PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
MƯỜI BẢY
Kyabje
Pabongka Rinpoche nói về một số lợi ích của tâm bồ đề.
Shàntideva,
một vị pháp vương tử nói:
Kính
lễ những vị bồ tát
Đã
phát tâm bồ đề tôn quý
Dù
có gặp những sự tệ hại nào.
Họ
vẫn không bỏ chúng ta.
Suối
nguồn của hạnh phúc ấy
Là
chỗ nương của tôi.
Nói
cách khác, người nào đã phát tâm bồ đề trong dòng tâm
thức có thể bị lăng nhục vân vân, nhưng họ vẫn làm việc
vì lợi ích của kẻ lăng nhục họ, và dẫn người ấy đến
hạnh phúc vĩnh cữu:
(Khi
ấy ngài kể một chuyện ngắn để chúng tôi khởi động
lực chính đáng)
Tóm
lại, bất cứ hành vi nào bạn làm có kèm theo bồ đề tâm
đều là pháp Đại thừa, và đều làm nhân cho quả Phật.
Như vậy, chỉ thiền quán về chư thần hay tụng chú thì không
phải là cách tu có hiệu quả, và bạn không nên làm việc
cách ấy. Pháp Lam-rim là căn bản của một pháp tu hiệu nghiệm;
trong đó sự thực hành bồ đề tâm là điều cần thiết.
Nếu thiếu bồ đề tâm thì dù bạn trải qua suốt đời trên
một ngọn núi, sự thiền định của bạn cũng chỉ là nông
cạn và bạn không tiến gần hơn đến Phật quả chút nào.
“Kyabje
Pabongka Rinpoche nói làm thế nào chúng tôi cần phải lấy bồ
đề tâm làm pháp tu chính, và chỉ giáo sự luyện tâm là
thiết yếu cho sự phát tâm bồ đề, vân vân. Sau khi kể câu
chuyện ngắn để giúp chúng tôi khởi động lực, ngài ôn
lại những tiêu đề đã bàn, nhắc lại lợi lạc của bồ
đề tâm và thiền quán về tâm xả.
a-1.2.
Luyện tâm gồm bảy điểm
Phần
đầu về chỉ giáo gồm bảy giai đoạn luyện tâm bồ đề
gọi là “Hiểu Tất Cả Hữu Tình đã là Mẹ Ta.” Điều
này quả rất khó triển khai, nhưng nếu không có nó, thì nhân
và quả đưa đến chuyện “Đền Đáp Sự Tử Tế Của Hữu
Tình” sẽ không tiếp theo sau đó. Bởi thế hãy xem việc
này rất quan trọng.
a-1.2.1.
Nguyên nhân thứ nhất: mọi hữu tình đã là mẹ ta.
Bạn
phải hiểu rằng tất cả hữu tình đã từng là hình ảnh
của một người bạn hay bà con thân thiết nhất - ví dụ
bà mẹ của bạn. Bạn không có dịp nào có được bồ đề
tâm nếu bạn không triển khai được một sự hiểu biết
như vậy. Bạn có thể dùng nhiều lý luận để nghĩ về những
đề tài sâu xa như tánh không, v.v… nên chúng không khó hiểu.
Nhưng nếu chỉ suy tư sâu xa mà thôi thì rất khó hiểu được
dù chỉ một câu đơn giản trong kinh. Tuy thế đối với những
người lợi tuệ, thì mọi sự phải được chứng minh bằng
lý lẽ. Thật khó mà đạt thực chứng trong phần này vì nó
chỉ có một dòng lý luận độc nhất. Lý luận ấy được
nói trong tác phẩm của Pháp Xứng (Dharmakìti) Luận Về Những
Pháp Có Giá Trị:
Khi
một người đã được tái sinh,
Thì
thật phi lý nếu hơi thở,
Các
cơ quan, tâm ý của nó
Chỉ
phát triển từ thân thể mà thôi,
Không
phụ thuộc vào
Những
vật đồng loại với nó…
Điều
cần chứng minh ở đây là bản chất vô thủy của tâm ta.
Tâm hôm nay là tiếp nối tâm hôm qua, và cái tâm hôm qua là
cái tâm tiếp nối trước đấy. Chừng ấy là dễ hiểu. Cái
tâm ngay sau khi sinh ra là tiếp tục của tâm nằm trong bào
thai. Cái tâm ngay sau khi nhập thai là tiếp tục của một cái
gì đi vào đấy. Khi sinh tử trở lui về thời gian cho đến
vô tận, thì bạn không thể tìm một khởi điểm nào cho tâm
này. Điều này chứng tỏ rằng những tái sinh của bạn cũng
phải trở lui về thời gian vô tận. Do vậy, số lượng những
tái sinh của bạn cũng vô cùng. Nghĩa là bạn đã tái sinh
vô số lần. Cũng như trong đời này bạn có mẹ, thì mỗi
lần tái sinh trong quá khứ bạn cũng có mẹ, dù bạn sinh từ
trứng hay sinh từ thai. Mỗi lần sinh ra như thế, bạn phải
có một bà mẹ, một trăm lần sinh ra có trăm bà mẹ, ngàn
lần sinh ra có ngàn bà mẹ, v.v… Bạn phải đã có vô số
bà mẹ, nên thật không thể nào hữu tình không từng là mẹ
bạn.
Bạn
có thể cãi: “Đã đành tôi phải từng có nhiều mẹ, nhưng
thật phi lý nếu bảo tất cả hữu tình đều là mẹ tôi,
vì hữu tình thì vô số kể.” Nói chung, bạn đã có rất
nhiều tái sinh; hơn thế nữa, bạn đã sinh ra vô số lần
trong hình hài của mỗi loài hữu tình. Có thể bạn đã tái
sinh nhiều lần hơn số lượng hữu tình hiện tại; và trong
mỗi loại tái sinh này, bạn cần số lượng tương đương
những bà mẹ. Bởi thế không những tất cả hữu tình để
chỉ làm mẹ bạn một lần mà thôi. Long Thụ nói:
“Nếu
bạn đếm tất cả những bà mẹ
Bằng
những viên đất vo tròn nhỏ,
Thì
quả đất cũng không đủ để tính…”
Đoạn
này nói đến dọc trực tiếp những bà mẹ, nghĩa là bà ngoại,
bà cố, vân vân. Tuy nhiên, ở đây tôi sẽ giải thích lại
theo tuyền thống khẩu quyết của bậc thầy. Hãy đem tất
cả đại địa mà vo tròn thành từng hạt đất bằng hột
anh đào; mỗi hột kể là một bà mẹ trong mỗi đời tái
sinh. Khi bạn vo hết cả quả đất lại thành từng viên nhỏ
như thế, bạn vẫn chưa đếm hết số lượng những bà mẹ
mà bạn đã từng có. Nếu tất cả hữu tình không phải đã
làm mẹ bạn, thì sẽ có sự chênh lệch.
Hơn
nữa, vì tất cả hữu tình chắc chắn sẽ đạt giác ngộ
thì sẽ đến lúc không còn một hữu tình nào. Nhưng, vì vòng
luân hồi đối với bạn không có khởi thủy, nên bạn đã
có nhiều lần tái sinh hơn số lượng các hữu tình hiện
có. Vậy, nếu tất cả chúng sinh đã không từng là mẹ bạn
vô số lần, thì sẽ có sự so le. Bởi thế tất cả chúng
sinh đã từng là mẹ bạn nhiều lần.
Không
có một hình thức hữu tình nào mà bạn chưa từng tái sinh
trong đó; hãy nghĩ bạn đã từng tái sinh vô số lần trong
những hình thức ấy. Lấy ví dụ sinh làm người. Không một
nơi nào trong lục địa này mà ở đấy bạn chưa từng sinh
làm người, và đã làm vô số lần. Cũng cách ấy, bạn đã
tái sinh trong mỗi thế giới hệ ở phương đông, tây, nam,
bắc v.v… Vì bạn đã có nhiều tái sinh hơn số lượng hữu
tình, nên không những họ đã từng làm mẹ bạn, mà còn mỗi
một loài trong số ấy cũng đã từng làm mẹ bạn trong những
kiếp tái sinh thân người, bởi thế, có thể kết luận rằng
tất cả hữu tình đều là mẹ bạn.
Nếu
sau khi quán như trên mà bạn không phát triển được tri kiến,
thì hãy tự hỏi: “Trong đời đã qua ta có mẹ không?” Rồi
bạn nghĩ, rõ ràng trong đời này ta có mẹ, vậy thì đời
trước cũng có. Rồi bạn tiếp tục quán đời trước nữa,
vân vân.
