PHẦN
BỐN
PHẠM
VI TRUNG BÌNH
NGÀY
MƯỜI BỐN
Kyabje
Pabongka Rinpoche trích dẫn hai câu thơ trong tác phẩm của Tsongkapa
vĩ đại bắt đầu như sau: “Đời sống và thân thể chúng
ta giống như bọt nổi trên nước…” Rồi ngài kể một
chuyện ngắn để chúng tôi khởi động lực, và nói đến
những tiêu đề đã bàn. Ngài còn ôn lại sự phát khởi niềm
tin vào Luật nhân quả, phương pháp thực thục để được
hạnh phúc trong những đời sau.
2.2.
LUYỆN TÂM TRONG CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ĐẠO LỘ CHUNG VỚI PHẠM
VI TRUNG BÌNH
Có
hai phần: (1) Phát tâm cầu giải thoát. (2) Xác định bản
chất con đường đưa đến giải thoát.
2.2.1.
PHÁT TÂM CẦU GIẢI THOÁT
Có
hai tiêu đề phụ: (1) Nghĩ về những thống khổ nói chung
ở trong sinh tử. (2) Nghĩ về những khổ đặc biệt.
Như
tôi đã nói, khi bạn tu tập phần Lam-rim chung với Phạm Vi
Nhỏ, và giữ giới 10 bất thiện, thì bạn sẽ được tái
sinh ở các cõi cao và tạm thời thoát khỏi những đau khổ
ở các đọa xứ. Nhưng điều này chưa đủ. Giả sử một
tội nhân, đã bị kết án tử, người ta đi xin với một
kẻ có thế lực giùm y, và trong vài ngày y không phải chịu
những khổ hình phụ trước khi chết như bị đánh đòn, bị
đốt bằng sáp nóng, vân vân. Nhưng y vẫn không thoát được
án tử hình. Cũng vậy, người ta không vĩnh viễn ra khỏi
sinh tử được. Tác phẩm Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Bạn
có thể lên các cõi cao
Thụ
hưởng khoái lạc
Nhưng
khi chết, bạn lại rơi vào
Những
thống khổ của các đọa xứ
Ở
đấy nỗi đau thật khó nhẫn nổi và lại kéo dài.
Nói
cách khác, chắc chắn bạn sẽ đi xuống các đọa xứ khi
bạn đã hết cái tầm mà nghiệp lành đẩy bạn đi lên. Nếu
muốn dừng lại vĩnh viễn sự tuôn chảy của khổ đau thì
bạn phải vĩnh viễn ra khỏi sinh tử.
Trong
phần Lam-rim Phạm Vi Trung Bình, bạn phải phát triển những
ý tưởng cầu giải thoát. Có hai cách làm việc này: Nghĩ
về bản chất của bốn diệu đế, hay nghĩ về 12 nhân duyên.
Ở
đây “Giải thoát” có nghĩa là hết bị trói buộc. Giả
sử bạn hết bị những sợi dây thừng cột bạn, khi ấy
bạn được “giải thoát”. Chúng ta bị cột bởi nghiệp
và vọng tưởng vào các uẩn. Chúng ta bị trói theo cách sau.
Do nghiệp và vọng tưởng, các uẩn được thành hình. Có
ba lãnh vực trong đó chuyện này xảy ra, đó là Dục giới,
v.v… có 5 hay 6 kiểu luân hồi trong đó chuyện này xảy ra;
và có bốn hình thức tái sinh, là sinh từ trứng, từ bào
thai…Đấy là bản chất của trói buộc, và giải thoát có
nghĩa là khỏi bị buộc vào đấy.
Người
ta thường cho “sinh tử” có nghĩa là nhận lấy những thân
xác từ cõi trời Hữu đảnh cho đến Địa ngục Vô gián.
Người chưa học cứ nghĩ “sinh tử” là quay cuồng những
nơi cư trú tạm thời, hay quay qua lộn lại trong sáu nẽo luân
hồi. Đây có thể là cách dùng danh từ đúng nhưng không phải
là sinh tử thực sự. Vài học giả cho sinh tử là thọ bào
thai trở lại nhiều lần, tuy nhiên, với đức Đức Dalai Lama
thứ bảy là đúng nhất, ngài bảo sinh tử là sự liên tục
tái sinh vào các uẩn bị ô nhiễm. Bởi vậy ta giải thoát
khỏi sinh tử khi đã cắt dòng tương tục tái sinh và chui
vào bào thai dưới năng lực của nghiệp và vọng tưởng.
Những
tù nhân phải phát ý muốn thoát khỏi ngục trước khi họ
thoát được. Họ sẽ không phát khởi ước muốn này nếu
họ không xét những điều tệ hại của sự ở trong lao ngục.
Cũng thế nếu bạn không muốn thoát ly sinh tử thì bạn sẽ
không làm một nỗ lực nào để giải thoát. Và khi bạn khởi
lên ý muốn giải thoát, thì như Aryadeva nói: “Những bậc
hiền trí sợ tái sinh thù thắng cũng như sợ địa ngục.”
Nói cách khác, bạn muốn cẩn thận về sinh tử, phải nghĩ
về 4 diệu đế hay 12 nhân duyên. Bây giờ tôi sẽ bàn đến
4 diệu đế.
Khi
đức Phật Thế Tôn lần đầu quay bánh xe Pháp tại Benares
cho 5 đệ tử đầu tiên, Ngài dạy:
“Này
các tỷ kheo, đấy là diệu đế về khổ. Đấy là diệu đế
về nguồn gốc của khổ. Đấy là diệu đế về diệt khổ.
Đấy là diệu đế về con đường diệt khổ…”
Ngài
giảng 4 đế mỗi thứ ba lần, làm thành 12 kiểu tất cả.
Đây là sự chuyển bánh xe Pháp về Tứ đế: gọi là “Đế”
vì đúng theo cái thấy của bậc thánh.
Chân
lý về nguồn gốc của khổ đáng phải bàn trước, nếu ta
muốn xét cái nhân và hậu quả của nó. Nhưng ở đây bốn
đế không theo thứ tự này, vì chân lý về khổ được bàn
trước hết. Lý do như sau. Khổ được dạy trước, vì cần
phải làm cho bạn bị kích động phải từ bỏ nó. Nếu bạn
không bị kích động, bạn sẽ không muốn từ bỏ nguyên nhân
của khổ. Khi bạn muốn thành tựu một sự tách rời khỏi
những nguyên nhân này, thì bạn sẽ nỗ lực trên con đường
tu tập - nguyên nhân của sự thành tựu ấy. Bởi thế 4 đế
được bàn theo thứ tự này để phản ảnh sự tu tập của
người đệ tử. Như vậy 4 chân lý này là những điều căn
bản quyết định người tìm giải thoát nên thay đổi lối
hành xử của họ như thế nào.
Đức
Di Lặc dạy vài ẩn dụ trong “Dòng tương tục vi diệu của
Đại thừa” về khổ, sự cần thiết phải phá hủy nguyên
nhân của khổ, v.v…
Bệnh
cần được chẩn đoán
Nguyên
nhân gây bệnh phải từ bỏ
Sức
khỏe cần được phục hồi
Thuốc
hay cần được nương theo
Cũng
vậy khổ cần chẩn đoán
Nhân
khổ cần từ bỏ
Diệt
khổ cần đạt được
Con
đường diệt khổ cần nương theo.
Khi
đau ốm ta chẩn đoán nguyên nhân chứng bệnh, và nương theo
một phương thuốc để chữa lành.
Đức
Đức Dalai Lama đệ ngũ cho một ví dụ: Khi bạn ngũ trên một
mãnh đất, mặt má lưng bị ẩm thì bạn muốn ngăn việc
này xảy ra trở lại.
Bạn
phải mong muốn cho đừng có các nhân của khổ nếu bạn nỗ
lực theo phương pháp diệt khổ. Muốn phát sinh lòng mong muốn
này, bạn phải tra tầm nguyên nhân của khổ, và muốn vậy
thì bạn phải hiểu bạn bị khổ dày xéo như thế nào - Đức
Tsongkapa nói:
Nếu
người ta không nghĩ kỹ
Về
những lỗi lầm của đau khổ
Thì
người ta không có đủ sự khát khao giải thoát
Nếu
người ta không nghĩ
Về
nguồn gốc của mọi khổ - cửa ngõ dẫn đến sinh tử
Thì
không thể biết đúng sự diệt tận sinh tử
Hãy
bị kích động để từ bỏ hiện hữu này.
Hãy
chán nó, và yêu mến tri kiến
Về
những gì buộc ta vào sinh tử.
Mỗi
đế trong 4 đế có 4 sắc thái - Với khổ đế 4 sắc thái
là vô thường, khổ, không, vô ngã. Với tập đế (nguồn
gốc của khổ) là: nguyên nhân, nguồn gốc, duyên và sự sinh
sản mãnh liệt. Với diệt đế là: diệt, an, huy hoàng, ngõ
thoát quyết định. Với đạo đế là: con đường, sự hoàn
tất, sự chính xác, và sự thoát ly chắc chắn.
Uẩn
ô nhiễm có 3 loại cảm thọ: lạc, khổ và xả - Mặc dù
bạn có nhận ra được cảm giác đau khổ là đau khổ, song
bạn không nhận ra hai cảm giác kia cũng là khổ.
Có
lần một người trì mật tông bảo các bà vợ của ông ta
rằng: “Một vài người như ta sẵn sàng đi đến cõi tịnh
độ của những bậc trí giả, khi nào các người làm quấy.”
