PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
MƯỜI TÁM
Kyabje
Pabongka Rinpoche cho một mẫu chuyện ngắn để chúng tôi khởi
động lực. Ngài trích dẫn đức Tsongkapa vĩ đại:
Bị
cuốn trong bốn dòng thác mạnh,
Bị
trói bởi xiềng xích các nghiệp khó dứt,
Bị
tóm vào cái bẩy sắt ngã chấp,
Bị
ngạt thở trong luồng khói ám vô minh,
Hữu
tình mãi mãi tái sinh trong thế gian
Và
liên tục bị hành hạ bởi ba loại khổ…
Ngài
nhắc lại những đề mục trên và ôn lại việc luyện tâm
bồ đề bằng bảy lớp nhân quả. Phần thứ hai của thân
bài này là pháp luyện tâm bồ đề bằng cách trao đổi địa
vị mình với người. Có 5 đoạn: (1) Quán mình và người
bình đẳng; (2) Quán những lỗi lầm phát xuất từ ngã ái;
(3) Quán những lợi ích cho sự thương mến người khác; (4)
Pháp quán thực sự về trao đổi địa vị mình với người;
(5) dùng cho những điều trên làm căn bản để thiền quán
về Cho và Nhận. Ngài ôn lại ba điểm đầu trên trên đây,
rồi tiếp tục:
(iv)
Pháp quán thực thụ đổi địa vị mình với người
Chúng
ta đã bàn về những lỗi lầm do ngã ái, và những đức tính
do thương người. Cũng giáo lý này được chứa đựng trong
4 câu thơ: “Tôi thấy bệnh kinh niên là ngã ái…” Sau khi
thấy rõ gì là quả báo của lỗi lầm và của thiện đức,
bạn nên đổi địa vị mình với người. Nhưng điều này
không có ý nghĩa rằng bây giờ bạn nên hiểu rằng mình là
người khác hay người khác đã trở thành mình. Trong quá khứ
bạn đã bất chấp người khác, vì bạn thương yêu chính
mình. Bây giờ hai thái độ ấy nên đổi chỗ. Như vậy sự
“thay đổi” này ám chỉ sự chuyển tâm ái luyến tự ngã
của bạn thành ra lòng thương đối với kẻ khác. Bạn luyện
tâm bằng cách nghĩ như sau: “Tôi thường không nghĩ đến
người khác, nhưng từ đây trở đi, tôi sẽ không nghĩ đến
nhu cầu của chính tôi; tôi đã tự thương mình, nhưng từ
đây trở đi tôi sẽ thương người khác.” Nhờ quen thuộc
với pháp này, bạn sẽ thực hiện được một cuộc trao đổi
địa vị như thế. Hãy nghĩ về ví dụ sau đây: Khi bạn ở
lâu trên sườn núi bên kia, thì bạn sẽ nghĩ về sườn núi
ấy là “bên này.”
(v)
Phương pháp thiền định về cho và nhận.
“Nhận”
là để xây dựng đại bi, “cho” là để xây dựng đại
từ. Bản văn gốc chúng ta nói:
“Hãy
luyện tâm về sự cho và nhận.”
Điều
này là để cho những pháp quán trước đấy có hiệu quả.
Trong những bài giảng được viết về Cho và Nhận, sự “cho”
Đạo sư bàn trước; nhưng trong thực hành thì “Nhận lấy”
được thi hành trước. Kỳ thực có thể chỉ nên tu tập
phần “Nhận lấy” mà bỏ phần “Cho.” Sẽ không lợi
lạc nếu đem Cho hạnh phúc trước khi Nhận lấy đau khổ.
Bởi thế, hãy thực hành như sau để xây dựng tâm đại bi.
Hãy
nghĩ, “Tôi sẽ nhận lấy hết khổ đau từ tất cả hữu
tình, những người mẹ của tôi, và phát sinh tâm đại bi.
Rồi quán tưởng tất cả khổ đau của họ được rũ bỏ
như tóc được cạo sạch, có hình dáng những tia khói đen
tan thành khói ngã ái ở trái tim bạn.
