PHẦN
BỐN
PHẠM
VI TRUNG BÌNH
NGÀY
MƯỜI LĂM
Kyabje
Pabongka Rinpoche trích dẫn lời Àryadeva:
Hỡi
phàm phu! Làm sao ngươi lại không sợ
Bị
trói buộc vào đấy
Không
bao giờ cùng tận
Trong
biển khổ ngươi rớt vào.
Sau
khi kể một mẫu chuyện để giúp chúng tôi khởi động lực
và nhắc lại những tiêu đề đã bàn, ngài ôn lại chương
“Phát Sinh Những Ý Tưởng Cầu Giải Thoát.” Rồi ngài dạy
cách tu tập.
Như
trong các nghi thức chuẩn bị, bạn phải nghĩ về nỗi khổ
sinh tử trong khi quán tưởng bậc thầy ngồi trên đỉnh đầu.
Giữa các thời khóa thiền, hay đọc những kinh dạy về những
lỗi lầm của sinh tử v.v…
Khi
bạn thấy một điều gì thuộc về sinh tử - hạnh phúc, quyền
lực, của cải v.v… mà bạn đâm ra chán mệt, nghĩ: “Đấy
là những vật lừa bịp, đấy chỉ là đau khổ,” thế là
bạn đã được kích động để phát sinh ý muốn từ bỏ.
Bạn
có thể bị kích động để từ bỏ những vật ấy khi bạn
gặp vài vấn đề như bị phạt, bị giáng chức, v.v… nhưng
đây chỉ là sự từ bỏ nông cạn, chỉ là một phần ảnh
mờ nhạt của từ bỏ. Bao lâu bạn còn sinh ra trong cõi sinh
tử, thì bạn vẫn hoàn toàn chưa thoát khổ; nếu bạn muốn
vĩnh viễn thoát khổ, thì bạn phải cắt đứt dòng tương
tục tái sinh. Bạn phát sinh một khát khao giải thoát khi bạn
thấm mệt vì sinh tử và mong muốn đạt đến một vài bảo
đảm - nghĩa là sự từ bỏ.
Đức
Tsongkapa vĩ đại nói:
Sau
khi thiền quán, khi bạn không còn khát khao
Những
huy hoàng của sinh tử dù trong chốc lát,
Khi
tư tưởng của bạn ngày đêm
Đều
luôn luôn cầu giải thoát,
Thế
là bạn đã phát sinh sự từ bỏ.
Khi
những người khác làm cho tôi pháp tòa đẹp đẽ, bày tỏ
với tôi niềm cung kính, tôn trọng, v.v… tôi nghĩ: “Tất
cả đấy đều là vô thường, tất cả đều là đau khổ,”
và tôi tự nhiên bị kích động để từ bỏ. Tôi đã có
được điều này một thời gian. Bất kể bạn thấy được
sự huy hoàng bao nhiêu trong sinh tử, điều ấy cũng phải tăng
thêm sự chán ngấy của bạn đối với sinh tử. Khi người
ta chết, họ trải qua nỗi khổ tâm khi nhận ra rằn họ sẽ
bị xa lìa tất cả tài sản, quyến thuộc trên đời này;
nhưng đây chỉ là một ý thức về vô thường rất nông cạn,
do những chuyện tầm htường của cuộc đời gợi nên.
Điều
quan trọng là phải sử dụng một vài phương pháp để khai
triển trong dòng tâm thức của ta những tư tưởng thuần tịnh
về động lực đưa đến từ bỏ. Điều chính yếu ta nên
khát khao là Phật quả, muốn thành Phật quả chúng ta phải
có tâm bồ đề, muốn có tâm bồ đề chúng ta trước hết
phải có lòng thương xót: và muốn có lòng thương xót thì
trước hết chúng ta phải nhận ra rằng tất cả hữu tình
đều đã là cha mẹ của chúng ta. Chúng ta phải phát sinh sự
từ bỏ bằng cách thiền quán về nỗi khổ sinh tử của chính
mình, và rồi phát triển lòng xót thương bằng cách thiền
quán về nỗi khổ của người khác. Như vậy điều chắc
chắn là không phải Phạm Vi Lớn không có sự thiền quán
về từ bỏ.
Tuy
nhiên, từ bỏ là đạo lộ chính yếu trong phần nói về Phạm
Vi Trung Bình. Khi chúng ta đã phát triển sự từ bỏ trong dòng
tâm thức, thì bất cứ công đức nào mà chúng ta làm đều
trở thành một nguyên nhân cho sự giải thoát của ta. Bao lâu
chúng ta chưa phát triển được một sự từ bỏ dù chỉ là
gượng ép, thì bất cứ công đức nào chúng ta làm cũng chỉ
quay thêm bánh xe sinh tử. Một ngoại lệ là công đức phát
sinh tùy thuộcvào năng lực của một ruộng phước. Nếu chúng
ta không xem trọng ba điều căn bản của đạo lộ, nếu chúng
ta tảng lờ ba căn bản ấy, thì dù chúng ta có nỗ lực tu
tập pháp gì sâu xa cách mấy - như thiền quán về các huyệt
đạo, về những luồng khí lực, về chư thiên, tụng thần
chú, v.v… - cũng sẽ không trở thành một phần của đạo
lộ đưa đến giải thoát hay toàn trí. Đấy chỉ là một
sự lãng phí năng lực. Bởi thế trước khi khởi sự tu tập,
điều cốt yếu là ta phải nỗ lực hướng đến từ bỏ,
bồ đề tâm và chánh kiến.
2.2.2.
XÁC ĐỊNH BẢN CHẤT CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN GIẢI THOÁT
Có
hai phần: (1) nghĩ về nguồn gốc đau khổ - những giai đoạn
buộc chúng ta vào sinh tử; (2) thật sự xác định bản chất
con đường đưa đến giải thoát:
a.
Nghĩ về nguồn gốc của đau khổ - các giai đoạn buộc chúng
ta vào sinh tử.
Có
3 tiêu đề phụ: (1) Vọng tưởng được triển khai cách nào;
(2) Nghiệp được tích lũy cách nào. (3) Người ta bỏ thân
thọ thân cách nào.
a-1.
Vọng tưởng phát triển cách nào
Có
4 mục: (1) Nhận ra vọng tưởng; (2) Các giai đoạn trong sự
phát triển vọng tưởng; (3) Nguyên nhân của vọng tưởng;
(4) Lỗi lầm của vọng tưởng.
Có
hai cách để đưa vào Lam-rim đề mục “nghĩ về nguồn gốc
của đau khổ - Những giai đoạn buộc người ta vào sinh tử.”
Một cách là gán đề mục này vào một tiêu đề đầu tiên;
cách kia - được sử dụng ở đây - theo những bài giảng
truyền thống về Con Đường Nhanh và Con Đường Dễ và đặt
tiêu đề ở dưới mcụ “Xác định bản chất của con đường
đưa đến giải thoát.”
Trước
hết bạn phải nghĩ về những lỗi lầm chúng và riêng của
sinh tử, bị kích động để từ bỏ nó, và phát sinh ước
muốn giải thoát. Khi ấy bạn sẽ đặt câu hỏi:
Gì
là nguyên nhân của sinh tử? Sau khi tra tầm nguyên nhân và
trở thành quen thuộc với nó, bạn sẽ mong muốn bé gây sự
tương tục của nó.
Nguồn
gốc của khổ có hai phần: những vọng tưởng (phiền não)
phát sinh ra khổ và những nghiệp phát sinh ra khổ. Bạn phải
mang gánh nặng của các uẩn ô nhiễm, và đấy là do nghiệp.
Nghiệp phát sinh vì vọng tưởng. Bạn đã tích lũy vô lượng
nghiệp trong quá khứ, nhưng nếu không có những vọng tưởng
là khát ái và chấp thủ làm một nguyên nhân phụ thuộc thì
nghiệp không thể tự nó ném bạn vào một tái sinh mới: điều
ấy cũng giống như hạt giống thiếu nước. Dù bạn không
tích lũy nghiệp trong quá khứ, mà bạn có vọng tưởng, thì
bạn cũng sẽ tích lũy nghiệp mới do những vọng tưởng ấy,
và bởi thế bạn nhận một loạt những uẩn sinh tử trong
tái sinh kế tiếp. Dharmakirti (Pháp Xứng) nói:
Sự
khát khao hiện hữu trong sinh tử
Là
điều độc nhất trong các khái cạnh của nghiệp
Vì
các nghiệp khác không thể kết thúc đẩy tái sinh
Chúng
chỉ là những yếu tố phụ thuộc…
Nhưng
nếu có khát ái,
Ngài
ta sẽ nhận thêm nghiệp mới.
Như
vậy căn bản của sự tái sinh vào sinh tử là vọng tưởng.
Nói “vọng tưởng” nghĩa là cái gì bằng chính năng lực
của nó, có nhiệm vụ phát sinh nỗi bất an tức khắc trong
dòng tâm thức riêng ta, khiến nó không được chế ngự. Bởi
thế chúng ta phải nhận ra được những vọng tưởng. Nếu
không, thì cũng như không nhận ra được kẻ thù đã bắn
mũi tên độc: Chúng ta sẽ không biết áp dụng phương pháp
nào để chữa trị vọng tưởng ấy.
a-1.1.
Nhận ra vọng tưởng
Có
hai phần: (1) phiền não căn bản; (2) phiền não phụ thuộc.
a-1.1.1.
Phiền Não Căn Bản
Thế
Thân nói trong Kho Tàng Siêu Vật Lý:
Sáu
phiền não vi tế và rộng rãi
Trong
hiện hữu sinh tử là:
Tham,
sân, kiêu mạn
Ngu
si, tà kiến, nghi.
Nghĩa
là có 6 phiền não căn bản.
(i)
Tham
Khi
chúng ta thấy một vật hấp dẫn như đồ trang sức, thân
thể, thức ăn uống… Chúng ta phát sinh những ý tưởng như
không nuốn lìa những thứ ấy. Những vọng tưởng khác là
giống như bụi trên áo, dễ tẩy trừ: nhưng tham ái có nghĩa
là bám víu tập trung vào một cái gì, thì giống như dầu
đã dính vào vải, rất khó tẩy. Khi chẳng hạn ta nhìn một
vật, sờ nó, v.v… thì một góc của tâm tư ta khát khao bám
víu đối tượng này. Khi ấy sự tham ái tỏa rộng và rất
khó trừ.
Dây
trói tham ái và chấp thủ.
Buộc
bạn vào ngục tù sinh tử.
Nói
cách khác, tham ái là gốc rễ ngăn chúng ta không phái sinh
động lực từ bỏ sinh tử và cũng là một trong những yếu
tố chính trói buộc chúng ta vào sinh tử.
Một
cách để đối trị là thiền quán về khía cạnh bất tịnh
của thân xác, v.v… Ở đây bạn triển khai thái độ cho rằng
thân thể là bất tịnh: thi thể chảy máu, thi thể phân tán,
thi thể phình trương và cuối cùng là bộ xương. Khi bạn
bị rằng buộc với một người nào chẳng hạn, hãy quán
sát người ấy chỉ là cái đẫy 6 thứ hôi thối. Khi bạn
tham ăn thịt, hãy nghĩ về nguyên liệu chính của nó là hôi
thối, về việc nó có ra do giết hại một mạng sống. Khi
ấy sự tham ái và chấp thủ của bạn sẽ giảm bớt.
