PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
MƯỜI SÁU
Sau
phần đọc truyền thống bản kinh văn cho ngày hôm nay, Kyabje
Pabongka Rinpoche bảo làm thế nào ta nên điều chỉnh động
lực tu tập của mình. Ngài nhấn mạnh ta nên thêm sự phát
tâm bồ đề ngoài sự phát nguyện từ bỏ, trích dẫn lời
Tsongkapa vua Pháp của ba cõi: “Khi bạn đã phát triển tâm
bồ đề thuần tịnh cũng như tâm từ bỏ…” Ngài duyệt
qua những đề tài đã bàn, và ôn lại phần tài liệu dưới
tiêu đề “Xác Định Bản Chất Con Đường Đến Giải Thoát.”
Cái
gì làm bạn xoay vần mãi trong bánh xe sinh tử? Đây là nghiệp,
và nghiệp ấy được phát triển nhờ vọng tưởng. Vô minh
là vọng tưởng căn bản, nên chính vô minh sản xuất nghiệp.
Muốn nhổ gốc vô minh bạn phải thực hành tăng thượng tuệ
học. Bạn phải chuẩn bị cho việc này bằng sự học tăng
thượng định và tăng thượng giới; đấy là lý do nói rằng
giới là can bản của tất cả mọi đức tính.
Khi
bạn đang còn phải đối trị vọng tưởng thì phải để
cho vọng tưởng phát sinh rồi đối trị nó sau khi nhận diện
ra nó. Việc này cốt yếu là làm sao cho cuối cùng bạn có
thể nhận diện được vọng tưởng ngay cả lúc bạn đang
tán tâm.
2.3.
LUYỆN TÂM TRONG PHẠM VI LỚN CỦA ĐẠO LỘ
Có
ba tiêu đề (1) dạy rằng bồ đề tâm là cửa ngõ duy nhất
vào Đại thừa, cũng như dạy những lợi ích của bồ đề
tâm; (2) làm thế nào để phát tâm bồ đề; (3) làm thế nào
để khởi sự tu hành sau khi phát tâm bồ đề.
2.3.1.
BỒ ĐỀ TÂM CỬA NGÕ DUY NHẤT CỦA ĐẠO LỘ; NHỮNG LỢI
ÍCH CỦA BỒ ĐỀ TÂM
Trong
những chương trên nói về Phạm Vi Nhỏ và Trung Bình, bạn
đã được kích động để từ bỏ. Khi bạn đặt nỗ lực
chính của mình vào ba môn học tăng thượng thì bạn chỉ
có thành tựu được trạng thái giải thoát cho riêng mình,
và chỉ chấm dứt được sinh tử riêng mình. Điều này chưa
đủ tốt lành: bạn mới chỉ được một phần tự lợi và
lợi tha, vì bạn chưa từ bỏ tất cả những gì cần phải
từ bỏ và cũng chưa đạt đến tất cả những đức tính
cần đạt. Về sau, bạn còn phải vào Đại thừa ở mức
căn bản nhất. Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã nói:
Luôn
luôn từ bỏ nhị thừa
Không
thể làm lợi ích cho thế gian
Và
đi vào Cỗ xe Thiến thắng
Giáo
lý đầy từ mẫn
Mà
bản chất chính là lợi tha.
Geshe
Potowa nói:
Đừng
quay về lối cũ trên đường dài!
Hãy
đi ngay từ đầu vào Đại thừa đạo.
Điều
ấy cũng như phải qua sông hai lần. Nhưng còn hơn thế nữa.
Những bậc la hán kinh quá một hỉ lạc bất khả tư nghì
khi họ nhập vào cõi thanh tịnh đến nỗi họ ở mãi trong
định an chỉ ấy trong nhiều kiếp không bao giờ muốn từ
bỏ nó. Trong lúc ấy, có người đã từng sống ở địa ngục
có thể đạt được thân người thuận lợi, đi vào đạo
lộ đại thừa và dùng cùng một số lượng thời gian ấy
để giác ngộ. Như vậy những vị La hán tự đặt mình cách
xa một khoảng rất lớn với quả vị Phật. Giả sử có người
đã học đại thừa, phát sinh tâm ưa thích, nhưng lại bị
tái sinh vào địa ngục vì có tà kiến. Một người như vậy
sẽ thành Phật mau lẹ hơn một người lúc đầu có khuynh
hướng đại thừa, nhưng về sau lại đi vào đạo lộ tiểu
thừa rồi chứng A la hán quả. Vậy tốt hơn nên làm hạng
người thứ nhất.
Ví
dụ, khi bậc thanh văn Ca Diếp đang giảng dạy về Pháp Tiểu
thừa, có sáu mươi tỷ kheo đáng lẽ sẽ đắc quả A la hán,
nhưng Đức Văn Thù liền đi đến nơi họ và dạy cho họ
pháp Đại thừa. Giáo lý này quá sức họ, họ phát sinh tà
kiến và rơi vào địa ngục. Ca Diếp hỏi đấng Đạo sư
chúng ta về việc ấy, và Phật trả lời: “Đấy là phương
tiện khéo của Văn Thù! Thật là một giáo lý tuyệt hảo.”
Cũng
thế, khi chư Phật lạy các vị A la hán thuộc các đạo lộ
Thanh văn và Duyên giác ra khỏi định an chỉ đầy hỉ lạc
của họ, họ không nỗ lực phát triển những đức như bồ
đề tâm trong dòng tâm thức vì họ đã quen thuộc với hỷ
lạc của trạng thái an chỉ. Dù nổ lực, họ cũng khó thấy
lòng bi mẫn, vân vân, vì họ đã thoát khỏi nỗi khổ riêng
của họ. Hai đại đệ tử của Phật là Xá Lợi Phất và
Mục Kiền Liên nói: “Đấng đạo sư đã dạy về đạo lộ
Đại thừa và quả báo Đại thừa. Những điều này thực
kỳ diệu, nhưng chúng ta giống như những khúc gỗ đang cháy:
chúng ta đã không thể làm nhiều hơn. “Nhưng hãy để ý:
điều này không thực áp dụng cho những người như bậc thánh
Xá Lợi Phất, vì đấy là những hóa thân của chư Phật dưới
dạng Thanh văn. Lời nói này ám chỉ những hạng Thanh văn
thực thụ. Những người quả có chướng ngại lớn cho sự
đắc quảvô thượng bồ đề.
Bởi
thế, khi ta đã đạt vài tuệ giác đi sâu vào sự từ bỏ,
thì phải mau mau quyết định bước vào đạo lộ đại thừa.
Chúng ta luyện tâm theo một phần của đạo lộ chung với
Phạm Vi Trung Bình cố để phát triển sự từ bỏ trong dòng
tâm thức, nhưng không thực sự để đi con đường của Phạm
Vi Trung Bình. Luyện tâm bồ đề phù hợp với chương nói
về Phạm Vi Lớn mới là phần chính của con đường tu tập;
các Phạm Vi Nhỏ và Trung bình chỉ là một phần dẫn nhập,
một bổ túc cho phận sự tổng quát của một bồ tát.