Bạn
có thể làm việc này một cách chi tiết hơn. Hãy nghĩ nỗi
khổ do sức nóng của các địa ngục tan thành lửa vân vân,
vào trong tim bạn, và nó tan thành thói ngã ái rầy rà của
bạn. Hãy quán tưởng bạn đang nhận lấy những khổ đau
tội lỗi và chướng ngại, v.v… của những chúng sinh ở
các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tu la, người, chư
thiên, vân vân cho đến những Bồ tát ở mười địa vị.
Rồi tưởng tượng họ bây giờ đã được tịnh hóa tất
cả tội lỗi nghiệp chướng. Hãy cầu nguyện cho những thứ
ấy chín mùi nơi bạn. Nhưng khi làm sự “nhận lấy” này,
thì đừng nhận từ chư Phật hay các bậc thầy của bạn.
Có
nhiều hạng người trình độ khác nhau. Một số người sơ
cơ tự thấy mình không thể thiền quán về Cho và Nhận. Đối
với hạng này, bản kinh nói:
Hãy
xây dựng sự Nhận Lấy của bạn bằng cách khởi từ bản
thân.”
Nói
cách
khác, buổi sáng bạn thiền quán rằng bạn đang nhận lấy
hết nỗi đau khổ mà bạn sẽ kinh quá vào buổi chiều; tiếp
đến, nhận lấy khổ đau của ngày hôm sau; rồi đau khổ
của ngày còn lại trong tháng; trong năm; trong đời này; đời
sau, và tất cả những đời sau. Tiếp tục đến cha mẹ, bà
con, bè bạn, kẻ lạ, người thù vân vân, cho đến khi bạn
bao trùm tất cả hữu tình. Tập luyện như thế từng bước
một, rước vào mình những đau khổ, tội lỗi, chướng ngại,
vân vân, của từng hạng người đặc biệt. Bạn phải thứ
tự như trên, vì lúc đầu bạn sẽ không thể nghĩ đến chuyện
rước lấy đau khổ của những người như kẻ thù của mình
được. Bởi thế, thỉnh thoảng hãy thiền quán khởi từ
chính bạn, rồi di chuyển ra ngoài theo cách trên, thỉnh thoảng
khởi từ địa ngục lên đến thập địa bồ tát. Đôi khi
khởi từ những đàn ông đàn bà ở trong thung lũng miền thượng
trở xuống; đôi khi khởi từ dưới đi lên. Hãy nhận lấy
cả những đau khổ của một con chó bị ném đá. Hãy quán
những gì bạn nhận lấy không phải biến mất hay được
đặt sang một bên, mà chúng được thâu nhận vào ngay trong
tim bạn. Tốt nhất là khi việc này khiến bạn đâm ra lo sợ
cho tính mạng mình!
Bạn
có thể không thực sự thâu nhận những điều ấy được
trong lúc thiền quán, nhưng nó kích động bạn hoàn tất được
sự tích lũy công đức; và khi tâm bạn đã quen thuộc với
tiến trình tu luyện này, thì cuối cùng đôi khi bạn có thể
rước lấy những điều ấy thực, như câu chuyện về Maitrìyogi.*
(CT:
Vị này trông thấy một con chó bị trúng đá nơi ống chân.
Ông nhận lấy sự đau khổ ấy, và thấy trên cánh tay mình
có một vết bầm.)
“Cho”
để xây dựng tâm từ là như sau:
“Để
làm lợi lạc cho hữu tình,
Xin
cho thân tôi biến thành tất cả gì chúng mong muốn.”