Về sau ông ta ốm, và các bà vợ hỏi ông chừng nào chết:
“Thưa bậc thầy mật điển, thầy đang sẵn sàng đi đến
tịnh độ của người trí. Vậy có phải vì chúng em đã làm
gì quấy chăng?”
Ông
đáp: “Chỉ vì ta bất lực không sống thêm được nữa.
Nếu không, thay vì đi đến các cõi tịnh, ta muốn ở lại
với các em hơn.”
Như
câu chuyện về vị giáo thọ Manu, chúng ta nghĩ là có hạnh
phúc trong sinh tử, mà không biết đấy chỉ là sự trói buộc,
và bản chất nó là khổ. Khi ta biết được đó là chân lý
về nguồn gốc khổ - nguyên nhân chính của khổ - thì ta sẽ
có ý muốn từ bỏ nó.
Có
hai nguồn gốc: nghiệp và vọng tưởng. Chân lý về diệt
là kết quả của sự vắng bóng đau khổ; chân lý về đạo
là phương tiện để đạt đến Diệt. Muốn đạt đến Diệt,
ta phải thực hành đạo đế.
Muốn
hiểu khổ, ta phải nghĩ về 8, 6, 2 loại khổ.
(CT.-
8 loại khổ trong loài người: sinh, già, bệnh, chết, ái biệt
ly, oan tụ hội, cầu bất đắc, có 5 uẩn vật lý tâm lý
mà bản chất là khổ. 6 loại là 6 khổ trong sinh tử nói chung:
bất trắc, không toại ý, luôn luôn bỏ thân, luôn luôn thọ
thân, di chuyển từ cao xuống thấp, và không bầu bạn. Hai
loại khổ trong sinh tử nói chung và khổ trong lục đạo nói
riêng).
Những
điều này được bàn đến trong tác phẩm của Tsongkapa Những
Giai Đoạn Lớn của Đạo Lộ. Khổ của cõi người thuộc
về 8 loại. Tất cả 3 mục trên bao hàm cái khổ lan khắp
tất cả pháp hữu vi.
a.
Nghĩ về khổ sinh tử nói chung
Có
6 đoạn.
a-1.
Tính bất trắc
Có
thể trong tương lai bạn tái sinh vào thượng giới, nhưng bao
lâu bạn còn tái sinh trong sinh tử thì bạn vẫn chưa thoát
khổ - vì hạnh phúc trong sinh tử hoàn toàn không đáng tin
cậy.
Hãy
lấy ví dụ những tái sinh quá khứ và vị lai của ta. Những
kẻ thù, bạn, cha mẹ v.v… của ta đổi chỗ. Ngày xưa một
người cha của một cư sĩ thường ăn cá trong cái ao sau nhà.
Ông chết và tái sinh làm một con cá trong ao. Người mẹ của
cư sĩ tham luyến cái nhà nên tái sinh làm con chó của ông
ta. Kẻ thù của ông bị giết vì cưỡng hiếp vợ ông, kẻ
ấy quá si mê vợ ông nên tái sinh làm con trai ông. Đứa con
trai này bắt được con cá - cha của người cư sĩ - và giết.
Trong khi y ăn cá ấy, con chó - mẹ của y - ăn xương cá, và
bị con trai y đánh. Kẻ thù y lại ngồi trên đùi y - đó là
đứa con út. Ngài Xá Lợi Phất trông thấy cảnh này nói:
Ăn
thịt cha, đánh mẹ
Kẻ
thù mới giết lại ngồi trên gối
Vợ
nhai xương chồng
Đó
là trò hề sinh tử.
Long
Thụ cũng nói:
Cha,
con, vợ, kẻ thù… có thể đổi địa vị
Bạn
có thể thành thù
Và
ngược lại; sinh tử
Thật
không có gì chắc chắn.
Nói
cách khác, mặc dù luôn luôn chắc chắn kẻ thù là thù, bạn
là bạn, ta thực sự không thể bảo đảm: ở đầu đời
là bạn mà cuối đời có thể thành thù, thù có thể thành
bạn. Về giàu nghèo cũng thế: người giàu hôm qua có thẻ
thành ăn mày hôm nay vì bị cướp, v.v… Những điều này
thật rõ: mọi sự luôn luôn thay đổi.
(Khi
ấy Pabongka Rinpoche kể chi tiết câu chuyện gia chủ Shrijata.)
Shrijàta
trông thấy một con rắn quấn quanh thân một phụ nữ, 1 cây
lớn bị côn trùng ăn, 1 người đàn ông bị đánh đập bởi
những sứ giả mang nhiều mặt nạ của Diêm vương và bộ
xương của một thủy quái to bằng một dãy núi có thể che
cả mặt trời.
Mục
Liên bảo ông: “Con rắn là tái sinh của 1 phụ nữ quá tham
luyến thân xác mình. Cái cây là 1 người lạm dụng gỗ của
tăng chúng. Người bị đánh là tái sinh của 1 thợ săn. Bộ
xương là chính xương của ngươi trong đời quá khứ, này
Shrijàta.”
Ngày
xưa 1 vị quan hỏi vua làm sao xử lý một tội nhân. Vua đang
mãi mê chơi cờ, nói: “Giết theo luật.” Do vậy người
ấy bị tử hình. Khi xong ván cờ, vua hỏi ông ta làm gì với
tội nhân, và được trả lời đã hành quyết. Vua rất ân
hận, nhưng vẫn bị tái sinh làm 1 thủy quái vì tội để
cho người kia bị hành quyết. Một thời gian trôi qua, vài
thương gia đi biển tiến về phía cái miệng của con quái
vật. Các thương gia kinh hãi quy y Phật. Con quái nghe lời quy
y bèn ngậm miệng lại và bị chết đói. Thân nó được các
Long vương đưa vào bờ.
Vậy
Shrijàta lúc đầu sinh làm vua, sau làm thủy quái, rồi lại
làm người trở lại. Sinh tử bất trắc là thế.
a-2.
Không toại ý
Loài
bướm mê màu sắc, loài nai mê âm thanh, loài ong mê mùi, loài
voi mê xúc giác. Cũng vậy hạnh phúc cõi sinh tử như uống
nước mặn - uống bao nhiêu cũng không đỡ khát. Giả sử
1 người khi có được 1 đồng vàng sẽ nghĩ “Bao giờ cho
tôi có được 10 đồng?” Khi có10 đồng, lại nghĩ chừng
nào tôi mới được trăm đồng. Nếu đã được trăm đòng,
y lại mong được ngàn đồng. Dù có bao nhiêu y cũng không
toại ý. Kinh Màn Kịch Lớn nói:
Nay
đại vương, nếu một người
Có
được tất cả lạc thú
Ở
cõi trời và cõi người
Thì
nó vẫn chưa thấy đủ
Nó
còn khao khát có thêm.
Ta
hãy lấy ví dụng hạnh phúc trời, người. Vua Màbhvàtà cai
trị cả 4 châu lục và các cõi trời, thế mà ông vẫn chưa
thỏa mãn. Cuối cùng khi công đức ông đã khánh tận, ông
rời vào lục địa Diêm phù đề và trút hơi thở cuối cùng.
Lạc
thú không bao giờ làm thỏa mãn, đó là nỗi sầu khổ không
gì lớn hơn.
Khi
đã làm chủ một cõi, bạn mong muốn làm chủ hai cõi. Bạn
sẽ không bao giờ thỏa mãn dù có làm vua bao nhiêu xứ sở.
Dù giàu cách mấy, bạn cũng muốn giàu thêm và sẵn sàng kiệt
lực để có thêm của cải. Nếu bạn không hỷ túc thì dù
đã có nhiều tài sản của cải đến bao nhiêu, bạn cũng
không khác gì một kẻ ăn xin. Ở Ấn Độ ngày xưa có một
người ăn mày Sùrata lượm được 1 viên ngọc vô giá, và
bảo rằng y phải đem cho một kẻ ăn mày khác. Y đem đến
cho vua Ba tư nặc (Prasenajit) mà nói: “Này đại vương, vua
không biết đủ, nên là người nghèo nhất.”
Nếu
bạn hài lòng với cái mình có, thì mặc dù không có tài sản
bạn vẫn giàu. Long Thụ nói:
Hãy
luôn luôn hỷ túc
Dù
bạn không tài sản
Nếu
bạn biết hỷ túc
Là
bạn có tài sản thanh tịnh nhất.
Drogoen
Tsangpa Gyarae nói:
“Người
hỷ túc ấp những cái trứng của tài sản trong nhà ấp. Những
người nhiều ham muốn thì không thể cảm nghiệm điều này.”
Nói cách khác, nếu bạn không hỷ túc thì sự bất mãn của
bạn thực vô bờ bến. Sự thiếu hỷ túc, sự bất mãn là
điều hại lớn nhất.
a-3.
Nỗi tệ hại là cứ phải bỏ lại thân xác
Bạn
có mang thân xác như thế nào đi nữa, nó cũng không đáng
tin cây cậy. Long Thụ nói:
Dù
bạn có được phúc lạc to lớn
Của
các vị vua trời, ngay cả đến
Lạc
thú không ràng buộc của Phạm thiên -
Thì
sau đó bạn vẫn làm mồi
Cho
lửa địa ngục Vô gián
Ở
đấy sự thống khổ liên miên bất tận.
Dù
bạn có là chúa tể mặt trời, trăng
Thân
thể bạn tuôn ra ánh sáng
Chiếu
khắp mọi thế gian
Về
sau bạn không trông rõ được bàn tay mình.