Vì
việc đầu tiên phải làm trong sự khảo cứu đạo lộ thuộc
Phạm Vi Lớn là hoan hỉ, nên truyền thống khẩu quyết trước
hết bàn những lợi lạc của bồ đề tâm. Sau đó là cách
những lợi lạc ấy được đề cập trong tác phẩm Lời Đức
Văn Thù. Tôi sẽ nói về những lợi lạc ấy dưới mười
đề mục: (1) cách duy nhất để vào Đại thừa là phát tâm
bồ đề; (2) bạn được cái tên là “con của chư Phật,”
(3) bạn sáng hơn cả Thanh văn và Độc giác; (4) bạn trở
thành đối tượng cúng dường tối thượng; (5) bạn dễ dàng
tích lũy một số lượng công đức khổng lồ; (6) bạn nhanh
chóng tịnh hóa được tội lỗi và chướng ngại; (7) bạn
thành tựu được bất cứ gì bạn muốn; (8) bạn không ngán
vì những điều hại và chướng ngại; (9) không bao lâu bạn
sẽ hoàn tất trọn vẹn con đường và những địa vị; (10)
bạn trở thành một suối nguồn bất tận của mọi hạnh
phúc cho các hữu tình.
a.
Con đường duy nhất để vào Đại thừa là Phát Bồ Đề
tâm
Điều
quyết định bạn đã vào hàng ngũ Đại thừa hay chưa, là
bạn đã phát tâm bồ đề rong dòng tâm thức bạn hay chưa.
Tsongkapa nói:
“Pháp
Đại thừa không mà thôi chưa đủ - con người phải thuộc
vào Đại thừa. Bạn trở thành nột người đại thừa bằng
cách có tâm bồ đề. Nếu bạn chỉ có hiểu về bồ đề
tâm, thì bạn chưa phải là một người đại thừa cho lắm.”
Nếu
bạn không có bồ đề tâm trong dòng tâm thức mà bạn lại
tu tập chẳng hạn, các giai đoạn phát sinh và thành tựu trong
mật điển Guhyasamàja, vua các mật điển, thì - ngoài cái
sự nó không phải là nhân cho sự đạt giác ngộ - bạn còn
không thể khởi tu con đường tích lũy công đức của Đại
thừa. Và ngoài ra, một sự tu tập như thế lại còn không
phải là một pháp Đại thừa nữa. Nhưng nếu bạn có tâm
bồ đề, thì ngay cả việc tụng câu thần chú Om mani padme
hum cũng là pháp đại thưa và là nhân cho sự giác ngộ của
bạn. Long Thụ nói:
Nếu
bạn ham thích vô thượng bồ đề
Cho
bản thân và cho thế gian,
Thì
hãy biết gốc rễ nó là một tâm bồ đề
Kiên
cố như núi Tu di, vua các ngọn núi.
Nếu
bạn không có tâm ấy, thì thiền định của bạn về giai
đoạn phát sinh trong các mật điển cũng giống như nhìn vào
một ngôi nhà của chư thiên trong đồ hình; còn về những
thiền định của bạn về giai đoạn hoàn tất, thì có câu:
“Thở vào, giữ nó, đuổi nó ra…” Nói cách khác, những
thực tập về luồng khí lực, v.v.. như thế cũng không tốt
gì hơn thụt ống bệ!
Tính
nhanh chóng độc nhất của các mật điển là ở sự kiện
nó làm tăng trưởng tâm bồ đề nhiều. Jangkya Roelpai Dorje
nói:
“Tôi
đã học Pháp với Purchog Ngagwang Jampa. Ngay cả khi Lama Jampa
cho một pháp quán đảnh chính yếu, ngài cũng chỉ nói về
Lam-rim trong phần giải thích pháp quán đảnh. Nếu người
nào khác thấy việc này, họ sẽ cho rằng Lama Jampa không thể
nói về các mật điển, nhưng kỳ thật lời ngài nói xuất
phát từ sự liễu tri của ngài về toàn bộ yếu điểm của
con đường.”
Một
hành giả mật điển Hevajra không có tâm bồ đề đã đạt
quả Dự lưu. Atìsha rất ngạc nhiên khi nghe điều này và
nói: “Điều ấy chứng tỏ ông ta đã không có tâm bồ đề.
Càng có nhiều người hơn đã thiền quán về Hevajra sẽ xuống
địa ngục!” Tuy nhiên hành giả ấy đã làm khá tốt vì
có nhiều người hơn thực hành phép tụng chú của nhiều
vị thần phẫn nộ trong khi họ thiếu tâm bồ đề; họ đã
tái sinh làm những ác ma hoặc vào địa ngục. Có câu chuyện
về vị thần địa phương Chushur. Trước kia ông là một người
làm những kỳ nhập thất lớn, nhưng về sau tái sinh làm một
vị thổ thần. Nếu vị hành giả Hevajra đã đắc quả Dự
lưu mà có tâm bồ đề, thì ông ta đã đạt giác ngộ ngay
trong đời này. Thay vì thế, ông chỉ đắc một quả báo Tiểu
thừa và không có một chút nhân nào để giác ngộ; giai do
chỉ vì ông thiếu bồ đề tâm. Bởi thế bồ đề tâm là
điều mà ta có thể gọi là “Pháp sâu xa.”
Tôi
đã kể cho các bạn nghe những chuyện tương tự, như câu
chuyện Bà la môn Chanakya, hoặc chuyện về hành giả Ấn Độ
người thực hành mật điển Yamàntaka mà sau tái sinh làm một
ác quỷ đi đến Tây Tạng chỉ để bị Atìsha cho ăn bánh
lễ rồi đuổi đi. Chúng ta cũng có câu chuyện về hành giả
mật điển Yamàntaka ở Paenpo tái sinh làm ngạ quỷ có hình
thù giống vị thần ấy và lai vãng một lễ cúng đốt đồ
ăn cho người chết tại nhà của thí chủ ông ta trước kia.
Ngày
nay, nhiều người xem trọng những chuyện như trông thấy được
chư thiên, có thiên nhãn hoặc những thần thông khác; nhưng
nếu không có tâm bồ đề thì bạn vẫn có thể đi xuống
các đọa xứ như chơi, và việc có thiên nhãn hay thần thông
cũng không có ích gì lúc ấy. Khi bạn có tâm bồ đề thì
có thể bạn không làm nhiều nỗ lực trong các việc khác,
nhưng bạn vẫn có được gốc rễ của Pháp Đại thừa. Bất
kể đề tài nào, dù thuộc kinh điển hay mật điển, là đại
thừa hay không phải đại thừa, đều tùy thuộc vào sự kiện
bạn có tâm bồ đề hay không. Nếu bạn đã có tâm bồ đề,
thì dù chỉ cho con vật một nạm bột lúa mạch cũng sẽ là
một cái nhân góp phần vào sự đạt toàn giác của bạn.
Điều này cũng áp dụng cho mọi hoạt động hàng ngày mà
bình thường chỉ có tính chất vô thưởng vô phạt. Những
đại bồ tát còn có thể chuyển điều phi phước hành thành
ra phước hành vì họ làm mọi sự kèm với tâm bồ đề.
Khi
bạn không có tâm bồ đề mà gặp hoàn cảnh thuận tiện
để tu tập trí tuệ liễu tri tánh không, thì hoàn cảnh ấy
chỉ tác động như một cái nhân cho một trong ba loại giác
ngộ của Thanh văn, Duyên giác hoặc Bồ tát; vì trí tuệ ấy
như một bà mẹ. Nhưng khi bạn có tâm bồ đề, thì hoàn cảnh
ấy sẽ tác động như cái nhân cho bạn đạt vô thượng bồ
đề, thì hoàn cảnh ấy sẽ tác động như cái nhân cho bạn
đạt vô thượng bồ đề mà thôi. Bởi thế bồ đề tâm
như một người cha. Đấy là lý do gọi trí tuệ là “mẹ.”