(ii)
Giận dữ.
Giận
dữ là tâm bị giao động mạnh khi ta thấy một cái gì khó
chịu như thấy kẻ thù v.v… Đối tượng của giận dữ có
thể là những hữu tình hay vật vô tri; khi chúng ta dính dáng
tới chúng, tâm ta hoàn toàn bị bối rối, bị quấy rầy và
ta muốn hại chúng.
Sự
giận dữ có hại lớn. Nó có thể tàn phá những công đức
của bạn như thể bị đốt trong một đống lửa. Sự giận
dữ làm cho người ta giết hại, đâm chém và đánh đập kẻ
khác v.v…
Ngay
nay người ta sử dụng nhiều danh từ êm tai để chỉ sự
giận dữ như “nóng tính,” v.v… Những người ấy có thể
không xem sự giận dữ là tai hại. Nhưng có câu: “Không có
tội lỗi nào bằng hận thù. Không có khổ hạnh nào bằng
sự kiên nhẫn.” Hoặc: “Sự giận dữ là khí giới giết
hại những tái sinh thù thắng của bạn.” Nói cách khác trong
tất cả vọng tưởng, sự giận dữ có sức mạnh lớn nhất
để phá hủy những công đức căn bản, nó là yếu tố chính
ném bạn vào đọa xứ. Bởi thế giận dữ rất tai hại. Nó
là yếu tố chính để ném bạn vào đọa xứ. Có nhiều cách
để phá hủy công đức tùy thuộc vào đối tượng của giận
dữ (xem Ngày Thứ Sáu). Bạn phải áp dụng những phương cách
chữa trị giận dữ như nhẫn nhục v.v… Tôi sẽ nói thêm
về giận dữ trong chương bàn về sáu ba la mật dưới đây.
(iii)
Kiêu mạn
Kiêu
mạn là quan niệm tự thổi phồng mình lên, nó có thể hiện
rõ trong tương quan với một đối tượng tốt hoặc xấu:
năng lực, tài sản, đức tính, gia đình, trí tuệ, đạo đức
của bạn - ngay cả giọng nói êm tai hay thể lực của bạn.
Khi bạn nhìn xuống từ một đỉnh núi cao, thì mọi sự ở
dưới thấp đều như nhỏ lại. Khi bạn tự cho mình cao hơn
thiên hạ, và có một cái nhìn tự thổi phồng mình, tức
là bạn khoác cho mình một sắc thái cao vượt. Chỉ cần một
đối tượng nhỏ nhặt cũng đủ cho bạn phát triển thói
kiêu căng. Như những người phái Kadampas ngày xưa nói: Có
phải hơi nước bốc lên nhiều hơn từ trên những đỉnh
núi tuyết không? Hãy xem có chút hơi nào bốc lên từ tuyết
dưới vực sâu! Họ cũng nói rằng đỉnh núi kiêu mạn sẽ
không ngập lụt với nước những thiện đức. Nói khác đi,
thật khó mà tu tập một đức tính nào nếu người ta có
thói kiêu căng. Một bậc thầy có thể dạy Pháp cho một người
kiêu căng, nhưng không ích gì.
Cách
chữa trị thói kiêu căng là nghĩ về một vài bảng kê mà
bạn không hiểu, nhất là sự phân loại đầy đủ các yếu
tố thuộc giác quan (CT. Một bảng liệt kê của Vazsubandhu
(Thế Thân) trong Kho Tàng Siêu Vật Lý - Tức Abhidhrma, dịch
âm là A tỳ đàm, dịch nghĩa là Thắng pháp - rất khó hiểu.)
Thỉnh thoảng nên nghĩ đến từng vật trong và ngoài hiện
hữu từ đỉnh đầu xuống đến gót chân bạn; bạn không
biết được bao nhiêu cái, và điều ấy phải diệt bớt thói
kiêu căng của bạn.
(iv)
Vô minh
Thông
thường vô minh hay bất giác (maripa Tạng ngữ) là ngược lại
với “biết” (rig-pháp); hay “biết” và “không biết.”
Vô minh là không biết, không thấy, không hiểu, không rõ ràng,
vân vân. Ví dụ như không thấy lửa vì mắt nhắm, hoặc không
trông thấy vật gì trong bóng tối đen. Vô minh cũng như mù
- không thấy bản chất hay hình thái hiện hữu của một pháp:
bốn chân lý, nhân quả, Ba ngôi báu, vân vân. Vô minh là gốc
rễ của mọi phiền não (hay vọng tưởng).
Có
một hệ thống triết học cho rằng vô minh là một với thân
kiến - tà kiến xem ngã đồng như những vật khả hoại (nghĩa
là các uẩn v.v…). Hệ thống khác thì cho rằng vô minh và
kiến chấp là hai cái khác nhau. Chẳng hạn, giả sử lỗi
lầm cho sợi dây là con rắn, là như tà kiến xem ngã với
các uẩn đồng nhau; thì vô minh sẽ là giống như cái nhân
của sự lầm lẫn ấy: do cuộn dây nằm trong tối, do bóng
tối mà người ta thiếu nhận thức sáng suốt về hình thái
hiện hữu của sợi dây.
Hệ
thống đầu do Nguyệt Xứng (Chandrakirti) và Pháp Xứng (Dharmakirti)
cùng các vị khác chủ trương; hệ thống thứ hai do Vô Trước
(Asanga) và đồ đệ chủ trương.
(v)
Nghi
Đây
là hoài nghi về Bốn chân lý, về Ba ngôi báu, về nhân quả,
vân vân: không biết những chuyện ấy có hiện hữu không,
có thật hay không. Nghi ngờ Ba ngôi báu làm cho ta không triển
khai được thực chứng. Đức Dalai Lama đệ nhất nói:
Hãy
cứu con ra khỏi hoài nghi, con ma đáng sợ,
Kẻ
tàn ác bay lượn trong một bầu trời
Đây
là sự mù lòa hắc ám,
Làm
hại cho lòng khát khao xác tín của con
Giết
hết sự giải thoát của con.
Khi
bạn nghi ngờ luật nhân quả, thì điều ấy ngăn bạn tái
sinh lên thượng giới; hoài nghi về bốn chân lý thì bạn
do thể đạt giải thoát. Hoài nghi quả thực gây vô số tai
hại. Nó được xem là một trong năm tà kiến (nghĩa là năm
căn bản phiền não đầu).
(vi)
Kiến chấp sai lầm
Có
năm kiến chấp sai lầm:
(1)
Thân kiến: đồng hóa ngã với cái khả hoại
Đây
là quan niệm sai lầm về năm uẩn - có đặc tính là sẽ hoại
diệt - và xem chúng chính là bản ngã, thuộc về ngã, tức
là “tôi” và “của tôi.”
Một
ví dụ: Khi người ta làm bạn tổn thương, hại bạn, thì
ý nghĩ “Tại sao chúng làm điều ấy cho ta?” hiện ra rõ
rệt trong tâm bạn; bạn nắm giữ lấy “cái tôi” như thế
nó hiện hữu cách ấy. Đấy là gốc rễ của tà nghiệp.
Ngay
những con kiến cũng có quan niệm này, đồng hóa cái ngã với
những thứ khả hoại. Nếu bạn lấy một cọng cỏ mà châm
chính vào mũi con kiến nó liên nghĩ ngay rằng “Tại sao chúng
làm chuyện ấy với tôi?” rồi nó cong lên, giả chết. Sau
dó, nó quay lại và bỏ chạy. Chính thân kiến - quan niệm
chấp ngã là cái khả hoại - đã khiến nó làm việc ấy.
(2)
Biên kiến: những quan điểm cực đoan
Những
quan điểm này hướng về bất cứ vật gì được chấp thủ
bởi ngã kiến trên đây; một quan điểm cực đoan xem những
vật ấy là trường cửu, bền bỉ, độc lập, là thực có,
vân vân (thường kiến - DG). Quan điểm cho rằng dòng tương
tục là cái “tôi” sẽ bị gián đoạn vào lúc chết, cũng
là một quan điểm cực đoan (đoạn kiến - DG).
Mặc
dù chính yếu những người không phải Phật tử mới giữ
những quan điểm này, song chúng ta đôi khi cũng có cái nhìn
sai lạc xem mọi sự thực có, hoặc nhìn sự vật bằng những
cách khác nhau cũng không kém phần ngu ngốc.
(3)
Kiến thủ: xem năm uẩn là tối thượng
Đây
là một tà kiến phát xuất từ bất cứ một kiến chấp sai
lầm nào kể trên, hoặc chấp ngã đoạn diệt, hoặc chấp
các pháp thường còn, hoặc chấp ngã chấp pháp là phi hữu.
Sự mê lầm này hướng về các uẩn của người giữ những
tà kiến ấy, xem các uẩn ấy là tối thượng.
(4)
Giới cấm thủ: xem một thứ đạo đức hay cách hành xử
nào đó là tối thượng
Quan
điểm này cho rằng sự đào luyện năm ngọn lửa, nhảy qua
chĩa ba, đứng một chân, vân vân, là những con đường đưa
đến giải thoát. Nó cũng xem một vài lối hành xử là tối
thượng. Như ngồi trên một tấm da thú. Một vài người nhận
ra nhờ thần thông rằng trong tiền kiếp họ làm chó, và điều
này làm họ mù quáng: họ muốn nhận một thân người trong
tái sinh kế tiếp, nên họ (lầm tưởng điều này là nhân)
bắt chước những hành vi của chó như sủa, v.v… Họ xem
điều này là tối thượng, nên làm cho thân thể và lời nói
của họ thực hành những tà hạnh.
(5)
Tà kiến
Tà
kiến gồm phần lớn là quan niệm cho rằng bốn chân lý, Ba
ngôi báu, nhân quả, v.v…không hiện hữu.
Hai
điều cần được xem xét ở đây: sự xác nhận lố bịch
- một cái phi hữu mà cho là thực có - và sự phủ nhận -
cái sự tuyệt đối không hiện hữu. Vài người không phải
Phật tử cho rằng thế giới do thần Vi nữ sáng tạo, đã
nhập thể mười lần vào thế gian; phái Số luận phân mọi
cái khả tri thành ra 25 loại và cho rằng nói chung, 25 nguyên
lý ấy tạo ra thế giới; những người khác lại khẳng định
thế giới do Tự Tại Thiên tạo dựng, vân vân. Những người
này tuyên bố có một cái gì được tạo ra trong khi thực
sự là không có - bởi thế đấy là những sự chấp có. Tuy
nhiên tà kiến là những sự phủ nhận (chấp không).
Kể
năm loại tà kiến như là một, cọng thêm năm cái chấp không,
thành sáu kiến chấp làm nên những mê lầm căn bản, vi tế
và rộng rãi.
Nếu
bạn là một người thường, thì nên áp dụng thuốc chữa
kiến chấp Àryadeva nói: “Cũng như các giác quan trong cơ thể,
vô minh si ám cũng cư trú trong tất cả những kiến chấp ấy.”
Nghĩa là, vô minh thấm khắp và làm nhân cho tất cả những
phiền não khác. Tuy vậy, vô minh si ám rất khó nhận diện,
bởi thế tôi sẽ bàn về nó dưới đây.
a-1.2.