Nói
cách khác, trong quá khứ bạn đã có vô số tái sinh vào những
thân Phạm vương, Đế thích, v.v… nhưng không có được lợi
ích gì. Về sau bạn bị sinh vào địa ngục Vô gián v.v…
hoặc làm nô tỳ v.v… Thỉnh thoảng bạn sinh làm thần mặt
trời, mặt trăng, thân bạn chiếu sáng khắp châu lục. Rồi
bạn chết và tái sinh và những đáy sâu thẳm của đại dương
giữa 2 châu lục, ở đấy không trông thấy được đến cả
tay chân bạn chuyển động.
Không
một tài sản cõi trời cõi người nào mà bạn có thể nói
rằng mình chưa từng trải qua, song không có một thứ tài
sản nào trong đó chứng tỏ đáng tin cậy. Bạn đã từng
tái sinh vào các cõi trời, ngồi trên những chiếc ngai nạm
hột xoàn v.v… những cái nhà của bạn cũng đã từng làm
bằng ngọc châu báu. Đã nhiều lần bạn đã hưởng những
điều như vậy. Thế mà bây giờ bạn toàn ngồi trên đệm
bằng da thuộc. Bạn cũng đã từng làm Đế thích rồi làm
kẻ ăn xin; những kiếp làm Đế thích chẳng ích gì cho bạn.
Trong
các cõi tái sinh cao,
Bạn
đã dùng nhiều thời gian vào lạc thú
Vuốt
ve ngực và eo của phụ nữ
Rồi
ở địa ngục bạn cảm thấy những hình cụ tra tấn
Nghiền
nát, cắt, xẻ bạn ra
Ôi
thật đau đớn liên miên khó kham nổi.
Nói
cách khác bạn đã từng sinh vào các cõi trời và trong thời
gian dài, trải qua dục lạc với những thiên nữ. Rồi bạn
phải từ giả đời sống ấy mà tái sinh vào địa ngục bị
vây quanh với những ngục tốt hung dữ, và trải qua nhiều
nỗi thống khổ - Bạn đã uống cam lồ bất tử ở cõi trời,
rồi khi từ giã cõi ấy bạn phải uống nước đồng sôi
của địa ngục - bạn đã từng làm Chuyển luân vương cai
trị nhiều trăm ngàn thần dân nam, có bảy dấu hiệu của
vương quyền để sử dụng, nhưng bây giờ không còn một
chút gì chứng tỏ những điều ấy, không một dấu vết nào
của sự lợi lạc. Như tôi đã nói, lỗi là do sự bám víu
của bạn vào những đối tượng giác quan ngày càng tăng,
làm bạn bất mãn; khi ấy bạn tích lũy tội ác và càng lúc
càng đi xuống cõi thấp hơn.
Bậc
tôn sư tôi, người bảo hộ, nơi nương tựa của tôi, đã
kể cho tôi nghe câu chuyện này.
Có
lần một vị Lama chết và có người hỏi ông muốn trối
trăn điều gì không. Vị ấy lặp đi lặp lại: “những chuyện
trong sinh tử không có thực chất.”
Bất
kể bạn có tài sản bao nhiêu, bạn sẽ không rút ra được
tinh hoa nào từ đấy, cũng như trong quá khứ. Tất cả tài
sản của thế gian này không bằng giá một chiếc giày của
ta lúc làm Chuyển luân; song những y phục đẹp đẽ của ta
lúc ấy không lợi ích gì cho ta bây giờ.
Khi
một ông vua và một kẻ ăn xin đi vào cõi Trung ấm cả hai
đều được đối xử ngang nhau. Điều lợi hay hại đều
có thể đến với họ một cách bình đẳng.
Geshe
Chaen Ngawa nói:
“Đức
Đạo sư tôn quý cả chúng ta đã không có một thân như vậy
từ vô thỉ kiếp rồi sao? Chúng ta từ nay phải nỗ lực,
vì ta chưa hành đạo đại thừa.”
Nói
cách khác, chúng ta nên cẩn thận.
a-4.
Nỗi khổ cứ phải liên tiếp vào bào thai và sinh ra.
Long
Thụ nói trong Bức Thư:
Nếu
đem đất vo lại từng hột như hột anh đào.
Để
đếm tất cả những bà mẹ của ta
Thì
cả quả đất cũng không đếm đủ…
Thay
vì rũ bỏ những đau buồn,
Bạn
đã cứ phải rơi lại vào địa ngục mãi mãi.
Để
uống nước đồng đun sôi
Nước
ấy còn hơn cả nước 4 bể.
Nghĩa
là bạn đã từng sinh vào địa ngục và uống nhiều nước
đồng sôi nhiều hơn nước ở đại dương. Và nếu bạn không
cắt đứt dòng tương tục vào sinh ra tử này, bạn còn phải
uống nhiều hơn nữa.
Khi
bạn làm chó và heo
Số
lượng đồ dơ mà bạn ăn
Có
thể lớn hơn
Núi
Tu di, vua các núi.
Bạn
đã từng làm chó, heo và đã ăn nhiều phân dơ hơn núi Tu
di. Nhưng nếu không dứt ra khỏi sinh tử thì bạn còn phải
ăn nhiều hơn nữa.
Biết
bao nước mắt bạn đổ ra
Vì
khóc những người thân lúc chia tay
Nước
mắt bạn đổ xuống
Có
thể tràn đầy đại dương.
Bạn
đã chia lìa với cha mẹ, con cái, anh em v.v… và khóc nhiều
hơn nước biển. Nhưng nếu không dứt ra khỏi dòng sinh tử,
thì bạn còn phải khóc nhiều hơn.
Từ
khi người ta chiến đấu
Đống
đầu bị chặt của bạn
Có
thể chất cao
Hơn
cõi Phạm thiên.
Bạn
đã vướng vào chuyện đánh nhau và những cái đầu bạn bị
kẻ thù chặt chất cao hơn núi Tu di. Nhưng nếu không dứt
khỏi dòng tương tục tái sinh vào sinh tử thì bạn có thể
bảo đảm rằng sẽ còn nhiều lần bị chặt đầu nữa.
Khi
bạn làm giun đất
Bạn
quá đói
Tất
cả phân và đất bạn ăn
Có
thể lấp đầy biển cả.
Nói
cách khác, chúng ta đã từng làm trùn và ăn nhiều phân, đất
hơn số lượng đất cần để lấp đại dương. Nhưng nếu
ta không thoát khỏi ra sinh tử ta còn phải ăn nhiều hơn nữa.
Long
Thụ nói:
Mỗi
người đã uống nhiều sữa mẹ
Hơn
cả bốn biển
Nhưng
khi còn làm phàm phu
Trong
cõi sinh từ
Thì
bạn còn uống nhiều hơn nữa.
Nghĩa
là bạn đã liên tục thọ thân trong sinh tử và uống nhiều
sữa mẹ hơn nước biển. Nhưng nếu bạn không thể chấm
dứt tái sinh vào sinh tử thì bạn còn uống nhiều hơn.
Nếu
theo những gì đã quán sát trong phần Phạm Vi Nhỏ, bạn đã
rất đau khổ và phải trải qua những kinh hoàng khi tái sinh
vào đọa xứ sau mỗi lần chết, thì nói gì đến những đau
đớn và kinh hoàng còn hơn thế nhiều mà bạn sẽ phải trải
qua, vì chắc chắn bạn sẽ kinh nghiệm những nõi đau sinh,
già, bịnh, chết, v.v… vô số lần.
Chúng
ta sợ hãi mỗi khi trông thấy một con bò cạp, nhưng nếu
ta đem các thân bò cạp mà chúng ta đã làm trong những tái
sinh quá khứ mà chồng chất lại, thì nó sẽ cao hơn núi Tu
di. Thế mà chắc chắn ta phải có nhiều tái sinh hơn như thế,
bao lâu ta không dứt dòng tương tục sinh tử của chúng ta
trong cõi luân hồi.
a-5.
Nỗi khổ vì lăn lóc lên xuống mãi.
Truyền
thừa Luật tạng nói:
Mọi
cái gì do tích lũy mà thành,
Thì
cuối cùng đều phải khánh tận.
Lên
cao cuối cùng sẽ xuống thấp
Gặp
gỡ cuối cùng phải chia ly
Sống
cuối cùng phải chết.
Điều
này nói đến 4 sự chấm dứt của cá pháp hữu vi: sự tích
tụ tài sản và sở hữu chấm dứt bằng sự khánh tận, lên
voi rồi xuống chó, gặp gỡ rồi ly biệt, và chết chấm dứt
sự sống của một đời. Dù bạn có được sự dồi dào
đến đâu trong sinh tử, thì cũng không có một chút gì trong
đó thoát khỏi sự tàn tạ, không gì là không đi đến chấm
dứt. Geshe Sangtpuba nói: “Trong sinh tử, ta phải chất chứa
nhiều thứ, nhưng đừng gắn hy vọng nào vào đấy - chúng
ta sẽ suy tàn.”
Lại
nữa, chúng ta nỗ lực để xây dựng nhà cửa và tích chứa
tài sản nhưng chúng ta không chắc gì sẽ hoàn tất được
những gì ta muốn: kẻ thù có thể mang đi, hoặc ta sẽ chết.
Thầy trò có thể cùng nhau dự tính những kế hoạch, nhưng
chúng ta chắc chắn phải chia ly trong vòng vài năm.
