dường.
Nghĩa
là khi những người không giới đức ăn của cúng dường
của tín thí, thì cũng giống như đang nuốt sắt nung đỏ.
Nhưng những người giữ giới và nỗ lực tu học, trừ diệt
vọng tưởng, thì có thể ăn đồ cúng dường. Nếu bạn không
nỗ lực theo hướng ấy, thì ăn của cúng dưòng cũng giống
như mắc nợ. Thật quá dễ dàng để bỏ vào túi những thứ
người ta cúng, nhưng sẽ có lúc cam go trong đời sau khi bạn
phải trả nợ bằng cả xương thịt mình. Ngay cả những bậc
thầy tu khi được yêu cầu tụng kinh cho người nào, nếu
họ chỉ ghi một biên nhận tiền rồi không tụng kinh để
hồi hướng, thì chắc chắn họ sẽ phải trả lại món nợ
bằng xương thịt trong đời sau.
Có
câu chuyện như sau: Một con ếch lớn được tìm thấy trong
một hốc đá, đang bị những sinh vật nhỏ rỉa ăn. Một
hôm một vị lama bảo thị giả đưa ông xem cái gì đang bị
cuống trôi theo dòng nước hôm ấy. Thì ra đó là một thân
cây, và khi gỡ cái vỏ cây ra họ tìm thấy một con ếch lớn
đang bị nhiều sinh vật nhỏ ăn thịt. Người ta bảo con vật
đầu tiên là một vị lama đã ăn của cúng dường và con
sau là thị giả chính của một ông lama.
Chính
Thầy tôi, hiện thân của Kim Cương Trì, đã bảo tôi rằng
khi ngài đến tỉnh Kham có một con thú lớn giống như cái
lều bằng lông trâu yak ở hồ Doshul. Con vật này thường
chìm dưới đáy hồ vào mùa hạ, nhưng về đông, khi hồ đóng
băng giá, thì nó trồi lưng lên mặt hồ và nhiều chim chóc
và sinh vật khác tới ăn thịt nó.
Đấy
là những địa ngục mà chúng ta đã tự tác tự thọ, và
chúng ta vẫn đang tạo vô số nguyên nhân cho những tái sinh
như vậy. Bởi thế ta phải suy nghĩ kỹ về việc mình có
thể phải chịu những đau khổ ấy.
b-2.
Nghĩ về những thống khổ của ngạ quỷ.
Lời
Đức Văn Thù bàn đến súc sinh trước. Ngạ quỷ có trí tuệ
hơn súc sinh, có khả năng hiểu biết. Nếu ta giảng pháp cho
quỷ đói, chúng có thể hiểu được. Súc sinh thì ngu si, đấy
là một tái sinh thấp kém và là một chướng ngại lớn cho
việc tu tập hơn loài ngạ quỷ. Bởi thế, những đau khổ
của súc sinh được nói trước. Tuy nhiên, Con Đường Nhanh
lại để ngạ quỷ trước, vì nói chung ngạ quỷ khổ hơn
súc sinh.
b-2.1.
Nghĩ đến những thống khổ chung của quỷ đói dưới sáu
ngục nóng, lạnh, đói khát, kiệt sức và sợ hãi.
Hãy
nghĩ như sau: “Bây giờ tôi chưa sinh vào địa ngục, nhưng
nếu làm ngạ quỷ tôi sẽ bị hành hạ bởi những đau khổ
không thể chịu nổi - đói, khát, nóng, lạnh, kiệt sức và
sợ hãi - làm cho tôi không nhớ gì đến chuyện tu tập. Tôi
chưa tái sinh và đó là nhờ lòng tử tế của chư vị tôn
sư. Tôi thực đã có phúc lớn biết bao mới có thể thiền
quán về Pháp Lam-rim, mặc dù rất hời hợt. Thây may mắn
xiết bao!” Nhưng chúng ta đã tích lũy trong dòng tâm thức
của mình nhiều nghiệp sẽ ném chúng ta vào những tái sinh
như thế, những nghiệp ấy vẫn còn mạnh, không thối giảm.