Tóm
lại: trừ phi bạn tuyệt đối không khát khao giác ngộ thì
thôi, ngoài ra tất cả mọi người tu hành đều nên bấy bồ
đề tâm làm pháp tu căn bản. Tất cả cái gì có giá trị
- như những đức tính trong bất cứ thừa nào trong ba thừa
- cuối cùng đều phát xuất từ bồ đề tâm. Nếu có ai hỏi
pháp tu căn bản chư thiên ta là gì, ta có thể đáp, tôi tụng
thần chú Hayagrìva, Yamàntaka, hoặc Kim cương thủ, nhưng kỳ
thật phần đông chúng ta thường đã lấy ba độc làm pháp
tu căn bản. Atìsha là một học giả về tất cả pháp ấy,
mà ngài vẫn chưa thỏa mãn. Ngài vượt biển chịu nhiều
gian nan trong mười ba tháng rồng để thụ giáo toàn triệt
về bồ đề tâm với bậc thầy Suvarnadvìpi, và lấy bồ đề
tâm làm pháp tu căn bản của ngài. Ngài kính trọng bậc thầy
đã chỉ giáo cho ngài về bồ đề tâm hơn bất cứ thầy
nào khác. Như Suvarnadvìpi là một người thuộc phái Duy thức
(chittamatrin) nên tri kiến của ông về Tánh không không bằng
Atìsha.
Vì
lý do đó ta phải xem coi ta có thể phát triển tâm bồ đề
trong dòng tâm thức ta không. Không có một đời tái sinh nào
tốt để phát tâm bồ đề hơn là trong đời hiện tại này.
Không có chỉ giáo về Pháp nào tốt hơn để cho ta đào luyện
tâm bồ đề hơn pháp này. Tức Lam-rim. Khi xét những điều
ấy, thì ta thấy thật vô cùng đáng tiếc nêu không làm gì
để phát triển tâm bồ đề trong dòng tâm thức chúng ta.
Khắp nơi có những người dùng suốt đời để tu tập những
chuyện khó khăn như là ăn sỏi đá. Họ có thể tự hào là
những hành giả chọn lọc, nhưng họ đã đi lạc ra khỏi
con đường đưa đến toàn giác, vì họ không xem bồ đề
tâm ra cái gì. Chuyện này thật quá thông thường.
Chúng
ta phải xem ta có nghĩ rằng mình có thể thực thụ phát triển
tâm bồ đề trong dòng tâm thức của mình hay không. Nếu không
được như vậy thì chúng ta phải xem ta có thể được một
vài kinh nghiệm gượng ép về tâm bồ đề, hoặc là xem chúng
ta có được một chút tri kiến ở mức độ thấp về tâm
bồ đề không. Đây là lý do người ta bảo rằng nếu ta không
theo đuổi điều này như một đề tài thiền quán đặc biệt
thì bao nhiều việc thiền định hay tụng đọc thần chú mà
ta cố thực hiện sẽ chỉ là nỗ lực vô bổ. Thật đáng
tiếc làm sao.
b.
Bạn được danh hiệu là con của chư Phật.
Trong
quyển Hành Bồ Tát Hạnh có nói:
Từ
lúc những chúng sinh đáng thương
Bị
vướng vào ngục tù sinh tử
Biết
phát tâm bồ đề,
Là
họ được gán danh hiệu
“Con
của chư Phật.”
Và:
Ngày
nay tôi đã được sinh vào dòng họ của Phật
Tôi
đã trở thành người con Phật.
Như
vậy, bạn có thể trở thành con Phật hay không chỉ tùy thuộc
vào một điều này. Nếu bạn chưa phát tâm bồ đề thì bạn
không phải là một bồ tát, hay một người con của Phật,
mặc dù bạn có thể là người có thần thông, có được
ngũ minh, đạt được tri kiến trực tiếp về tánh không,
hoặc đã hoàn toàn dứt trừ vọng tưởng. Bạn sẽ không
được vào hàng ngũ của Đại thừa. Nhưng bạn đã phát tâm
bồ đề trong dòng tâm thức là bạn đã đã vào hàng ngũ
đại thừa, mặc dù bạn là một con thú, chẳng hạn như con
chó hay con heo, hay cả đến một người kko được cái gì
và ngu ngốc như một con lừa.
Khi
bạn phát tâm bồ đề, quả đất rung động và tất cả pháp
tòa của chư Phật rung động, vì đại địa được sinh ra
do cọng nghiệp của hữu tình, khi một người nào phát bồ
đề tâm thì điều ấy quả đất không thể chịu đựng,
nó rung lên vì người có bồ đề tâm ấy sẽ dẫn đạo nhiều
hữu tình và gây nên một chấn động trong cõi sinh tử.
Chư
Bồ tát muốn xem bất cứ người nào phát tâm bồ đề như
là anh chị em của họ. Chư Phật mười phương hoan hỷ như
làm một vị vua chuyển luân khi có con kế nghiệp do đó người
ấy trở thành người con của chư Phật. Nếu khi nào họ thối
thất tâm bồ đề, tức là họ dã tự đóng cửa mình ra ngoài
đại thừa. Trong quá khứ chúng ta đạt nhiều loại thần
thông nhưng rốt cuộc chúng chẳng làm lợi ích gì cho ta cả;
tốt hơn nên học hiểu Lam-rim. Có thần thông, thấu thị thật
không phải là chuyện phi thường hay lợi lạc gì: Người
ta bảo chúng ta nhận được những năng lực này trong cõi
trung ấm sau khi ta giã từ mỗi kiếp tái sinh.
c.
Bạn sáng chói hơn cả Thanh văn và Duyên giác
Một
quyển kinh nói:
“Như
châu ngọc trong biển cả sáng hơn tất cả những đá sỏi
của lục địa phương Nam, những người phát tâm bồ đề
trong dòng thức của họ sáng chói hơn tất cả Thanh văn và
Duyên giác.
Kinh
về cuộc đời đức Di Lặc nói rằng cũng như một vị hoàng
tử dù còn bé cũng hơn hẳn một toán đình thần lớn tuổi,
hoặc như một con Kim sí điểu (Garuda) cũng hơn một bầy chim
khác, một vị bồ tát đã phát tâm bồ đề trong dòng tâm
thức sáng chói hơn toàn thể Thanh văn và Duyên giác. Đấy
là nhờ năng lực lòng vị tha. Hơn nữa dù một viên kim cương
có vết cũng vẫn được gọi là kim cương, vẫn sáng chói
hơn những thứ ngọc khác và vẫn là một tài sản cho bạn.
Cũng tương tự, những người đã phát tâm bồ đề có thể
chưa tu tập những việc làm của người con Phật, nhưng họ
vẫn được gọi là con của đấng Chiến thắng do tâm bồ
đề trong dòng tâm thức của họ. Trong tất cả sự tích lũy
đức hạnh, sự tích lũy của họ tốt nhất, sáng chói hơn
tích lũy công đức và trí tuệ của Thanh văn, Duyên giác.
Và người ta bảo rằng sự nghèo khó trong sinh tử đều được
xua tan bởi tâm bồ đề.
Một
mình tâm bồ đề nên được xem như là tinh túy của tám muôn
bốn ngàn pháp tụ. Atìsha nói: “Hãy từ bỏ đời này! Hãy
chỉ quen thuộc với từ, bi và tâm bồ đề.”
d.
bạn trở thành mục tiêu tối thượng của sự cúng dường
Khi
bạn phát triển bồ đề tâm trong dòng tâm thức, “thì nhân
loại và chư thiên đều chắp tay cung kính.” Nói cách khác,
bạn trở thành một mục tiêu tối thượng cho sự cúng dường
của chư thiên và loài người. Tuy nhiên bạn không phát tâm
bồ đề càng luyện tâm ấy trong một thời gian ngắn. Ngay
cả Atìsha vĩ đại cũng đã luyện tâm ấy trong 12 năm. Hãy
nhìn những người chỉ thiền quán về chư thiên và tụng
chú, mà cũng kiên trì vào những việc ấy trong nhiều năm,
thế thì chúng ta lại càng nên cố gắng nhiều hơn để phát
tâm bồ đề. Những người phái Kadampas ngày xưa nói rằng
mọi người đều có những hình ảnh chư thiên để quán tưởng,
mỗi người đều có thần chú để tụng; nhưng điều đáng
buồn là không ai có một pháp nào để tu.
