PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
MƯỜI CHÍN
Kyabje
Pabongka Rinpoche kể một chuyện ngắn để chúng tôi khởi động.
Về văn bản thì ngài chọn Lời Nguyện Của Di Lặc trong đó
có câu:
Cúi
lạy chư Bồ tát
Đã
ngăn các con đường
Đưa
đến các đọa xứ,
Đã
khéo dạy đạo lộ
Đưa
đến các cõi cao,
Đã
dẫn đường đi đến
Cái
không già không chết.
Rồi
ngài nhắc lại những những tiêu đề nói trên, và ôn lại
“Pháp Quán Thực Thụ Đổi Địa Vị Mình Với Người”
và “Con Đường Đưa Đến Thiền Quán Cho Và Nhận.” Ngài
cũng trở lui về hai phần đầu của giáo lý bảy phần.
Mình
và người là căn bản trên ấy bạn xây dựng những ý tưởng
hoặc yêu mến hoặc làm ngơ. Bây giờ hai căn bản ấy cần
phải đổi chỗ. Rồi, như tôi đã nói, muốn khai triển thêm,
bạn hay quán Nhận đau khổ để xây dựng tâm bi; và quán
Cho thân thể, tài sản, công đức của bạn để xây dựng
tâm từ. Lại nữa bạn nên phối hợp sự Cho và Nhận ấy
với hơi thở vào thở ra. Thêm vào đấy, để khỏi quên pháp
này, bạn nên nhồi ký ức mình với một vài bài kệ trong
khi làm những công việc hàng ngày.
Có
một số phương pháp khác nhau để phối hợp hai chỉ giáo
này về luyện tâm bồ đề trong sự tu tập của bạn. Những
phương pháp này được đề cập bằng những tiêu đề và
những trình tự khác nhau. Sau đây là nói vắn tắt về cách
tu tập dưới 11 đề mục thiền quán.
Khởi
đầu bằng cách quán bốn pháp:
(1)
xả; (2) nhận ra mọi hữu tình là mẹ; (3) cách thông thường
và cách đặc biệt để nhớ lại sự tử tế của họ; (4)
ước mong đền đáp sự tử tế ấy.
Bốn
pháp ấy được tiếp theo bằng: (5) bình đẳng giữa mình
và người; (6) quán những lỗi do ngã ái; (7) quán những đức
do thương người.
Bây
giờ đến pháp quán thực thụ về đổi địa vị mình và
người: (8) nhận, bao gồm pháp quán để xây dựng tâm Bi;
(9) cho, bao gồm pháp quán để xây dựng tâm Từ mong mỏi hạnh
phúc cho kẻ khác.
Và
cuối cùng là: (10) Sự phát triển tâm vị tha.
Khi
bạn xét mình có thực sự đã làm được gì về Cho và Nhận,
thì sẽ thấy rằng đấy chỉ là trong tưởng tượng mà thôi.
Hiện tại bạn chưa làm được điều gì cụ thể lợi lạc
cho chúng sinh; vậy thì khởi ý nghĩ: “Tôi sẽ làm một điều
gì để thực hiện việc ấy trong thực tế.” Và khi gánh
lấy trách nhiệm ấy, là bạn phát triển tâm vị tha. Rồi
vì lý do ấy mà có: (11) Phát triển lòng mong mỏi thực thụ
đạt đến toàn giác.
Mười
một đề mục thiền nói trên làm nên một tổng hợp của
cả hai chỉ giáo về bảy lớp nhân quả và đổi địa vị
mình với người. Sau đây là cách tu tập.
Ở
phần kết của chuỗi đề mục ấy, còn có một bước nữa,
một dáng điệu tốt lành để bạn dễ thành công hoàn toàn
về mật điển và các madala trong đó. Điều này cũng giống
như những lời nguyện của bà la môn Samandraraja và vị Chuyển
luân vương Arenemi về những tái sinh của họ trong tương lai
(xem Ngày Thứ Tám). Điều bạn làm là, hãy tưởng tượng
tất cả hữu tình đều thành tựu mọi điều hạnh phúc;
việc này sẽ là một vốn lớn lao để giúp bạn hoàn thành
mọi điều hạnh phúc; việc này sẽ là một vốn lớn lao
để giúp bạn hoàn tất hai sự tích lũy. Bạn làm điều này
bằng cách hóa thân thành Đức Thích Ca Mâu Ni, rồi phóng những
hào quang tịnh hóa tất cả đau khổ hữu tình. Quán tất cả
hữu tình cũng đều tịnh hóa thành thân Thích Ca Mâu Ni. Rồi
thiền quán về tâm Hỉ. Bằng cách ấy, bạn vừa quán những
kết quả của sự phát tâm bồ đề của bạn, và dùng pháp
quán ấy như một phần của đạo lộ.
Bản
văn của chúng ta nói:
Ba
đối tượng, ba độc và ba thiện căn.