Chúng ta biết mình không thể nào tịnh hóa được tất cả
ác nghiệp trước khi chết.
Khi
sắp chết ta có thể cảm thấy chán ngán đồ ăn thức uống,
nghĩ “Mong tôi đừng bao giờ nghe đến danh từ thức ăn nữa.
“Điều ấy sẽ châm ngòi cho cái nghiệp tái sinh vào loài
ngạ quỷ do tham hay sân. Bạn không thể chắc chắn mình sẽ
không tái sinh vào ngạ quỷ; kỳ thực, thường là bạn dễ
sinh làm một quỷ đói.
Chỗ
tái sinh của loài quỷ đói là Kapilanagara, đô thị của quỷ
đói nằm dưới mặt đất cách 500 do tuần. Nơi ấy tuyệt
đối không có cây cỏ và nước uống; toàn thể mặt đất
hoang vu như bị lửa mặt trời thiêu đốt. Thân thể tay chân
của loài quỷ đói cực kỳ xấu xí. Tóc chúng bện lại trên
những cái đầu khổng lồ, những nét mặt nhăn nhúm, cổ
của chúng hết sức nhỏ không thể đỡ lấy cái đầu. Chúng
có những thân thể khổng lồ và một số chân tay so le gầy
như những cọm rơm không chống đỡ nổi thân hình. Chúng
bước đi một cách khó nhọc trăm lần hơn những người già
ở cõi người chúng ta. Trong nhiều năm chúng không tìm được
cái gì để uống, bởi thế trong cơ thể chúng nó tuyệt đối
không có một chút nước, không có máu đỏ máu trắng vân
vân. Những bắp thịt và sợi gân của chúng được gói trong
làn da khô cằn trông như một que củi khô bọc trong da thuộc
màu nâu. Khi chúng di chuyển thì những khớp tay chân kêu răng
rắc như củi khô hay như hai cục đá gõ vào nhau. Những khớp
xương chúng tóe ra những tàn lửa vì ngạ quỷ đã không có
gì để ăn uống trong hàng trăm ngàn năm nên chúng vô cùng
đau khổ. Lại nữa, không có một nơi nào mà chúng không đến
để tìm cầu thức ăn uống. Vì không cần biết đến những
nhu cầu của thân xác trong cuộc lữ ấy nên chúng kiệt sức.
Chúng rất kinh hoàng khi thấy chúa tể của đô thị quỷ đói
vì sợ chết. Trong hơi nóng mùa hè, ánh trăng sáng cũng đủ
đốt cháy chúng, và vào mùa đông thì ánh mặt trời cũng
làm cho chúng rét lạnh, bởi vậy chúng đau đớn vô cùng.
b-2.2.
Nghĩ về nỗi khổ của riêng tưng loài quỷ đói.
Có
ba phần.
b-2.2.1.
Loài ma quỷ mê ngoại cảnh.
Loài
quỷ đói này trông thấy cây, nước … đều đầy những
trái chín, chúng mệt mỏi lê bước theo những đoạn đường
dài để đến đấy, nhưng khi đến nơi thì những vật ấy
đều biến mất. Khi một vài quỷ đói đến được những
nơi có thức ăn thì lại có những người vũ trang canh giữ
không cho chúng ăn. Bởi thế, ngoài nỗi khổ đói khát, chúng
còn bị khổ không thể tả vì thể xác kiệt sức và tâm
hồn tuyệt vọng.
b-2.2.2.
Loài quỷ đói bị ám ảnh nội tâm
Loài
quỷ này thỉnh thoảng được thức ăn nhưng không cho vào
miệng được. Cổ chúng có những gút mắc làm cho sự nuốt
thức ăn rất khó khăn. Một vài ngạ quỷ phải uống tạm
chất mủ hôi thối từ nơi những cái bướu của chúng. Như
câu chuyện về Kotikarna đã nói, thức ăn mà chúng ăn mang
hình dạng của những nghiệp khác nhau mà chúng đã tích lũy:
những hoàn sắt nung đỏ, những hạt trấu, mủ hay máu thịt
của chính mình, vân vân; những quỷ đói này phải chịu đựng
những nghiệp báo không thể chịu nổi. Thứ ăn uống có thể
lọt xuống cổ một vài quỷ đói nhưng liền biến thành sắt
sôi khi đến bao tử, nên chẳng những không đỡ khát mà còn
làm cho đau đớn vô cùng. Lại có một loại quỷ đói không
bị như vậy, nhưng bụng chúng lại quá lớn không thức ăn
nào làm cho đầy được. Từng tờ lửa ngọn - lửa của cơn
đói - tuôn ra từ miệng của những quỷ đói này; lửa ma
trơi chính là lửa từ miệng của những quỷ đói.