Ngoài
ra, kinh Cờ Chiến Thắng Vajra và kinh Trái Rơm nói về sự
bố thí thân xác và của cải. Theo những kinh này, bạn hãy
quán thân mình biến ra nhiều thân, trở thành những vật mà
hữu tình mong mỏi. Những vật này tuôn ra dưới hình dạng
những cơn mưa làm lắng dịu nỗi khổ của những chúng sinh
ở địa ngục chẳng hạn; nhờ vậy chúng được tái sinh
làm người và chỗ ở của chúng biến thành những tòa nhà
đẹp đẽ. Bạn biến hóa ra những thân và thân này chuyển
thành những lạc cụ cho chúng thụ hưởng, như thật nhiều
thực phẩm, y phục v.v… Những thân ấy lại còn trở thành
những hướng đạo tâm linh để dạy Pháp cho chúng, nhờ đó
chúng tiến gần đến giác ngộ. Rồi những thân thể biến
hóa ấy lại lấy hình dạng của ánh sáng mặt trời, y phục
v.v… cho chúng sinh ở địa ngục lạnh; đồ ăn uống cho ngạ
quỷ; trí tuệ biết phân biệt các pháp cho súc sinh; áo giáp
cho tu la; ngũ dục cho chư thiên. Nhưng loài người thì có nhiều
dục vọng nhất, bởi thế hãy cho chúng những thân thể biến
hóa trở thành bất cứ gì chúng thích. Hãy ban phát những
công đức của cải của bạn theo cách ấy; và làm những
dâng cúng dồi dào như thế cho những bậc thầy, quán tưởng
rằng điều ấy sẽ làm tăng những thiện sự của họ. Mặc
dù thật tốt để đem lại những thiện căn của bạn trong
cả 3 thời, hoặc thân và tài sản của bạn trong hiện tại
và vị lai, nhưng đừng cho thân thể và sở hữu của bạn
trong quá khứ. Khi thực hành pháp “Cho” bạn sẽ phát triển
được tâm từ như tôi đã nói, vì bạn sẽ nghĩ về những
chúng sinh ấy rằng họ quá thiếu hạnh phúc như thế nào.
Bạn lấy pháp quán để luyện tâm này làm pháp tu chính yếu
của bạn.
Trong
đời sống hàng ngày
Hãy
luyện tâm bằng những bài thơ
Để
gợi lên sự nhớ nghĩ.
Nói
cách khác muốn tăng tiến chánh niệm trong pháp tu tập Cho
và Nhận, hãy luôn luôn tụng một vài bài kệ về đề tài
này. Có một vài bài kệ như vậy trong quyển Luyện Tâm như
Ánh Vàng Ròng, nhưng nếu bạn chưa biết những bài này, thì
chỉ cần tụng đọc những hàng sau đây trích từ Cúng Dường
Đạo Sư cũng đủ:
Hỡi
bậc thầy tôn quý đầy từ bi
Hãy
gia hộ cho con:
Mong
tất cả khổ đau,
Tội
lỗi và chướng ngại
Của
tất cả hữu tình đã từng làm mẹ con
Bây
giờ hãy trút hết lên con không trừ;
Con
nguyện cho người khác hạnh phúc và thiện hành của con,
Mong
tất cả hữu tình được hạnh phúc.
Có
những chuyện kể về những tu sĩ trong quá khứ thường lần
chuỗi tụng bài này.
Bạn
cũng phải sử dụng một vài phương pháp để tăng trưởng
tâm bồ đề của bạn trong khi làm việc hàng ngày. Bạn nên
tham cứu kinh Hoa Nghiêm và kinh Sự Chính Đáng Của Nỗ Lực
Hoàn Toàn Thanh Tịnh. Những người nào trong số các bạn muốn
lấy bồ đề tâm làm pháp tu chính yếu thì hãy luôn luôn
đọc và quán kinh Hoa Nghiêm, như đức Tsongkapa vĩ đại đã
làm, theo tiểu sử của vị nhập thế này của Đức Văn Thù.
Bản
văn gốc nói:
“Hãy
đưa hai việc này vào những luồng khí lực.”
Nói
cách khác, khi bạn đã nắm vững phần nào pháp quán Cho và
Nhận này, bạn nên phối hợp “Cho” với hơi thở ra và
“Nhận” với hơi thở vào. Lúc đầu bạn chưa thể đưa
vào các luồng khí lực, nhưng nhờ thực tập liên tục, bạn
sẽ làm được. Tâm và những luồng khí này sóng đôi, bởi
thế phương pháp trao đổi mình với người này rất dễ phát
triển tâm bồ đề. Nó còn có tương đương của nó trong
Mật tông, phần bàn về pháp tụng đọc Vajra (kim cương).