Những giai đoạn trong sự phát triển tà kiến
Sáu
căn bản phiền não, quả thế tất cả phiền não, đều xuất
phát từ sự chấp thủ bản ngã (xem Ngày Hai Mươi Hai) và
thân kiến - quan điểm đồng hóa cái tôi với những vật
khả hoại. Tất cả đau khổ nghiệp và vọng tưởng bởi
thế đều xuất phát từ quan điểm cho rằng ngã là cái khả
hoại - nếu bạn xác nhận rằng thân kiến và vô minh chỉ
là một. Theo hệ thống không chấp nhận điều này, thì chính
vô minh là yếu tố then chốt.
Theo
hệ thống Trung quán Pràsangika, quan điểm đồng hóa ngã với
cái khả hoại là căn nguyên: Có quan điểm thuộc tri thức
(phân biệt ngã chấp - DG), có quan điểm thuộc bản năng.
Lại có hai loại quan điểm thuộc bản năng: chấp thủ “tôi”
và “của tôi.” Quan điểm đồng hóa ngã với cái khả hoại
là chấp thủ cái “của tôi” (ngã sở). Khi ai khen bạn chẳng
hạn, bạn nghĩ, “họ thật tốt đã khen tôi như vậy.”
Cái “tôi” rất sống động và ăn sâu trong tâm thức; vì
bạn có những ý nghĩ ấy, nên bạn cho đó là cái ngã, và
có quan niệm cho rằng cái ngã ấy là một người sử dụng.
Do quan niệm ấy, bạn bám lấy cái tôi, bạn đâm ra thương
người nào giúp bạn, ghét người nào hại bạn, và có sự
ngu si mê muội đối với những người xa lạ. Quyển Luận
về những Pháp có giá trị nói:
Bạn
biết người ta là “kẻ khác”
Vì
bạn cho mình có một cái ngã;
Bạn
chấp thủ vào tự và tha
Và
trở thành thù nghịch.
Những
điều này có tương quan;
Tất
cả ác hành phát sinh từ đấy.
Thực
Hành Trung Dạo của Pháp Xứng nói:
Mong
sao tâm tôi được
Rằng
mọi lỗi lầm đều phát xuất
Từ
tà kiến cho rằng
Các
uẩn và ngã là một…
Lúc
đầu tôi bám lấy ngã, cái “tôi”
Và
phát triển tham ái đối với các pháp…
Mặc
dù gốc rễ của sáu căn bản phiền não sau rộng chính là
vô minh, song người ta phát triển tham, sân, si vân vân do thân
kiến (chấp ngã là cái khả hoại). Và do tham ái, v.v… mà
người ta tích lũy nghiệp. Theo nghiệp này, người ta quay bánh
xe sinh tử. Gốc rễ của sinh tử là vô minh, sự chấp thủ
theo bản năng vào một cái ngã, và quan niệm cho rằng cái
ngã là năm uẩn khả hoại. Muốn từ bỏ vĩnh viễn sự mê
lầm, ta phải nỗ lực áp dụng thuốc chữa bệnh vô minh và
châp ngã - đó là trí tuệ liễu tri lý vô ngã. Trí tuệ này
bởi vậy giống như thuốc có thể phá trừ hàng trăm sự
ác. Sách Bốn Trăm Bài Kệ nói: “Đấy là lý do tại sao tất
cả phiền não được nhiếp phục nếu vô minh được nhiếp
phục.” Kinh Thập Địa nói: “Trong thế gian này, tất cả
tội lỗi đã phạm đều do chấp thủ có một bản ngã. Nếu
không có sự chấp ngã rõ rệt, thì những tội lỗi ấy đã
không xảy ra.”
Tuy
nhiên, khi chưa hiểu thấu vô ngã, thì ta vẫn phải dùng phương
tiện để đàn áp phiền não, để tạm thời xua tan chúng.
Ta phải đề phòng nguyên nhân của phiền não (hay vọng tưởng).
a-1.3.
Nguyên nhân của vọng tưởng
Có
sáu nguyên nhân.
a-1.3.1.
Nguyên nhân thứ nhất: nền tảng của vọng
Nền
tảng này gồm những hạt giống hay tùy miên (sự tiềm tàng).
Như khi ta không thể nhổ tận gốc mầm bệnh, thì ngay cả
một miếng ăn nhỏ cũng đủ gây bệnh, bởi thế khi gặp
dịp là ta sẵn sàng phát triển vọng tưởng trong dòng tâm
thức ta vì ta có sẵn những hạt giống của vọng tưởng.
Hạt giống ấy là nền tảng hay bản năng cho vọng tưởng
phát sinh.
a-1.3.1.
Nguyên nhân thứ hai: đối tượng của vọng
Đấy
có thể là một cái gì dễ chịu, khó chịu, hay bất cứ gì
khi gặp những vật ấy, vì ta chưa từ bỏ hạt giống mê
vọng, nên như Thế Thân nói:
Không
từ bỏ vọng tưởng
Vi
tế và rộng rãi:
Ở
gần đối tượng của vọng
Và
có những tư duy không thực tế-
Đấy
là trọn bộ nguyên nhân
Cho
những mê vọng xảy ra.
Nói
cách khác, ta phải tách rời mình khỏi những đối tượng
của vọng, nếu không sẽ phát sinh vọng tưởng. Những người
xuất gia nên tránh vọng bằng cách sống trong tu viện, am thất,
v.v… Điều ấy thật tốt cho những người sơ cơ chúng ta,
ta sẽ không phát sinh vọng tưởng nếu ta không trông thấy
những đối tượng làm phát sinh vọng tưởng nếu ta không
trông thấy những đối tượng trong một thời gian. Bởi thế
ta nên tránh chúng càng nhiều càng tốt. Trong vài bản văn
luyện tâm, ta đọc:
Người
còn phải đối trị vọng tưởng
Thì
cốt yếu nên tránh những đối tượng xấu xa.
Vô
Trước nói:
Hãy
từ bỏ những đối tượng xấu
Thì
vọng tưởng dần bị che khuất
Vì
bạn không xao lãng
Nên
những thiện hành dần tăng.
Tâm
bạn được thanh lọc
Bạn
sẽ có được niềm tin vào Pháp.
Đào
luyện sự độc cư
Là
việc của người con Phật.
Nói
cách khác, cốt yếu là phải từ bỏ những đối tượng làm
phát sinh vọng tưởng, và cư trú trong một nơi nào thuận
lợi cho việc này.
a-1.3.3.
Nguyên nhân thứ ba: xã hội
Bạn
phải từ bỏ sự bận rộn của bạn bè xấu ác. Tuy nhiên,
bất cứ ai dính vào cuộc đời này đều là bạn xấu, vì
họ nói toàn chuyên gây nên vọng tưởng, như chuyện rượu,
cờ bạc v.v… Bạn không nên để ý những người như vậy,
hoặc bị ảnh hưởng của họ. Nếu bạn rơi vào ảnh hưởng
họ, thì họ sẽ làm tăng trưởng thêm vọng tưởng nơi bạn,
bạn sẽ tham dự vào những hoạt động không thích đáng.
Ví dụ: Ngày xưa có hai người từ kinh đô xứ Paenpo, một
người tuống rượu một người không. Người đầu đi Retreng,
người sau đi Lhasa. Người đi Retreng gặp những tiến sĩ phái
Kadam. Người đi Lhasa gặp những bạn xấu. Về sau hai người
lại gặp nhau, và do ảnh hưởng bạn tốt và bạn xấu mà
người trước kia nghiện rượu nay từ bỏ, còn người không
uống bây giờ lại thành bợm nhậu.
Chúng
ta gọi thói bỏn xẻn keo kiệt bằng danh từ “cần kiệm”
thói giận dữ là “nóng tính”, vân vân. Chúng ta đặt những
cái tên êm tai cho những thói xấu ấy, nhưng chúng vẫn gây
tai hại lớn lao. Khi học trò nương vào một ông thầy hà
tiện giữ của thật kỹ, thì thói hà tiện nơi học trò tăng
thêm. Cũng vậy đối với những ông thầy nóng tính. Điều
quá dễ dàng để hiểu rõ là những tác dụng của bạn xấu,
bởi thế ta nên tránh bạn xấu.
Tuy
nhiên, mặc dù những người khát khao những vật thuộc đời
này đều làbạn xấu, ta không thể ruồng bỏ tất cả mọi
người, bởi vậy điều cốt yếu là đối xử họ rất cẩn
thận và đừng giao thiệp họ quá nhiều. Ngày xưa có một
xứ trong đó mọi người đều uống thứ nước gây bệnh
điên nên trở thành điên dại. Chỉ có ông vua còn tỉnh táo,
nhưng mọi người lại nói: “Vua điên.” Cũng vậy, ngày
nay những người tu hành không thích nghi với đám đông thường
tình, song điều này không hại gì, vì họ mong muốn theo đuổi
việc tu tập đến thành công. Khi bạn xấu khuyên bảo, bạn
đừng nên nói ngược với họ: hãy như một con trâu đực
già ươn ngạnh, và thực hành những điều quý báu nhất của
phái Kadampas - trước hết phải có tâm kiên cố như kim cương
rồi tự nâng đỡ mình bằng căn bản trí kim cương, và cuối
cùng đạt đến sự dũng mãnh như kim cương.
a-1.3.4.
Nguyên nhân thứ tư: thảo luận
Điều
này bao gồm sự đọc những sách có những chỉ dẫn nghe ra
hầu như có lý mà kỳ thực vẫn phát sinh vọng tưởng. Khi
bạn đọc những tác phẩm xấu ác như thế - chẳng hạn truyện
nhân gian về những công trạng của Cesar Ling, những luận
về tình yêu, những sách nói về bùa chú, dâm thư, vân vân
- thì chỉ có tăng thêm tham sân si nơi bạn. Nhưng nếu bạn
nghĩ về những công việc và đời sống của những thánh
nhân, thì có thể gieo những hạt giống giải thoát trong bạn,
bởi thế nên đọc những sách này.
Khi
người ta tụ hội thành từng nhóm, họ nói về nhiều điều
làm tăng thêm ái hoặc hận thù - như nói về vua chúa, quân
đội, đàn bà, những vụ kiện, vân vân. Đây cũng là một
nguyên nhân phát triển vọng tưởng.
a-1.3.5.
Nguyên nhân thứ năm: tập quán.
Zhangpa
Rinpoche nói: “Bạn như được vây phủ bằng những bản năng
do tập quán tư tưởng xấu…” Nói cách khác, do bạn quá
quen thuộc với vọng tưởng nên bạn phát triển tham ái, hận
thù, v.v… như một điều đương nhiên, ngay cả khi lơ đễnh.
Chúng
ta có những vọng tưởng si mê lớn hay nhỏ tùy cách ta quen
thuộc nhiều hay ít đối với chúng trong những đời quá khứ,
một vài người phát triển tham ái, thù hận hay bất cứ gì
một cách đậm đà vì một duyên cớ rất nhỏ nhặt. Chẳng
hạn, có người quen thói giận dữ không thể chịu được
ngay cả một tia nhìn khó chịu, vân vân. Những người như
thế không có cách nào khác ngoài ra áp dụng vài cách chữa
trị, và tìm mọi cách để ngăn ngừa những phiền não ấy
tiếp tục.
a-1.3.6.