Đức
Đức Dalai Lama thứ 7 nói: “Chỉ trong một thời gian ngắn,
những người ở trên cao có thể trở thành những kể nô
lệ.” Và Bức Thư của Long Thụ nói:
Bạn
có khi là Đế thích được cả thế gian cúng dường
Nhưng
do nghiệp lực, bạn sẽ rớt xuống.
Bạn
có thể là vua Chuyển luân
Nhưng
trong sinh tử bạn sẽ trở thành nô lệ.
Nói
cách khác, đây là những gì xảy đến cho những chúng sinh
cao cấp như Phạm Vương, Đế thích v.v…
Còn
về những người thấp kém thì bất cứ tài sản, chức vị
của thế gian đều không thực chất. Gungstang Rinpoche nói:
Khi
bạn leo lên ngọn cây “Danh tiếng”
Thì
thật đau khi bạn trợt té xuống đất.
Tốt
hơn nên ở lưng chừng.
Nghĩa
là không những các đời quá khứ là không đáng tin cậy,
mà ngay đời này cũng thế: có những ông vua phải ở tù v.v…
Ngày
xưa Sanyae Gyatso, một vị nhiếp chính của Tây Tạng, đã làm
nhiều cải cách ở chính phủ Trung ương, ngài vừa là một
người giàu và có thế lực, lại là một trong những học
giả lớn nhất. Nhưng cuối cùng ngài làm cho Lhazang Khan bất
mãn và thế là ngài suy vong. Ngài bị thả ra giữa cầu Trizang
ở Tvelung trong nhiều ngày, không ai dám giúp đỡ. Vợ ngài
phải đi lang thang khắp nơi như kẻ ăn xin. Chính Lhazang Khan
về sau cũng bị bại về tay đạo quân xâm lược Dzungarian
và bị giết.
a-6.
Nỗi khổ không ai cứu giúp
Lúc
đầu khi sinh ra bạn cũng chỉ sinh một mình. Giữa đời, khi
đau ốm, cũng chỉ mình bạn nếm mùi đau khổ. Cuối cùng
khi chết bạn cũng chết một mình, như một sợi tóc lôi ra
khỏi thỏi bơ. Không có ai giúp bạn. Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Khi
sinh, bạn sinh ra một mình
Khi
chết bạn cũng chết một mình
Bạn
bè ruột ra có thể làm được gì
Khi
họ không thể san sẻ khổ đau?
Tsongkapa
nói: “Những vẻ huy hoàng của thế gian không đáng tin cậy.
Hãy biết rõ khuyết điểm của chúng. Nghĩa là dù bạn có
huy hoàng hạnh phúc đến đâu trong sinh tử, những chuyện
ấy dều không bảo đảm; cuối cùng không một người bạn
nào trong sinh tử là đáng tin cậy.”
Như
thế đấy là cách bạn kinh quá nỗi khổ của sinh tử, và
nếu bạn xét kỹ nỗi khổ ấy thực bất tận như thế nào,
thì bạn sẽ đâm ra mệt mõi. Bởi vậy, tất cả sinh tử
nói chung có cùng tận, hay không cùng tận, bạn phải đặt
một giới hạn cho sinh tử của riêng mình. Nếu muốn giới
hạn lại những sinh tử của mình và chấm dứt nó, thì bạn
phải tìm cách dứt dòng tương tục của những tái sinh trong
sinh tử.
b.
Nghĩ về những khổ đặc biệt của sinh tử.
Có
hai tiêu đề phụ: (1) Nghĩ về khổ của các đọa xứ; (2)
Nghĩ về khổ ở các thượng giới.
b-1.
Nghĩ về nỗi khổ ở các thượng giới
Có
ba đoạn: (1) Nghĩ về nỗi khổ con người; (2) Nghĩ về nỗi
khổ của tu la; (3) Nghĩ về nỗi khổ của chư thiên.
b-2.1.
Nghĩ về nỗi khổ con người.
Có
bảy tiêu đề phụ.
b-2.1.1.
Khổ về sinh.
Nếu
những nỗi khổ ở đọa xứ là như những gì tôi đã mô
tả, thì có lẽ bạn nghĩ cái khổ cõi người cõi trời là
nhỏ nhặt không thấm gì. Nhưng bạn hoàn toàn không thoát
được khổ dù có đạt đến một tái sinh cao siêu. Chúng
ta đã được sinh làm người, nhưng nếu ta không biết tu hành
là có lợi ích lớn, thì ta vẫn còn những thống khổ to tát.
Do sự muội lược vì bị sinh ra từ bào thai, chúng ta đã
hoàn toàn quên lãng những đau đớn ta phải chịu trong quá
trình sinh ra. Nếu ta lại cố mà tái sinh lần nữa, thì ta
lại phải kinh quá tất cả những đau đớn của sự sinh ra,
mặc dù bây giờ ta không nhớ được.
Sau
khi đã vào bào thai mẹ và cho đến khi ra đời, bạn trải
qua từng nỗi đau liên kết với năm giai đoạn phát triển
bào thai và với từng thời kỳ thân thể phát triển. Đầu
tiên, khi thần thức bạn bị đặt vào tâm điểm của tinh
cha huyết mẹ, thì thân bạn giống như một giọt sữa đông,
bạn đau đớn như thể bị luộc trong một nồi đồng ở
địa ngục. Khi cái đầu và những mô tế bào phồng lên cho
chân tay xuất hiện, bạn đau như thể bị kéo trên một cái
trăn (dụng cụ tra tấn). Mỗi phần thân mình là thêm một
nỗi thống khổ. Khi bà mẹ uống cái gì nóng, khi bà di chuyển,
ngủ, vân vân, thì bạn đau đớn như thể bị buộc trong dòng
suối nóng, bị gió mang đi, hay bị nghiến dưới một ngọn
núi. Thư Gửi Môn Đệ của Chandragomin nói:
Bị
nhốt trong mùi hôi thối kinh khủng,
Bạn
sống trong màu đen như mực;
Sau
khi chui vào cái bào thai như địa ngục ấy,
Bạn
phải chịu đựng thống khổ lớn
Thân
thể co quắp lại.
Hãy
tưởng tượng bạn bị đặt trong một cái nồi sắt đầy
những thứ nhơ uế khác nhau, đậy nắp. Không cách gì bạn
có thể ở lại đấy một ngày, vậy mà bạn phải ở trong
cái thai đầy mùi hôi và bóng tối ấy trong chín tháng rưỡi.
Rồi
bạn phát sinh năm thái độ liên hệ đến những khía cạnh
nôn mửa của bào thai, làm cho bạn muốn nổi lên. Nhưng ngay
cả khi bạn bị đẩy qua cửa tử cung.
Bạn
dần dần bị nén lại thật mạnh
Như
người ta chà mè
Khi
sinh ra: còn khổ nào bằng?
(Thư
Gửi Môn Đệ)
Nghĩa
là, bạn đau như là thân thể bị siết bằng đinh ốc. Khi
bạn chui ra, dù bạn giống như da bò bị lột; và khi bạn
được đặt trên một cái gối dù mềm mại đến đâu, cũng
như thể bị ném trên gai. Khi gió thổi, bạn nghe như gươm
đâm. Khi mẹ bạn bế bạn vào lòng, thì giống như diều hâu
đang tha một con chim sẻ. Những điều ấy làm cho bạn kinh
hãi.
Mọi
sự học tập trong đời quá khứ đều bị xóa mờ, bạn không
có một chút trí tuệ nào cả. Bạn phải học ngay cả chuyện
ăn, ngủ, học ngồi, học đi.
Khi
thiền quán về sự sinh ra của mình, thì không nên làm như
đang nhìn một kẻ nào khác: bạn phải triển khai tuệ quán
đi sâu vào sự tình chắc chắn mình sẽ sinh ra như thế, và
nó sẽ ra sao. Bạn phải nghĩ về những đau đớn nói trong
kinh Nan Đà Nhập Thai.
Một
vài người nghĩ rằng nỗi khổ về Sinh không hại gì, vì
nó đã qua rồi. Nhưng nếu ta không đặt một giới hạn cho
sinh tử của chính mình, thì ta còn phải trải qua nỗi khổ
về sinh vô số lần nữa.
b-2.1.2.
Khổ về già
Trích
từ Màn Kịch Lớn:
Tuổi
già làm cho thân thể đẹp thành xấu;
Già
cướp mất vẻ sáng, cướp mất sức mạnh;
Già
cướp mất hạnh phúc, đem lại tủi nhục;
Già
cướp mất sự sống, cướp mất làn da.
Nói
cách khác, những khổ về già là: thân thể héo mòn, sức
khỏe tàn tạ, các căn suy sụp, sự thưởng thức ngũ dục
thoái hóa, mạng sống giảm dần, vân vân.
Những
giác quan, trí tuệ v.v… đều mờ dần, thân thể bạn cong
xuống như cây cung; bạn ngồi xuống đứng lên một cách khó
nhọc; tóc bạn bạc trắng; da nhiều nếp nhăn - bạn trở
nên xấu xí như một kẻ ăn mày chết. Milarepa nói:
Một
là bạn sẽ đứng lên như người bị trói vào cọc.
Hai,
bạn bước như một con mèo rình mồi.
Ba,
bạn ngồi như thể đất vỡ ra từ một cái bị.
Khi
đã đến lúc bà ngoại có cả ba điều ấy.
Sự
tàn tạ của thân xác ảo ảnh này sẽ làm bạn buồn sầu…
Bên
ngoài, da bạn nhăn thành nhiều nếp.
Bên
trong thịt và máu cạn dần, khiến xương lồi ra.