Các
Lam-rim Con Đường Dễ và Con Đường Nhanh chỉ đề cập ngắn
gọn làm thế nào bạn nên thiền quán về tri kiến “tất
cả chúng sinh này đều là mẹ ta.” Nhưng tôi muốn giải
rộng tiêu đề này, dùng những chỉ giáo tôi đã hấp thụ
với tôn sư tôi. Muốn cho sự tu tập không thối giảm, thì
điều cốt yếu là những người thực hành đều đặn pháp
này, hoặc những người nhận trách nhiệm giảng dạy, phải
quán như sau, để dễ làm cho người triển khai thực chứng
trong Lam-rim này.
Trước
hết hãy quán mẹ trong đời này đã từng là mẹ nhiều kiếp.
Rồi quán cha mình cũng đã từng làm mẹ mình. Sau đó quán
tất cả bạn bè, người thân, rồi người xa lạ đều là
mẹ mình. Nếu bạn đã đạt được vài tuệ giác từ tất
cả điều này, thì kế tiếp hãy quán sát những kẻ thù cũng
đã từng là mẹ mình. Chỉ khi ấy bạn mới thực hành pháp
này đối với tất cả hữu tình. Mặc dù vậy, bạn vẫn
có thể nghĩ, “Nếu tất cả hữu tình đã là mẹ, thì tôi
sẽ nhận ra ngay. Nhưng tôi không nhận ra, bởi thế họ không
thể là mẹ tôi được.” Nhưng chính chư Phật cũng đã bảo
rằng không một hữu tình nào chưa từng làm mẹ của ta. Thực
sự tất cả đều đã từng làm mẹ bạn, chỉ có điều bạn
không nhận ra được mà thôi. Bà mẹ hiện đời này của
ta về sau có thể tái sinh làm một con chó, nhưng ta sẽ không
thể nói ra điều này; ta cũng sẽ không nhận ra bà thực đã
là mẹ của ta. Điều này được chứng minh bằng câu chuyện
về Utalavarnà (Liên Hoa Sắc) và trong lời trích dẫn:
Ăn
thịt cha, đánh mẹ
Kẻ
thù đã bị giết ngồi trên gối.
Vợ
nhai xương chồng,
Sinh
tử có thể là một trò hề như vậy.
Bởi
thế, không vì bạn không nhận ra mà hữu tình không phải
mẹ bạn, cũng không phải vì bây giờ họ không còn là mẹ
mà bảo rằng trong quá khứ họ không phải là mẹ; nếu thế
thì bà mẹ trong giai đoạn đầu đời bạn không phải mẹ
trong giai đoạn sau; mẹ hôm qua cũng sẽ là không còn là mẹ
hôm nay, vì mẹ hôm qua thuộc về quá khứ. Đây là một khía
cạnh vi tế của vô thường và thật khó nhận chân, nếu
bạn chưa từng khảo sát. Lấy ví dụ cái khăn quàng này.
Một năm trước khi còn mới nó không có vết dơ, không có
lỗ thủng. Nhưng cái tương tục của nó, nghĩa là khăn quàng
hôm nay, thì đã hôi hám và bị mối ăn. Đây là sự khác
nhau giữa hai cái. Bởi thế, bạn cần phải suy nghĩ về sự
kiện rằng không có gì khác nhau những bà mẹ trong đời quá
khứ và vị lai. Cũng thế, nếu có người nào đã từng cứu
sống bạn năm ngoái thì đương nhiên năm nay bạn cũng còn
nhớ ơn họ.
Tiêu
chuẩn để xác định bạn đã tu tập để triển khai được
tri kiến này là, khi trông thấy một con kiến, bạn cũng nhớ
ngay rằng mình đã từng con của chúng sinh ấy, đã hoàn toàn
lệ thuộc vào nó trong mọi nhu cầu để sống.
a-1.2.2.
Nguyên nhân thứ hai: nhớ lại sự tử tế của họ
Khi
bạn có được tuệ quán đi sâu vào sự kiện tất cả hữu
tình đã là mẹ mình, thì phải nghĩ đến lòng thương mà
họ đã chan chứa cho bạn. Hãy lấy trường hợp điển hình
là bà mẹ hiện tại của bạn: bà thương yêu bạn từ lúc
đầu đời, giữa đời và cuối đời. Lúc đầu bà cưu mang
trong thân bà trong chín tháng, thương yêu che chở. Bà thận
trọng từng miếng ăn thức uống vì sợ hại cho đứa con
trong bụng. Nếu mẹ ta không biết cách săn sóc ta chu đáo
đến thế, thì bây giờ ta đã không gặp nền Diệu pháp để
tu học. Việc này không xảy đến do tự chúng ta xoay sở,
mà phải nhờ lòng tử tế của mẹ ta.
Sau
khi bạn ra đời, mẹ nâng niu bạn trong đôi tay, mặc dù khi
ấy bạn không biết tí gì và trông gớm ghiếc như một con
ốc sên. Bà giữ cho bạn ấm bằng thân thể bà, đặt bạn
nằm trên giường êm dịu, mĩm cười với bạn đầy trìu
mến, và còn dùng miệng mà hút nước mũi bạn chảy ra, vì
sợ nếu dùng tay thì sẽ làm cho bạn đau đớn. Bà dùng tay
để lau phân cho bạn, vì sợ dùng một miếng gỗ hay vật
gì khác thì bạn sẽ đau. Bà không thể rời bạn một ngày,
hay chỉ một giờ. Mỗi ngày bà cứu bạn khỏi hàng trăm tai
nạn có thể giết bạn: chó có thể ăn bạn, chim có thể
tha bạn đi, hoặc bạn có thể rớt xuống hố. Con đau đớn
khổ sở như là chính mẹ đau đớn khổ sở. Tâm tưởng của
mẹ hoàn toàn chỉ nghĩ về đứa con của mình, dù khi đi nghỉ,
bà lại dần dần tập cho con đứng, nói, ăn uống. Nhờ thế
mà bây giờ ta có thể di chuyển, nói năng không khó nhọc
gì.
Mẹ
cũng bất cần khi bạn phải phạm tội, mất danh tiếng, hay
dù phải chịu khổ nhọc vì kiếm tiền để nuôi con. Mẹ
thương con còn hơn da thịt bà, nên bao nhiêu tiền dành dụm
được bà chỉ tiêu xài cho con mà không một đồng xài cho
chính bà. Dù bạn là ai - nam hay nữ, đã có vợ có chồng
hoặc đã xuất gia - thì mức sống của bạn đều nhờ lòng
tử tế của mẹ bạn. Tóm lại là bà làm hết sức mình trong
giới hạn khả năng và kiến thức của bà, để lo cho bạn
được sung sướng. Không có sự cùng tận cho lòng thương
của mẹ đối với bạn để bảo vệ khỏi mọi đau khổ
hiểm nguy.
Tất
cả những hữu tình khác, như người cha của bạn, cũng đã
thương yêu bạn không kém. Vì tất cả hữu tình đều đã
làm mẹ bạn trong những tái sinh thân người - không chỉ một
lần mà vô số lần - nên họ cũng đã cho bạn tình thương
như người mẹ trong đời này của bạn đã cho bạn. Khi những
hữu tình khác làm mẹ bạn trong những kiếp tái sinh làm dã
thú chẳng hạn, những bà mẹ ấy cũng đã săn sóc bạn và
đối xử với bạn một cách đầy thương yêu; dùng lưỡi
mà liếm thân thể bạn. Chẳng hạn khi bạn làm chim, thì đôi
cánh của bà mẹ ấp ủ và che chở bạn trong một tháng trời.
Khi bạn gặp kẻ thù đe dọa, như một người cầm gậy chẳng
hạn, bà sẽ che chỡ chim con bằng cách hy sinh cả thân mạng,
mặc dù bà có thể bay xa. Bà thường mớm cho bạn ăn, dù
khi bắt được một con sâu bà cũng để dành cho bạn.
Bởi
thế hữu tình đã tử tế với bạn, không phải chỉ một
hai lần, mà họ tử tế trong mọi tình huống. Sự thương
yêu của họ không thể suy lường. Có lần một tên cướp
ở Golog đâm vào bụng một con ngựa cái; bà mẹ có bầu đang
hấp hối ấy sinh ra một ngựa con ngay trên đất và liếm
nó để tỏ dấu yêu thương. Nhìn cảnh tượng ấy, kẻ cướp
được cải hóa. Làm sao bạn chắc được bạn đã không từng
là con ngựa con ấy? Và như con ngựa cái có thể đã tỏ lòng
yêu thương với bạn vào kiếp tái sinh ấy, thì tất cả hữu
tình đều cũng đã tỏ một lòng thương như vậy đối với
bạn không gì khác.
a-1.2.3.
Nguyên nhân thứ ba: đền đáp sự tử tế của họ
Shantideva
nói:
Bạn
và hữu tình luôn luôn có lý do để đau khổ;
Hữu
tình đều bình đẳng trong đau khổ
Điên
cuồng bởi vọng tưởng và mù quáng vì vô minh
Mỗi
bước đi của chúng đều đưa đến vực thẳm.