Nguyên nhân thứ sáu: suy nghĩ không thực tế.
Đấy
là sự luôn luôn có những nhận xét quá đáng liên hệ đến
những đối tượng mà ta thích hoặc ghét, v.v… Đối với
đối tượng ta ưa thích như y phục chẳng hạn, thì ta nghĩ
nó có màu sắc đẹp, cắt may đẹp, cái nịt lưng đẹp, vân
vân. Đối với những đối tượng ta ghét, thì ta nghĩ: “Chúng
làm hại tôi thế này thế nọ.” Người ta ưa nghĩ lui nghĩ
tới về những đối tượng đáng ưa hoặc không đáng ưa
ấy.
Một
người có thể là kể thực hành Pháp. Nhưng vẫn khổ hoặc
có những vấn đề, nên đâm ra hoài nghi luật nhân quả v.v…
Người ấy sẽ phát triển vọng tưởng nếu những nguyên
nhân nói trên sinh khởi, bởi thế phải cố mà đề phòng
những nguyên nhân ấy. Nếu vị ấy không áp dụng thuốc trị,
những vọng tưởng sẽ gia tăng; vọng tưởng sẽ bị che lấp
nếu vị ấy áp dụng thuốc chữa. Bởi thế, hãy nỗ lực.
a-1.4.
Những lỗi lầm của vọng tưởng.
Trang
Nghiêm kinh nói:
Vọng
tưởng phá hũy ngươi
Phá
hoại hữu tình,
Phá
hoại đạo đức.
Ngươi
cho người ngang hàng là kẻ dưới,
Hộ
pháp và bậc thầy chê trách ngài,
Và
ngươi không để ý những đối thủ.
Ngài
sẽ tái sinh vào những hoàn cảnh bất lợi.
Những
gì ngươi có được hoặc không được
Đều
suy giảm, và ngươi phải chịu nhiều khổ đau.
Nói
cách khác, vọng tưởng (phiền não) có nhiều lỗi lầm. Khi
phát sinh vọng tưởng, dòng tâm thức bạn trở thành một
thực thể bất thiện; khi ấy bạn hành động một cách ngược
đời đói với đối tượng của vọng; điều này làm cho
những hạt giống tiềm tàng của vọng tưởng thêm vững chắc;
bởi thế bạn luôn luôn phát triển cùng một thứ vọng ấy,
nghĩa là tham ái, hận thù, hay bất cứ gì; và bạn đi vào
những cảnh giới mà những bậc thánh không đi. Những hành
nghiệp vô phước của bạn sẽ tăng vì hai lỗi lầm sau cùng
này. Bạn lạc ra khỏi giải thoát và toàn tri, trở nên xa
xôi với cả hai. Vọng tưởng làm cho những phước hành của
bạn thối giảm; nghĩa là nó làm cho bạn tự hại và hại
người; đạo dức thối giảm, bạn càng ngày càng ít được
quà tặng, ít được giúp đỡ. Phật và hộ pháp cũng chê
trách bạn. Những người khác cũng như bạn đều sẽ khổ
vì vọng tưởng phiền não của bạn làm cho kẻ khác muốn
giết bạn, vân vân. Trong đời này bạn phát triển tiếng
xấu vì vướng vào kiện tụng, tranh chấp, vân vân. Trong tương
lai bạn sẽ tái sinh vào nơi biên địa, hay vào những đọa
xứ. Nói tóm lại, có vô số lỗi lầm do vọng tưởng gây
nên.
Bởi
thế mỗi khi phát sinh một vọng tưởng bạn phải nhận ra
ngay tức khắc đấy là kẻ thù, và sử dụng một cách đối
trị để chấm dứt nó. Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Nếu
tất cả chư thiên, a tu la
Đều
trở thành kẻ thù của ngươi
Thfi
cũng không thể dẫn ngươi
Xuống
địa ngục Vô gián.
Vọng
tưởng là kẻ thù lớn nhất
Vì
mỗi khi gặp nó
Thì
có thể trong phút chốc
Nó
tung ngươi vào địa ngục ấy
Cho
đến khi núi Tu di cũng không còn.
Nói
cách khác, không có kẻ thù nào lớn hơn vọng tưởng. Khi
bạn làm vừa lòng kẻ thù, nó sẽ dịu cơn giận dữ và không
làm hại bạn. Vô lượng thống khổ mà bạn có khi bị thiêu
đốt trong lửa địa ngục Vô gián đều phát sinh từ vọng
tưởng. Do vậy, vọng tưởng sẽ ép buộc bạn đi vào sự
bất tịnh của sinh tử, bởi thế nó còn mạnh hơn tất cả
những kẻ thù của bạn trong ba cõi. Những người phái Kadampas
ngày xưa nói:
“Hãy
luyện tập đứng vững chống lại vọng tưởng, nhưng duỗi
tay cứu giúp hữu tình và làm lợi ích cho chúng.”
Geshe
Ban Gun - gyael nói:
“Tôi
canh gác cái cổng vào pháo đài tâm tôi với một giới là
những pháp đối trị. Không lúc nào tôi không làm việc này.
Khi vọng tưởng sẵn sàng nổi lên, thì tôi cũng sẵn sàng
để chấm dứt nó. Khi nó nghỉ ngơi thì tôi cũng nghỉ ngơi.”
Nói
cách khác, bạn phải xem vọng tưởng như kẻ thù tệ nhất
và áp dụng biện pháp chống lại nó tức khắc.
a-2.
Nghiệp tích lũy như thế nào
Có
hai loại nghiệp: ý nghiệp và hành động cố ý.
a-2.1.
Ý nghiệp
Vô
trước nói:
“Ý
nghiệp là gì? Đó là một tác động của uẩn gồm những
tâm và tâm sở khiến cho một ý tưởng hiện khởi. Nhiệm
vụ nó là làm cho tâm dấn mình vào thiện, bất thiện hay
trung tính.”
Nói
cách khác, một ý nghiệp là, ví dụ như một tâm vương kích
động cho ta cảm thấy cần phải nói những lời lăng nhục;
hoặc đó là nghiệp của tâm sở khích ta, cỗ vũ cho ta trong
khi ta nói những lời ấy.
a-2.2.
Hành động cố ý
Đấy
là hành động của thân và lời có ý nghiệp làm động lực
thúc đẩy. Kho Tàng Siêu Vật Lý (Thắng pháp) nói:
Nghiệp
thuộc về tâm, do tâm tạo.
Ý
nghiệp là hoạt động thuộc tâm ý;
Nó
làm sinh khởi nghiệp của thân và lời.
Vọng
tưởng làm nổi lên ba loại nghiệp: phi phước hành, phước
hành và bất động hành. Phi phước hành là nghiệp được
tích lũy do khao khát những vật thuộc đời này, rồi hành
động bằng cách giết hại, v.v… Loại nghiệp này làm cho
ta tái sinh vào các đọa xứ. Phước hành là nghiệp tích lũy
do khao khát lạc thú trong đời vị lai. Nghiệp này làm người
ta tái sinh làm một vị trời cõi Dục. Bất động hành là
như sau. Một người từ bỏ lạc thú đời sau, mà mê say cảm
thọ hỉ lạc do tịnh chỉ nhất tâm, nên tái sinh làm một
vị trời trong ba cõi trời thiền đầu. Hoặc người ta có
thể bất cần cả đến cái cảm thọ hỉ lạc do tịnh chỉ
nhất tâm đem lại, những khao khát cảm thọ xả và tích lũy
loại nghiệp làm nhân tái sinh vào cõi trời thiền thứ tư
hay cao hơn nữa.
Cả
hai loại nghiệp phước hành và phi phước hành đều ném người
ta vào một tái sinh ở cõi Dục, và hậu quả của chúng là
di chuyển. Chẳng hạn, ta có thể đạt đến trạng thái trung
ấm của một chúng sinh trên đường đến địa ngục, nhưng
nhờ năng lực bậc thầy ta, nhờ các nghi lễ và thần chú,
v.v… mà trạng thái trung ấm của ta có thể thay đổi, làm
cho ta thôi tái sinh vào các thượng giới. Drom Rinpoche nói rằng
nếu tất cả dân chúng ở Retreng với giới cư sĩ mà cùng
góp công đức giữ giới của họ lại thì có thể tạo công
đức căn bản cho một người cộng đồng họ sau khi chết.
Nói cách khác, vì tất cả những cư sĩ ấy đều có giới
đức giống nhau, cho nên những thiện căn tạo ra từ đấy
sẽ rất lợi lạc cho bất cứ người nào của họ đã chết
và đang còn ở trong cõi trung ấm.
Dẫn
nghiệp để tái sinh vào các thượng giới là như sau. Giả
sử một người đã tích lũy nghiệp để tái sinh vào cõi
thiền thứ nhất. Nghiệp ấy sẽ không thay đổi thành cái
nghiệp tái sinh vào cõi thiền thứ hai hay bất cứ cõi nào
khác. Đó là lý do loại nghiệp này được gọi là “bất
động.”
Kho
Tàng Siêu Vật Lý nói:
Phước
hành là công đức để tái sinh vào Dục giới.
Nghiệp
sinh vào thượng giới thì bất động;
Nghiệp
này gọi là bất động vì
Nó
chỉ thuần thục ở trong những thượng giới.
Bất
cứ nghiệp nào không được tích lũy phù hợp với một trong
ba nền tảng của đạo lộ thì chỉ là nhân cho sinh tử; bất
cứ nghiệp nào được tạo khi ta bị thúc đẩy phải từ
bỏ ba cõi luân hồi thì chỉ có thể trở thành nhân quả
cho giải thoát. Khi bạn giã từ thế gian với ý niệm sẽ
tu tập Pháp, nhưng không có một trong ba động lực là từ
bỏ vân vân, thì bạn có thể trú trong tịnh chỉ ở một
am cốc nào đó, nhưng dù may mắn bạn cũng chỉ nhận được
cái nhân để tái sinh vào các cõi trời Vô sắc hoặc vào
các cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Ngũ tinh cư thiền -
DG). Đấy là lý do tại sao muốn tu tập, điều cốt yếu là
bạn phải tìm một chỉ dẫn hoàn toàn không lỗi lầm.
a-3.
Nỗi khổ cứ mãi bỏ thân rồi thọ mạng.
Có
3 phần:
a-3.1.
Cái gì xảy đến vào lúc chết
Thọ
mạng của bạn có thể hết. Công đức bạn có thể hết.
Bạn chưa thoát khỏi hiễm nguy. Kinh Nói Về Những Yếu Tố
Đưa Đến Cái Chết kể ra chín yếu tố. Những yếu tố này
và khác nữa có thể giết bạn.
Ý
nghĩ lúc chết có thể khởi động cái nghiệp sẽ ném bạn
vào tái sinh kế tiếp sau khi chết. Những yếu tố khởi động
cho nghiệp ấy là khát ái và chấp thủ, đấy là những gì
xảy đến. Bạn có thể nghĩ, “Tôi sắp lìa thân xác này,”
và bạn bám lấy thân hiện tại của bạn. Khát ái bao gồm
những việc như mong có được hơi ấm, và thế là bạn sinh
vào địa ngục nóng.