Ngoài
ra, bạn còn ngớ ngẫn, đui điếc và lẩm cẩm
Khi
đã đến lúc bà ngoại có cả ba điều n ày
Bạn
sẽ trông xấu xí, nhăn nheo và giận dữ.
Tất
cả những điều ấy là những lỗi lầm của sinh tử.
Tiến
sĩ Kamaba phái Kandampa nói:
Thật
may làm sao vì tuổi già tiến lại từ từ.
Sẽ
không thể nào chịu nổi
Nếu
nó đến cái rụp.
Nói
cách khác, nếu một thanh niên mạnh khỏe đang tuổi xuân xanh
và ngủ qua một đêm thức dậy bổng thấy mình lưng còng,
giác quan suy sụp v.v… thì anh ta không thể nào chịu nổi.
Bạn
phải tu tập ngay bây giờ, trước khi các giác quan, trí tuệ
và thân thể suy tàn. Về sau, khi những nỗi đau tuổi già
thắng lướt, bạn sắp từ giả thân xác, thì tình trạng
cơ thể của bạn đã thay đổi. Các giác quan bạn khi ấy
đã tàn tạ, bạn còn không thể ngồi xuống đứng lên. Làm
sao bạn thực hành Pháp được?
Gungtang
Rinpoche Taenpa Droenme nói:
Người
già như thể đang tiếp nhận
Lễ
quán đảnh về tuổi già trên đầu.
(CT.
Trong lễ quán đảnh, người thọ pháp được thầy đặt cái
bình trên đỉnh đầu, tưởng tượng nước cam lồ tràn và
chảy vào sọ thấm xuống khắp châu thân. Tác giả muốn nói
ở đây người già cũng như được quán đảnh vì cái già
từ từ thấm khắp cơ thể)
Tóc
bạc trắng như vôi
Nhưng
không phải là màu trắng tinh khiết
Mà
vì thần chết đã khạc nhổ lên đấy
Làm
cho nó có màu trắng như sương.
Những
nếp nhăn phủ đầy trán
Nhưng
không như đường nhăn của hài nhi bụ bẫm
Sứ
giả thời gian đã ghi dấu lại
Để
đếm bao nhiêu năm đã trôi qua trong đời.
Từng
giọt nước nhầy nhỏ xuống từ lỗ mũi
Không
giống như những hạt ngọc trai
Tuổi
hoa niên, thời vô tư lự
Bây
giờ như băng tan dưới ánh mặt trời.
Những
hàng răng đã rơi rụng,
Nhưng
không có răng nào khác mọc lên:
Chúng
dã ăn hết thực phẩm của đời sống
Nên
nghề cắt nghiến của nó đã bị thu hồi.
Những
nét mặt nhăn nhúm màu tro bụi
Không
phải là những chiếc mặt nạ khỉ họ đeo vào
Mà
vì tuổi thanh xuân vay mượn đã trả lại
Nếu
bây giờ chân diện mục họ đang hiển bày.
Những
chiếc gật gật
Không
phải họ đang cười khẩy với nhau
Mà
diêm vương đang dùng roi quất
Khiến
họ không thể giữ cho đầu khỏi lung lay.
Gương
mặt nhìn xuống đường không phải họ đang tìm kim
Mà
vì trí nhớ và châu báu tuổi trẻ
Đã
đổ xuống đất.
Họ
sử dụng cả bốn tay chân khi đứng dậy
Nhưng
không phải vì muốn giả làm con bò:
Hai
chân họ không mang nổi thân hình
Nên
hai tay phải giúp.
Họ
ngồi xuống cái phịch,
Nhưng
không phải giận bạn bè
Mà
vì sức khỏe và hỉ lạc nội tâm
Không
còn đủ làm chỗ tựa
Khi
bước đi, họ lắc qua lắc lại,
Nhưng
không phải như vua đi:
Họ
bị oằn xuống vì sức nặng tuổi tác
Không
còn có thể giữ thăng bằng.
Tay
họ run rẩy thộp lấy đồ vật
Không
phải đang hốt tiền đánh ăn trong canh bạc
Mà
họ đang sợ thần chết
Sẽ
cướp lấy những gì trong tầm tay.
Họ
ăn uống rất ít
Không
phải và hà tiện miếng ăn:
Hỏa
đại trong bao tử đã suy tàn
Nên
người già sợ sẽ ngã gục
Họ
chỉ mặc đồ mỏng nhẹ
Nhưng
không phải vì sắp đi dự khiêu vũ:
Họ
đã mất sức mạnh trong cơ thể
Đến
nỗi y phục cũng trở thành gánh nặng
Họ
thở phì phò một cách khó nhọc
Không
phải như ông thầy đang thổi thần chú
Tiếng
gió họ sắp tan vào hư không.
Cái
kiểu họ làm công việc hàng ngày
Không
phải cố ý chọc cười kẻ khác
Ác
ma tuổi già đã tóm lấy họ
Nên
ho không còn tự do làm theo ý muốn.
Họ
thường quên làm mọi công việc
Không
phải vì nông cạn bất cần
Mà
vì các giác quan suy sụp
Làm
cho trí nhớ cùng ý thức lu mờ.
Nói
cách khác, những nếp nhăn và tóc bạc là điềm báo họ sắp
bị thần chết mang đi. Và lại còn nhiều nỗi khổ khác:
nỗi phập phồng lo sợ vì cái chết gần kề, vân vân.
b-2.1.1.3.
Khổ vì bệnh
Kinh
Màn Kịch Lớn nói:
Giữa
mùa đông giá rét, gió nổi, tuyết rơi
Cướp
mất vẻ huy hoàng của cây cỏ
Tuổi
già cũng vậy,
Cướp
vẻ sáng chói của hữu tình;
Thân
thể, sức mạnh, các quan năng đều tàn tạ.
Nói
cách khác, bạn đau khổ vì nhiều nỗi bản chất cơ thể
thay đổi, càng ngày càng lo sợ và đau đớn: bạn không còn
ham muốn những gì kích động giác quan; bạn lo sợ vì có
thể mất đi sự sống, v.v… Cơ thể mất đi hết sức lực,
miệng và mũi lún vào, khô héo. Bạn có thể đang tuổi xuân
xanh nhưng khi nằm liệt giường thì cơ thể cùng kiệt sức
và vẻ rạng rỡ cùng tàn phai.
Nếu
cần nhiều chi tiết hơn, bạn hãy quán tưởng mỗi loại bệnh
hành hạ một kiểu, và có thể rằng bạn không còn thì giờ
mà viết di chúc khi một cơn bệnh đột ngột đưa đến tử
vong.
(Khi
ấy Pabongka Rinpoche nói về thái tử Tất Đạt Đa đã đạt
giải thoát nhờ quán tưởng sau khi trông thấy một người
già, một người bệnh và một thây chết, vân vân.)
b-2.1.4.
Khổ về chết
Kinh
Màn Kịch Lớn nói:
Thời
gian đưa đến chết, sinh ly,
Và
biệt ly vì cái chết.
Mãi
mãi bạn xa lìa
Nhưng
người dễ chịu mà bạn yêu mến;
Họ
sẽ không trở lại,
Sẽ
không bao giờ tái ngộ.
Như
lá lìa cành
Như
dòng nước chảy xuôi.
Nghĩa
là, bạn sẽ chia ly với vẻ đẹp và sự dồi dào - tài sản,
thân bằng quyến thuộc, và thân thể của mình. Khi chết bạn
kinh quá nỗi đau đớn mãnh liệt của thân xác và sự sợ
hãi trong tâm. Khi đã đến thời chết thì bạn không thể
ngăn nổi, như kinh Giáo Giới Một Vị Vua đã nói. Tôi đã
bàn điều này trong chương niệm chết.
b-2.1.5.
Khổ vì xa lìa cái đẹp
Bạn
sẽ bị tách lìa khỏi thầy, khỏi đệ tử, bà con, bè bạn
và những người thân - những người mà bình thường chia
tay nhau một giờ bạn cũng không chịu nổi - và khỏi địa
vị uy quyền, tài sản, sở hữu, sự dồi dào của bạn. Vài
người tu còn nỗi khổ như phải sống không giới luật.
Những
sự tình ấy xảy đến không phải vì ta đáng bị trừng phạt,
mà chỉ vì ta còn ở trong sinh tử.
b-2.1.6.
Khổ vì phải gặp gỡ cái xấu xa.
Xấu
xa nghĩa là khó chịu. Gặp gỡ kẻ thù thì bạn bị đánh
cướp, gặp bệnh hay ác quỷ thì bị hành hạ. Có vô lượng
nỗi khổ như bị thưa kiện, bị thất sủng, bị trộm, v.v…
Nếu
một hoàn cảnh bất hạnh xảy đến làm bạn mõi mệt cả
thể chất lẫn tinh thần trong khi đang làm phận sự, ấy cũng
vì bạn đang ở trong sinh tử. Ví như khi một con lừa phải
chở nặng đến nỗi lưng sinh những ung nhọt, ấy là do nghiệp
riêng của nó - điều này không xảy đến nếu nó đã không
gây nghiệp. Geshe Potowa nói:
“Bao
lâu chúng ta còn sinh vào sáu nẽo luân hồi, thì vẫn còn phải
chịu nóng, chết, v.v… Bệnh và nguyên nhân gây bệnh chỉ
là một, mà nó là đặc biệt của sinh tử, nằm trong bản
chất của sinh tử. Chúng ta chưa vượt qua sinh tử một lúc
nào. ta cần phải bị kích động để từ bỏ những điều
ấy và do thế từ bỏ tái sinh. Ta phải từ bỏ nguyên nhân
của chúng.”