Điều
cốt yếu là bạn cần phải gieo vào tâm thức càng nhiều
bản năng về bồ đề tâm càng tốt. Ngày xưa có 500 con ngỗng
chỉ nhờ nghe tiếng nói của Phật mà được tái sinh làm
chư thiên. Vua A xà thế có được bản năng mạnh mẽ về
tánh không. Một ngày kia vào buổi trưa ông cố dâng cúng Đức
Văn Thù những tấm y trị giá một ngàn lượng vàng, nhưng
ông không cúng được, bởi vì ngài biến mất. Chính vua khi
mặc những tấm y và ông cũng tan biến. Điều này khiến ông
thực chứng được tánh không. Điều này xảy ra là do một
bản năng về tánh không đã gieo vào ông trong đời quá khứ.
Phạm
vương, Đế thích… đều đến cúng dường khi một người
phát tâm bồ đề; đem lại cho họ vẻ sáng chói của chư
thiên và giúp họ thỏa mãn những ước nguyện. Người ta
cũng bảo rằng ngay cả chư Phật cũng tôn trọng những vị
Bồ tát bởi vì các ngài cũng đã từng là bồ tát và đã
từng đào luyện tâm bồ đề. Trong kinh cũng nói:
“Nên
tôn trọng vừng trăng mới mọc hơn là vừng trăng tròn. Cũng
thế, người nào tôn trọng ta hãy nên kính lễ các vị bồ
tát thay vì kính lễ các đức Như Lai… Khi một vị bồ tát
bước lên một chiếc xe, thì chư Phật sẽ cung cấp cho họ
các khoái lạc năm giác quan, và làm cho họ vui thích. Nếu
không có ai đẩy xe thì chính chư Phật sẽ kéo xe ấy với
một sợi dây cột quanh cổ của các Ngài.”
Người
ta bảo rằng những bậc thánh như Xá Lợi Phất dù nhập vào
định tịnh chỉ hoàn toàn trong nhiều kiếp mà chư Phật cũng
không kính trọng nhiều đến thế.
Ngay
cả những chuyện như sau đã được kể. Có lần đức Phật
không cúng cho Đức Văn Thù miếng đầu tiên của phần ăn
khất thực trong bình bát của ngài, nên cái bát bị đất
nuốt mất tiêu.
e.
Bạn dễ dàng tích lũy một số lượng công đức khổng lồ.
Nyugrumpa
nói:
“Khi
một người tìm cách phát triển được một ít bồ đề tâm
thì điều ấy đã xây dựng được sự tích lũy công đức
đầu tiên, tịnh trừ được những chướng ngại của họ.”
Tsongkapa
nói:
Như
hòn đá của một bậc hiền trí
Cho
hai sự tích lũy:
Bồ
đề tâm đem lại cho bạn công đức
Để
tập hợp một kho lớn đức hạnh.
Và
muốn thâu nhặt một kho công đức lớn bằng cách dễ dàng,
Shantideva giải thích:
“Nó
giống như viên đá của bậc hiền trí tối thượng:
Vì
nó biến thân thể bất tịnh của bạn
Thành
một cái gì vô giá -
Đó
là thân của một đức Phật.
Bởi
thế hãy luôn luôn duy trì điều này
Mà
chúng ta gọi là Bồ đề tâm…
Những
đức hạnh khác giống như cây chuối
Một
khi đã có quả thì không còn sanh thêm quả
Bồ
đề tâm giống như một cây sống
Tiếp
tục tăng trưởng và kết trái.
Nói
cách khác, không có gì tốt hơn bồ đề tâm để hoàn tất
sự tích lũy công đức. Nếu bạn bố thí cho hàng trăm ngàn
chúng sinh trong hàng trăm ngàn kiếp và làm đầy hàng tỷ thế
giới với ngọc ngà châu báu để bố thí mà không có tâm
bồ đề, thì nghiệp báo của việc này cuối cùng cũng sẽ
đi đến chấm dứt. Nó cũng không phải là việc của bồ
tát và sẽ không làm nhân cho bạn thành Phật quả. Nhưng với
tâm bồ đề mà bạn cho con chó một miếng ăn, thì quả báo
của hành vi ấy sẽ không bao giờ cùng tận. Đấy sẽ là
việc của người con Phật và sẽ là một cái nhân cho bạn
thành Phật. Nếu với tâm bồ đề bạn đốt dù chỉ một
cây hương để dâng cúng, người ta bảo công đức cũng bằng
như cúng cho tất cả hữu tình mỗi người một cây. Nếu
bạn có tâm bồ đề mà chỉ tụng đọc một câu Om Mani Padme
hum thì lợi lạc ấy bằng sự lợi lạc của thần chú ấy
một số lần bằng số lượng của tất cả hữu tình.
Vào
thời Phật có lần một người ăn mày đã cúng Phật một
cây đèn dầu nhỏ kèm với tâm bồ đề. Đức Anan đã không
dập tắt được cây đèn ấy. Như Lai đã nói rằng ngay cả
ngọn cuồng phong thời kiếp tận cũng không thể thổi tắt
được nó do sự tăng trưởng liên tục của công đức.
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Bất
cứ ai giữ giới này
Để
hoàn toàn giải thoát
Vô
lượng hữu tình đủ hạng
Sẽ
không còn lui sụt
Vì
có tâm bồ đề.
Họ
dã phát bồ đề tâm thuần tịnh
Sau
đó, dù ở trong giấc ngủ
Vào
lúc không canh chừng.
Công
đức của bạn sẽ có năng lực,
Phước
đức đến với họ luôn luôn
Và
trở thành to lớn như hư không.
Nói
cách khác một khi bạn đã phát tâm bồ đề hoặc trong tâm
nguyện, hoặc là dưới hình thức dấn thân, bạn sẽ được
nhận một dòng thiện đức liên tục, ngay cả trong lúc ngủ
hoặc khi không để ý. Nếu muốn làm cho một hữu tình hết
cơn đau đầu đã là một điều lợi lớn, thì làm sao ước
nguyện giải thoát tất cả hữu ình ra khỏi vô lượng khổ
đau và bệnh tật lại không công đức? Quyển Hành Bồ Tát
Hạnh cũng nói tương tự.
Nếu
tư tưởng giải thoát chúng sinh
Thoát
khỏi cơn đau đầu
Là
một tư tưởng lành
Khiến
người ta có vô lượng công đức,
Thế
thì cần gì nói đến
Ước
nguyện giải cứu tất cả hữu tình
Thoát
khỏi vô lượng đau khổ,
Bằng
cách dạy họ phát triển mọi điều lành?
Đem
thực phẩm cho một ít chúng sinh,
Hành
vi bố thí thức ăn
Chỉ
kéo dài chốc lát,
Vậy
mà người làm đầy những cái bụng trong nửa ngày
Cũng
được ca tụng là người có đức hạnh,
Huống
gì một người
Trải
qua một thời gian dài nỗ lực,
Làm
thỏa mãn tất cả ước vọng
Của
vô lượng hữu tình
Bằng
phúc lạc vô song của các đấng Thiện Thệ?
Nói
tóm lại, khi bạn được điều động bởi tâm bồ đề, người
ta bảo rằng công đức nào bạn làm sẽ đem lại cho bạn
một số lợi lạc bằng số lượng của hữu tình.
f.