Ba
đối tượng là những gì bạn cho là hấp dẫn, ghê tởm,
hoặc trung tính. Khi hướng tâm đến những đối tượng ấy
ta phát sinh tham ái, thù hận, v.v… Khi các hữu tình hướng
sự chú ý đến những đối tượng ấy chúng cũng phát sinh
vào đọa xứ của chúng tùy thuộc vào tất cả vọng tưởng
ấy và đối tượng ấy. Hãy tưởng tượng bạn nhận lấy
tất cả những điều này, cùng với cái nhân đau khổ của
chúng trong sinh tử; nghĩ rằng: “Tôi đã làm cho tất cả
hữu tình nhẹ gánh tham, sân, si, nên bây giờ họ chỉ còn
có những thiện căn. “Hãy xem chính ngã ái của chúng là
đáng chê trách vì đã đem lại tất cả nghịch cảnh cho chúng
như lo âu, bệnh hoạn, v.v… Hãy làm cho nghiệp báo của họ
chấm dứt, nhận lấy tất cả đau khổ của họ. Hãy thấy
rằng những gì bạn nhận sẽ chín mùi trên bạn, và lấy
đó làm nhân cho sự vui sướng mừng.
Nhờ
làm vậy, người nào quen luyện tâm sẽ không bao giờ khổ
sở, vì tất cả nghịch cảnh đối với họ đều có ích.
Đấy là lý do việc luyện tâm được gọi là “nguồn gốc
của thành trì hạnh phúc.” Nó khiến cho bạn kham nhẫn những
nghịch cảnh nhỏ nhặt. Ví dụ, khi một thương gia lên đường,
y phải nhìn mọi sự với thái độ triết lý. Nếu trời mưa,
ít nhất y sẽ không bị cướp; nếu tuyết xuống, ít nhất
những con vật chở hàng của y sẽ không bị què. Quyển Hành
Bồ Tát Hạnh nói:
Nếu
một việc có thể điều chỉnh được
Thì
cần gì phải khổ sở?
Nếu
một việc không thể điều chỉnh
Thì
đau khổ liệu có ích gì?
Nếu
bạn gặp khổ thì buồn sầu cũng vô ích, bạn nên biến nỗi
khổ ấy thành hữu dụng. Hơn nữa bạn có thể thấy có những
người đã tự mình đạt được tuệ giác về vô thường
sau một cơn bệnh suýt chết.
Bởi
thế khi gập hoàn cảnh xấu hay nghĩ rằng “mong tất cả
những điều mà hữu tình đã bị sẽ đến với tôi.” Không
gì lợi lạc hơn là suy nghĩ cách ấy.
Đến
đây là chấm dứt phần ôn lại đề mục “Chuyển nghịch
cảnh thành con đường giác ngộ.”
a-.2.3.2.
Chuyển hóa bằng hành động
Có
4 loại hành động bao hàm ở đây: tích lũy công đức và
trí tuệ, thanh lọc chướng ngại, cúng bánh lễ, và triệu
thỉnh Hộ Pháp làm các thiện sự.
Nếu
khi bạn hoàn toàn quen thuộc với pháp luyện tâm này, mà bỗng
bạn bị ốm, thì nên triệu thỉnh thiện sự của Hộ Pháp
như sau: ‘Sự thực hành Cho và Nhận của tôi đã có ý nghĩa
mới, vì nỗi khổ của tất cả hữu tình đang trút xuống
trên tôi. Mong cho bệnh của tôi còn nặng hơn thế này nữa!”
Khi bạn cúng bánh lễ cho phi nhân, hãy nghĩ “Quý vị đã
rất tử tế với tôi khi hại tôi. Điều này đã chứng tỏ
cólợi cho sự tu tập của tôi. Tôi đã tịnh hóa nhiều tội
lỗi chướng ngại và tích lũy thêm nhiều công đức. Bây
giờ, hãy làm hại tôi nhiều hơn nữa!” những người không
đủ can đảm, cảm thấy sợ hãi vì ý nghĩ này, sẽ thấy
mình không thể nào làm được điều ấy. Vậy, họ nên làm
việc thông thường là kêu gọi sự giúp đỡ của phi nhân
để khỏi bị đau ốm v.v…
Nếu
nhà bạn ngập nước, bạn nên tìm căn nguyên vân đề để
chấm dứt. Khi bị đau khổ cũng thế, bạn nên từ bỏ tội
lỗi - nguyên nhân của đau khổ - và xây dựng công đức -
nguyên nhân của hạnh phúc. Nếu bạn sám hối tội lỗi bằng
cách tụng bài Sám hối tổng quát (xem phần phụ lục) sau
khi hoàn tất lễ cúng gồm 100 phần, bạn sẽ làm tròn cả
4 loại hành vi; cũng nên làm những cầu nguyện về pháp luyện
tâm vào cuối lễ này.
Bản
văn nói:
Áp
dụng ngay thiền quán
Càng
nhiều càng tốt.