b-2.2.3.
Loài quỷ có những gút mắc làm chướng ngại.
Một
hôm khi ngài Anan đi có việc đã trông thấy một nữ ngạ
quỷ. Bà ta có 3 gút nơi cổ và la lên 5 thứ âm thanh ghê rợn.
Ngạ quỷ này có một dọc 3 cục bướu nơi cổ, làm cho chúng
vô cùng đau đớn.
Long
Thụ nói:
Loài
qủy đói hoàn toàn thiếu thốn
Những
vật dụng chúng khát khao.
Do
đó chúng luôn luôn đau khổ
Lại
thêm đói khát nóng lạnh mệt và sợ
Không
thể chịu nổi.
Có
loài quỷ miệng nhỏ như lỗ kim
Mà
bụng thì to bằng quả núi.
Chúng
điêu đứng vì đói
Nhưng
không thể tiêu hóa dù chỉ một chút đồ dơ.
Một
vài quỷ trần truồng chỉ còn da bọc xương.
Chúng
gầy guộc như cây dương liễu.
Một
vài quỷ có bộ phận sinh dục và miệng tuôn ra lửa
Thức
ăn bỏ vào miệng liền cháy tiêu
Phần
đông ngay cả đồ dơ cũng không có mà ăn
- như
máu mủ phân và tiểu.
Khi
những quỷ đói này gặp nhau
Chúng
xin nhau để ăn thứ mủ thối
Nơi
yết hầu của chúng.
Trong
hai tháng nóng nhất mùa hè
Cả
đến ánh trăng cũng nóng đối với chúng
Về
mùa đông mặt trời đối với chúng cũng giá lạnh.
Cây
cối trở nên khô cằn không kết quả,
Chúng
đành phải nhìn những con sông
Làm
cho sông khô cạn.
Thư
gửi một đệ tử của Chandragomin nói:
Chúng
rất khát nước, nên khi trông thấy
Ở
đằng xa có dòng nước trong
Chúng
mong mỏi đến uống
Nhưng
khi chúng vừa đến
Thừi
nước lẫn với tóc rụng,
Rong
rêu và mủ thối
Nước
đầy máu mủ và phân.
Một
ngọn gió quật sóng lên
Bọt
nước lạnh như núi băng giá
Khi
chúng đến rừng chiên đàn ở Malabar
Chiền
đàn biến ra gỗ cháy
Nhiều
mảnh rực lửa rớt xuống mặt đất.
Khi
chúng đến một cái hồ,
Những
đợt sóng kinh hồn với bọt tung lên tột đỉnh;
Thì
nước bỗng trở thành những bãi cát sa mạc,
Một
nơi hành khổ với những cơn bão cát mịt mù
Bị
cơn gió lốc nóng dữ dội thổi tung.
Khi
những cụm mây bão nhóm lại trên đầu chúng
Thì
lại mưa cho chúng những mũi tên sắt.
Và
những tên ấy cứ cắm tại chỗ.
Những
viên đá lửa và những làn chớp màu cam,
Tuôn
như mưa xuống thân thể chúng.
Trong
khi chúng bị cơn nóng hoành hành
Thì
đá lạnh đối với chúng cũng quá nóng
Khi
chúng bị điêu đứng vì gió rét
Thì
đến lửa cũng làm chúng rét lạnh.
Những
quả báo của nghiệp khó kham nổi khi đã chín.