Nghĩa
là, nếu ta muốn trải qua những khổ sinh tử thì phải dùng
những phương tiện để giải thoát khỏi chúng.
b-2.1.7.
Nghĩ về nỗi khổ vì cầu gì cũng không toại ý
Đấy
là cái khổ nóng lạnh, hay khổ vì phải kiếm sống bất chấp
nóng lạnh mệt mỏi lo sợ v.v…
Điều
ấy cũng như xin một điều gì quan trọng từ một ông lớn.
Trước hết và hy vọng có được điều bạn muốn, mà bạn
đâm ra bất an, sau đó bạn đau khổ vì không đạt được
mục đích.
Vài
người nghĩ rằng giới địa chỉ là sung sướng, nhưng họ
cũng không sung sướng gì. Chủ trại phải dậy sớm để làm
việc; ban ngày thì bị ánh nắng thiêu đốt, gió bụi hành
hạ. Khi hạt giống đã gieo thì còn phải gặt hái; khi chưa
đem lúa vào kho, nông phu lo sợ sương mù, mưa đã, nắng hạn
có thể xảy đến. Mà nếu không gieo thì không gặt được
mùa. Những lo lắng ấy đem lại cho họ khổ đau.
Bạn
có thể nghĩ làm thương gia sung sướng hơn nông phu, nhưng
thương gia cũng khổ. Họ phải bỏ cha mẹ, con cái, bạn bè
lại và liều mạng ra đi đến những vùng đất xa xôi. Họ
không thể nghỉ ngơi dù ngày hay đêm. Họ qua sông, vượt
đèo, đi những con đường chật hẹp. Một số không lời
mà còn mất hết vốn. Họ còn có thể bị kẻ thù, cướp
hay trộm giết mất.
Ngay
cả nếu bạn không có tài sản gì bạn cũng khổ. Kẻ ăn
xin khổ vì hôm nay được ăn thì lo ngày mai không biết lấy
gì ăn. Điều ấy làm họ đau khổ, họ đi tìm thực phẩm
nhưng đôi khi không được chút gì. Dù có tiền của, bạn
cũng khổ vì tiền. Kẻ ăn xin mang đi một ít, người mượn
tiền mang đi một ít, quan quyền mang đi một ít, chuột mèo
tha bớt một ít. Người giàu khổ vì tích chứa được tài
sản mà không thể bảo vệ được nó.
Bạn
có thể đau khổ vì mất của, bị người nói xấu. Những
người buôn bán, thợ mộc, thợ may… thì có khi làm không
đủ sắm thực phẩm, y phục, tiền nhà; khổ vì không ai kính
trọng, vì kiêu mạn ganh ghét; vì có khi không kiếm được
cái ăn.
Có
thể chúng ta đã thụ giới, nhưng nếu không tu hành chân chính,
thiểu dục tri túc, thì nội một việc đi cúng bái tại nhà
cư sĩ cũng là một hình thái đau khổ.
Khi
nhà nước đi điều tra họ cứ nghĩ dân hạnh phúc, nhưng
không. Thức ăn họ đạm bạc, áo rách, tài sản bị đánh
thuế nên không được tự do; họ có thể bị nhục mạ, đánh
đập v.v… Một số người không có thức ăn quần áo gì
cả và buộc lòng phải đi đến cha mẹ bà con hay cả đến
người lạ để xin. Một số người lại không còn phương
tiện để làm bột lúa mạch, thế nhưng họ vẫn bị đóng
thuế. Tai nạn có thể giáng xuống đầu họ, họ có thể
bị trừng phạt nặng v.v… Tóm lại là họ bị bức bách
cả ngày lẫn đêm.
Dân
chúng có thể nghĩ rằng những nhân viên nhà nước thật sung
sướng, nhưng không phải vậy. Àryadeva nói:
Người
trên cao thì có nỗi khổ tâm;
Người
thường thì bị khổ thân.
Hai
nỗi khổ này xâm chiếm thế gian
Từng
ngày một.
Nghĩa
là bạn dù làm vua cũng vẫn khổ: bạn mang lấy gánh nặng
nỗi khổ của cả nước bởi vì những tranh chấp và những
đề tài khó chịu trong nước thường được mang đến trước
bạn. Bạn sẽ có kẻ thù chưa được hàng phục: những người
thân chưa được che chở; bạn lo sợ luật pháp không thể
trị dân; bạn lo sợ mất uy quyền v.v…
Những
người xuất gia chúng ta chỉ ăn một bữa trưa nhưng lại
phải mỏi mòn vì quá nhiều công việc.
Nói
tóm lại dù bạn chỉ có một con ngựa bạn có thể bảo rằng
có một con ngựa là một hình thức khổ đau.
Khi
người ta mới gặp nhau lần đầu họ nói với nhau những
lời rất tử tế; nhưng không bao lâu họ chỉ cãi nhau, dùng
những lời châm chọc. Đức Dalai Lama thứ 7 nói:
Bất
cứ người nào bạn gặp - người sang kẻ hèn,
Tăng
hay tục, nam hay nữ -
Dù
họ có hoàn cảnh tốt đẹp hay không
Nỗi
đau kiếp nhân sinh nơi họ vẫn là một…
Đối
với bạn bè và người ngang hàng, họ có vẻ bất hạnh.
Nói
cách khác, nhìn bên ngoài có người trông bảnh bao có kẻ
trông tồi tàn, nhưng bên trong tất cả mọi người đều khổ
như nhau.
Nơi
cư trú của chúng ta có thể không vừa ý, có thể có nhiều
điều không ổn: không có bàn ghế, bạn bè v.v… Tuy nhiên
dù ta có chỗ ở tốt nhất, bạn bè tốt nhất, ta cũng không
thoát khỏi khổ đau. Ngay dù chúng ta thay thế tất cả hàng
trăm hay hàng ngàn tôi tớ, học trò, bằng hữu, họ vẫn không
làm chúng ta hài lòng tất cả. Không ai thực sự giống ai,
và đây là một dấu hiệu cho thấy dù làm bạn với bất
cứ ai, ta cũng chỉ tăng thêm nỗi khổ.
Bất
cứ gì bạn sử dụng, ngay cả trà, bạn cũng đang mở cửa
để đón lấy khổ đau. Bất cứ bạn ở đâu, dù trong tu
viện, đó là một nơi ẩn cư, hy vọng sẽ khá hơn. Nhưng
ngay đến đấy chúng ta cũng gặp một vài người ta không
chịu nổi. Bởi thế chúng ta đi hành hương, nhưng điều này
cũng không làm cho ta hạnh phúc, nên ta trở về quê cũ cứ
nghĩ rằng việc này sẽ tốt hơn. Cuối cùng chúng ta đâm
ra nóng nảy.
Khi
nói chuyện, chúng ta chỉ thảo luận về những điều đáng
chán, như thực phẩm, thời trang, danh tiếng của người khác
- và điều này chính là sự tai hại mà sinh tử đã đem đến
cho ta.
Tôi
đã kể cho bạn nghe nỗi khổ của cõi người. Không không
biết được như vậy, thì bạn dễ cho rằng chỉ vì chỗ
bạn ở, những người bạn quen đã gây khổ cho bạn, hoặc
nỗi khổ sinh tử là một cái gì chiếm một không gian rộng
lớn. Bởi thế bạn phải hiểu vấn đề sinh tử và biết
rõ gốc rễ khổ đau như tôi đã giải thích. Khi bạn chưa
quay lưng với sinh tử, thì bạn vẫn còn kinh quá vô lượng
khổ đau, dù bất cứ gì xảy đến.
b-2.2.
Nghĩ về nỗi khổ loài tu la
Bạn
có thể nghĩ: “Nhưng nếu tôi sinh làm loài tu la thì có sung
sướng không?” Ngay cả trong tái sinh ấy, bạn cũng chỉ có
đau khổ. Bức thư Long Thụ nói:
Loài
tu la bản chất là rất khổ
Vì
chúng ganh tị với sự vinh quang của chư thiên.
Chúng
phân biệt, nhưng không thấy được chân lý.
Vì
luân hồi làm cho mờ mịt.
Loài
tu la cư trú trên phần núi Tu di nằm dưới biển. Chúng có
4 đô thị: đô thị Sáng chói, đô thị Nguyệt - tràng, đô
thị Chỗ Cao quý, đô thị Bất động. Bốn tầng đô thị
này cách nhau cũng như khoảng cách bốn tầng của chư thiên
ở trên phần trên núi Tu di.
Thông
thường loài tu la không thể cạnh tranh vói chư thiên trừ
một vài điểm ngang nhau. Và chư thiên thường ăn trộm những
tu la nữ sinh đẹp. Chư thiên thường có của cải nhiều hơn,
chẳng hạn như cam lồ bất tử, và bởi thế tu la mãi mãi
bị dày vò bởi ngọn lửa ganh ghét. Nếu chúng ta thường
bất hạnh khi ganh tị với những kẻ thù chỉ dồi dào hơn
ta một ít, thì hãy tưởng tượng sự dồi dào to lớn của
chư thiên khó chịu thế nào đới với tu la. Khi những tu la
không chịu đựng nổi sự ghen tức, chúng gây chiến. Con voi
lớn của chư thiên dùng vòi tung những tảng đá vào tu la.
Tu la ném khí giới vào chư thiên, những chư thiên chỉ chết
khi cổ bị thương; còn tu la có thể chết khi bị khí giới
đánh trúng bất cứ chỗ nào trên thân thể, bởi vậy chúng
luôn luôn bại trận, không bao giờ thắng được chư thiên.