Khi Kaedrub Rinpoche ca tụng Rinpoche: “Hỡi đấng che chở! Ngay
cả hơi thở của Ngài cũng trở thành một liều thuốc êm
dịu cho hữu tình…” câu này phải được hiểu theo cách
ấy.
Còn
có những chỉ giáo khác ở điểm này nhưng sẽ không tốt
nếu đem nói cho những người không thực hành thường xuyên.
a-2.3.
Chuyển hóa những hoàn cảnh không may thành con đường giác
ngộ.
Thời
đại suy đồi này có thể vô cùng lợi lạc. Khi một hành
giả gặp nhiều chướng ngại mà không thể thoát được chúng,
thì vị ấy phải có thể chuyển hóa những nghịch cảnh hay
thuận cảnh, vị ấy đều từ bỏ Pháp. Một số hành giả
trở nên kiêu căng khi được lên chức v.v… rồi từ bỏ
pháp. Một số có được một ít tài sản rồi từ bỏ pháp
để duy trì lợi tức của họ. Một số người tuyệt vọng
khi phải đối đầu với những nghịch cảnh, rồi từ bỏ
pháp. Khi những việc ấy xảy ra, thật khó mà thực hành pháp.
Không gì tệ hơn là thực hành vài việc một cách nô lệ,
rồi từ bỏ Pháp. Vì thế mà thật cần thiết phải có khả
năng chuyển hóa nghịch cảnh thành pháp tu và thành một cái
gì không hại cho Pháp. Có hai tiêu đề: (1) Chuyển hóa toàn
cảnh bằng tư tưởng; (2) Chuyển hóa bằng hành động.
a-2.3.1.
Chuyển hóa hoàn cảnh bằng tư tưởng
Có
2 tiêu đề phụ (1) Chuyển hóa nhờ phân tích (2) chuyển hóa
nhờ hành động.
(i)
Chuyển hóa nhờ phân tích
Cúng
Dường Đạo Sư nói:
“Khi
vũ trụ tràn ngập những hậu quả của tội lỗi…” Bản
văn gốc của chúng ta về pháp luyện tâm cũng nói tương tự:
Khi
vũ trụ đầy tội lỗi,
Hãy
chuyển hoàn cảnh không may này
Thành
con đường đưa đến giác ngộ.
Nghĩa
là hiện tại, mỗi khi lo lắng vì bệnh hoạn, kẻ thù, phi
nhân, v.v…, chúng ta thường trách cứ người khác. Vì chúng
ta không hiểu được rằng tất cả bệnh tật là hậu quả
của nghiệp chúng ta, chúng ta cho rằng nó do đồ ăn, do ác
ma, v.v… Tuy nhiên khi chúng ta nhìn sâu vào sự kiện căn bản
đáng trách, thì ta sẽ thấy rằng mọi nỗi bất hạnh đều
phát sinh do nghiệp, như tôi đã dạy trong phần nhân quả thuộc
Phạm Vi Nhỏ. Và ngay cả nghiệp ấy cũng do ngã ái của ta;
bởi thế ngã ái là điều căn bản đáng trách.
Khi
một tên trộm cướp hết đồ đạc quý giá của bạn, thì
đừng trách tên trộm, mà hãy trách ác nghiệp của bạn và
điều là bạn phát sinh nghiệp ấy, nghĩa là ngã ái. vậy
khi bạn đối mặt với bệnh hoạn, khổ đau, nghịch cảnh…
bạn phải nghĩ là chúng đang giúp đỡ bạn thành tựu giác
ngộ. Có câu nói: “Bệnh, tội lỗi và chướng ngại là một
cái chổi (để quét sạch nghiệp-DG).”
Nghĩa
là mỗi khi bạn ngã bệnh v.v… thì hãy nghĩ rằng ác nghiệp
này, tội lỗi và chướng ngại này, mà quả báo của chúng
đáng lẽ bạn phải chịu trong các đọa xứ, thì trái lại
đã chín ngay trong đời này. Việc này làm cho bạn cảm thấy
sung sướng. Lại nữa bạn cũng nên mừng mà nghĩ rằng: “Tôi
đang thực hành pháp Cho và Nhận bằng cách quán tưởng tôi
đang nhận lấy những tội lỗi và chướng ngại của các
hữu tình. Bây giờ tôi đã thực sự thành đạt điều ấy.”