Hoàn
toàn làm cho chúng mù lòa,
Chúng
bị những cơn ám ảnh đủ loại, hoàn toàn sai lạc.
Miệng
chúng nhỏ như lỗ kim
Bụng
chúng khổng lồ chu vi nhiều do tuần.
Khi
những chúng sinh tội nghiệp này
Muốn
uống nước trong bốn biển lớn
Nước
không thể lọt xuống cổ họng chúng:
Những
lỗ miệng độc của chúng
Sẽ
làm nước bốc hơi cho đến giọt cuối cùng.
Chúng
ta không thể chắc chắn năm tới ta sẽ không rơi vào loài
quỷ đói. Nguyên nhân cho một tái sinh như thế là không rộng
lượng, nghĩa là keo kiệt với sở hữu của mình, lòng tham
không đáy, đắm mê tài sản, ngăn cản người khác bố thí,
ăn trộm của người, trộm của tăng chúng (xem Ngày Thứ Tư,
trang…); phỉ báng việc bố thí, vân vân. Một nguyên nhân
khác là gọi người ta là “đồ quỷ đói;” chẳng hạn
nếu bạn gọi một thành phần của tăng chúng bằng danh từ
ấy, bạn sẽ bị tái sinh làm quỷ đói năm trăm lần.
Khi
một ngạ quỷ thuộc hạng cổ bị thắt gút nhận được
giọt nước nào thì đấy là nhờ trong quá khứ nó đã không
hà tiện khi cho nước; còn những quỷ đói khác thì không
có cái may mắn để hưởng chút nước nào.
Buddhjnàna
đi đến cõi ngạ quỷ. Có một bà quỷ hết sức đói có
năm trăm đứa có đã nhờ ngài đem tin cho chồng ở cõi người
khi ngài trở về. Bà nói: Mươi hai năm trước chồng con ra
đi tìm thức ăn, và con đã sinh ra năm trăm đứa con. Con đã
trải qua nhiều cực nhọc đau khổ mà không kiếm được một
giọt nước nào. Xin thánh giả bảo chồng của con tìm được
cái gì ở cõi người thì mau mau trở lại. “Bậc thánh bảo:
“Ở trong cõi người có nhiều ngạ quỷ, làm sao ta biết
ai là chồng của ngươi?”- “Ông ấy có một vài đặc điểm
khăc hẳn các quỷ đói khác, đó là một mắt chột và một
chân què.”
Khi
bậc thánh giả về lại cõi người, ngài trông thấy một
vài quỷ đói, có một quỷ giống với sự mô tả trên, ngài
cho y biết tin của bà quỷ. Quỷ đói trả lời: “Con đã
đi thật xa, nhưng trong mười hai năm nay con chỉ được có
cái này.” Y đang nắm chặt một nắm đờm khô, đó là tài
sản quý nhất của y. “Một tu sĩ giữ giới khạc một bãi
đờm rồi hồi hướng cho loài quỷ đói. Nhiều con quỷ tranh
nhau lượm, và con đã thắng cuộc.”
Nếu
không cẩn thận, thì chúng ta không thể biết chắc mình sẽ
không có lúc phải ăn trưa bằng đờm khô.
Hai
mươi lăm năm sau khi bà mẹ của chú sa di Uttara chết, chú
thấy một ngạ quỷ rất dễ sợ. Chú sắp chạy trốn nhưng
quỷ nói: “Đừng chạy!” Chú hỏi thì quỷ nói:
Này
con trai độc nhất của ta
Ta
là mẹ yêu quý của con
Do
nghiệp ác ta đã làm
Ta
tái sinh làm quỷ đói
Không
có thức uống ăn.
Hai
mươi lăm năm đã qua
Từ
cái ngày ta chết
Ta
không thấy một giọt nước
Không
thấy một miếng ăn.
Chú
sa di xin Phật hồi hướng công đức cầu nguyện cho bà. Đức
Phật dùng phương tiện khéo, khi chết quỷ tái sinh làm quỷ
Mahidhikà hết sức giàu có, nhưng thói hà tiện nó gấp sáu
mươi lần trước, và nó nhất định không bố thí. Chú tiểu
năn nỉ nó cúng Phật một cuộn vải, nhưng cúng xong nó tiếc
và ăn trộm lại. Theo chuyện kể thì việc này xảy ra nhiều
lần.