Bạn
nên nghĩ như sau:
Giả
sử mẹ bạn trong đời này bị mù không ai dắt dẫn, và bị
điên. Bà sắp rơi xuống vực, trong khi người con đang ở
gần. Nếu bà không nhờ con giúp đỡ thì bà có thể nhờ
ai? Nếu con không cứu mẹ thì ai cứu? Tất cả hữu tình cũng
thế, thiếu con mắt tuệ để phân biệt pháp và phi pháp,
để thay đổi lối hành xử của mình. Mỗi bước đi của
họ đều được dẫn dắt bởi thói xấu - những dục vọng
và ác hành. Họ không có hướng đạo tâm linh, không ai chỉ
dẫn cho họ nên làm điều này tránh điều nọ. Tâm họ bị
giao động và ô nhiễm vì ba độc tố vọng tưởng; họ không
thể kiểm soát tư tưởng mình nên như điên. Họ sẽ rơi
xuống vực thẳm đưa đến những đọa xứ, trong nhiều kiếp
thân thể họ không khác gì với ngọn lửa địa ngục. Chúng
ta trái lại đã gặp được hướng đạo tâm linh, gặp pháp
đại thừa. Chúng ta biết ít nhiều về cách thay đổi lối
hành xử của mình. Bởi thế chúng ta ở trong hoàn cảnh khá
hơn họ và có trách nhiệm phải làm gì để cứu họ.
Bức
thư gởi môn đệ của Chandragomin nói:
Họ
như những người bà con bị kẹt trong biển sinh tử,
Bị
rơi vào luồng nước xoáy đại dương;
Do
vì trải qua nhiều lần sống, chết và tái sinh,
Bạn
không nhận ra họ và bạn làm ngơ;
Thật
đáng khinh bỉ
Nếu
bạn chỉ lo tự cứu lấy mình.
Nghĩa
là muốn thiền quán về sự trả ơn chúng ta phải nghĩ rằng,
ta có cách để giải thoát hữu tình đang bị kẹt trong biển
khổ. Trách nhiệm cứu vớt họ là ở trên vai chúng ta, chúng
ta thực đáng khinh nếu không làm việc ấy.
Tác
phẩm Trái Tim Của Trung Đạo đã nói như sau về sự trả
ơn:
Từ
trước tới nay tôi đã bị ám bởi con ma vọng tưởng;
Cũng
như một vết thương bị kích thích,
Hoặc
như bị đánh đập.
Cái
gì đem lại đau khổ như thế
Cho
một người bệnh?
Có
cách nào khác
Để
trạ ơn những người đã thương tôi
Kính
trọng và giúp đỡ tôi
Trong
những đời tái sinh trước -
Một
cách giúp đỡ mà không đem lại cho chúng khổ đau.
Bạn
nên nghĩ như sau: “Nếu chỉ cho họ thực phẩm y phục v.v..
thì tôi chỉ giải thoát họ khỏi cơn đói khát tạm thời.
Việc ấy không đem lại cho họ lợi ích lâu dài nào cả.
Tuy nhiên họ sẽ được lợi ích lớn và dài lâu nếu họ
có tất cả hạnh phúc và dứt tất cả đau khổ. Nếu tôi
có thể dẫn họ đến Phật quả, thì họ sẽ có được mọi
hạnh phúc, và thoát khỏi mọi khổ đau. Vậy tôi sẽ dẫn
họ đến Phật quả.”
Giả
sử mẹ của bạn bị điên, đang cầm con dao cố giết bạn,
con của bà. Bạn sẽ không giận bà mà sẽ cố làm cho bà
hết cơn điên. Đây là cách mà bạn phải đền đáp sự tử
tế đối với những kẻ thù của bạn.
a-1.2.4.
Nguyên nhân thứ tư: Thiền định về tâm từ phát sinh từ
năng lực của sự lôi cuốn
Tâm
từ này xuất hiện dưới dạng một sự yêu mến phát xuất
từ tim đối với tất cả hữu tình. Geshe Potowa đã nói với
một bà già: “Tình thương do năng lực của sự lôi cuốn
là giống như bà thương con trai bà.” Nói cách khác tình yêu
do năng lực của sự lôi cuốn có nghĩa là thương tất cả
hữu tình như mẹ thương con. Tình yêu này không phải là một
đề mục thiền riêng biệt: Bạn sẽ triển khai nó một cách
tự nhiên, khi bạn đã triển khai phần nào ba đề mục trước
đó là “Hiểu rằng tất cả hữu tình đã là mẹ ta,” “Nhớ
lại sự tử tế của họ” và “Mong mỏi đền đáp lòng
tử tế ấy.” Bởi vậy hãy quán tưởng như sau:
“Đừng
kể đến hạnh phúc không ô nhiễm trong dòng tâm thức của
hữu tình: họ chỉ có toàn những hạnh phúc ô nhiễm. Ngay
cả điều mà họ cho là hạnh phúc cũng chưa thoát khỏi bản
chất khổ đau. Thật kỳ diệu thay nếu tất cả hữu tình
có được hạnh phúc! Mong sao họ sẽ có được! Tôi sẽ làm
cho họ có được hạnh phúc như thế!”
Tác
phẩm Tràng Hoa Quý Báu của Long Thụ nói đến những lợi
lạc sau đây của phép quán tâm từ:
Mặc
dù một người như thế chưa được giải thoát,
Họ
sẽ đạt được 8 đức chính yếu của tâm từ.
Công
đức bố thí 300 thứ đồ ăn
Mỗi
ngày vào cả 3 thời
Cũng
không thể sánh với công đức đạt được
Do
quán tâm từ trong chốc lát.
Chư
thiên và loài người sẽ yêu mến họ
Và
che chở họ;
Họ
sẽ có sự thoải mái tâm hồn;
Và
có nhiều hạnh phúc;
Khí
giới và độc dược không hại được họ;
Họ
sẽ thành đạt mục đích không khó khăn,
Và
sẽ được sinh lên Phạm thiên giới.
Những
lợi lạc có được tám công đức do thực hành quán tâm từ
thật lớn lao. Bạn sẽ được tái sinh làm Chuyển luân vương
hay làm Phạm thiên một thời gian bằng số lượng của chúng
sinh mà bạn dùng làm đối tượng quán là tất cả hữu tình
cùng tận giới hạn của không gian thì bạn sẽ thành tựu
hình thức Niết bàn vô trú hay năng động, Niết bàn Đại
phạm - nghĩa là Niết bàn đại thừa hay Phật quả.
a-1.2.5.
Nguyên nhân thứ năm: Tâm đại bi
Đây
là một nguyên nhân quyết định cho Phật quả. Đức Tsongkapa
đặc biệt chú ý đến tâm đại bi trong chương “Những giai
đoạn trong sự luyện tâm bồ đề” thuộc tác phẩm “Những
giai đoạnlớn của đạo lộ. Ngài cho những tiêu đề sau
đây: “Chứng minh rằng đại bi là gốc rễ của con đường
Đại thừa”, “Những nhân quả khác đều hoặc làm nhân
hoặc làm quả cho tâm đại bi.” Lại nữa trong một kinh có
nói rằng toàn thể con đường đại thừa và hậu quả của
nó tùy thuộc vào tâm đại bi, cũng như vua Chuyển luân tùy
thuộc vào bánh xe của ngài hay một người tùy thuộc vào
sinh lực của y. Chandrakirti nói trong phần mở đầu tác phẩm
Thực Hành Trung Đạo:
Tình
yêu là một hạt giống cho một mùa gặt lớn lao -
Quả
vị của một Đấng Chiến thắng.
Cũng
như nước, tình yêu làm cho mùa màng tăng trưởng,
Và
về sau nó chín thành kết quả được ước ao,
Như
thể nó đã chín mùi sẵn sàng để sử dụng
Chính
vì thế mà ngay từ đầu
Tôi
ca tụng tâm đại bi.
Tâm
đại bi cũng quan trọng như một hạt giống vì nó bảo đảm
đạo lộ ấy là đại thừa ngay từ khởi thủy. Đại bi cũng
thiết yếu như nước và phân vì nó phát sinh một sự kiên
trì suốt con đường, như áo giáp chống lại sự thiếu thốn
trong những phận sự trước mắt của một người con Phật.
Cuối cùng tâm đại bi quan trọng ngang hàng với kết quả
được thưởng thức, bởi vì nhờ có tâm đại bi mà bạn
tiếp tục làm các thiện sự ích lợi cho hữu tình sau khi
bạn đã thành Phật quả. Mức độ năng lực của tâm bồ
đề nơi bạn cũng là một nhiệm vụ của tâm đại bi; và
chư bồ tát đi qua con đường tu tập nhanh hay chậm cốt yếu
tùy thuộc vào năng lực tâm đại bi của họ. Nhiều điều
khác xảy ra do năng lực tâm đại bi: Chư bồ tất đi vào
các mật điển để tìm một con đường nhanh, và họ hoàn
tất con đường này một cách nhanh chóng nhờ mãnh lực của
tâm bi nơi họ. Một ví dụ: khi một đứa trẻ rớt xuống
một hố lửa thì cha mẹ nó sẽ cứu nó tức khắc, trong khi
những quyến thuộc khác không có được cái ý chí cứu cấp
nó một cách không ngần ngại.