Bạn nhanh chóng tịnh hóa các tội lỗi và chướng ngại
Không
gì
hơn tâm bồ đề để tịnh hóa tội lỗi.
Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Bất
cứ tội lỗi có năng lực lớn lao khó dung tha nào
Cũng
sẽ mạnh hơn bất cứ đức hạnh nào
Ngoài
trừ bồ đề tâm tối thượng.
Nếu
là bạn có thể phạm một tội lỗi to lớn không cách nào
sám hối, nhưng tội ấy sẽ tiêu tan nếu bạn phát tâm bồ
đề. Điều này được chứng minh bằng câu chuyện của bậc
thánh Vô Trước. Trong một sát na khởi tâm đại bi ngài đã
tịnh hóa nhiều tội lỗi nghiệp chướng hơn cả mười hai
năm tu tập các thiện hành. Hơn nữa:
Bạn
có thể có vài tội khó dung tha,
Nhưng
khi bạn nương vào tâm bồ đề
Bạn
sẽ giải thoát ngay khỏi tội lỗi,
Cũng
như bạn thoát khỏi nguy hiểm lớn lao
Khi
nương tựa một vị anh hùng.
Ai
là người phòng xa
Lại
không nương tựa tâm bồ đề?
Nói
cách khác, cũng như bạn không cần sợ một cuộc phục kích
khi đi ngang qua đường hiểm nếu bạn đi chung với một người
rất dũng cảm, bạn cũng không sợ hậu quả của tội lỗi
và chướng ngại nếu có bồ đề tâm.
Tội
lỗi lớn chắc chắn tiêu tan trong một chốc
Như
bị đốt trong ngọn lửa thời kiếp tận.
Nghĩa
là, dù bạn có một đống tội lỗi cao ngất, nó cũng được
tịnh hóa như thể đốt cháy trong đống lửa ở cuối thời
kiếp.
Vì
những lý do ấy, muốn phá hũy tội lỗi của bạn, tốt hơn
nên thiền quán về tâm bồ đề một thời gian hơn là cố
gắng trăm năm để tịnh hóa những tội lỗi ấybằng phương
tiện khác không có tâm bồ đề.
g.
Bạn thành tựu được bất cứ gì bạn muốn
Khi
phát tâm bồ đề, bạn thành tựu được môt cách không khó
nhọc tất cả mọi ước muốn tạm thời và tối hậu. Điều
tốt nhất nên mong muốn sẽ là mong tất cả hữu tình từ
bỏ những khổ đau họ không muốn va hành tựu được hạnh
phúc mà họ mong muốn. Hành Bồ Tát Hạnh nói:
“Với
bồ đề tâm, vô biên hữu tình sẽ dễ dàng đạt đến hạnh
phúc tối thượng.”
Nếu
bạn đã phát triển tâm bồ đề trong dòng tâm thức thì bạn
dễ dàng thành công trong những việc mà người thường sẽ
thất bại, như là biết thần chú hay mật chú để làm mưa,
chấm dứt mưa đá, v.v… Người thường không làm được
do thiếu bồ đề tâm. Như vậy nếu bạn muốn trừ bệnh
cho mình và cho người khác và muốn có khả năng lớn hơn,
bạn sẽ phát tâm bồ đề. Không nên nghĩ rằng chỉ giáo
về lời chú là không linh nghiệm vì không có tác dụng đối
với bạn.
Bạn
không cần nhờ đến thần chú hay những đồ phụ tùng về
mật tông. Bạn có thể làm những việc này bằng cách chỉ
cần thốt lên một lời thề: Bồ tát Sadà Prarudita làm cho
thân thể của ông lành lặn trở lại bằng một lời thề
như vậy. Có lần ở Lhasa con sông Kichu sắp tràn bờ không
ai ngăn nổi. Ngài Moenlam Paelwa viết những chữ này trên những
tảng đá: “Nếu tôi thực sự là một bồ tát thì nước
hãy rút xuống!” Ngài đem tảng đá ấy đến bờ sông và
nước liền rút. Ngài đã ngăn được cơn lũ lụt nhờ thốt
lên những lời thề ấy.
Như
vậy với bồ đề tâm, bạn có thể thành tựu điều thù
thắng nhất, ước muốn chính của bạn tức là trạng thái
toàn tri; bạn cũng sẽ thành công trong những bùa chú lặt
vặt.
h.
Bạn không ngán vì những chướng ngại hay điều hại
Khi
một vị vua chuyển luân đi ngủ, ông ta được canh gác bởi
Kim cương Thủ, Pham vương, Đế Thích, Tứ Thiên vương. Nhưng
những bồ tát có nhiều người che chở gấp hai lần vua chuyển
luân, và bồ tát được che chở cả đêm lẫn ngày. Họ không
bao giờ bị hại, không bao giờ bị ác ma quấy nhiễu. Nếu
chúng ta không có tâm bồ đề mà hô triệu quần thần linh
bằng trống kèn để che chở cho ta, chúng ta không chắc họ
có đến thực không. Nhưng nếu chúng ta đã phát tâm bồ đề,
thì dù không mời Tứ Thiên vương vẫn đến canh gác cho ta
như những tôi tớ trung thành. Kinh Trái Rơm nói:
“Nếu
bạn thoa vào thân thể thuốc trị bá bệnh thì không một
bệnh gì có thể hại bạn. Nếu bạn dùng vua của các loại
thuốc hoa, rắn sẽ tránh bạn. Nếu bạn dùng thứ dược vương
làm cho kẻ khác trở thành vô năng, kẻ thù không thể làm
gì bạn. Cũng thế khi bạn có tâm bồ đề, bạn không lây
bệnh vọng tưởng, vân vân.”
Khi
geshe Kamlungpa sống ở Yungwai Pur thuộc miền Paenpo, trải qua
thời gian để thiền quán về bồ đề tâm, phi nhân ở vùng
ấy muốn tấn công ngài nhưng một con ma nói: “Ổng thương
ta còn hơn chính bản thân. Ổng khóc mãi. Làm sao ngươi có
thể nghĩ đến chuyện làm hại ông ta?”
Bậc
Đạo sư đầy từ mẫn của chúng ta đánh bại đạo quân
ma nhờ năng lực của từ bi nơi Ngài. Năm Dạ xoa không thể
giết những người chăn bò trong cung vua Maitrobala vì lòng đại
bi của vua.
Vua
Pehar cúng cho Butoen Rinpoche là Lama Dampa những cây bút sắt
để viết trên đá bảng nhưng vua lại không thể cúng cho
Ngulchu Togme Sangpo (xem Ngày Hai Mươi Mốt). Và có lần Butoen
Rinpoche bị ốm, ông ta mời Ngulchu Togme Samgpo đến. Vị này
thiền quán về tâm bồ đề làm cho ông ta đỡ đau.
Những
chuyện như thế làm sáng tỏ vô số lợi lạc ngoài sự không
bị quấy nhiễu bởi những hiểm nguy và chướng ngại. Chỉ
cần nói rằng những người đã thiền quán về tâm bồ đề
không bị phiền nhiễu về phi nhân cũng đủ.
i.
Bạn nhanh chóng hoàn tất mọi giai đoạn của đạo lộ
Khi
bạn theo đuổi thiền định về chính kiến mà không có tâm
bồ đề, bạn chỉ có thể thành tựu sự tích lũy về căn
bản trí mà không tích lũy công đức. Chính nhờ năng lực
tâm bồ đề tương đối mà bạn hoàn tất được hai thứ
tích lũy và trừ được hai thứ chướng ngại (là tri chướng
và hoặc chướng hay sở tri chướng và phiền não chướng
- DG), cùng với những bản năng (tùy miên) của chúng. Nếu
bạn có tâm bồ đề, bạn có thể giác ngộ trong một đời
nhờ các mật chú, nhưng nếu không tâm bồ đề, thì bạn
còn không thể đạt được cả đến trình độ thấp nhất
của đạo lộ Đại thừa về sự tích lũy, dù có sử dụng
mật điển.