(Kyabje
Pabongka Rinpoche kể chuyện một tỳ kheo có một tấm y đẹp.
Ông quá yêu mến nó tới nỗi sau khi chết đã tái sinh làm
một ngạ quỷ đắp y vàng.)
Ngày
nay những người hà tiện được khen là “khôn ngoan,” nhưng
đặc biệt thói hà tiện là một nguyên nhân để tái sinh
làm ngạ quỷ. Chúng ta hành xử một cách hà tiện. Nếu điều
chắc chắn là ta sẽ tái sinh làm quỷ đói sang năm, hay nhiều
nhất là bốn mươi năm sau, nếu chúng ta không vào địa ngục.
b-3.
Nghĩ vễ những nỗi khổ của loài súc sinh.
Có
hai giai đoạn: (1) nghĩ về nỗi khổ chung của loài súc sinh;
(2) nghĩ về nỗi khổ đặc biệt của từng loài súc sinh.
b-3.1.
Nghĩ về nỗi khổ súc sinh nói chung.
Súc
sinh trải qua 5 khổ: ăn thịt lẫn nhau, ngu si ám chướng, nóng
lạnh đói khát, bị khai thác hoặc sai làm việc nặng.
Nỗi
khổ súc sinh nhẹ nhất rong 3 đọa xứ, nhưng tái sinh và đấy
thì có nỗi khổ ăn thịt lẫn nhau. Những thú vật có thân
thể khổng lồ như loài thủy quái v.v… thân thể dài nhiều
do tuần. Nhiều thủy quái thuộc loài cá, những thủy quái
khác làm cá voi có thể nuốt chúng và ngay những cá voi lớn
cũng nuốt những cá bé. Nhiều sinh vật nhờ cư trú trong thân
thể của những thủy quái để ăn thịt. Đến khi chúng không
thể chịu dựng được nữa, chúng cọ xát thân thể mình
vào những tảng đá dưới nước làm cho những sinh vật ăn
bám vào cơ thể chúng phải chết, và đại dương bị nhuộm
đỏ nhiều do tuần.
Những
sinh vật lớn nuốt những sinh vật bé trong khi những sinh vật
nhỏ bé ăn rỉa những sinh vật lớn. Những thú vật ở đại
dương chồng chất lên nhau và bị ăn thịt từ sau lưng. Những
chúng sinh tái sinh dưới đáy biển sâu, giữa các lục địa,
không nhận ra nhau, mẹ không nhìn ra con và ngược lại, chúng
ăn bất cứ gì rơi vào mồm và bởi thế chúng sống nhờ
ăn nuốt lẫn nhau.
Ngay
cả những loài vật trong cõi người cũng ăn lẫn nhau: Diều
hâu ăn chim, chim ăn sâu bọ, những con thú mồi và thú rừng
ăn lẫn nhau, chó săn băt những con vật để giết, v.v…
Bạn
không nên nhìn tất cả cảnh khổ này như thể nó đang xảy
ra ở đằng xa mà phải thiền quán sâu xa và nghĩ rằng mình
sẽ khốn đốn như thế nào nếu phải tái sinh làm một hữu
tình như vậy.
Loài
súc sinh thì u mê ám chướng chúng không biết mình đang bị
dẫn đến lò sát sinh hay đến nơi ăn cỏ, chứ khoan nói biết
chuyện gì khác. Chúng chịu khổ vì lạnh và nóng; mùa hè
chúng bị mặt trời thiêu đốt, mùa đông chúng phải chết
vì giá lạnh, v.v…
(Khi
ấy Kyabje Kapongka Rinpoche kể cho chúng tôi nghe thêm về những
nỗi khổ không thể tưởng tượng của loài súc sinh.)
Một
lần có vị Lạt ma nhặt lên một con sâu dài màu đỏ cầm
trong tay và hỏi nó: “Có phải ngươi là một tỳ kheo ở
Khampa không?” Nó đáp “phải” bằng tiếng người. Chúng
ta không thể chắc chắn mình có bị sanh làm con sâu hay không.