Khi
mới thiền quán về tâm đại bi, hãy lấy đối tượng của
bạn là một con cừu đang bị đồ tể làm thịt. Bạn sẽ
khởi tâm thương xót một cách dễ dàng và nhanh chóng. Bạn
phải quán cách con cừu chết, các cách nó bị giết rất tàn
bạo và cách nó chết trong trạng thái đau đớn hãi hùng.
Con cừu bị đặt lật ngửa. Tay chân nó bị trói bằng một
sợi thừng. Nó cũng biết mạng sống nó đang bị đe dọa,
nhưng bất lực không thể thoát khỏi, không có người che
chở, không nơi nương tựa. Đôi mặt nó đẩm lệ nhìn trừng
trừng vào mặt người đồ tể.
Tuy
nhiên khi chúng ta thấy một con cừu bị giết như vậy, ta
thường tự hỏi liệu nó có đủ thông minh để biết chuyện
gì xảy đến hay không. Có lần một đồ tể đang giết nhiều
cừu, sau khi đã giết một ít con, ông ta trói một con nữa
để làm thịt. Một con cừu khác tình cờ đứng gần con dao
của người đồ tể, nó bèn đá tung đất lên để lấp con
dao. Câu chuyện này chứng tỏ loài vật cũng kinh quá những
nỗi đau khổ và hãi sợ. Mặc dù bây giờ những con cừu
đang gặm cỏ trên sườn núi, chưa bị dẫn đến chỗ làm
thịt, song cuối cùng chúng sẽ phải bị một số phận giống
hệt như thế. Khi bạn thiền quán tâm bi, hãy nghĩ chúng đã
từng là những bà mẹ của bạn trong nhiều đời quá khứ.
Một khi bạn đã khai triển quán tâm bi, hãy nghĩ chúng đã
từng là những bà mẹ của bạn trong nhiều đời quá khứ.
Một khi bạn đã khai triển được một vài tuệ quán đi sâu
vào chuyện này, hãy nhớ lại những thiền quán của bạn
về nỗi khổ ở các đọa xứ mà chính bạn có thể phải
trải qua những khổ đau ấy. Một vài bà mẹ của bạn sẽ
bị thiêu đốt bằng sắt nung đỏ và uống nước đồng sôi
trong những địa ngục này. Một vài bà mẹ sẽ tái sinh làm
ngạ quỷ, bị hành hạ bởi nỗi đói khát v.v… Hãy khai triển
tâm thương xót đối với họ và nghĩ như sau:
“Sự
khác nhau duy nhất giữa đàn cừu trên núi và con cừu đang
bị giết chỉ là vấn đề thời gian. Những người phạm
tội chắc chắn rơi xuống các đọa xứ theo cách ấy. Như
vậy mặc dù bây giờ họ có thể đang tự do, họ cũng không
khác gì những người đang hướng đến các đọa xứ.” Rồi
hãy thiền quán về tâm bi đối với bà mẹ của bạn trong
đời này bằng cách xét những nguyên nhân của khổ mà bà
đã tạo, và nỗi khổ bà phải chịu. Hãy thiền quán như
thế để triển khai tâm đại bi:
Những
người khác làm việc cực nhọc để kiếm sống,
Nhưng
chỉ có nghĩa là họ đang phạm tội và đang phá giới.
Hiện
tại họ đang tạm thời được ở một tái sinh thù thắng,
nhưng họ vẫn đang trải qua ba hình thái khổ (khổ khổ, hành
khổ và hoại khổ - DG) và sẽ trải qua đau khổ lứon lao
hơn nữa trong các đạo xứ vì họ đang gây những cái nhân
cho việc này xãy đến mà họ không biết. Lại nữa tất cả
hữu tình đều đang tạo khổ và nhân của khổ. Thật tốt
biết bao nếu những hữu tình này - đã từng là mẹ của
tôi - sẽ không bị đau khổ và không gây những nhân khổ!
Đây là điều mà tôi sẽ làm để đạt tới.”
Rồi
bạn hãy làm pháp thiền khó hơn, ấy là phát triển tâm bi
đối với những người hay những đối tượng mà bạn thấy
khó thương. Nếu bạn thấy khó phát triển tâm bi đối với
những chúng sinh như Phạm vương, thì hãy quán theo Phạm Vi
Trung Bình; rồi bạn hãy triển khai nó.
Những
tiêu chuẩn chứng tỏ bạn đã phát triển tâm đại bi trong
dòng tâm thức là như sau. Bạn đã khai triển được tâm đại
bi nếu dù khi ăn khi uống bạn đều nghĩ đến tất cả hữu
tình và muốn cho tất cả đều thoát khổ, như một bà mẹđang
lo cho đứa con cưng đang bị quật ngã vì một cơn bệnh độc
hại.
Tuy
nhiên tâm bi - chỉ mong sao cho chúng sinh thoát khổ - thì Thanh
văn và Duyên giác cũng có. Nhưng lòng bi mẫn muốn thực sự
cứu vớt chúng sinh ra khỏi đau khổ chỉ có đại thừa mới
có. Bạn nên triển khai tâm bi thuộc loại sau này. Nhưng đấy
là những điều rất khó triển khai, và bạn phải làm việc
rất nhiều với những kỹ thuật. Nếu trong quá khứ bạn
đã bệnh nặng, thì khi thấy những người đồng bệnh, bạn
sẽ thấy thương xót vì cái cầu đoạn trường ấy chính
bạn cũng đã đi qua. Bởi thế sẽ dễ dàng để phát triển
tâm bi sau khi thiền quán một cách thiện xảo về nỗi khổ
của sinh tử và của đọa xứ mà chính bạn có thể trải
qua như đã tả trong Phạm Vi Nhỏ và Trung Bình.
Tâm
từ do mãnh lực của sự lôi cuốn đến với hữu tình, khiến
bạn thương yêu tất cả, cũng là một hình thái của tâm
từ mong muốn cho ai nấy đều được hạnh phúc. Tuy nhiên
một đằng có tính cách tổng quát; một đằng có tính cách
đặc biệt. Tình yêu do năng lực của sự lôi cuốn là tổng
thể có ba điều: hiểu rằng tất cả hữu tình là mẹ, nhớ
lại lòng tử tế của họ, và mong đền đáp lòng sự tử
tế ấy. Việc này nhất thiết phải đi trước tâm bi, vì
nó làm phát sinh tâm bi. Tâm bi và tâm từ mong muốn hạnh phúc
không có một tương quan nhân quả cố định. Một chương
của tác phẩm Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ đề cập
sự đền đáp lòng từ - mong muốn hạnh phúc - và thật thích
hợp cho bạn để thiền quán về tâm từ này trước khi tâm
bi. Tuy nhiên thiền quán về tâm từ sau khi thiền quán về
tâm bi thì lại phù hợp với những chỉ giáo truyền thống
về tu tập.
Kế
tiếp chúng ta sẽ bàn về tâm vị tha. Ở giai đoạn này chúng
ta thiền định chính yếu về tâm từ, mong cho tất cả chúng
sinh được hạnh phúc. Nhưng theo những tiêu đề trong tác
phẩm Những Giai Đoạn Lớn Của Đạo Lộ thì ta nên quán
tâm từ “mong muốn hạnh phúc” phối hợp với loại tâm
từ “Năng lực lôi cuốn” trước khi quán tâm bi.
a-1.2.6.
Nguyên nhân thứ sau: Tâm vị tha
Bạn
có trách nhiệm đối với mẹ mình. Cũng thế, bạn nên gánh
lấy trách nhiệm làm cho tất cả chúng sinh thoát khổ và được
an vui. Bạn phải làm quyết định rằng “Chỉ mình ta sẽ
đưa chúng đến Phật quả.” Điều này mới là hạnh vị
tha khác hẳn Thanh văn, Duyên giác. Giả sử bạn thấy một
người sắp tung mình nhảy xuống vực thẳm; cảnh tượng
ấy sẽ khiến bạn nghĩ, “Không ai cứu họ sao?” Một phản
ứng như thế là phản ứng tâm từ và tâm bi, nhưng thay vì
để mọi sự như vậy, bạn phải quyết định chính bạn
sẽ cứu người ấy. Lòng vị tha cũng tương tự như thế.
Thanh văn Duyên giác nói chung cũng có từ bi, nhưng không có
tâm vị tha.
Bậc
tôn sư tôi đã dạy rằng sự khác nhau giữa tâm vị tha này
với cách bạn lãnh lấy trách nhiệm trong chương nói về “Đền
đáp sự tử tế” được ví như một thương gia định mua
vài món hàng hay đã kết thúc việc kinh doanh. Một đằng đã
làm quyết định, một đằng chưa quyết.
a-1.2.7.