Hãy cầu nguyện cho bao nhiêu nỗi khổ của chúng sinh còn lại
sẽ trút lên bạn, và trong lúc thiền quán tưởng tượng rằng
việc ấy đang làm vơi đi tất cả đau khổ và đáng lẽ các
hữu tình phải chịu. Hãy quán tưởng một cách chân thành
khi bạn làm việc “nhận lấy” này: “Thật tốt biết bao
nếu bây giờ tôi thực sự nhận lấy khổ đau của hữu tình!”
Nếu bạn tu tập cách ấy, thì ngay cả bệnh tật cũng sẽ
không làm chướng ngại bạn. Những thiện hành của bạn sẽ
tăng, như trong câu chuyện về người đệ tử của Kuenpang
Draggyaen, đã bị bệnh cùi và được chữa khỏi.
Có
câu nói: “Những nghịch cảnh kích thích ta sáng tạo công
đức.”
Nghĩa
là bạn sẽ nỗ lực tích lũy phước đức trí tuệ và thanh
lọc những chướng ngại khi bạn an trú trong ý nghĩ rằng
điều hiển nhiên là bạn phải từ bỏ ác hành nếu bạn
không muốn đau khổ. Chúng ta hoàn toàn hạnh phúc khi không
gặp hoàn cảnh không may, và bởi thế ta không nhớ pháp. Nhưng
khi những nghịch cảnh như mang tiếng xấu, bị xuống chức,
bị bệnh, v.v… thì chúng ta mới tung mình ra khỏi tình trạng
vô cảm và khởi sự làm việc lành.
Quỷ
thần, ác ma, ma vương
Là
phương tiện mà chư Phật dùng;
Chân
như vui thích làm bạn với đau khổ.
Khi
bạn bị ma vương, ác ma, bùa chú v.v… làm hại, thì hãy xem
như chúng đang làm lợi ích lớn cho bạn, vì điều ấy tác
động cho bạn tu tập Pháp trong khi trước đấy bạn hoàn
toàn bù đầu vào những chuyện thế tục không nhớ gì đến
Phật pháp. Đau khổ cũng có thể là một yếu tố góp phần
vào việc chứng ngộ chân như nếu bạn biết cách lèo lái
tư duy của mình. Vì bệnh là hậu quả của ngã ái, nên bạn
cần suy nghĩ rằng bệnh, ác ma v.v… rất tốt cho bạn vì
chúng giúp bạn hàng phục kẻ thù là ngã ái - một việc bạn
không thể tự làm. Khi một hoàn cảnh bất lợi xảy đến
cho chúng ta, chúng ta liền gián đoạn ngay sự tu tập. Nhưng
đừng làm thế. Cũng như bạn phải coi chừng khi đi qua một
con đường hiểm, bạn phải cẩn thận đừng phế bỏ sự
tu tập khi gặp hoàn cảnh xấu. Đấy là lý do tại sao người
ta bảo thật quan trọng để thực hành pháp “Cho và Nhận”
một cách nghiêm chỉnh. Quyển Hành Bồ Tát Hạnh nói:
“Điều
tốt đẹp của đau khổ là
Nó
tẩy trừ kiêu mạn buồn sầu.
Người
ta phát triển lòng xót thương.
Đối
với chúng sinh trong sinh tử,
Tránh
làm ác và thích làm lành.
Khi
đối diện với đau khổ, bạn cảm thấy bất hạnh và điều
này tẩy trừ kiêu căng. Bạn cũng cảm thấy thương xót kẻ
khác vì chính bạn cũng đau khổ, và điều này là một nhân
tố cho bạn mong muốn từ bỏ những gì bạn cần phải từ
bỏ. Khi ta không gặp đau khổ, thì ta cứ tưởng mọi sự
đều tốt đẹp, và ta lấy làm sung sướng. Nhưng có câu nói:
Đừng
vội vui mừng khi gặp sung sướng
Mà
hãy vui mừng khi gặp chuyện buồn:
Sự
sung sướng làm tiêu mòn công đức bạn tích lũy,
Còn
đau khổ thì tịnh hóa được tội lỗi và chướng ngại.