Có câu chuyện như sau. Người cha của nông nông dân theo đạo
Bon chết và Milarepa tiên đoán với một người khác ở trong
thung lũng rằng người cha ấy sẽ tái sinh trong một đống
phân. Chúng ta có thể ngạc nhiên: “Làm sao một tái sinh như
thế lại có thẻ xảy đến cho ta!”. Nhưng kỳ thật chuyện
ấy có thể xảy đến một giờ sau. Khi chúng ta tái sinh làm
sâu bọ chúng ta phải sống quằn quại dưới đất cho đến
khi một cái lỗ được đào lên, và chúng ta có thể bị chim
ăn. Nhưng ngay dù chúng ta ăn một phần nửa thân ta, chúng
ta vẫn không thể chết: phần dưới vẫn tiếp tục ngo ngoe.
Làm sao chúng ta chắc chắn được mình không phải sống như
vậy! Ngay dù chúng ta làm một việc gì khác, chúng ta cũng
phải nỗ lực để đề phòng tái sinh vào một tình trạng
đau khổ như thế.
Lại
nữa phần nhiều súc sinh có hình thù và màu sắc xấu xí.
Có thứ hình tròn không có tay chân gì cả. Chúng cũng bị
đói khát và suốt ngày chỉ lo kiếm ăn và khổ sở vì không
tìm được thứ gì.
Ngay
bây giờ chúng ta không chịu nổi nếu ai gọi mình là “con
chó già” nhưng ta sẽ ra sao nếu phải thật sự tái sinh như
thế? Hãy nhìn thức ăn uống và chỗ ngủ của chó có được.
Nơi duy nhất mà chó có thể tìm được thức ăn là ở trong
nhà người, nhưng khi chúng vừa đi vào, người ta đã nói:
“Kìa, con chó đi vào!” và xua đuổi chúng không một cách
vô cớ. Do nhân duyên gì mà ra như thế nếu không phải là
do ác nghiệp? Trong vài ngôi chùa, những con chó rú lên khi
còi hụ để tập họp tăng chúng. Đây là một dấu hiệu
chứng tỏ vài thầy tu đã bị tái sinh làm chó.
Có
lần một vị Lạt ma ở Dagpro nhận được bơ và thịt của
thí chủ gởi cho một người khác, nhưng ông ta không đưa
lại. Khi chết ông bị tái sinh làm con trâu cái thường cho
nhiều sữa trong gia đình của thí chủ đã cúng bơ. Về sau
con trâu bị rớt xuống vực thẳm và dòng sông mang xác nó
đi. Vị thí chủ đã cúng thịt nhặt được xác con trâu.
Khi ông ta ăn thịt con trâu ấy, ông ta đã khám phá ra dòng
chữ khắc trên một xương sườn của nó rằng “Tôi dã trả
nợ thịt cho thí chủ X và trả nợ bơ cho thí chủ Y.”
Những
vị Lạt ma, những chức sự trong tu viện, những tu sĩ học
giả, v.v… có thể hưởng quy chế đặc biệt trong các tu
viện, nhưng định luật nhân quả tuyệt đói không đặc biệt
cho riêng ai. Nếu bây giờ tga không cẩn thận, thì chuyện
dễ dàng xảy ra là một gia chủ có thể đổi địa vị với
con lừa hay con chó giữ nhà của ông ta. Có câu chuyện về
một tu sĩ thường hiến cúng súc vật cho một tượng thần
tà giáo ở sau nhà của ông ta mỗi khi gặp vận xui; sau đó
ông ta lại làm ăn rất khá giả. Vì khi chết cha ông ta dã
trối rằng: “Hãy cúng tế nhiều súc vật.” Người cha về
sau tái sinh làm một con trâu đực còn người con lại làm
thịt con trâu ấy để làm lễ cúng tế gồm 6 thành phần.