Phát tâm bồ đề
Sau
khi gánh trách nhiệm, hãy xem bạn có thể thi hành công việc
được chưa. Dù chỉ một chúng sinh duy nhất bạn còn không
thể giúp được nữa là. Bạn buộc lòng tìm một người
có khả năng làm việc ấy một cách hiệu nghiệm, và xem bạn
có thẻ đạt đến một địa vị như thế không. Một vài
chúng sinh lớn lao ở thế gian như Phạm vương, Đế thích
chẳng hạn, không ích gì cho hữu tình. Còn Thanh văn, Duyên
giác, A la hán cũng không làm được gì nhiều hơn, vì họ
chưa trừ hết các trói buộc. Các Bồ tất ở địa vị thứ
nhất có thể giúp ích hữu tình hơn nhiều, song Bồ tát sơ
địa này cũng chỉ làm được một phần nhỏ những gì mà
Bồ tát còn một đời nữa thành Phật (Nhất sinh bổ xứ
- DG) có thể hoàn thành. Ngay cả những việc những việc chư
Bồ tát ở địa vị cuối cùng đem lại cho hữu tình khi các
ngài ngồi dưới cội bồ đề. Và việc làm của bồ tát
ở địa vị cuối cùng (Đẳng giác, Diệu giác- DG) cũng không
bì được với những gì mà chư Phật thành tựu được. Nó
như sự khác nhau giữa lòng tay bạn với toàn thể hư không.
Chư Phật là vô tỉ trong cách “không cần dụng công nỗ
lực” của các ngài (vô công dụng hạnh - DG) để lợi lạc
hữu tình tùy theo tính tình, ước nguyện và khả năng của
chúng. Nếu bạn đạt đến địa vị như Phật, thì bạn cũng
sẽ có được những đức như thế. (xem chương nói về quy
y, Ngày Mười Hai)
Bởi
thế, bạn sẽ triển khai niềm xác tín rằng không thể nào
làm lợi ích cho hữu tình nếu chính bạn chưa đạt đến
trí biết cùng khắp (chánh biến tri). Bạn phải phát tâm mong
cầu vô thượng bồ đề để lợi lạc hữu tình. “Xả,”
“Hiểu rằng mọi Hữu tình đã từng là mẹ mình,” “Nhớ
lại lòng tử tế của họ,” và “Mong đến đáp sự tử
tế ấy,” tất cả làm thành căn bản cần thiết để khai
triển một lòng khát khao làm lợi lạc kẻ khác, trong khi “Từ,”
“Bi,” và “Tâm vị tha” thực sự phát sinh lòng khát khao
ấy và ước mong đạt đến vô thượng bồ đề. Như có câu
nói:
Phát
tâm bồ đề
Là
mong cầu hoàn toàn giác ngộ
Để
lợi lạc hữu tình.
Nói
cách khác, muốn thành Phật quả bằng cách chỉ thấy cần
phải lợi ích hữu tình thì chưa đủ để phát tâm bồ đề
một cách chân xác và toàn vẹn. Bạn phải muốn đạt đến
địa vị ấy vì thấy rằng mình chưa thành Phật để lợi
lạc cho chính mình nhờ những thực chứng vĩ đại và những
từ bỏ lớn lao; tuy nhiên, bạn không chỉ muốn điều này
cho lợi ích riêng mình. Cũng như bạn phát khởi một khát
khao lợi lạc kẻ khác trong phần nói về tâm “Từ” “Bi”
và “Vị tha,” bạn phải phát tâm mong cầu vô thượng bồ
đề chỉ vì lợi lạc cho người khác.
Nhưng
bạn có thể hỏi: Tôi có thể thành công không nếu thiền
định như thế? Chắc chắn bạn có thể thành công chứ. Không
có thời gian nào tốt cho bạn phát tâm bồ đề hơn là hiện
tại, vì cái thân vật lý mà bạn có được này đã đủ
cho bạn đạt thành Phật quả. Pháp mà bạn theo là lời dạy
của Phật. Trong những giáo lý ấy bạn đã gặp được pháp
Đại thừa, và quan trọng hơn nữa là mật giáo có thể giúp
bạn giác ngộ ngay trong một đời duy nhất. Đấy là diều
đúng cho tất cả các tông phái Phật giáo Tây Tạng. Hệ phái
mật giáo của đức Tsongkapa có thể đưa bạn đến giác ngộ
chỉ trong vòng 12 năm, và nhiều người đã đạt trạng thái
hợp nhất còn nhanh hơn nhiều - chỉ trong ba năm ba tháng. Điều
này có thể thấy trong các tiểu sử những bậc thánh như
Tsongkapa và các đệ tử ngài. Chư thiên gọi thời hiện tại
là “mạt thế” nhưng kỳ thực, chưa bao giờ ta có được
một cơ hội tốt hơn bây giờ. Thân thể của Milarepa và Ensapa
không hơn gì thân thể chúng ta có. Chúng ta giống như đứa
trẻ bị què cỡi con lừa hoang: bây giờ là lúc cần nỗ lực!
(CT-
Một đứa trẻ què trượt té lăn xuống đồi, và do một
sự ngẫu nhiên kỳ diệu, nó rớt ngồi trên lưng một con
lừa hoang. Con lừa chạy thục mạng, đứa bé bám riết nó.
Mọi người trông thấy đều la lớn bảo nó dừng, nhưng đứa
bé lại la lên đáp lại: “Một thằng què như tôi chỉ được
một dịp cỡi lừa duy nhất trong đời. Dại gì không hưởng
cái thú vui này!”)
Chúng
ta thà chết còn hơn thiền quán Lam-rim! Người ta phí thì giờ
xem sách, làm học giả, đọc tụng. Họ đều hụt mất cái
cốt tủy! Nói chung ta không biết được mình có được một
tái sinh như thế này nữa hay không: và dù có được, cũng
sẽ rất khó mà gặp nền giáo lý này, nhất là nền giáo
lý tuyệt đối không lỗi lầm như giáo lý của Đấng Chiến
thắng thứ hai (sau Phật).
Bởi
thế bạn phải thấy mình có thể phát tâm bồ đề, cái nhân
để đạt toàn giác, trong khi đang ở trong tái sinh này. Khi
bạn đã phát tâm thì điều ấy sẽ lợi cho cả bạn lẫn
người khác. Một lần gặp thời đói kém, có người đàn
ông và cả nhà ông ta sắp chết đói. Một ngày anh tìm được
một miếng thịt. Anh nghĩ, nếu ta chia thịt này cho cả nhà
ăn thì không thấm vào đâu, tất cả vẫn đói, ta biết đấy
chỉ là giải pháp tạm thời. Chi bằng ta ăn hết phần thịt
này để có sức mà đi kiếm thức ăn cho tất cả. Bởi thế
người cha ăn hết miếng thịt và đi tìm thực phẩm cho tất
cả mọi người. Như vậy, khi bạn thực hành mật điển,
hay chỉ nhẩm thần chú “om mani padme hum” - hay khi tham dự
một cuộc tranh luận hoặc lễ cúng dường - hãy làm việc
ấy kèm với tâm bồ đề.
Khi
bạn cảm thấy ước muốn hữu thức mong thành đạt Phật
quả vì lợi ích hữu tình, thì tức là bạn phát tâm bồ
đề giống như vỏ ngoài một cây mía. Nhưng nếu thêm vào
đấy, bạn còn cảm thấy một ước muốn vô thức đạt giác
ngộ để lợi lạc bất cứ hữu tình nào bạn gặp, thế
là bạn đã phát tâm bồ đề chân thật trong dòng tâm thức
của bạn. Bạn đã đi vào đạo lộ Đại thừa về tích lũy
và khởi sự ba a tăng kỳ kiếp tích tập hai kho công đức.
Bạn sẽ có được vô lượng thiện tính và được cái tên
là “Pháp vương tử” và “Bồ tát.”Nếu bạn tu tập sau
khi thành tựu tuệ quán này, thì chắc chắn bạn sẽ giác
ngộ nhanh chóng dù bạn không qua con đường mật tông.
Sự
phát tâm bồ đề có hai loại tùy theo bản chất của nó -
loại ước nguyện (phát bồ đề nguyện - DG) và loại dấn
thân (phát bồ đề hạnh); có bốn loại tùy theo vị trí của
hành giả trên đạo lộ - loại bồ đề tâm thuộc về tin
tưởng và loại thuộc phân tích (bốn loại là: thập tín,
thập trụ, thập hạnh, và thập hồi hướng - DG); ba loại
tùy theo sắc thái phát tâm bồ đề - loại của vua, vân vân;
và có 22 loại phát tâm bồ đề. Điều quan trọng là phải
biết những trình bày sai khác này (xem Trang hoàng cho Thực
Chứng của đức Di Lặc.)