Đối
tượng của tiến trình châm ngòi này là nghiệp cường liệt
nhất nơi bạn, đen hay trắng (ác hay thiện). Nếu nghiệp đen
và trắng đều ngang nhau, thì đối tượng để châm ngòi là
một trong hai nghiệp quen thuộc hơn trong bạn. Nếu cả hai
loại đều quen thuộc, thì loại nghiệp nào được làm trước
sẽ bị châm ngòi.
Thời
gian khi sự châm ngòi này xảy ra là tâm còn hoạt động và
còn có hình thức nhận biết thô phù - một hiện tượng thiện
hay bất thiện, nghĩa là tín tâm, lòng thương xót, sự ái
luyến, giận dữ, v.v… - và bạn còn có thể tự mình nhớ
được những điều ấy hoặc có thể được người khác
nhắc cho nhớ. Khi nhận thức thô chấm dứt, và khi những
ý tưởng lúc chết của bạn rất vi tế, thì tư tưởng bạn
thuộc loại trung tính và bạn không thể nhớ lại bất cứ
một điều thiện hay bất thiện nào.
Nếu
những ý tưởng lúc chết liên hệ đến lòng tin, v.v… thì
thiện đức của bạn sẽ được khởi động. Bởi thế thực
thiết yếu để khởi động những ý niệm thiện trong khi
những tưởng lúc sắp chết của bạn sắp dự phần vào tiến
trình khởi động này. Bạn có thể là một hành giả luôn
luôn tạo điều lành, nhưng nếu bạn nổi giận lúc sắp chết,
tức bạn khởi động những tư tưởng cận tử không được
tốt lành, và bạn phải đi đến những đọa xứ do hậu quả
thuần thục của những bất thiện quá khứ. Những nguyên
tắc tương tự cũng áp dụng cho một người tội lỗi luôn
luôn phạm tội.
Ở
giao điểm này, người ta sẽ hoặc lên cõi cao hoặc xuống
cõi thấp. Nếu sắp lên thượng giới, thì hơi ấm trong cơ
thể ta tan dàn từ phần dưới cơ thể và tụ lại tim. Nếu
sắp xuống đọa xứ thì điều ngược lại xảy ra là, hơi
ấm tan dần từ phần trên cơ thể và tụ lại ở phần dưới.
Bạn cũng có thể biết được người chết sẽ lên thượng
giới hay tái sinh vào đọa xứ bằng cách quan sát những dấu
hiệu như cường độ đau đớn mà người ấy trải qua trong
cơn bệnh cuối cùng. “Đau đớn trong cơn bệnh” ở đây
ám chỉ lúc một đại bộ phận của cơ thể bị suy sụp.
Một
vài người có ảo giác lúc chết: chẳng hạn, họ tưởng
mình bị những hộp trà đè lên, hay nhiều người đè lên.
(Kyabje
Pabongka Rinpoche kể chuyện ở Lhasa ngài trông thấy cái chết
của mọt người hầu phòng ở chính phủ Trung ương. Anh ta
đã trộm trà, khi chết anh có ảo giác bị những hộp trà
nghiền nát.)
Khi
một viên chức ở tỉnh Tsang chết, ông ta nói: “Tôi đang
bị nhiều người chà đạp,” và ông từ giã cõi đời trong
một trạng huống kinh hoàng v.v…
Điều
này cũng xảy đến cho những người đã hành thiện. Xưa có
người ăn xin ở bên vệ đường trông thấy đền đài cung
điện và những tia sáng trắng lúc ông ta chết. Kyabje Pabongka
Rinpoche còn kể một bà già ở Chuzang đã niệm thần chú Om
mani padme hum rất nhiều, khi chết đã thấy những điềm tốt.
Những
dấu hiệu ấy chỉ làm một dẫn nhập đi vào cõi chết.
a-3.2.
Cách thành tựu thân trung ấm
Như
sự lắc lư của một chiếc cân, đời sống nhập thế hiện
tại của bạn chấm dứt đồng thời với sự bạn mang lấy
một hình thể vật lýdẫn đầu cho sự nhập thế mới - điều
này ám chỉ bóng ma mường tượng các uẩn trong tái sinh sắp
đến của bạn; sự nhập thế sắp được đi trước bằng
bóng ma này dù nó nhập vòa bất cứ nơi đâu. Nhiều người
bảo rằng người chết sống trong cõi trung gian mang hình dạng
và y phục mà họ có lúc còn sống, và có những cách để
thông tin với họ. Điều này thật sai lầm. Có thể rằng
đã có một vài trường hợp như vậy, nhưng đấy không phải
là người chết mà là một chúng sinh nào giả dạng người
chết ấy để lừa dối những kẻ phàm phu.
(Pabongka
ám chỉ cau chuyện trong tiểu sử của Milarepa về cái chết
của thân phụ của một cư sĩ theo đạo Bon)
Những
chúng sinh trong cõi trung gian có đủ tất cả các giác quan;
có thần thông có thể làm những hành vi phi thường; không
gì có thể cản đường họ ngoại trừ những thánh tích hoặc
nơi họ sẽ sinh vào. Những chúng sinh trong cõi trung ấm sắp
tái sinh vào địa ngục có màu sắc như những khúc gỗ đã
cháy; những chúng sinh nào sắp sinh là quỷ đói có màu nước;
những chúng sinh sắp biến thành súc sinh có màu xám tro; những
chúng sinh sắp sinh làm người hay chư thiên cõi dục có màu
vàng ròng. Những chúng sinh sắp trở thành chư thiên ở sắc
giới thì có trắng trong cõi trung gian. Không có cõi trung ấm
cho những chúng sinh tái sinh vào cõi vô sắc.
Trạng
thái nhập xác trong cõi trung ấm xuất hiện như một đêm
tối đen với những người bất thiện; đối với những người
hiền thiện, trạng thái này xuất hiện như một đêm tối
có điểm những dải ánh sáng trắng hoặc được thắp sáng
dưới ánh trăng.
Về
thọ mạng của chúng sinh ở cõi trung ấm có nhiều thuyết
khác nhau, thông thường nói là 7 ngày - độ dài của những
ngày này cũng giống như ngày ở trong đời trước đấy. Sau
7 ngày, những chúng sinh trung ấm trải qua một cái chết nhỏ,
và họ có thể có đến 7 lần chết như thế trước khi tìm
được một chỗ sinh ra.
a-3.3.
Cách nhập thai và sinh ra
Lấy
trường hợp một số người được sinh ra từ bào thai. Sự
thụ thai xảy đến giữa tinh cha và huyết mẹ. Hồn ma trong
cõi trung ấm thấy cha mẹ giao hợp, cơn giận dữ và sự tham
luyến làm cho nó nôn mữa, và nó chỉ thấy những cơ quan
sinh dục của cha mẹ. Cơn giận giết chết nó và nó được
nhập vào bào thai trong tái sinh kế tiếp.
Điều
này hoàn tất đề mục “Nghĩ về nguồn gốc khổ - những
giai đoạn buộc ta vào sinh tử” theo tác phẩm của Tsongkapa
là Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ, Con Đường Nhanh và
Con Đường Dễ. Bây giờ tôi sẽ bàn tiêu đề này theo 12
phần nhân duyên, cũng được bàn trong tác phẩm của Tsongkapa
nhan đề Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ. Những Lam-rim.
Con Đường Dễ và Con Đường Nhanh không rõ ràng về đề
tài này. Tôi sẽ dạy đề mục này theo tác phẩm Lời Đức
Văn Thù, chỉ bàn qua về những tiêu đề của nó.
Sự
đề cập ngắn ngũi trên đây về cách nghĩ đến những giai
đoạn ta bị buộc vào sinh tử - nghĩa là nguồn gốc của
khổ - đã đủ. Tuy nhiên những người đã nghiên cứu các
bản tranh luận cổ điển thì nên nghĩ về điều này qua 12
nhân duyên. Đây là điều tốt nhất cho vài người đặc biệt.
(Pabongka
Rinpoche kể lại một thời, vua Ma Kiệt Đà theo lời khuyên
của đức Phật đã giải thích quá trình tái sinh cho vị vua
tên là Utrayna bằng cách dùng một hình vẽ bánh xe sinh tử,
và vị vua này đã phát sinh niềm chán ngấy sinh tử luân hồi.
Ngài cũng kể cho chúng tôi nghe Geshe Puchungwa đã nghiên cứu
12 nhân duyên và giảng dạy Phạm Vi Nhỏ và Phạm Vi Trung Bình
theo 12 móc xích này.)
Bởi
vậy bạn nên nghĩ thêm về những lỗi lầm của Tập đế
nguồn gốc của khổ, và lỗi lầm của sinh tử nhờ phương
tiện 12 móc xích để tăng cường sự chán ngấy của bạn
đối với sinh tử. Đức Phật bàn về những móc xích này
khi ngài dạy kinh Những Hạt Lúa.
“Vì
cái này có nên cái kia sẽ có. Ví cái này đã sinh nên cái
kia sẽ sinh. Cũng vậy vô minh là phần nhân tố phụ thuộc
để sinh ra các hành…”
Nói
cách khác có 12 móc xích duyên như sau.
a-3.3.1.
Vô minh
Đây
là căn nguyên sự xoay vần của chúng ta trên bánh xe sinh tử.
Chúng ta không biết làm thế nào để hiểu vô ngã với trí
tuệ của mình, do đó ta chấp thủ con người của ta và các
hiện tượng bên ngoài, ta cho rằng chúng đều có một bản
ngã, chúng có thể được thiết lập do tự tính của chúng.
“Vô minh” là cái thấy biết điên đảo, ngược lại với
trí tuệ căn bản. Điều này cũng giống như bị mù.
Có
hai hình thái vô mình. Vô minh về nhân quả, và vô minh về
chân như.
a-3.3.2.
Hành
Vô
minh khởi động các hành như thể là nghề của nó. Các uẩn
xuất hiện trong tái sinh kế tiếp của ta cũng là nhiệm vụ
các hành. Như thế, chúng ta bị khởi động bởi vô ình không
thấy luật nhân quả, nên tạo những nghiệp phi công đức;
hoặc chúng ta được khởi động bởi vô minh không thấy được
hình thái hiện hữu của vạn pháp nên chúng ta tạo những
phi phước hành hoặc bất động hành. Tất cả loại nghiệp
này đều gọi là hành.
a-3.3.3.
Thức
Ám
chỉ hai loại thức: Thức vào thời gian của nhân, và thức
vào thời gian của quả báo. Loại thứ nhất là thức theo
liền sau bản năng hay khuynh hướng tiềm ẩn của hành, tức
là nghiệp. Loại thứ hai là thức theo liền sau sự nhập thai
và tái sinh mới.
Một
ví dụ: Giả sử bị kích động bởi vô minh bạn mới giết
mạng sống. Khi bạn phạm nghiệp này hay hành này, bản năng
hay sự tiềm tàng của nó được in dấu khi nghiệp vừa hoàn
tất. Đây là thức vào thời gian của nhân. Do nghiệp này
bạn được nhập thai này, tình trạng “thức” của bạn
là thức vào thời gian của quả báo.