Lại còn câu chuyện về một tú sĩ tái sinh làm con cá ở
trong hồ đằng sau nhà của ông ta. Chúng ta không thể đoạn
chắc việc ấy sẽ không xảy đến cho chính mình.
Nỗi
khổ bị khai thác là như sau. Lấy ví dụ một con lừa. Nó
bị sai mang những gánh nặng dù khi lưng của nó đầy những
mụt nhọt. Khi gần chết, nó bị vứt bỏ và hết trong khi
những con quạ đến móc mắt ngay khi nói chưa ngưng thở.
Chúng
ta phải nghĩ về những việc này để khai triển tuệ giác
thấy rõ sự vô cùng khổ sở phải bị một tái sinh như vậy.
b-3.2.
Những nỗi khổ riêng của vài loại súc sinh.
Có
hai mục: (1) những đau khổ của súc sinh sống trong những
môi trường chật hẹp; (2) nỗi khổ của súc sinh sống tản
mác.
b-3.3.
Nghĩ vè nỗi khổ của con vật sống phân tán.
Đây
là những con vật trong cõi người, và chúng có vô lượng
cách chịu khổ.
Chúng
ta có tất cả những nguyên nhân đầy đủ có thể tái sinh
làm những loài ấy; những nguyên nhân ấy vừa mạnh lại
vừa nhiều. Nguyên nhân mạnh nhất là bất kính đối với
Pháp và người giảng pháp, những người độc thân gọi nhau
là những con thú. Điều này được chứng mình bằng những
câu chuyện về Manavagaura (xem Ngày Thứ Tư). Một lần tại
Ấn Độ có một người làm thí chủ cho tăng chúng an cư mùa
mưa nhưng chỉ cho toàn thực phẩm xấu. Về sau y tái sinh làm
một con dòi ở trong đống bùn hôi có đầu như thầy tu, và
chịu nhiều đau khổ. Một lần có người bảo một tỳ kheo
nào đó giống như con khỉ; do lời nói ấy y phải tái sinh
500 lần làm khỉ. Những chuyện này rút từ trong kinh.
Những
tội lỗi lớn lao đưa ta tái sinh xuống địa ngục; tội trung
bình làm quỷ đói; và tội nhẹ thì làm súc sinh. Nặng hay
nhẹ tùy thuộc vào ý định, vào ruộng phước hoặc vào sự
vật gây tội. Khi nói “tội nặng “ thì không có nghĩa là
những tội nặng rõ rệt như giết một con người. Chúng ta
sẽ biến mất vào các đọa xứ chỉ vì cái nghiệp nói đùa
hay xúc phạm người khác. Chúng ta chỉ bảo đảm không tái
sinh vào đọa xứ khi đã đạt đến gia đoạn “nhẫn” trong
đạo lộ chuẩn bị. Kho Tàng Siêu Vật Lý nói:
Ai
sẽ che chở tôi
Khỏi
những kinh hoàng này
Với
đôi mắt trợn dọc
Tới
dò khắp bốn hướng
Tìm
một nơi trú ẩn
Nhưng
khi không tìm được
Nơi
nào trong bốn phương
Tôi
hoàn toàn tuyệt vọng.
Nếu
không nơi trú ẩn
Tôi
sẽ làm gì đây?
Nếu
quan sát kỹ bạn sẽ thấy cõi súc sinh là tốt nhất trong
ba đọa xứ; nhưng súc sinh không thể nào tụng dù chỉ một
lần câu om mani padme hum. Chúng rất dễ có những si mê và
ba độc tố nên dễ quy tụ ác nghiệp mới và luân hồi từ
đọa xứ này đến đọa xứ thấp hơn. Hành Bồ Tát Hạnh
cũng nói:
Nếu
tôi không làm việc lành
Trong
khi tôi may mắn còn có thể làm được,
Thì
tôi sẽ làm gì khi hoàn toàn bị mù mịt
Vì
những đau khổ ở đọa xứ?
Nếu
tôi không làm phước hành
Mà
lại tích lũy tội lỗi và ác hành
Thì
trong hàng tỷ kiếp
Tôi
sẽ không nghe đến danh từ “thượng giới.”