Nói
tóm lại, khi bạn có bồ đề tâm, gốc rễ của sự tu tập
tất cả thiện pháp; thì mọi đức hạnh bạn làm, ngay cả
việc cho con quạ một miếng ăn, cũng làm nhân cho sự thành
Phật của bạn; bởi thế mà nói, bạn sẽ nhanh chóng hoàn
tất con đường tu tập.
k.
Bạn trở thành một nguồn suối dồi dào hạnh phúc cho kẻ
khác.
Tác
phẩm Hành Trung đạo nói:
Chư
Phật nhiều năng lực
Đã
sản xuất được Thanh văn, Độc giác
Nhưng
chính chư Phật
Lại
từ Bồ tát mà phát sinh ra…
Nói
cách khác, tất cả hạnh phúc trên thế gian, tất cả Thanh
văn, Độc giác, Chuyển luân Thánh vương, vân vân đều do
năng lực của chư Phật mà có. Chư Phật thì phát xuất từ
bồ tát. Bồ tát phát xuất từ bồ đề tâm. Không những
bồ đề tâm là gốc rễ duy nhất của tất cả hạnh phúc
hữu tình, mà nó còn là tinh chất của tám muôn bốn ngàn
pháp. Đấy là pháp tu chính yếu mà những người con Phật
tập trung vào. Sự thù thắng của các mật điển phát sinh
từ năng lực của tâm này.
Geshe
Dromtoenpa hỏi thăm một người về tin tức ba anh em Kamdampa;
người ấy nói với Drom về từng người một và những hoạt
động về Pháp của họ. Drom nói: “Thật tuyệt! Thật cả
ba đều tuyệt vời!” Rồi người kia nói về Geshe Kamlungpa:
“Ông ta sống trên đầu một cái vực. Đôi khi mắt ông hơi
nhắm; đôi khi ông khóc. Đấy, ông ta chỉ làm chừng ấy việc.”
Drom chắp hai tay và nói: “Ngài chính thực đang tu tập diệu
pháp!”
Hành
Bồ Tát Hạnh nói: “Đó là chất đề hồ (bơ) rút được
nhờ nhào nặn sữa Diệu Pháp.” Nghĩa là, bồ đề tâm là
tính chất của các pháp. Bởi thế tôi xin mọi người hãy
bất cứ phương pháp nào có thể, để phát sinh được tâm
bồ đề.
Một
giáo lý phải là đại thừa hay không là do trong đó có bồ
đề tâm hay không. Hãy gạt sang một bên tất cả những pháp
khác mà mọi người cho là sâu xa vi diệu, và chi thực hành
tâm bồ đề một cách nghiêm chỉnh. Nhưng có nhiều hành giả
thuộc mọi phái Sakya, Gelug, Kagyu, và Nyingma không hiểu được
điểm này, mà vẫn mong muốn Phật quả. Họ thiền quán về
hai giai đoạn của mật điển, bất cần bồ đề tâm, mà
vẫn muốn tiến nhanh trên đạo lộ. Họ hành động như một
người “có cục bướu dư thừa trên cần cổ quý báu”
như câu tục ngữ nói. Chư Phật trong ba đời không vị nào
thành Phật mà không cần tâm bồ đề là chuyện chưa ai từng
nghe tới. Bởi thế, ai không có tâm bồ đề thì sẽ không
đạt thành Phật quả mong cầu; và nếu họ thiếu bồ đề
tâm tức là họ không có mong cầu đạt thành Phật quả. Bởi
thế bạn phải xét điều này một cách nghiêm túc.
Giáo
thọ Rego nói với Drubkang Geleg Gyatso: “Mỗi khi ông đến,
chúng ta sẽ nói chuyện về tâm bồ đề. Chắc chắn tôi sẽ
được một ngày vui. Những câu chuyện như thế đối với
người bây giờ thực hoàn toàn xa lạ.”
Trong
chúng ta rất ít người thực hành bồ đề tâm. Một vài người
nói: “Bồ đề tâm thật khó phát” và bởi thế gạt qua
bên một chuyện phát tâm bồ đề. Những người khác lại
nói: “Đấy là phần thông thường của Đại thừa; chúng
tôi thiền quán về những đề tài sâu xa hơn như hai giai đoạn
của mật điển Du già tối thượng: và cũng dẹp tâm bồ
đề qua một bên. Chuyện này cũng giống như một người đi
tìm viên ngọc ước trong một vũng bùn do dấu chân trâu để
lại thay vì đi tìm trong biển cả. Đức Tsongkapa nói:
“Vì
hiểu như vậy nên những người con anh dũng của chư Phật
đã lấy tâm bồ đề quý vô thượng này làm pháp tu chính
yếu của họ.”
Như
vậy, chỉ có bồ đề tâm được ca tụng như là pháp thực
hành căn bản. Ngày nay một số người thường bảo rằng
pháp tu căn bản của họ là quán một vị thần nào đó. Những
người khác lại bảo họ chuyên môn về sách thiên văn của
Trung Quốc. Những người khác thì tụng chú v.v… để giải
quyết những vấn đề riêng tư. Nhưng bạn sẽ không bao giờ
thành tựu Phật quả nếu bạn không có bồ đề tâm.
Atìsha
nghĩ rằng Suvarnadvìpi là bậc thầy tốt nhất trong những
bậc thầy của ngài. Và khi ngài ốm, ngài đã bảo đệ tử
Dromtoenpa: “Tâm của ông hiền thiện; ông hãy gia trì cho tôi.”
Atìsha muốn nói đến tâm bồ đề.
(Kyabje
Pabongka Rinpoche kể câu chuyện về bậc thầy Pháp Hộ lúc
trước là một người theo phái Tỳ Bà Sa, về sau trở thành
một người theo Trung quán nhờ tâm bồ đề của ngài.)
Những
thiện sự của Atìsha lan xa và rộng ở Ấn cũng như ở Tây
Tạng đều là nhờ năng lực tận tụy của ngài đối với
những bậc thầy và tâm bồ đề của ngài. Như những người
phái Kadampas ngày xưa nói:
“Bạn
có thể đạt đến mức tịnh chỉ sâu xa đến đạo lộ trống
đánh bên tai cũng không nghe, những điều ấy vô ích nếu
bạn không có tâm bồ đề.”
Bậc
thày Rahulagupta cũng nói:
“Dù
có thấy được hình ảnh các vị thần bảo hộ, dù đạt
được các thần thông và thiên nhãn, hoặc có được định
lực vững như núi cũng không ăn thua gì. Hãy thiền quán về
tâm từ và tâm bi!”
Trong
các kinh điển, bồ đề tâm được xem như xe báu của Chuyển
luân hay sinh lực của một người nào đó, hay như những bàn
tay.
Trong
quyển Dòng Tương Tục Vi Diệu của Đại thừa nói:
“Sự
quý mến Tối thượng thừa là hột giống của trí tuệ, đó
là bà mẹ sinh ra chư Phật.”