Đến
đây chấm dứt chương nói về phát tâm bồ đề nhờ chỉ
giáo bảy lớp nhân quả. Bây giờ tôi sẽ bàn về hệ thống
luyện tâm theo cách đổi địa vị mình với người. Đây
là thuyết của Shàntideva, một vị Pháp vương tử vĩ đại.
Mặc dù bạn sẽ phát tâm bồ đề nếu bạn luyện theo cách
bảy lớp nhân quả nói trên, chúng ta vẫn bao hàm phương pháp
trao đổi mình và người, vì phương pháp này rất hiệu lực.
Phái Kadampas tiền kỳ đã sử dụng kỹ thuật này.
Điều
mà ta gọi là “luyện tâm” đặc biệt ám chỉ sự đổi
địa vị mình với người, cho và nhận.
a-2.
Luyện tâm bằng cách đổi địa vị mình với người.
Pháp
này rút từ tác phẩm Hành Bồ Tất Hạnh:
Bất
cứ ai mong che chở bản thân và người khác,
Hãy
đổi địa vị mình với người.
Hãy
làm hạnh thánh này trong vòng bí mật!
Nói
cách khác, pháp hành này sẽ không làm cho một pháp khí không
xứng đáng ưa thích. Từ thời Atìsha cho đến thời Geshe Chaekawa
giáo lý này được bảo tồn dưới một mật ấn. Có nhiều
bản văn về luyện tâm, như Pháp luyện tâm như chim công chinh
phục phục được độc tố; nhưng pháp tốt nhất thuộc loại
này là Luyện Tâm Bảy Điểm. Nếu bạn thực tập pháp này,
thì còn lợi lạc hơn pháp đã bàn. Bây giờ tôi sẽ dạy
pháp này theo một bản sao xưa cũ của bản văn gốc (xem Phụ
lục)
Có
nhiều cách trình bày bản văn này; tôi sẽ theo hệt phái giảng
dạy phát xuất từ Ngulchu Dharmavajra và môn đệ.
Trước
hết, tính vĩ dại của các tác giả giáo lý này. Hệ truyền
thừa bắt nguồn từ Phật Thích Ca xuống đến Atìsha; Atìsha
truyền cho cho Dromtoenpa dưới một mật ấn. Drom giảng dạy
Lam-rim cho môn đệ giữa công chúng, nhưng truyền pháp luyện
tâm cho Potowa và những người khác trong vòng bí mật. Potowa
truyền cho Langri Tangpa và Geshe Sharawa, Sharawa truyền cho đệ
tử là geshe Chaekawa tất cả giáo lý về tâm bồ đề. Những
giáo lý này được giảng công khai suốt thời đại Chaekawa.
Geshe
Chekawa sinh vào một gia đình theo mật phái Nyingma và trở nên
một người tinh thông năm minh, vân vân, nhưng ngài vẫn chưa
thỏa mãn. Ngài tình cờ gặp tác phẩm của Langri Tangpa nhân
đề Luyện Tâm Trong tám câu kệ, đại ý:
Hãy
đem lợi lộc và vinh quang cho kẻ khác;
Hãy
nhận sự thua thiệt và thất bại về phần mình.
Chaekawa
tìm kiếm ý nghĩa câu này, nhưng lúc ấy Langri đã chết. Ngài
gặp người kế vị của Langri là Sharawa và yêu cầu vị này
chỉ giáo về cách luyện tâm. Nhờ thiền quán ngài dã phát
tâm bồ đề trong dòng tâm thức. Chaekawa chi giáo nhiều người
bệnh cùi, nhờ pháp thiền quán này mà nhiều người khỏi
bệnh. Bởi vậy giáo lý này còn gọi là “Pháp của người
cùi.” Chaekawa nghĩ thật rất uổng nếu một nền giáo lý
như thế này phải giữ bí mật, nên ngài dạy pháp này giữa
công chúng. Ngài viết thành sách nhan đề là Luyện Tâm trong
bảy điểm. Tác phẩm này chia giáo lý thành bảy phần. Giáo
lý này còn gọi là Tinh Chất Cam Lồ vì nó là giai đoạn cuối
của việc luyện tâm, sẽ giúp bạn đạt đến trạng thái
bất tử là Phật quả.
Tính
vĩ đại của Pháp này có thể thấy được bằng cách tham
chiếu lại phần nói về lợi lạc của tâm bồ đề, thế
nào là bồ đề tâm như kim cương. Nó cũng có thể xua tan
bóng tối của ngã ái, như chỉ một chút tia sáng mặt trời
có thể xua tan bóng đêm. Nó có thể xua tan cơn bệnh ngã ái
cũng như một chút dược thảo cũng đủ xua tan cơn bệnh.
Trong thời đại có đủ năm thứ suy đồi này, khi mà pháp
khác không còn hiệu lực, thì cách luyện tâm này sẽ giúp
bạn, bạn sẽ không bị phiền hà vì những hoàn cảnh không
may. Pháp này có nhiều lợi lạc như thế.
Nó
khởi đầu bằng “Đảnh lễ Tâm Đại Bi.” Sự kính lễ
này không phải làm đối với đức Thánh Quan Tự Tại, đức
Phật đầy bi mẫn: như bậc thầy Chandrakirti kính lễ tâm
đại bị mở đầu tác phẩm Thực Hành Trung Đạo, ở đây
cũng thế. Bây giờ ta hãy theo dõi bảy phần của thân bài
chính về pháp luyện tâm này.
a-2.1.
Dạy về những chuẩn bị cho pháp này
Chương
này là luyện tâm trong phần đường chung với những Phạm
Vi Nhỏ và Trung Bình. Tôi không phải dạy lại phần này ở
đây, vì không có gì khác nhau giữa cách đề cặp ở đây
với cách trong Lam-rim.
a-2.2.
Luyện tập hai loại tâm bồ đề
Luyện
tập (1) tâm bồ đề tuyệt đối, và (2) tâm bồ đề tương
đối.
a-2.2.1.
Tâm bồ đề tuyệt đối.
Giáo
lý được truyền thừa từ quá khứ nói rằng hạng người
Đại thừa lợi căn nên luyện tâm bồ đề tuyệt đối trước
hết. Tuy nhiên, câu chuyện về ngài Hastikopava có thể tái
diễn nếu bạn làm việc luyện tâm bồ đề tuyệt đối trước
khi giảng dạy phần kia nói về phương pháp.
(CT.
Hastikopava đã làm một lỗi lầm khi dạy tâm bồ đề tuyệt
đối trước - nghĩa là dạy trí tuệ về tánh không - cho một
ông vua; ông này đã sai giết ngài trước khi ngài có cơ hội
tiếp tục giảng phần còn lại của giáo lý, nói về bồ
đề tâm tương đối hay tâm đại bi)
Bởi
thế bây giờ tôi sẽ giảng về luyện tâm bồ đề tuyệt
đối trước. Đây là theo pháp hành trì của thầy giáo đạo
Tsecholing. Tôi sẽ bàn về nó sau, vì nó được đề cập trong
chương nói về sáu ba la mật.
a-2.2.2.
Luyện tâm bồ đề tương đối
Nguồn
gốc chỉ giáo này là câu chuyện Maitrakanyaka và những chuyện
khác, nói về một tiền kiếp của đức Đạo sư đầy từ
mẫn của chúng ta khi Ngài còn là một bậc Dư lưu trên đạo
lộ. Mặc dù lúc ấy, ngài bị tái sinh vào địa ngục làm
một lực sĩ bị bắt kéo xe, ngài đã phát tâm bồ đề, vân
vân.
Có
năm tiêu đề phụ.
(i)
Quán mình người bình đẳng
Điều
này được đi trước bởi những phần ta đã bàn trước đây,
nghĩa là từ “Xả” cho đến “Tâm từ do mãnh lực lôi
cuốn.”
Khi
ấy bạn nên quán như sau. Cúng dường Đạo sư nói:
Giữa
tôi và người không có gì khác:
Chúng
ta đều không muốn một chút khổ nào,
Còn
hạnh phúc thì không bao giờ biết chán đủ.
Xin
cho tôi vui mừng trước niềm vui của người.
Nói
cách khác, hiện tại chúng ta yêu mến và đánh giá cao cái
vật ta gọi là “tôi,” nhưng lại không nghĩ người khác
cũng như thế, vậy tôi và người không bình đẳng. Thật
là điều không hợp lý nếu làm một phân biệt to lớn như
thế giữa hai bên. Đáng lẽ ta phải nghĩ, “Tôi và người
khác đều bình đẳng, vì ai cũng muốn hạnh phúc và không
muốn khổ đau.”