Mỗi
khi phước hành hay nghiệp đều có thể ném ta vào nhiều tái
sinh trong các đọa xứ. Hãy áp dụng cùng những nguyên lý
ấy đối với các phước hành hay “phước nghiệp” v.v…
Những
bản năng của nghiệp này đi vào tâm thức cũng giống như
dầu thấm vào cát hoặc như mực nơi dấu ấn thấm vào giấy.
Tham ái và chấp thủ đều có thể kích động khuynh hướng
tiềm tàng này, và khi ấy chúng trở thành đủ sức mạnh
để đưa đến tái sinh.
a-3.3.4.
Danh sắc
Trong
trường hợp tái sinh từ bào thai, móc xích “Danh” là bốn
uẩn thọ, tưởng, hành và thức. Móc xích “Sắc” là tinh
cha, huyết mẹ trong giai đoạn phát triển đầu tiên, trong
đó thức đã được đặt vào. Phối hợp hai cái gọi là
móc Danh sắc.
a-3.3.5.
Sáu căn
Khi
sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đã thành hình, móc
xích này chỉ áp dụng cho giai đoạn chưa phân biệt được
sự vật mặc dù hiện hữu giác quan và đối tượng (căn,
trần, thức) đầy đủ. Các căn vật lý và tâm lý này được
nói là hiện hữu từ giai đoạn đầu của bào thai. Lấy ví
dụ sự tái sinh bằng biến hóa vào hai cõi dưới là cõi dục
và cõi sắc, thì danh sắc và sáu căn xảy ra đồng thời.
Ở cõi vô sắc, thì chỉ có “danh” và không có “sắc”
hay năm căn vật lý.
a-3.3.6.
Xúc
Khi
sáu căn đã được thành hình và đồng thời có sự tác động
hỗ tương giữa căn, trần, thức thì người ta có thể phân
biệt được những đối tượng dễ chịu, khó chịu hay trung
tính. Đấy gọi là xúc.
a-3.3.7.
Thọ
“Xúc”
làm duyên cho sự phát triển của một trong ba loại “thọ”
hay cảm giác: lạc, khổ, xả. Ví dụ, ta phát sinh cảm giác
vui sướng khi gặp đối tượng dễ chịu.
a-3.3.8.
Ái
Ái
nghĩa là mong muốn đừng xa lìa những cảm giác vui. Nó cũng
là sự mong muốn xa lìa đau khổ, và bám lấy sự xa lìa ấy.
Chúng ta còn khát khao tình trạng “xả” của ta không thối
giảm.
Cảm
thọ được xem là nguyên nhân phụ vào sự phát triển của
tham ái. Điều này cần hiểu là khi vô minh có mặt, và có
xúc làm duyên: chỉ có “thọ” xảy ra lúc ấy mới phát
sinh tham ái. Như vậy khi vô minh không có mặt, chư thiên vẫn
có thể có cảm giác, nhưng tham ái sẽ không phát sinh.
a-3.3.9.
Thủ
Khi
ái càng mạnh, thì chúng ta ham muốn đối tượng và ràng buộc
với nó. Có bốn loài chấp thủ. “Dục thủ” là ràng buộc
với các đối tượng giác quan. “Kiến thủ” là ràng buộc
với tất cả tà kiến, trừ kiến chấp đồng hóa với ngã
với cái khả hoại. “Giới cấm thủ” là bám vào những
đạo đức hạ đẳng và những lối hành xử liên hệ đến
tà kiến. “Ngã luận thủ” là sự thích thú đối với những
quan niệm về thực hữu: căn để là sự thích thú đối với
kiến chấp cho rằng ngã chính là 5 uẩn.
a-3.3.10.
Hữu
Trong
quá khứ, “hành” gieo bản năng nghiệp vào tâm thức, Ái
và thủ khởi động bản năng và khi ấy nó đủ sức ném
ta vào một thân xác trong đời vị lai.
a-3.3.11.
Sinh
Móc
xích này trải từ sự khởi động nói trên, - khi nghiệp trở
thành căn bản cho sự tái sinh của ta vào một trong bốn loại
sinh - cho đến lúc ta nhập vào bào thai trong tái sinh mới.
a-3.3.12.
Già chết
Chúng
ta nhận móc xích “già chết” theo thứ tự. già là sự chín
mùi của các uẩn, sự tuần tự biến đổi tình trạng của
chúng. Chết là sự hoại diệt các uẩn, sự chấm dứt vận
hành các uẩn.
Khi
bạn đã được giới thiệu 12 móc xích này và có thể phần
biệt từng cái, bạn phải biết cách gom chúng lại thành từng
phần. Có 4 phần: phần thúc nhanh, phần thành lập, phần thúc
nhanh hậu quả, phần hậu quả hiện rõ.
Vô
minh giống như một người gieo hạt giống. Hành do vô minh
khởi động là như hạt giống. Và giống như đất trách nhiệm
đó hạt giống được gieo, thức vào thời điểm của nhân
có bản năng của nghiệp tích lũy đặt vào nó. Vậy phần
là hai rưỡi móc xích đầu: vô minh; hành, và thức ở thời
điểm làm nhân - không phải phần kia của thức ở thời điểm
làm quả.
Cũng
như hạt giống được nuôi bằng nước, phân, hơi ấm, sự
ẩm ướt, ái và thủ khởi động cái nghiệp để phát sinh
quả. Như một hạt giống được làm cho có tiềm năng nhờ
nước, phân, hơi nóng và ẩm thấp để đâm chồi, cái nghiệp
đã được khởi động bởi ái và thủ chắc chắn sẽ thúc
nhanh sự thành hình năm uẩn đời sau nhờ móc xích “hữu.”
Vậy ái, thủ, hữu là thành phần lập.
Cũng
như hạt giống đâm chồi, móc xích “sinh” - nghĩa là được
hoài thai thành hình thể tái sinh mới - là một yếu tố thuộc
thành phần hậu quả hiện rõ.
Năm
rưỡi (đúng ra là bốn rưỡi, nếu tính danh - sắc là một
- DG) móc xích làm nên phần kết thúc nhanh hậu quả, đó là:
thức vào thời điểm làm quả, danh sắc, sáu giác quan, xúc
và thọ.
Già
chết là một yếu tố của phần hậu quả hiện rõ. Vậy
phần hậu quả hiện rõ gồm có “sinh” và “già chết.”
Lấy
ví dụ sự tái sinh làm một vị trời. Do năng lực vô minh,
nghĩa là mù quáng đối với chân như, cái bản năng thuộc
nghiệp ta đã tích lũy - cái nghiệp đưa đến tái sinh làm
chư thiên - được đặt vào trong thức của ta. Khi ấy ta nghĩ,
“Tôi sẽ thích một tái sinh ở cõi trời.” Và khát khao
điều này trong lúc cầu nguyện, vân vân: đây là khát ái.
Rồi ta đặt nhiều nỗ lực vào khát vọng ấy: đó là thủ.
vào lúc chết, hai yếu tố ái, thủ này làm nên cái nghiệp
chắc chắn sẽ ném ta vào tái sinh ấy: đây là “hữu”.
Vậy, ba yếu tố của phần thúc nhanh và ba yếu tố của phần
thành lập - sáu yếu tố tất cả - được đầy đủ trong
đời này. Rồi chúng ta tái sinh làm một vị trời; bốn móc
- danh sắc, các giác quan, xúc và thọ - là phần thúc nhanh
hậu quả; và hai móc - sinh và già chết - là phần quả báo
hiện rõ. Đây là cách mà một bộ sậu gồm 12 móc xích được
đầy đủ trong hai đời.
Lấy
ví dụ tái sinh vào đọa xứ. Cũng những nguyên tắc ấy áp
dụng ở đây: vì mù lòa trước luật nhân quả, chúng ta tích
lũy những nghiệp bất thiện, được khởi động do ái và
thủ, v.v…
Không
thể nào có một bộ 12 nhân duyên đầy đủ trong vòng một
đời dưới năng lực của một nghiệp duy nhất. Chúng ta có
thể hoàn tất đủ bộ 12 nhân duyên nhanh nhất cũng phải
trong hai đời.
Cần
thời gian lâu hơn khi với ái, thủ ta đã không thể khởi
động một vài nghiệp; khi ấy ba yếu tố của phần thúc
đẩy nhanh sẽ đầy đủ trong một đời; ba yếu tố của
phần thành lập, vào một đời khác; và bốn yếu tố của
phần thúc nhanh quả báo, cũng như hai yếu tố của phần quả
báo hiện rõ, sẽ được bổ túc trong một đời khác nữa.
Một ví dụ: chúng ta tích lũy nghiệp ác để được tái sinh
vào đọa xứ, và bản năng đã được gieo trồng. Nhưng vào
lúc chết, thầy và bạn gieo những ý tưởng thiện vào trong
tâm ta; điều này khởi động cái nghiệp để tái sinh làm
người, và kết tiếp ta được sinh làm người. Khi ta chết,
ta lại khởi động cái ác nghiệp khi trước do ái và thủ,
và rồi ta lại tái sinh vào đọa xứ.
Trong
ví dụ chúng ta có thể có nhiều tái sinh xen vào giữa phần
thúc nhanh và phần thành lập, nhưng đấy là những cuộc đời
thuộc vào những bộ 12 nhân duyên khác nữa, nên không tính.
Vậy,
để tóm tắt: cách nhanh nhất ta có thể hoàn tất đủ bộ
12 nhân duyên là trong hai đời sống, và chậm nhất là ba đời.
Không thể nào nhanh hơn hoặc chậm hơn thế. Mỗi móc xích
làm duyên cho móc kế tiếp sinh khởi, cho nên tất cả khổ
- tái sinh, già, chết, v.v… - được kinh quá như một chu kỳ.
Trong khi ta theo những móc xích kết quả từ một nghiệp duy
nhất, ta có thể phát triển nhiều bộ 12 nhân duyên khác trong
giai đoạn nguyên nhân của chúng. Già chết là do sinh; hành
là do vô minh, vân vân. Như vậy một móc xích này tiếp theo
móc xích kia và bởi thế vô minh là cần để trong việc khiến
cho bánh xe sinh tử quay tròn.
Long
Thụ nói:
Hai
móc xích phát xuất từ ba
Bảy
móc xích phát xuất từ hai;
Rồi
ba móc xích lại sinh
Bánh
xe sinh tử cứ thế quay mãi.
Nói
cách khác ba móc xích vọng tưởng (vô minh, ái, thủ) làm phát
sinh hai móc xích nghiệp (hành, hữu), và từ hai móc xích này
phát sinh bảy móc xích khổ (những móc xích còn lại). Rồi
từ bảy móc xích khổ lại phát sinh ba móc xích vọng tưởng
v.v…; chu kỳ được lập lại, và bánh xe sinh tử quay mãi
không ngừng. Đây là sự quay bánh xe khổ.
Mười
hai nhân duyên có thể được đề cập theo thứ tự khác.
Nếu muốn thực hành một con đường để chấm dứt 12 nhân
duyên, thì ta ngăn cản “hành” bằng cách đề phòng vô minh;
điều này sẽ chấm dứt tất cả đau khổ của già chết.
Tóm
lại, 12 móc xích duyên sinh có thể tóm thành 3 hệ thống nhân
quả: Nghiệp, vọng tưởng và khổ. Vô minh, ái, thủ là 3
móc xích của vọng tưởng. Hai móc xích nghiệp là hành và
hữu; những móc xích còn lại là 7 móc xích của khổ. Long
Thụ nói:
Thứ
nhất, thứ tám, thứ chín là vọng tưởng
Thứ
hai, thứ mười là nghiệp.