Điều
này được ví dụ như sau. Một người cha có tác dụng như
nguyên nhân quyết định của một dòng họ, còn bà mẹ giống
như một nguyên nhân không thể quyết định. Bồ đề tâm
quý báu như thế, như nguyên nhân quyết định để thành Phật;
còn trí tuệ đạt được tánh không là nguyên nhân bất định
cho bất cứ loại giác ngộ nào trong ba loại (Thanh văn, Duyên
giác, Bồ tát) bởi thế trí tuệ về tánh không là nhân cho
sự Giác ngộ trong bất cứ cỗ xe nào tình cờ bạn gặp,
như Đại thừa và Tiểu thừa. Như vậy, người nào chỉ có
hiểu biết về bồ đề tâm cũng được giác ngộ sớm hơn
một người thiếu tâm bồ đề mà thiền quán về các pháp
Đại thủ ấn, Dzogchen (thiền đốn ngộ), hay quán về một
bộ loại chư thần. Tâm bồ đề là cốt tủy, và đây là
thông điệp của đức Atìsha vĩ đại, một người thấu triệt
tất cả nền diệu pháp và đã tu tập bồ đề tâm. Ngài
nói: “Hãy thiền quán về từ, bi, và tâm bồ đề.”
Vì
lý do ấy, đừng đặt hết hy vọng của bạn vào việc thiền
quán về chư thần và tụng chú mà thôi. Bạn phải nỗ lực
về bồ đề tâm. Phát triển tinh túy này của Phật pháp trong
dòng tâm thức bạn đã là chuyện đáng nỗ lực để làm
và bạn chắc chắn sẽ phát tâm bồ đề nếu bạn thiền
quán về tâm ấy, vì các pháp hữu vi không luôn luôn cố định;
nguyên nhân chính sẽ phát sinh hiệu quả mong muốn. Tuy nhiên
trước khi Atìsha đến Tây Tạng, thì ở Tây Tạng đã hiện
hữu một nghi lễ để truyền trao sự phát bồ đề tâm. Khởi
đầu buổi lễ, mọi người sẽ tụng: “Tôi sẽ đạt thành
Phật quả vì lợi ích của tất cả hữu tình đã từng là
mẹ của tôi.” Họ đã thay thế bồ đề tâm bằng công đức
suông. Muốn phát tâm bồ đề trong dòng tâm thức của bạn,
bạn phải luyện tâm: Nếu không có sự luyện tâm thì thật
khó để làm ngay cả cái việc làm quen với tâm bồ đề,
chứ đừng nói đến sự phát sinh trong tâm bồ đề một cách
tự nhiên như kiểu bạn được trao truyền giới Biệt giải
thoát. Một lần Atìsha đã nói với những người Tây Tạng
một cách mỉa mai rằng “Những người mà người người
Tây Tạng các ông xem là bồ tát thật chưa từng biết đến
từ hay bi gì!” Những người Tây Tạng hỏi lại: “Thế
thì chúng tôi phải làm sao?” Ngài trả lời: “Hãy tu tập
theo từng giai đoạn.”
Phát
bồ đề tâm mà không phải trải qua lòng thương xót rộng
lớn thật là điều hoàn toàn bất khả, nên bạn cần phải
luyện tập tâm qua từng giai đoạn.
2.3.2.
CÁCH PHÁT TÂM BỒ ĐỀ.
Có
hai tiêu đề phụ: (1) Luyện tâm nhờ chỉ giáo về nhân quả
gồm bảy phần; (2) Luyện tâm nhờ đổi địa vị mình với
kẻ khác.
“Chỉ
giáo về nhân quả gồm 7 phần” khởi đầu bằng cách nhìn
hữu tình đều đáng mến. Đây là phương pháp được sử
dụng bởi Atìsha, Chandrakirti, Chandragomin, Shantarakshita, và những
người khác. Hệ thống của Shantideva là luyện tâm bằng sự
đổi địa vị mình với người khác. Bạn có thể phát tâm
bồ đề bằng luyện tập theo một trong hai cách chỉ giáo
này, vì đấy là những hệ phái bắt nguồn từ đấng đạo
sư được truyền xuống qua Di lặc và Văn Thù.
Tác
phẩm Ngọn đèn soi đường của Atìsha và những tác phẩm
của ngài đưa ra những chỉ giáo của Suvarnadvipi, bậc thầy
đã gìn giữ cả hai dòng chỉ giáo nói trên. Hệ thống 7 phần
nhân quả rất thịnh hành vào thời các phái Nyingma và Kadampa,
nhưng những chỉ giáo về sự đổi địa vị mình với người
thì được truyền trong vòng bí mật. Bằng cách ấy, sự truyền
thừa của nó xuống đến Tsongkapa. Giáo lý của Ngài dạy
cách luyện tâm trong cả hai loại chỉ giáo; bạn phải thực
hành phối hợp cả hai cách. Tuy nhiên mặc dù hai cách này
phải được phối hợp trong sự thiền quán của bạn, khi
bạn luyện để có tâm bồ đề thì hai phương pháp này lại
được thảo luận riêng rẽ.
Có
tám đoạn trong.
a-1.
Sự Luyện Tâm nhờ những chỉ giáo nhân quả 7 phần.
(1)
Xả vô lượng; (2) Hiểu rằng tất cả hữu tình là mẹ của
mình; (3) Nhớ lại sự tử tế của họ; (4) Trả ơn họ; (5)
Tâm từ để nhận thấy sự dễ thương của họ; (6) Tâm bi;
(7) Tâm vị tha; (8) Tâm bồ đề.
Sáu
điều từ (2) đến (7) là nhân; đưa đến quả bồ đề tâm.
Đấy là cách tất cả những điều ấy tác động như nhân
và quả; nhưng trước khi bạn có thể phát sinh ước muốn
thành Phật để lợi lạc tất cả hữu tình, bạn phải có
tâm vị tha để đảm nhận trách nhiệm đem lại an vui cho
mọi người. Hơn nữa, bạn không thể phát triển tâm vị
tha nếu bạn không có lòng bi mẫn đến độ không thể chịu
nổi thấy mọi hữu tình đang bị nỗi thống khổ dày xéo.
Muốn phát sinh tâm bi thì bạn phải phát sinh tâm từ nhờ
năng lực lôi cuốn bạn đến với hữu tình như là con cái
ruột thịt của mình. Trước khi có được tâm ấy bạn phải
xem tát cả hữu tình như người thân, đối với họ bạn
có sự lôi cuốn mà bạn không có đối với kẻ thù. Vì hình
ảnh thân thiết nhất của bà mẹ, nên bạn sẽ thương yêu
tất cả hữu tình nếu bạn có thể chứng minh họ quả thực
là những người mẹ, nhờ lại sự tử tế của họ, và mong
muốn đền đáp.
Đó
là lý do chỉ giáo này được gọi là chỉ giáo về “nhân
quả,” vì mỗi bước là điều kiện tiên quyết cho bước
kế. Không nên thiển cận nghĩ rằng tiến trình này quá dài:
bạn chắc chắn có thể phát tâm bồ đề nếu luyện tập
theo những bước ấy. Những chỉ giáo của phái Kadampas thường
rất sâu sắc, nhất là đối với giáo lý của Tsongkapa: ngài
đã thụ giáo trực tiếp từ Đức Văn Thù, những giáo lý
này đề cập toàn bộ kinh giáo và mật giáo một cách hoàn
toàn vô cấu. Họ còn sâu sắc hơn cả những tiền bối của
họ. Bậc tôn sư tôi, nơi nương tựa, người che chở tôi,
nói:
“Dường
như những giáo lý ở Tây Tạng trong quá khứ đã sửa soạn
mảnh đất cho giáo lý của Tsongkapa tiếp theo như vàng ròng.”
Tagtsang
Lotsawa nói:
Con
ca tụng kho tàng hùng biện chưa từng có của thầy
Về
tất cả kinh giáo và mật giáo
Nhưng
nhất là về Kim cang thừa;
Về
tất cả loại mật điển
Nhưng
nhất là mật điển tối thượng;
Về
tất cả mọi phần của hai giai đoạn.