Ở
giai đoạn đầu này (về kỹ thuật) không cần sử dụng một
lý lẽ nào. Giai đoạn luyện tâm này không khác gì với các
phần “Hiểu rằng mọi Hữu tình đã là mẹ ta,” “Nhớ
lại sự tử tế của họ,” và “Đền đáp sự tự tế
của họ” trong kỹ thuật luyện tâm gồm bảy lớp nhân quả
nói trên. Cũng vậy với hai phần cuối “Tâm Vị Tha” và
“Tâm Bồ đề.” Tuy nhiên có khác nhau về mãnh lực của
tâm Bi và tâm Từ qua năng lực của sự lôi cuốn. Hai khía
cạnh này được đặc biệt đề cập ở đây. Chương trên
về “Nhớ lại sự tư tế của họ” chỉ cho một phương
pháp để nhớ lại sự tử tế của hữu tình đối với bạn
khi họ khi làm mẹ của bạn. Kỹ thuật mới này có một cách
nhớ lại sự tử tế của họ khi họ không phải là mẹ của
bạn. Trước khi đi đến giai đoạn “trao đổi địa vị
mình với người”, bạn phải nghĩ rằng hành ngã ái là một
lỗi lầm, một điều kiện bất lợi, và thương người là
một đức tính, một điều kiện thuận lợi.
(ii)
Quán nhiều lỗi lầm phát sinh từ ngã ái
Cúng
dường Đạo sư nói:
Tôi
thấy căn bệnh ngã ái kinh niên này,
Là
nguyên nhân sản sinh ra khổ đau không ai muốn…
Trong
tác phẩm Hành Bồ Tất Hạnh nói:
Mọi
khổ đau trên thế gian đã xảy đến
Bắt
nguồn từ sự mong muốn hạnh phúc cho bản thân…
Bất
cứ nỗi sợ hãi đau khổ nào
Trút
xuống phàm phu
Đều
bắt nguồn từ ngã ái
Sao
tôi còn giữ con ma lớn này?
Bản
văn gốc của chúng ta nói:
“Chỉ
nên trách một điều mà thôi.”
Nghĩa
là mọi khổ đau mà bạn không muốn đều phát sinhh từ ngã
ái của chính bạn. Bị đau khổ vì khí giới, vì độc dược,
trời rồng; vì tái sinh vào địa ngục làm quỷ đói súc sinh
v.v…- tất cả điều này đã giết chúng sinh khác với hy
vọng được lợi lộc hạnh phúc cho riêng mình, hoặc do vì
đã keo kiệt, khinh bỉ người khác. Cũng vậy, bị ngã quỵ
vì những chứng bệnh khí huyết như phong mật đàm v.v…,
sợ hãi kẻ thù, vướng vào tranh chấp; hay sợ chính quyền
theo dõi - tất cả điều này chỉ là do bạn thiếu tự chế,
ham ăn, hoặc bị ám ảnh bởi thực phẩm, thời trang và danh
tiếng. Trên đỉnh nấc thang xã hội những vị vua, thủ tướng,
toàn quốc vướng vào chiến tranh, hoặc ở cuối nấc thang
là dân chúng gia đình tranh chấp nhau, cả đến những tu sĩ
cũng tranh giành nhau - tất cả điều ấy đều do một nguyên
nhân duy nhất là ngã ái. Nếu không có ngã ái thì không có
vấn đề. Ngã ái của bạn đã tạo ra tất cả rắc rối
như trộm cướp, bao lúa mạch của bạn bị chuột khoét lỗ
cũng là do ngã ái. Khi bạn chết vì độc dược hay vì ăn
không tiêu, thì không thực sự là vì độc dược mà vì ngã
ái. Bạn đã ăn quá nhiều. Ngã ái của bạn đã giết bạn.
Khi bạn vô tội mà bị buộc là kẻ trộm, đấy là quả báo
trực tiếp vì đã hại người khác do ngã ái.
Ngã
ái là tên đồ tể đã giết những cơ hội cho bạn có tái
sinh thù thắng hoặc giải thoát. Nói giống như tên cướp
mang trên lưng một bao đầy 3 chất độc và trộm hết mùa
gặt công đức của bạn. Nó giống như một người gieo giống
đã gieo những hạt giống ác nghiệp trong thửa ruộng vô minh
để gặt lấy mùa gặt sinh tử. Nó như người tìm vinh quang
không màng tên nhọn, gươm giáo giữa trận mạc với hy vọng
được vài lợi lộc cá nhân. Nó là một tên liều lĩnh trong
cơn khủng hoảng đã bỏ trốn cả thầy, tu viện trưởng
hoặc cha mẹ. Nó là tên khốn nạn tay không ngay từ đầu
đã không làm được một đức hạnh nào. Nó làm cho bạn
hy vọng, sợ hãi những điều không chính đáng. Nó làm cho
bạn ganh ghét với những người trên bạn, cạnh tranh với
những người ngang hàng, khinh bỉ người dưới, nó làm bạn
kiêu căng khi được ca tụng và tức giận khi bị chỉ trích.
Nó làm cho mọi sự trong thế gian đều xuống cấp. Nó là
nguồn gốc của điều bất thiện, cái đem lại cho bạn đau
khổ, một tên báo điềm xấu với gương mặt cú già. Nó
là một con hình nhân bị ếm chôn ở giữa tim bạn. Nếu bạn
cần phải hăm dọa một cái gì và ném cho nó đồ cúng, bạn
hãy ném đồ cúng để xua đuổi con hình nhân ấy. Khi chúng
ta ném ra những chiếc bánh lễ, chúng ta thường ném cho những
hữu tình đã từng là cha mẹ ta trong nhiều kiếp trước,
vừa khấn: “Cái này là dành cho kẻ thù tôi!” Thật là
sai lầm biết bao! Đây là ý nghĩa lời trích dẫn. “Ngã ái
là con chim báo điềm xấu có cái đầu màu xanh; sự tu luyện
tâm là quà hối lộ để làm cho con vật quấy rầy ấy đi
chỗ khác.”
Có
lần một người thực hành lẽ Chod chiếm đoạt chỗ ở của
phi nhân.
(CT:
Lễ Chod hay “cắt đứt” là một phương pháp phát bồ đề
tâm có tính cách phẫn nỗ và mãnh liệt, được truyền cho
cô gái Tây Tạng tên Machig Labdroen trong khi quán tưởng Padampa
Sangyae. Một điểm quan trọng của lễ này là, hành giả quán
thân thể của mình bị chặt ra từng mãnh, đặt trong một
cái tách bằng sọ người, được chuyển thành cam lồ cúng
cho tất cả hữu tình, đặc biệt là cho những kẻ thù và
người bất lương. Những hành giả về pháp tu này rất dễ
nhận ra ở Tây Tạng với cái trống lớn của họ và một
cái kèn làm bằng xương ống chân người. Sự thành công trong
pháp này tùy thuộc vào chiều sâu của sự thực chứng của
hành giả về 3 nòng cốt là sự từ bỏ, tâm đại bi và bản
chất như huyễn của thân xác và mọi hiện tượng. Khi hội
đủ những điều kiện ấy, người ta có thể vui vẻ đi đến
nghĩa địa hoặc một nơi bị ác ma thường lui tới, hô triệu
chúng lên để cúng thân xác mình.)
Phi
nhân này bèn sử dụng yêu thuật để sống ở đấy. Một
ngày kia 2 thí chủ của hành giả nói trên gây nhau, hành giả
liền đến giảng hòa nhưng bị một trong hai người vớ lấy
một khí giới để giết ông ta. Tôi nghe câu chuyện này từ
bậc tôn sư của tôi. Căn nguyên cuối cùng của những cái
chết bạo động như thế chỉ là do ngã ái. Hành Bồ Tất
Hạnh nói:
Khi
những tư tưởng của bạn
Chỉ
mong lợi lạc cho mình,
Thì
bao nhiêu công trình khó nhọc của bạn
Thực
hiện qua vô số kiếp
Chỉ
đem lại cho bạn khổ đau.
Nghĩa
là, cái điều đem lại khổ đau cho ta từ vô thủy sinh từ
đến nay là ngã ái của chính ta. Ngã ái và chấp thủ bản
ngã là 2 chuyện hoàn toàn khác nhau, nhưng trong việc luyện
tâm này chúng được bàn đến như thể cả hai chỉ là một,
vì có vài điểm tương đồng. Nói vắn tắt, ngã ái và ngã
chấp đều là gốc rễ của mọi vấn đề. Ngã ái thì vận
hành bằng cách thiết lập cái tôi - cảm tưởng của bạn
về bản ngã - cho là thực có. Ngã chấp thì vận hành bằng
cách không từ bỏ những ý tưởng về tôi, và yêu mến những
ý tưởng ấy.
Nói
tóm lại, mọi vấn đề phát xuất từ một ý tưởng thâm
căn cố đế “tôi muốn hạnh phúc,” nhưng nếu bạn không
hàng phục được ngã ái này, thì bạn không có hạnh phúc.
Bạn chưa từng kiểm lại để xem cái gì là gốc rễ đáng
trách đã gây ra đau khổ cho bạn, nhưng đó chính là ngã ái.