Giữ
một địa vị cao thì cũng giống như bị quản thúc tại nhà,
như những vị Lạt ma và viên chức cao cấp không được đi
bất cứ đâu họ muốn. Một vị Lạt ma nói:
“Chức
vị cao cũng như bị quản thúc,
Chức
nhỏ là nơi cư trú tuyệt vời cho những Đấng Chiến thắng.”
Nghĩa
là tất cả những học giả, hành giả trong quá khứ đều
giữ những địa vị thấp và đã đạt đến Phật quả. Ngay
cả Drom Rinpoche cũng đã quỳ lạy trước người dưới ông;
bởi thế chúng ta không nên đặt mình cao hơn người khác.
Bằng cách ấy ta sẽ dễ dàng giữ tình bạn.
Đừng
vui khi được khen,
Mà
bãy vui khi bị chỉ trích:
Sự
chỉ trích sẽ soi sáng lỗi lầm của bạn.
Nói
cách khác lòng kiêu căng của bạn càng tăng bội khi người
khác ca tụng bạn. Nhưng kiêu căng cũng như lời ca tụng sẽ
làm cho bạn đọa. Bạn không thể thấy lỗi làm của mình,
và mặc dù bị chỉ trích thì không có gì vui, nhưng sau đó
bạn sẽ xét lại hành động của mình, và điều này sẽ
làm bạn cẩn thận thay đổi lối hành xử.
Có
câu nói:
“Lời
phỉ báng là một ân huệ của chư thiên.”
Có
nghĩa sự phỉ báng là một điều thần diệu. Bởi thế mỗi
khi bạn vướng vào những hoàn cảnh xấu như gặp những sự
phỉ báng làm cho bạn chao đảo, thì hãy nghĩ như trên.
Khi
bạn sung sướng, bạn nghĩ rằng đấy là hậu quả của thiện
hành, và điều này sẽ làm cho bạn vui vẻ thiền quán về
tâm bồ đề v.v…
(ii)
Chuyển hóa bằng tri kiến
Bản
văn của chúng ta nói:
Hãy
xem tất cả mọi tướng giả dối
Như
là bốn loại thân.
Tuy
nhiên, lời này là theo cách giải thích xưa cũ từ thời truyền
pháp đầu tiên, và khi xét lại chúng ta thấy nó chưa ổn.
Khi ta nhìn sâu vào bản chất của một nỗi khổ đã sinh khởi,
người ta bảo nó là pháp thân (thân của chân lý), vì nó
không sinh tử bất cứ gì, v.v… nhưng tôi có cảm tưởng
điều này không đánh trúng vào điểm chính. Nói vắn tắt,
hạnh phúc và đau khổ của chúng ta có thể đã phát sinh từ
những hoàn cảnh hoặc tốt hoặc xấu. Nhưng khi xét bản chất
của chúng thì những điều ấy được thấy là đã sinh ra
từ một chuỗi nhân duyên hỗ tương lệ thuộc. Như vậy hoàn
cảnh tốt hay xấu, đau khổ hay hạnh phúc tất cả chỉ là
những nhãn hiệu, và những việc như thế không thể được
thiết lập theo bản chất của chúng, dù chúng ta nhìn sâu
vào sự kiện rằng “tôi” và “người khác” không thực
sự hiện hữu, thì điều này sẵn sàng ngăn chận chúng ta
khỏi đau khổ, tham luyến, v.v…
Nếu
bạn không hiểu được tri kiến ấy thì phải nghĩ: “Khi
tôi chết, tất cả những hạnh phúc và buồn khổ mà bây
giờ tôi có thể có, sẽ chỉ còn là những ký ức, như thế
tôi đã chiêm bao về chúng. Thương hay ghét trong cuộc đời
ngắn ngũi này thật là điều vô nghĩa.