Nhưng
nhất là về thân huyễn.
Hoặc,
như Dzogchen Paelge nói: “Ôi hỡi Tsongkapa, ngài là nguồn suối
hùng hồn của kinh điển và mật điển…” Những lời ca
tụng này xuất phát từ những vị tu chứng rất cao.
“Trao
truyền Phật quả” dường như là hơi nhiều, dù là trao truyền
địa vị thấp nhất trong đạo lộ tích lũy đã là chuyện
khá khó khăn. Nhưng bạn lại được truyền trao quả Phật
nếu bạn nương vào Lam-rim. Tuy nhiên bạn sẽ không triển
khai được Phật quả nếu không tu tập theo thứ tự của
đạo lộ. Vậy trước hết cần phải luyện để thấy tất
cả hữu tình đều đã từng là mẹ mình. Nếu bạn không
luyện tập bằng sự nghĩ tưởng như thế một cách nghiêm
túc, nếu bạn không đặt nỗ lực vào đấy, thì dù bạn
muốn thành Phật, việc tu hành của bạn cũng hóa ra điên
đảo từ sau ra trước. Bạn cũng sẽ như những người mong
muốn sung sướng mà lại làm quấy. Bạn có thể nỗ lực
tu hành các mật điển, con đường rất nhanh, nhưng bạn phải
chịu khó trong những kỹ thuật luyện tâm bồ đề. Nếu không,
bạn sẽ như một người muốn đến tỉnh Tsang, mà cứ việc
leo lên một con ngựa hay bất cứ con gì khác, rồi nhắm mắt
phi nước đại, với cảm tưởng rằng mình đang đi đến
tỉnh Tsang. Rốt cuộc anh ta lại không đến Tsang, mà có thể
đến Kongpo hay Rong!
Làm
sao bạn khởi sự phát sinh tri kiến xem tất cả hữu tình
như mẹ, có thể xác minh bằng hình ảnh sau. Nếu bạn không
chuẩn bị cái nền cho bức họa, thì bức họa sẽ không xuất
hiện. Nếu bạn không phát tâm xả đối với tất cả hữu
tình, thì cho dù bạn thiền quán về từ, bi, hay bất cứ gì
khác, thì bạn chỉ có phát sinh một hình thức méo mó về
những tâm này. Bởi thế trước hết bạn cần phát sinh tâm
xả vô lượng.
Pháp
luyện tâm bằng chỉ giáo bảy lớp nhân quả không bao gồm
mọi sự chứa đựng trong pháp luyện đổi địa vị mình
với người, trong khi pháp sau này có bao gồm cả pháp trước.
a-1.1.
Xả vô lượng
Xả
vô lượng là điều đầu tiên cần thiền quán trong chỉ giáo
về bảy lớp nhân quả. Chúng ta cần có tâm xả đối với
tất cả hữu tình, nhưng hiện tại dòng tâm thức ta không
có thái độ bình đẳng trước tất cả: chúng ta giận ghét
một số người và ưa thích một số khác. Chúng ta có thể
dùng những người xa lạ làm đối tượng đầu tiên để
luyện tâm, rồi tiến đến những người bạn, và đến kẻ
thù. Hoặc ta có thể lấy cả ba hạng làm đối tượng cho
chúng ta. Tôi nghĩ cách sau này được áp dụng rộng rãi hơn.
Chúng
ta nên thiền quán về kẻ thù, bạn và người xa lạ, tưởng
tượng họ trước mặt. Chúng ta có ba phản ứng khác nhau
đối với họ:ghét, ưa và dửng dưng. Trước hết ta tức
giận những người mà hiện tại ta cho là kẻ thù của ta.
Khi ấy ta nhìn sâu vào bản chất những sự bực bội của
mình, và nghĩ về nguyên nhân của chúng - rằng những người
ấy đã làm hại ta. Kế tiếp, ta thiền quán về tính chất
những sự bực bội của mình, và nghĩ về nguyên nhân của
chúng - rằng những người ấy đã làm hại ta. Kế tiếp,
ta thiền quán về tính bất trắc của mọi sự, như đã bàn
trong phần “Nghĩ Về Những Thống Khổ Chung Trong Sinh Tử.”
Chúng ta quán tưởng những kẻ thù ấy có thể đã thân thiết
với ta nhiều đời trong quá khứ. Hơn nữa, mọi người mà
hiện tại ta cho là bạn hay thù thì chỉ “có vẻ” như vậy
mà thôi. Ta không chắc họ sẽ luôn luôn như vậy.
Có
hai quan điểm: quan điểm cho ta và quan điểm cho người. Về
phần ta, thật vô lý nếu ta thương hay ghét người nào. không
những tất cả hữu tình đều bình đẳng trên phương diện
này, mà về phần họ, tự bản chất họ cũng bình đẳng.
Tất cả họ đều đáng thương như nhau. Tất cả đều muốn
hạnh phúc, không muốn khổ đau. Bởi thế, từ quan điểm
của người, tất cả hữu tình cũng đều bình đẳng và đáng
được đối xử một cách không thiên vị.
Trên
một khía cạnh khác, bạn có thể nghĩ rằng giữa họ có
sự khác nhau vì một vài người trong đó làm lợi ích cho
bạn trong đời này, trong khi những người khác đã làm hại
bạn. Không phải thế. Lợi ích trong quá khứ với lợi ích
ở hiện tại không khác gì nhau. Hại gây ra trong quá khứ
với hại gây ra trong hiện tại cũng đều giống nhau cả.
Ví dụ, nếu một người nào đánh vào đầu bạn năm ngoái
với đánh đầu bạn năm nay thì sự hại vẫn là một. Năm
ngoái cho bạn một hộp trà với năm nay cho bạn một hộp
trà thì cũng chẳng khác gì. Hãy lấy ví dụ mười người
ăn xin. Khi họ đến nhà bạn xin ăn, về phần họ, họ đều
đáng thương ngang nhau vì đều đói khát và đang xin một thứ
giống nhau. Về phần bạn, tất cả đều giống nhau ở chỗ
trong số họ, không ai làm hại bạn.
Nếu
bạn có được tâm xả đối với kẻ thù, bạn, và người
dưng nhờ quán như trên, thì bạn có thể trải tâm ấy đến
tất cả hữu tình. Khi bạn có tâm xả đối với hữu tình,
thì bạn không phân loại chúng thành thù hay bạn. Điều này
sẽ vĩnh viễn ngăn bạn làm những hành động tà ác thuộc
thế gian như hàng phục kẻ thù, nâng đỡ người thân. Nếu
không có tâm xả, thì bạn sẽ tách riêng từng người mà
cho rằng người nọ người kia cần đặt ngoài câu “tất
cả hữu tình.” Người nào phân biệt như thế sẽ không
bao giờ phát tâm bồ đề được. Bạn phải nỗ lực làm
việc với tâm xả này hết năm này qua tháng khác mới được,
vì nếu bạn chỉ có thiền quán vài thời mà thôi thì bạn
sẽ không tiến bộ chút nào; những hi vọng đặt nền tảng
cho giác ngộ của bạn khi ấy vẫn chỉ là một mong mỏi trong
ý tưởng. Nếu bạn nỗ lực luyện tâm bồ đề, thì tôi
có thể đoán chắc với bạn là nó lợi ích hơn là nỗ lực
vào các thứ ích lợi cho hao mòn đời người của bạn, như
thiền quán về chư thần, tụng chú, hoặc cố cải thiện
khả năng thiền định của bạn.
(Khi
ấy Kyabje Pabongka Rinpoche ôn lại tài liệu trên)