Ở cõi người, chúng ta thường kinh hãi khi thấy hai đạo
quân đánh nhau không cân sức, vậy mà loài tu la phải đánh
một trận chiến như thế chống lại chư thiên. Điều ấy
có làm chúng sợ hãi không? Chúng vô cùng kinh hãi. Những đạo
quân của tu la phải chiến đấu liên tục như thế cho tới
chết, nên chúng rất đau khổ. Những tu la nữ ở nhà cũng
bị nỗi khổ dày xéo, vì chúng có thể chứng kiến mọi sự
trên mặt hồ Sudarshana - sự thất bại của đạo quân tu la,
cái chết của chồng họ v.v…
Mặc
dù loại tu la cũng có trí tuệ nhưng khi tái sinh chúng bị
nghiệp che lấp nên không thấy được chân lý.
b-2.3.
Nghĩ về nỗi khổ chư thiên.
Bạn
có thể hỏi: Chư thiên có sung sướng không? Không, chư thiên
cõi dục cũng kinh quá nỗi khổ: khổ vì phải sa đọa khi
rời khỏi tái sinh ấy, khổ vì bị đe dọa, khổ vì bị què
quặt, khổ vì bị đọa đày. Nỗi khổ bị đọa là như sau:
Bức
thư của Long Thụ nói:
Màu
da thân thể họ trở nên xấu xí,
Những
chiếc ngai không làm họ vui lòng,
Hoa
trênđầu họ úa tàn,
Y phục
họ thấm vết bẩn
Và
lần đầu tiên họ toát mồ hôi.
Đấy
là năm suy tướng báo hiệu cái chết;
Chứng
tỏ rằng họ sẽ rời khỏi tái sinh thù thắng này.
Khi
điều này xảy đến cho chư thiên ở thiên giới.
Họ
công bố rằng.
Khi
điều này xảy đến cho chư thiên ở thiên giới
Họ
công bố rằng ngay những người ngoài trái đất cũng sẽ
chết
Họ
như những điềm báo sự chết chóc.
Nói
cách khác, có năm dấu hiệu báo cái chết từ xa và năm dấu
hiệu báo cái chết tiến lại gần, và khi mười dấu hiệu
ấy xuất hiện thì chư thiên đau khổ. Vẻ sáng chói trên
thân họ phai tàn; ho không chịu ngồi trên ngai; hoa họ mang
bị héo úa; y phục bắt đầu thấm dơ; họ ra mồ hôi, thân
thể họ ít sánh sáng, nước dính vào thân họ khi họ tắm
rửa; đồ trang sức họ đeo phát ra những âm thanh khó chịu;
mặt họ chớp nháy; và họ cứ ở lì một chỗ. Khi mười
dấu hiệu này xuất hiện, họ đi đến một nơi khuất nẻo
để than khóc, quằn quại như cá cạn nước. Chư thiên trải
qua những đau khổ này trong bảy ngày ở cõi trời. Trong cõi
Tứ thiên vương chẳng hạn, nỗi khổ này kéo dài một thời
gian bằng ba trăm năm mươi năm ở cõi người.
Chư
thiên trải qua ba giai đoạn: tái sinh về trước đã khiến
họ sinh vào cõi trời, tình trạng hiện tại là làm trời,
và nơi họ đi đến sau khi chết ở cõi trời. Họ biết cả
ba điều ấy, nên họ biết rõ kế tiếp mình sẽ tái sinh
ở đâu. Chư thiên không sử dụng phần thời gian đầu của
tái sinh cõi trời để tạo dù chỉ một loại phước hành
nào, như là tự xét nỗi khổ của mình và phát sinh từ bỏ,
hay xét những khổ của người khác để phát sinh xót thương.
Do vậy những công đức họ tích lũy từ trước cạn dần.
Chẳng hạn bạn mang một khăn quàng giá trị mười đồng
trong khi những tu sĩ khác mang khăn quàng chỉ giá trị một
đồng, thế là bạn đã tiêu phí gấp mười kẻ khác. Cũng
tương tự như thế, phúc lạc ở cõi trời cường liệt đến
nỗi nó tiêu mòn một số lớn công đức. Vì vậy mà chư
thiên thường tái sinh xuống những cõi thấp. Đó là lý do
tại sao thời gian hiện tại là tốt nhất cho ta tích lũy công
đức, chứ không pahỉ cho ta phung phí quả báo của công đức.
Chư thiên biết họ sẽ đọa nên rất đau khổ. Họ thấy
rõ mình sẽ mất hết những huy hoàng - cung điện, thân thể,
sở hữu, bạn bè, vân vân - và sẽ bị tái sinh trong những
cõi thấp kém. Nỗi khổ tâm của họ gập mười sáu lần
nỗi khổ địa ngục. Chúng ta cũng đau khổ lo sợ như thế
khi chết, mặc dù ta không chắc tái sinh kế tiếp của mình
xấu hay tốt. Nhưng chư thiên và thiên nữ khác không thể
nào chịu nổi khi nhìn những hiện tướng của cái chết;
họ tránh né chúng như né một thây chết, và để mặc những
vị trời sắp chết trong cô độc. Những vị này bảo bằng
hữu: “Tôi chỉ còn sống một thời gian ngắn rồi sẽ đi
đến tái sinh mới, một cõi đau khổ; bởi thế bây giờ tôi
muốn gặp gỡ các bạn.” Họ nói những lời van nài đứt
ruột như thế, nhưng những vị trời khác không thể nào chịu
nổi ngay cả chuyện nhìn thẳng vào mắt họ.
Bạn
bè cố cựu đã từng thân thiết với họ, bây giờ đặt
những cái hoa ở đầu một cây sào và đứng từ xa mà đặt
hoa lên đầu họ và bảo: “Sau khi bạn chết từ cung trời
này, bạn sẽ tái sinh vào cõi người; mong bạn tích lũy công
đức để lại lên đây.” Họ chỉ làm được đến thế
là cùng, nhưng điều ấy cũng chỉ tăng thêm nỗi khổ của
những vị trời đang chết và đau khổ lo lắng nhiều hơn.
Những
vị trời ít công đức trông thấy sự vinh quang dư dật của
những vị nhiều công đức, làm cho họ càng khiếp sợ và
đau khổ lo lắng nhiều hơn.
Khi
chư thiên và tu la đánh nhau, họ kinh quá nỗi khổ bị mất
chân tay, bị què quặt, và bị tử trận. Những vị trời
ít thế lực đau khổ vì những vị trời nhiều thế lực
hơn đẩy họ ra khỏi trú xứ.
Ở
cõi Sắc và Vô sắc, chư thiên không bày dấu hiệu chết,
nhưng vẫn bị bức bách của các pháp hữu vi: họ vẫn còn
vọng tưởng và chướng ngại, và họ khổ vì sẽ bị tái
sinh vào cõi xấu hơn: họ không có năng lực để lưu lại
trong cõi này, không có năng lực để kiểm soát cái chết
hay để biết mình sẽ đi đâu sau khi chết. Thế Thân (Vasubandhu)
nói:
Những
chư thiên cõi Sắc và Vô sắc
Tạm
thoát “khổ khổ” trong một thời gian,
Nhưng
những vị chúa tể của định nhất tâm này
An
trú bất động trong nhiều thời kiếp
Bởi
thế là điều chắc chắn là họ không được giải thoát,
Và
về sau sẽ đọa khỏi cõi ấy.
Nói
cách khác, khi bạn sinh làm một vị cõi trời Vô sắc chẳng
hạn, bạn biết đã được tái sinh. Rồi bạn nhập định
trong nhiều kiếp, và cuối cùng chét rơi xuống cõi thấp.
Bạn đau khổ vì nỗi bất lực không duy trì được tình trạng
của mình. Những tái sinh làm chư thiên đã tiêu xài hết công
đức, và khi không còn công đức nào nữa thì những vị trời
phải từ giã đời sống ấy mà tái sinh vào một cõi thấp
hơn. Nhưng vì tính tương tục của trí tuệ nơi họ đã bị
gián đoạn, những vị trời này còn ngu ngốc và thiếu trí
tuệ hơn những chúng sinh khác.
Nhiều
người lầm lẫn trạng thái thiền định chứng là giải thoát,
và tưởng rằng khi đạt đến những trạng thái ấy là họ
đạt giải thoát. Về sau, khi họ thấy mình sắp tái sinh,
họ lại phủ nhận rằng “không có giải thoát” và bởi
thế họ tái sinh vào địa ngục Vô gián. Bởi thế tái sinh
vào các cõi cao những không khác gì ở trong nồi đồng của
địa ngục - bạn chỉ có lạc đường một lúc. Quả thực,
chẳng thà làm một bà già niệm Phật còn hơn!
Đức
Dalai Lama thứ bảy nói:
Cái
gọi là “ba cõi luân hồi”
Là
một nhà sắt nóng chảy:
Đi
khắp cả mười phương hướng
Bạn
vẫn bị đốt cháy.
Tim
bạn đau nhói
Nhưng
thế đấy là cảnh ngộ của bạn
Khi
lang thang trong nơi xấu ác này
Thì
hoàn cảnh bạn là rất đáng buồn.