Bảy
chi còn lại là khổ.
Dòng
đầu bài kệ nói về 3 móc xích của sự khởi động, dòng
kệ thứ hai nói về hai móc xích nghiệp về thân và lời,
nghĩa là hành và hữu; dòng thứ ba là những móc xích mà người
ta sẽ trải qua.
Bạn
đã phát sinh sự từ bỏ khi do hậu quả của sự thiền quán
về nỗi khổ chung quanh của sinh tử và 12 móc xích duyên sinh.
Bạn khao khát được giải thoát khỏi luân hồi như một người
tù. Khi ấy bạn muốn tu luyện theo con đường đưa đến giải
thoát.
b.
Thực thụ xác định bản chất đạo lộ đến giải thoát.
Có
hai phân đoạn (1) loại tái sinh có thể chấm dứt sinh tử
(2) loại con đường có thể đưa đến chấm dứt sinh tử.
b-1.
Loại thân vật lý có thể chấm dứt sinh tử.
Bạn
đã nghĩ về những lỗi lầm của sinh tử. Bản chất của
sinh tử là hoàn cảnh vô thường và khả hoại, giống như
hình ảnh của mặt trăng trong nước bị gió thổi không đứng
yên dù trong chốc lát. Hạnh phúc và tài sản trong sinh tử
ấp ủ một mối nguy hiểm lớn lao như cái bóng của một
con rắn hổ mang có mồng. Bạn có thể thấy rằng bất cứ
loại nào trong 5 loại tái sinh đều là một sự hoành hành
không gián đoạn của đau khổ. Cũng như người trong ngục
hay trong một gian nhà cháy mong muốn thoát ra, bạn sẽ phát
sinh những tư tưởng muốn thoát sinh tử. Bạn sẽ tra tầm
những nguyên nhân của sinh tử. Có hai nguyên nhân: nghiệp
và vọng tưởng. Khi biết điều này bạn sẽ nỗ lực tìm
phương cách để đánh bại 2 nguyên nhân ấy.
Sự
tái sinh cần có là tái sinh làm thân người thuận lợi; và
bây giờ khi ta đã có được thân người thuận lợi để
theo học 3 môn học tăng thượng và những nỗ lực lành mạnh
khác, thì ta phải quay lưng với sinh tử. Geshe Potowa nói: “Khi
bạn lang thang đã nhiều trong quá khứ, sinh tử không tự đứng
lại và nó cũng không tự dừng - chính bạn phải dừng bánh
xe sinh tử. Và thời gian để dừng sinh tử chính là hiện
tại, khi bạn đã có được thân người thuận lợi.”
Nói
cách khác không có một tái sinh nào tốt hơn là tái sinh này.
b-2.
Loại con đường có thể chấm dứt sinh tử
Chúng
ta cần phải cắt đứt gốc rễ của sinh tử, gốc rễ ấy
chính là vô minh, mù lòa với chân như. Hình thức bản năng
của sự chấp thủ cái tôi chính là gốc rễ cần được
cắt đức, bởi vì khi ta không cắt đứt gốc rễ này mà
lại đào luyện những phương pháp giải khác, thì nó chỉ
làm cùn nhụt một vài vọng tưởng chứ không thể vĩnh viễn
phát huy chúng. Những thiện hành cũng không ăn thua gì.
Chỉ
có những tư tưởng hoàn toàn ngược lại với nó mới có
thể chấm dứt chấp thủ bản ngã.
Trí
tuệ hiểu được vô ngã sẽ nhận ra rằng cái tôi không thực
hữu: trí tuệ này bởi thế hoàn toàn đối lập với những
tư duy chấp thủ cho rằng cái ngã thực có tự tính. Bởi
thế bạn cần có trí tuệ hiểu được vô ngã để có thể
nhổ tận gốc sự chấp ngã theo bản năng. Khi bạn không có
trí tuệ này mà lại nỗ lực làm các phước hành khác, thì
điều ấy chỉ tổ tăng cường thêm sự chấp ngã của bạn
chứ không thể làm hại đến chấp ngã.
Muốn
phát triển trí tuệ này một cách thích đáng trong dòng tâm
thức, bạn cần những điều sau đây. Bạn sẽ không phát
triển được trí tuệ ấy nếu không có sự tu tập về tăng
thượng định học. Ví dụ bạn cần hai điều khi muốn bổ
một thân cây: Một cái rìu thật bén và một cánh tay khỏe
mạnh. Nếu cái rìu không được bén thì nói không thể cắt
vào trong thân cây. Nếu cánh tay bạn không vững, thì cái rìu
sẽ không rơi xuống cùng một chỗ ấy trên thân cây. Hoặc
muốn thấy được bức họa trên tường về đêm, bạn phải
có một ngọn đèn sáng. Trí tuệ hiểu được vô ngã là giống
như cái rìu bén; sự chấp thủ vào một hiện hữu có thật
là thân cây cần được chặt, thấy được chính xác hình
thái sinh tồn cũng giống như cánh tay khỏe mạnh cầm rìu,
hay ngọn đèn tỏa ánh sáng trên sự vật. Muốn phát triển
trong dòng tâm thức của bạn sự tịnh chỉ nhất tâm bền
bĩ không bị vọng tưởng nội tâm - giống như ngọn đèn
dầu không bị lung lay vì gió - thì bạn phải giải thoát tâm
khỏi những tán loạn thô phù bên ngoài, nghĩa là bạn phải
trước hết tu học tăng thượng giới.
Để
tóm tắt, kinh Phạm Thiên Thỉnh được trích dẫn trong tác
phẩm Vô Trước nói:
Những
điều cần có là:
Một
căn bản rất vững
Hoan
hỷ trong một tâm an định và tri kiến bậc thánh
Điều
không nên có là:
Kiến
chấp của kẻ tội lỗi.
Nghĩa
là muốn có phương thuốc đối trị ngã chấp - tuệ quán
đặc biệt, tri kiến như của bậc thánh để liễu tri Tánh
không - hình thái hiện hữu chân thật - thì trước hết bạn
phải hoàn tất tâm tịnh chỉ. Và nếu bạn không theo tăng
thượng giới học, thì bạn sẽ không có những điều kiện
cần để phát sinh tâm tịnh chỉ.
Bức
thư của Long Thụ nói:
Khi
tóc hay y phục của bạn
Thình
lình bắt lửa
Cũng
đừng thèm dập tắt:
Thay
vì thế, hãy cố dập tắt tái sinh.
Không
có mục đích nào vĩ đại bằng.
Đừng
thối lui trên con đường
Đi
tìm niết bàn vô cấu an tịnh
Bằng
giới thanh tịnh và trí tuệ thiền định.
Hãy
hoàn tất điều ấy; trong niết bàn không có
Đất
nước lửa gió trời trăng,
Ba
điều chính cần phải thực hành trong Phạm Vi Trung Bình là
ba môn tăng thượng, bởi vậy đáng lẽ phải bàn để chúng
ở đây nếu tôi không giảng dạy những đề mục thiền thuộc
Phạm Vi Lớn. Tuy nhiên đây chỉ là giáo lý thuộc Phạm Vi
Trung Bình, là phần có chung của đạo lộ chứ không phải
con đường thực thụ của Phạm Vi Trung Bình. Bởi vậy tôi
sẽ bàn về hai môn học tăng thượng là tịnh chỉ và trí
tuệ, trong phần tâm tịnh chỉ và tuệ quán đặc biệt thuộc
Phạm Vi Lớn. như vậy chỉ còn có tăng thượng giới cần
phải bàn đến: đay là cách giảng dạy theo truyền thống.
Bức
thư của Long Thụ nói:
Như
những động vật và bất động
Đều
được đất nâng đỡ,
Cũng
thế, giới được gọi là
Nền
tảng của tất cả thiện pháp.
Nói
cách khác, giới là cốt tử vì là căn bản của mọi đức
tính. Đó là giáo lý căn bản của đức Phật. Giới là lợi
lạc nhất nếu người ta giữ giới, nhưng nếu không giữ
giới thì có những lỗi lầm to lớn; lợi lạc chỉ là do
sự giữ giới.
Điều
căn bản quyết định giáo lý của Phật có tiếp tục tồn
tại hay không chính là Giới Biệt Giải Thoát có còn được
tuân giữ hay không. Nếu không còn những người tu thọ cụ
túc giới, thì bất cứ giáo lý nào còn tồn tại cũng vô
hiệu, mặc dù có thể vẫn còn những người mang tri kiến
chẳng hạn. kinh Biệt Giải Thoát nói: “Khi Như Lai nhập Niết
bàn, các người lấy giới làm thầy.” Nghĩa là bạn phải
cảm thấy giới luật ở trong dòng tâm thức của bạn thay
thế cho bậc đạo sư của chúng ta, bạn nên yêu mến giới
luật và giữ giới.
Trong
ba môn học tăng thượng, thì những người sơ học chúng ta
khó thực hành ngay tuệ và định; nhưng giới Biệt Giải Thoát
trong dòng tâm thức chúng ta là một tuệ quán đi sâu vào giáo
lý, mà chắc chắn chúng ta có thể thực hành, mà chắc chắn
chúng ta có trong dòng tâm thức. Đây là lý do tại sao người
ta nói giáo lý Phật tồn tại hay không là tùy thuộc vào tăng.
Lại nữa giới Biệt Giải Thoát là căn bản, là trung gian
của hai loại giới cao hơn.
Khi
nói “những người bảo tồn giáo lý,” chúng ta không ám
chỉ pháp sư ngồi trên tòa cao. Bạn là một người bảo trì
nền giáo lý nếu bạn tuân giữ giới luật mà bạn có trong
dòng tâm thức. Nếu bạn khảo cứu và thiền quán nền giáo
pháp được truyền thừa là bạn bảo trì chánh pháp được
truyền thừa. Nếu bạn giữ giới thanh tịnh, bạn là người
bảo trì tuệ giác thâm nhập giáo lý.
Trong
3 loại giới, chúng ta chắc chắn có thể thực hành giới
Biệt giải Thoát. Một bản kinh nói: “Tỷ kheo giữ giới
thì sáng chói” và: “bất cứ nơi đâu có một tỷ kheo tuân
giữ giới luật, nơi ấy có hào quang, có ánh sáng. Ta sẽ
làm cho nơi ấy không bị trống rỗng; một nơi như thế sẽ
không khiến cho ta lo lắng…” Đây là một điều cốt yếu.
Xứ
Tây Tạng chúng ta, miền đất núi tuyết, có những đặc điểm
không tìm thấy ở các xứ khác và nguồn gốc của nền hạnh
phúc dài hạn của chúng ta là giáo lý của Phật. Sự kiện
những giáo lý này còn thịnh hành không phải do ngôi nhà chúng
ta, hay dân cư, hay những vật trang hoàng thuộc về tôn giáo;
mà do giới Biệt Giải Thoát - gốc rễ của giáo lý. Nếu
chúng ta không giữ giới một cách cẩn thận thì điều ấy
chứng tỏ rằng giới đã diệt mất, mặc dù bên ngoài giáo
lý ấy vẫn lan tràn như đất và đá.