Từ này trở đi, bạn hãy kiểm lại xem cái gì đáng trách,
hãy xem ngã ái của bạn như một kẻ thù, hãy thực hành những
kỹ thuật để từ bỏ.
(iii)
Quán sát nhiều đức tính do sự thương người.
Shantideva
nói:
Tất
cả hạnh phúc trên đời
Đều
do mong muốn hạnh phúc cho người khác.
Và
Cúng dường Đạo sư nói:
Tôi
thấy rằng thương mến những hữu tình này,
- Những
bà mẹ của tôi -
Là
một ý tưởng đưa đến hạnh phúc,
Là
cánh cửa dãn đến vô lượng đức tính…
Bản
văn về luyện tâm của chúng ta nói:
“Hãy
thiền quán về sự tử tế lớn hơn tất cả.”
Nói
cách khác, có thân thể và tài sản thuộc một tái sinh thù
thắng hay có hoàn cảnh tráng lệ vây quanh là do thương người
mà ra. Đức hạnh từ bỏ sát sinh vì yêu mạng sống của
kẻ khác sẽ chín thành quả báo tái sinh ở thượng giới,
sống lâu, vân vân. Sự thực hành bố thí, từ bỏ thói hà
tiện do thương người, sẽ được quả báo là có tài sản
lớn, vân vân. Tóm lại, như Shantideva nói:
Cần
gì nói nữa?
Hãy
nhìn sự khác nhau
Giữa
kẻ ngu làm việc cho mục đích riêng mình,
Và
đấng Thánh đã làm lợi lạc kẻ khác.
Và
trong Cúng dường Đạo sư có câu:
Tóm
lại: người ấu trĩ chỉ làm việc lợi mình;
Thích
Ca Mâu Ni chỉ làm lợi kẻ khác.
Mong
cho con nhận thức được
Cái
gì là lỗi lầm cái gì là thiện đức.
Lúc
đầu chúng ta đồng đẳng với đấng Đạo sư, và cũng như
Ngài, chúng ta đã lang thang trong sinh tử. Nhưng vào một thời
điểm trong quá khứ, đấng Mâu ni khởi sự thương người
và tiến lên để hoàn tất cả mục tiêu của mình và của
người nhờ tận trừ lầm lỗi và đạt đến tột đỉnh
của mọi thiện đức. Còn chúng ta thì trái lại, từ vô thỉ
sinh tử cho đến ngày nay chỉ yêu mến bản ngã mình. Chúng
ta đã cần cù khó nhọc với tâm mong cầu hạnh phúc cho mình,
nhưng ta đã không được cái gì bù lại. Mọi sự chúng ta
hoàn tất được chỉ có làm phương tiện cho chúng ta đi xuống
các đọa xứ; và ngay hiện tại ta cũng chỉ có độc một
nỗi khổ đau. Nếu ngược lại, trong quá khứ ta đã làm như
đấng Đạo sư từ mẫn của chúng ta, thì mọi nỗi khổ của
ta bây giờ đã được nhổ tận gốc rễ; chắc chắn chúng
ta đã được hạnh phúc tối thượng và có thể thỏa mãn
nhu cầu hữu tình một cách tốt đẹp rồi. Tuy nhiên điều
ấy đã không xảy ra, nên ta mới rơi vào nỗi khổ hiện tại.
Có
lần trong một lễ cầu an tại một tu viện, một vị geshe
ở Dagpo đã xen vào buổi lễ vài lời nguyền rủa được
tìm thấy trong tác phẩm Bánh xe Khí giới Sắc bén. Một ví
dụ:
Sự
việc là như thế đấy: tôi đã biết được kẻ thù tôi!
Ta
đã phục kích và tóm được ngươi, hỡi tên trộm láu cá!
Kẻ
giả dối! Ngươi đã chọc quê ta với những lời lừa bịp!
Hỡi
ngã chấp! Ta không còn ngờ gì nữa bộ mặt của ngươi.
Điều
này đã gây một chấn động. Nhưng mục đích được xác
định, đó là hãy nhận ra kẻ thù đích thực của ta.
Có
lần một hành giả mật tông thực hành bùa chú giết nhiều
kẻ cướp. Đức Dalai Lama đệ nhất, Gyaelwa Gedun Drub, con trai
của Lubdroen, cầu xin rằng người phù thủy sẽ bỏ bùa chú
giết ngã ái nơi chính ngài. Nhưng ngài không có ngã ái, nên
bùa chú của phù thủy không hại được.
Drugpa
Kuenleg có lần làm những bánh lễ để cúng trừ những chướng
ngại cho em trai ông ta. Khi săp sắp tung ra ngoài những bánh
lễ ấy, Kuenleg nảy ra một ý nghĩ là, tại sao không ném chúng
vào ngã ái? Bởi thế ông ném bánh vào đùi của em trai ông.
Đấng
Đạo sư đầy từ mẫn của chúng ta cũng thương người trong
các tiền kiếp của Ngài. Một lần Ngài tái sinh làm vua Padmaka,
Ngài chết vì một bệnh dịch tái sinh làm con cá Rohita, thịt
của Ngài đã chữa nhiều hữu tình khỏi bệnh dịch. Khi Ngài
tái sinh làm một con rùa Ngài đã cứu năm trăm thương gia
rớt xuống biển; rồi Ngài lại xả thân cho tám mươi ngàn
con ruồi. Ngài bố thí một nữa thân thể Ngài khi làm vị
vua tên Shrìsena. Khi làm Mahàratnachùda Ngài có một viên ngọc
trên đỉnh đầu, và Ngài dã cắt thịt mình để lấy viên
ngọc ấy cho người khác. Khi làm thái tử Prakrti Ngài đã
bố thí thân xác Ngài cho một con hổ đói sắp ăn thịt con.
Khi làm Chandreprabha Ngài bố thí đầu.
Sau
khi kể chi tiết những chuyện trên, Pabongka Rinpoche tiếp tục:
Đây
là những hành vi của đấng Đạo sự từ mẫn của chúng
ta. Chúng ta thường chỉ nghĩ đến mình, nhưng dù những việc
ấy khó làm, ta cũng phải chuẩn bị để sau này có thể làm
được như thế, bằng những lời cầu nguyện.
Thương
người khác là việc làm chính đáng. Vì chúng ta tùy thuộc
vào hữu tình để có thực phẩm, họ giống như một thửa
ruộng cho nhiều mùa gặt tốt, hay như những viên ngọc ước.
Không những tất cả hữu tình đều đã tử tế với ta khi
họ là mẹ ta trong quá khứ, mà cả khi họ không là mẹ ta,
chúng ta cũng chỉ sống được nhờ sự tử tế của họ.
Chẳng hạn chỉ một bao bột lúa mạch cũng là kết quả của
nhiều công việc nặng nhọc. Một số hữu tình phải cày
đất, một số khác phải tưới nước, đập lúa vân vân.
Ngôi nhà chúng ta đang ở là hậu quả của sự tử tế của
hữu tình: Nhiều súc vật và người phải mang đất, xây tường,
làm nghề mộc, kiếm nước, vân vân. Chiếc khăn quàng này
bây giờ sẵn sàng để dùng, nhưng một số lớn cừu đã
phải sản xuất ra len; một số người phải dệt và một
số phải may.
Nhờ
sự tử tế của tất cả hữu tình mà hiện tại ta tạm thời
có được thân người thuận lợi; và cuối cùng nhờ sự
tử tế của họ mà ta sẽ phát tâm bồ đề, luyện tập hạnh
bồ đề và lại còn đạt thành Phật quả. Chúng ta có được
tất cả là nhờ lòng tử tế của họ, vì hữu tình là đối
tượng cho ta phát tâm bồ đề và bố thí. Hữu tình là căn
bản của giới chúng ta và là đối tượng cho ta thực hành
nhẫn nhục.
Hành
Bồ Tất Hạnh nói:
Chư
Phật và chúng sinh đều cần thiết như nhau
Để
cho ta thực hành Phật pháp.
Trong
khi bạn tôn kính chư Phật
Thì
sao lại không tôn trọng cả hữu tình?
Nói
cách khác, bạn đã thành Phật được một phần là nhờ lòng
từ bi của bậc thầy, và một phần nhờ lòng tử tế của
chúng sinh. Langri Tangpa nói:
Khi
quán sát rằng tôi sẽ đạt đến lợi ích tối thượng
Nhờ
tất cả chúng sinh
- Hơn
là nhờ bất cứ một viên bảo châu nào -
Mong
cho tôi càng thương chúng sinh hơn nữa.
Nghĩa
là, chúng sinh sẽ thành tựu giúp bạn tất cả mục tiêu của
bạn, những mục tiêu tạm thời cũng như tối hậu. Bởi thế,
họ cũng giống như viên ngọc ước, do đó điều dĩ nhiên
là phải thương mến tất cả hữu tình.