Nói
cách khác, dù bạn tái sinh vào đâu trong cõi sinh tử, từ
địa ngục A tỳ lên tận cõi trời Hữu đảnh, cũng đều
như thẻ là ở trong mọt cái nhà bằng sắt nóng chảy có
sáu tầng (lục đạo luân hồi - DG) - nghĩa là bạn tuyệt
đối vẫn chưa thoát khổ. Có lần, vào một thời đói kém,
trẻ con đòi bột lúa mạch nhưng người ta cho chúng nhiều
của cải. Chúng nhất định không động tới và bảo “Ôi,
đấy chỉ là của cải!”. Cũng thế, dù bạn tái sinh ở
đâu, bản chất vẫn là khổ, chỉ có khác nhau ở vài phương
diện, và mọi người đều có sung sướng và bất hạnh ngang
nhau.
Tóm
lại bạn luôn luôn bị dằn vặt bởi ba loại khổ, bởi thế
ba loại khổ này này được gọi là chiều dài và chiều rộng
của đau khổ.
Trong
cõi luân hồi chúng ta khởi lên những ý nghĩ: “Tôi sung sướng”.
Nhưng những ý tưởng này tự bản chất cũng là khổ. Những
ý nghĩ cho rằng “Tôi dửng dưng” cũng là đau khổ tự bản
chất. Khi chúng ta dội nước lạnh lên một vết thương, chúng
ta tạm thời cảm thấy sung sướng của chúng ta cúoi cùng
cũng chuyển thành đau khổ, đó là nỗi khổ của sự biến
đổi. Không những các lạc thọ bị ô nhiễm này mà tất
cả những tâm và tâm sở tương ưng với chúng và bất cứ
đối tượng ô nhiễm nào đưa đến những lạc thọ ấy -
tất cả đều thuộc về nỗi khổ của sự biến dịch.
Khi
bạn mới bị bỏng lửa, bạn không thực sự bị hơi nóng
hành hạ, mặc dù bản chất của vết bỏng là hơi nóng. Điều
này chỉ tạm thời trong khi chưa có cảm giác gì nóng hay lạnh
tiếp xúc với vết thương. Cũng vậy, những cảm thọ xả
cùng với những tâm sở và đối tượng của nó, được liên
kết với những hạt giống của khổ đau và vọng tưởng
vị lai; chúng cũng liên kết với những bất thiện tâm sở
luôn luôn có mặt. Bởi thế cảm thọ “xả” là sự khổ
lan khắp các pháp hữu vi.
Khi
da bạn bị bỏng mà còn bị chạm vào nước sối thì bạn
cảm thấy một nỗi khổ rõ rệt, và đây là nỗi đau đớn
tệ nhất. Cảm thọ “khổ” cũng như thế. Cảm giác đau
khổ hoành hành thân và tâm - tâm vương tâm sở và đối tượng
cảm thọ - là khổ khổ. Khi ta có cảm giác “tôi khổ”
thì gọi đó là khổ khổ.
Khái
niệm của bạn về hạnh phúc chính nó cũng là nỗi khổ của
sự biến dịch. Một dấu hiệu rằng đấy không phải là
hạnh phúc mà chỉ là quan niệm của bạn về hạnh phúc, do
bởi sự kiện nỗi khổ của bạn sẽ tăng sau một thời gian.
Nỗi khổ của bạn lúc đầu chỉ là một giọt ở dưới
ngưỡng cửa; về sau nó sẽ lên quá ngưỡng cửa, và thời
gian xen vào giữa là khái niệm của bạn về hạnh phúc.
Giả
sử chúng ta đang ngồi bóng im, sau một lúc ta sẽ cảm thấy
lạnh, bởi thế ta dời ra dưới ánh nắng. Chúng ta dường
như cảm thấy hạnh phúc trong một lát, nhưng đấy không phải
là hạnh phúc. Khi chúng ta khổ sở, thì bất cứ gì chúng
ta làm chỉ tăng thêm nỗi khổ của ta; cũng thế nếu sự
đi ra ngoài nắng là hạnh phúc thì đáng lẽ ta sẽ không bao
giờ cảm thấy khổ sở dù có ngồi bao lâu dưới nắng. Nhưng
sự thật không phải vậy: chúng ta lại khổ sở, và chỉ
một lát sau ta phải đi trở lại vào bóng im. Nỗi khổ của
chúng ta đã vượt lên trên lằn mức của nó mặc dù điều
này trong thực tế là không rõ rệt.
Điều
tương tự cũng xảy đến khi bạn đi bộ: khi mệt bạn ngồi
xuống và dường như cảm thấy sung sướng trong một lúc,
những nỗi khổ phải đứng lâu chỉ có giảm xuống dưới
mức chịu đựng, nỗi khổ của sự ngồi chưa xuất hiện
rõ rệt mặc dù nó sẽ vượt lên trên lằn mức khi bạn ngồi
đã chán. Rồi bạn nghĩ rằng, tôi muốn đi dạo. Khi bạn
đứng lên, nỗi khổ của sự ngồi lại tụt xuống dưới
lằn mức, còn nỗi khổ của sự đứng thì chưa lên đến
lằn mức báo động v.v… Aryadeva nói:
Bạn
có thể thấy rằng dù hạnh phúc tăng lên bao nhiêu
Nó
cũng sẽ chấm dứt
Cũng
vậy đau khổ cũng tăng thêm
Những
không có cùng tận.
Các
uẩn bị ô nhiễm là một trường hợp của nỗi khổ lan khắp
các pháp hữu vi: sự sinh ra các uẩn này khiến người ta trở
thành một dụng cụ để chứa khổ. Bạn kinh quá những nỗi
khổ nóng lạnh của địa ngục bởi vì bạn đã nhận các
uẩn của một chúng sinh ở địa ngục; bạn kinh quá những
nỗi khổ của một ngạ quỷ đói khát bởi vì bạn đã nhận
các uẩn của một quỷ đói; khi bạn tạo cho mình thân thể
của một con lừa chẳng hạn, thì bạn mang trên lưng một
gánh nặng, bị quất bằng roi da, v.v… vì bạn đã tạo cho
mình khí cụ để kinh quá những nỗi khổ này.
Nói
tóm lại, ngay cả nỗi khổ không thể chịu đựng khi bị
gai đâm xảy ra cũng vì bạn bị nhiễm một bộ sậu các uẩn.
Cũng như một người mang một gánh nặng trên lưng trần và
không bao giờ hết khổ khi đặt gánh nặng xuống, bạn sẽ
không bao giờ thoát khỏi bất cứ loại khổ nào cho đến
khi bạn thoát khỏi gánh nặng của các uẩn bị ô nhiễm.
Kyabje
Pabongka Rinpoche kể chuyện Mục Kiền Liên đưa Shrìjàta đến
bờ biển và chỉ cho ông xem những bộ xương, những thây
người v.v… từ những đời quá khứ của mọi người, làm
cho Shrìjàta bị kích động đến nỗi phát tâm từ bỏ.
Sỡ
dĩ gọi là “các uẩn bị nhiễm ô” vì ba lý do:
Lửa
phát xuất từ dăm bào thì gọi là “lửa dăm bào” các uẩn
xuất phát từ vọng tưởng quá khứ - nghĩa là nguyên nhân
chính gây ô nhiễm - nên hậu quả được đặt tên theo nguyên
nhân.
Một
người lệ thuộc vào vua là “người của vua.” Vọng tưởng
- nguyên nhân gây ô nhiễm - là một hậu quả được đặt
tên theo nguyên nhân.
Một
người lệ thuộc vào vua gọi là “người của vua.” Vọng
tưởng - nguyên nhân gây ô nhiễm - là một hậu quả của
các uẩn bị ô nhiễm; vật được chống đỡ mang tên của
cái chống đỡ.
Một
cây sản xuất ra thuốc hay một loại hoa được gọi là “cây
thuốc” hay “cây hoa”. Bạn sẽ bị si mê nên bị ảnh hưởng
bởi các uẩn này - vì vậy tên của hậu quả được gán
cho nguyên nhân.
Những
uẩn này là nỗi khổ lan khắp tất cả pháp hữu vi, vì những
ác pháp khổ và mê lầm luôn luôn đi liền với chúng. Bao
lâu người ta còn có những uẩn này thì mỗi lần người
ta không có cảm giác đau khổ người ta đều sẽ phải phát
sinh nhiều đau khổ sau đó bằng những cách khác nhau. Bởi
thế nỗi khổ của các pháp hữu vi (hành khổ - DG) lan khắp
tất cả khổ, và là căn bản của hai loại khổ kia (khổ
khổ và hoại khổ). Các uẩn tạo ra dụng cụ chứa khổ trong
tái sinh này bởi vì chúng tạo ra dụng cụ chứa khổ trong
tái sinh tương lai đưa đến đau khổ. Trong tất cả loại
khổ, khổ về các uẩn là tệ nhất; sinh tử là một tình
trạng vô phương cứu chữa ở trong đó người ta phải chịu
gánh nặng các uẩn bị ô nhiễm do nghiệp và vọng tưởng.
Điều này có nghĩa rằng ta phải tái sinh từ cõi trời Hữu
Đảnh xuống cho đến địa ngục Vô Gián, và luân chuyển
giữa hai cõi này trở đi trở lại nhiều lần. Cho nên thật
đúng để nói rằng chính các uẩn bị ô nhiễm là sinh tử.
Muốn chán ngấy sinh tử thì ta phải chán ngấy ô nhiễm. Khi
người ta chưa chán ngấy cái khổ thấm khắp các pháp hữu
vi thì ta chưa chán ngấy cái khổ thấm tháp các pháp hữu
vi thì ta chưa thật tình chán ngấy sinh tử.
(Kyabje
Pabongka còn thảo luận về tất cả điều này một cách chi
tiết.)