Kinh
Tam Muội Vương nói:
Người
ta có thể với tâm thanh tịnh
Cúng
dường mười triệu đức Phật.
Đồ
ăn thức uống, bảo cái
Tràng
phan và những dãy đèn
Trong
vô số kiếp
Nhiều
như cát sông Hằng
Nhưng
vào thời mạt pháp
Khi
diệu pháp sắp diệt
Ai
thực hành giới dù chỉ một ngày đêm
Sẽ
được nhiều công đức hơn trên.
Nói
cách khác, trong thời đạy suy đồi thì giữ giới có nhiều
công đức hơn là liên tục cúng dường ngày đêm cho chư Phật
trong ba đời. Trong cõi người đau buồn này, thì một ngày
giữ giới trong giáo lý của đức đạo sư Thích Ca Mâu Ni
còn nhiều công đức hơn là nhiều kiếp giữ giới cũng lợi
lạc hơn là ở đầu thời kiếp, giữ trọn vẹn tất cả
giới căn bản; và giữ một giới vào thời mạt pháp còn
có công đức hơn cúng dường nhiều Phật trong hàng chục
triệu kiếp.
Mỗi
nữa tháng chúng ta được một vị tỷ kheo đọc đoạn “Những
người nào còn giữ giới sẽ được gặp chư Phật trong tương
lai…” vị thầy làm việc này không phải để thi đậu,
không phải ông đang lập lại đoạn ấy nhiều lần theo yêu
cầu v.v… ông ấy đang làm việc ấy để kết thúc giục
chúng ta nhớ lại.
Hãy
nghĩ xem giữ giới có lợi gì. Mặc dù bạn tụng: “Mong cho
tôi làm sáng chói tâm điểm của nền giáo lý lâu dài” hoặc
“Mong cho nền giáo lý Đạo sư lan rộng,” nhưng trước hết
trái tim của nền giáo lý phải sinh động ngay trong dòng tâm
thức của riêng bạn.
Khi
bạn không giữ giới, thì như kinh nói:
Đối
với vài người, giới có nghĩa là hạnh phúc
Đối
với vài người khác, giới có nghĩa là đau khổ.
Người
nào giữ giới thì sẽ hạnh phúc
Người
nào phạm luật lỏng lẻo thì đau khổ.
Và
kinh Giới Thanh Tịnh nói:
“Này
các tỳ kheo chẳng thà bỏ thân mạng mà chết, không nên thối
đạo hay phá hỏng giới luật của ngươi. Tại sao? Nếu người
tự bỏ mạng sống và chết đi, thì chỉ đời này của ngươi
chấm dứt mà thôi. Nhưng nếu giới ngươi thối đọa hay bị
phá hỏng, thì ngươi đã từ bỏ hạnh phúc trong hàng chục
triệu kiếp, người sẽ mất chân đứng và phải kinh quá
một sự sụp đổ to lớn.
Bạn
sẽ trải qua đau khổ trong trăm ngàn kiếp tái sinh. Luật nói:
Người
nào xem nhẹ giáo lý của đấng từ bi
Hay
tách rời giới luật
Sẽ
bị sa vào năng lực của khổ
Cũng
như vườn xoài sẽ hư hoại
Khi
tre bị đốn hết
Khi
một người bất tuân lệnh vua
Họ
có thể không bị trừng phạt
Nhưng
khi họ làm quấy và phạm giơi của Phật dạy
Họ
sẽ thành một con thú
Như
đã xảy đến cho rồng Elavarna.
Trong
đời này nếu bạn bất tuân lệnh của một ông vua có thế
lực thì có thể bạn bị phạt có khi không. Nhưng nếu bạn
vi phạm những giới luật mà đấng đạo sư từ mẫn đã
đạt ra, thì bạn phải trải qua sự trừng phạt sau khi bạn
chết như đã xảy ra như Elervana. Elervana chỉ có phạm một
tiểu giới mà bị tái sinh làm một con rồng. Khi chúng ta bất
chấp nhiều giới trọng, giới khinh và những giới phụ thuộc,
thì không biết tái sinh kế tiếp của ta sẽ như thế nào?
Mặc
dù chúng ta có thể chưa học nhiều về nền diệu pháp tối
thượng sâu xa, song nếu chúng ta tuân giữ giới luật sa di
hay tỷ kheo một cách nghiêm chỉnh trong dòng tâm thức thì
chúng ta sẽ là những phần tử tăng già, chúng ta sẽ là những
người bảo trì nền giáo lý. Không riêng chỉ sa di và tỷ
kheo giữ giới, mà những cư sĩ thế tục cũng có thể giữ
giới một ngày. Những điều ích lợi trong việc làm này được
nói rõ trong những câu chuyện trong Truyền thừa Luật Tạng:
Kinh Hiền Ngu v.v…
Bạn
chỉ nên thọ những giới mà bạn nghĩ là mình có thể giữ
được, như giới Bát quan trai, năm giới, bốn giới, ba giới,
hay chỉ một giới. Ngay cả những người đã đi tu cũng nên
giữ giới đại thừa một ngày, càng thường xuyên càng tốt;
đấy chỉ là những giới trong một ngày nên bạn có thể
giữ được một cách trọn vẹn.
Chúng
ta luôn luôn tự cho là mình học ba môn học tăng thượng,
nhưng chúng ta chỉ có trong dòng tâm thức hình ảnh mờ nhạt
của Định và Tuệ mà thôi. Nhưng về Giới thì chúng ta có
thể thật sự giữ giới Biệt Giải thoát, hơn thế chúng
ta cần nên cố gắng làm việc này. Muốn giữ giới chúng
ta phải đóng các cửa dẫn đến sự phạm giới. Có bốn
cánh cửa như thế.
Cửa
thứ nhất đưa đên sự phạm giới là vô minh. Nếu bạn không
biết điều căn bản gì bạn phải giữ thì bạn sẽ không
biết là bạn có phá giới hay không. Bởi thế muốn đóng
cánh cửa này, bạn cần biết rõ. Hãy tham chiếu những bản
văn cổ về luật tạng, những bài kệ tóm tắt các giới
luật, những lời khuyên về ba thực hành căn bản thuộc luật
tạng v.v… Ít nhất bạn cũng nên biết bảng liệt kê những
học giới cần phải theo.
Sự
bất kính cũng là một cánh cửa khác dẫn đến phạm giới.
Bạn phải kính trọng giáo thọ sư và những bạn lành có
hành vi phù hợp với pháp. Hơn nữa bạn nên có thái độ
rằng giới luật trong dòng tâm thức của mình thay thế cho
bậc đạo sư là phải, nên cần phải được tôn trọng. Đừng
thờ ơ với giới luật, vì giới cũng như một thay thế cho
bậc thầy của chúng ta sau khi ngài nhập Niết bàn.
Một
cánh cửa khác đưa đến sự phạm giới là Vọng Tưởng Lớn
nhất. Sự phạm giới theo liền bất cứ vọng tưởng nào
lớn nhất trong ba là tham sân si. Nếu đàn áp kẻ thù, trước
hết bạn phải hàng phục kẻ thù mạnh nhất - một viên tướng,
anh hùng v.v…, cũng tương tự, bạn phải đối trị những
vọng tưởng trong dòng tâm thức của mình. Khi những vọng
tưởng lớn nhất của bạn là tham ái chẳng hạn thì hãy
thiền quán về sự bất tịnh của thân xác: Xem nó như một
túi đựng đầy đồ dơ; và phát triển thái độ nhìn nó
dưới khía cạnh đầy máu, phình trương, bị sâu ăn, nó sẽ
thành một bộ xương, v.v.. Để đối trị thù hận hãy thiền
quán về từ bi. Để đối trị kiêu mạn, hãy nghĩ về những
nỗi khổ trong sinh tử như già chết, nỗi bất trắc, sự
liên tục lên voi xuống chó hoặc nghĩ về sự phân loại đầy
đủ các yếu tố trong cơ thể. Hãy quán tưởng rằng nếu
có nhiều vật trong thân thể bạn mà về chính nó bạn không
biết gì cả như các uẩn, các giác quan, sự tác động giữa
các cơ quan năng và cơ thể của các bạn v.v… - thì có bao
nhiêu điều khác nữa bạn không biết. Đối trị si ám là
thiền quán về duyên sinh; thiền quán về tánh không là cách
thông thường để đối trị vọng tưởng.
Sự
buông lung là một cánh cửa đưa đến phạm giới: bạn cần
phải có chánh niệm không quên điều chỉnh lối hành xử
vào một thời khắc trong ngày khi đi, ngồi, ngủ, ăn uống
v.v… Thỉnh thoảng hãy kiểm lại xem thân lời ý của mình
có bị hoen ố vì tà hạnh, có phạm giới hay không.
Bạn
cần phải đóng những cánh cửa đưa đến tà hạnh hoặc
đưa đến sự phạm giới: hãy làm điều này nhờ chánh niệm,
tinh tấn, tàm quý. Nhưng thỉnh thoảng bạn vẫn có sự hoen
ố vì những vi phạm, bởi vậy phải tham dự những lễ tịnh
hóa v.v… thường xuyên để sám hối. Văn học cổ về luật
tạng nói rằng bạn phải sám hối những tội nhỏ bằng ba
việc: Ngồi ở chỗ sau cùng trong lễ tịnh hóa, tỏ sự kính
trọng đối với những thành phần khác trong tăng đoàn, và
tạm thời bị trục xuất khỏi nơi hành lễ. Tuy nhiên Ensapa
và những đệ tử nói rằng người ta có thể tịnh hóa sự
vi phạm những giới phụ và các tiểu giới nếu đủ sự
hối hận và thực hành đầy đủ sự tự chế.
Những
bậc thầy của chúng ta như Atìsha và Tsongkapa hiện thân của
Đức Văn Thù và những đệ tử của các ngài đã từng đề
phòng không để cho bất cứ giới nào mình đã thọ bị ô
nhiễm vì tà hạnh. Chúng ta không thể giữ giới nghiêm túc
đến mức ấy, và cũng không thể thực hành sự tự chế
đến mức ấy, nhưng chúng ta có thể giữ bốn giới căn bản
của cư sĩ, đồng thời từ bỏ rượu và giữ gìn những
giới ấy như giữ chính tròng con mắt của mình.
Vì
bạn thọ giới Biệt giải thoát trước hòa thượng, thầy
truyền giới và tăng già nên bạn phải sám hối bất cứ
sự vi phạm nào của bạn trước mặt chúng tăng.
Đây
là lý do tại sao, khi bạn sám hối một mình thì bạn chỉ
có thể sám hối tội lõi mà không thể tịnh hóa sự phạm
giới, nên không lợi lạc bao nhiêu. Đừng coi thường những
tiểu giới: nếu bạn không thể súc miệng sau bữa ăn, hoặc
mang giày lúc không nên mang, hoặc đắp thượng y không đúng
cách, thì làm sao bạn có thể giữ những giới khác? Những
người tu sống thiếu uy nghi thì dù không phạm giới trọng
hoặc vài giới phụ, họ vẫn làm hại cho tín tâm của người
đời đối với Phật pháp. Bạn nên làm những lễ sám càng
thường xuyên càng tốt, để sám hối các sự vi phạm những
tiểu giới của bạn