Nói
cách khác, nếu ta không nỗ lực đạt đến một chỗ nương
tựa hay phương pháp thoát khỏi đọa xứ trong những đời
sau trước khi chết, thì sẽ quá muộn khi ta thật sự bị
rơi vào đó.
Giữa
chúng ta và 3 đọa xứ chỉ cách nhau cái sự kiện rằng chúng
ta chưa ngưng thở. Trong một thời gian ngắn - cuối năm hoặc
vài năm sau - một vài người trong chúng ta có thể tái sinh
vào địa ngục và thân thể chúng ta khi ấy không khác gì
lửa địa ngục. Một số khác có thể tái sinh làm ngạ quỷ
không tìm được một giọt nước uống, một chút thức ăn.
Một số khác sẽ tái sinh làm súc sinh mang lông đội sừng.
Chúng ta không thể chắc chắn mình sẽ không rơi vào những
tái sinh ấy; điều ấy cũng dễ dàng như tỉnh dậy từ một
giấc chiêm bao.
Khi
nhớ đến những điều này chúng ta không nên nghĩ như đấy
là những câu chuyện xảy ra ở rất xa hay chỉ là những việc
gọi tò mò. Điều cần thiết là phải có tuệ quán đi sâu
vào những gì sẽ xảy ra nếu bị tái sinh vào đọa xứ và
chắn chắn rằng sau khi chết chúng ta có thể đọa vào đấy.
Giả sử chúng ta xem cảnh nhiều tội nhân đang bị trừng
phạt do lệnh của vua; và bỗng chốc ta cũng bị tóm bắt
dẫn ra khỏi đám đông khán giả, và phải chịu những hình
phạt như các phạm nhân trước mắt. Cũng vậy, bây giờ chúng
ta thấy rằng rất nhiều hữu tình đang chịu đựng đau khổ
trong một vài nơi gọi là “đọa xứ,” và chúng ta vẫn
tiếp tục nhìn xem với vẻ tò mò. Khi thấy một người đồ
tể dẫn đàn cừu đến nơi làm thịt, hãy tưởng tượng
nỗi đau đớn sợ hãi mà chúng ta sẽ kinh quá nếu thình lình
rơi vào tình cảnh ấy, hay hóa thành một con cừu đang bị
đồ tể dẫn đi và thật sự càm thấy gươm của y đang cắt
vào giữa những xương sườn mình. Chúng ta phải có được
thứ tuệ quán như vậy. Đức Phật, đấng Thế Tôn đã tiên
đoán như sau:
“Trong
tương lai những chúng sinh sẽ đi xuống các đọa xứ nhiều
như cát chảy xuống từ một bao cát lật úp.”
Chúng
ta giống như một tử tội bị hành quyết bằng cách ném xuống
vực thẳm đang nghỉ bên lề vực. Chúng ta không ý thức được
điều này, nên thay vì tu tập để chứng quả A la hán, chúng
ta lại cứ thản nhiên không lo sợ: đây là triệu chứng ta
sẽ đi vào các đọa xứ.
Hãy
xem có phải bạn tưởng rằng mình sẽ giống như chút ít
cát dính lại trong những đường may của đãy đựng cát đã
lật úp hay không.
Nếu
sự tu thiền của chúng ta quả đem lại tuệ quán sâu xa vào
nỗi khổ sinh vào các đọa xứ, thì chúng ta sẽ phát khởi
tâm từ bỏ. Bởi thế đôi khi thiền quán về những nỗi
khổ của đọa xứ còn tốt hơn là thiền quán về những
vị thần bảo hộ.
Mức
độ chánh niệm cần thiết về những nỗi khổ của đọa
xứ là như sau. Hai con trai của chị ngài A nan được đặt
dưới sự dạy dỗ của Mục Kiền Liên. Các cậu không chịu
học; nên Mục Kiền Liên bèn hiện cho xem cảnh địa ngục
và từ dấy họ tự nhiên phát khởi tâm từ bỏ.
(Kyabje
Pabongka Rinpoche ông lại tất cả những gì đã trình bày, và
giảng dạy vắn tắt cách tu tập.)