Nói
cách khác, bạn phải áp dụng phương pháp luyện tâm ngay khi
một hoàn cảnh thuận hay nghịch xảy ra, để chuyển hóa nó
thành pháp tu tức khắc.
a-2.4.
Dạy một phương pháp để áp dụng suốt đời
Trước
hết có 5 năng lực: (1) năng lực của hạt giống trắng; (2)
năng lực của tập quán; (3) năng lực của quyết định; (4)
năng lực của sự từ bỏ; (5) năng lực của cầu nguyện.
Năng
lực của quyết định là năng lực quan trọng nhất. Khi vừa
thức dậy vào buổi sáng, bạn phải làm quyết định sau đây:
“Tôi sẽ không để cho cuộc đời tôi trở thành vô nghĩa,
nhất là trong năm nay, trong ngày nay tôi sẽ làm một điều
gì có ý nghĩa. Tôi sẽ nhiếp phục ngã ái, kẻ thù thật
sự của tôi!” Sự quyết định của bạn khởi đầu tất
cả mọi hành động, làm cho hành động ấy thành thiện hay
bất thiện, đại thừa hay tiểu thừa. Khi bạn quyết định
giết một con rận hay quyết định soạn một bữa ăn trưa,
thì điều ấy là chuyện mà bạn sẽ làm thực sự. Vừa thức
dậy mỗi sáng khi buộc thắt lưng, thông thường chúng ta chỉ
quyết định là những chuyện thế gian - thực phẩm, thời
trang, danh tiếng - những phương tiện để đạt hạnh phúc.
Bây giờ đổi lại, hãy làm quyết định như trên, và làm
một cách sâu xa từ tâm để.
Năng
lực của hạt giống trắng có nghĩa là xây dựng hai sự tích
lũy và thanh lọc chướng ngại nhờ những nghi lễ chuẩn bị
v.v…, những điều này được làm để tăng trưởng bồ đề
tâm của bạn. Thiện hành mà chúng ta làm thường bị mất
hút vào cuộc đời này, vậy cốt nhất đừng để điều
này xảy đến.
Năng
lực của tập quán, nghĩa là luôn luôn thực hành pháp tu bất
kỳ ta đang làm việc gì - đi bộ, ngủ hay ngồi - bằng cách
sử dụng những phương pháp tăng trưởng cả hai loại bồ
đề tâm. Những ý tưởng của những vị đại bồ tát thì
quá sức ta, cũng như những hành vi hy sinh đầu, tay, chân của
họ. Nhưng đấy là hậu quả của tập quán. Lúc đầu có
thể ta không biết gì về nghề thợ thiếc hay thợ mộc, nhưng
ta có thể đi đến chỗ học được nghề ấy và chúng không
còn khó khăn đối với ta nữa. Cũng thế, ngay cả sự hy sinh
mạng sống cũng sẽ dễ dàng như cho một dĩa rau, khi ta đã
đạt đến một sự quen thuộc với tư tưởng bố thí mạng
sống. Có câu nói: “Không gì khó khi đã trở thành quen thuộc.”
Một số những hành giả vĩ đại trong quá khứ có thể hoàn
tất sự thiền quán phần quan trọng về Lam-rim trong khi đang
cỡi ngựa: họ làm việc này khi một chân đặt trên bàn đạp
và một chân kia trên yên. Điều này cũng là hậu quả của
thói quen. Thiền định và thói quen là đồng nghĩa. Làm sao
chúng ta uống một bát trà được một cách dễ dàng, nếu
ta chưa có thói quen việc ấy?
Năng
lực của từ bỏ là như sau. Hiện tại, ngã ái là điều
duy nhất bạn đang phát triển, và bạn nên chấm dứt việc
ấy. Bạn phải từ bỏ ngã ái bằng cách đánh vào nó mỗi
khi nó thò mặt ra, cũng như bạn đánh một con chó đến ăn
trộm.
Năng
lực của cầu nguyện là, ngay trước khi đi ngủ hãy hồi
hướng tất cả thiện căn mà bạn đã có trong ngày ấy, để
chúng làm tăng trưởng hai loại tâm bồ đề.
Năm
năng lực này áp dụng cho cuộc đời hiện tại. Còn có 5
năng lực vào lúc chết; đấy là sự thực tập chuyển đi
sự luyện tâm để hướng tâm bạn vào tái sinh mới.
Chỉ
giáo của Đại thừa về chuyển di
Liên
hệ đến năm năng lực.
Hãy
yêu mến hoạt động này!
Kỹ
thuật chuyển di sự luyện tâm không dùng thần chú hik và
phat nhưng sâu sắc hơn bất cứ kỹ thuật chuyển di nào khác.
Sự
quyết định của bạn ở đay là quyết không rời tâm bồ
đề trong khi ở trong trạng thái chết, trạng thái trung ấm,
vân vân.
Năng
lực bạch chủng (hột giống trắng) là như sau. Giả sử bạn
quá tham luyến những sở hữu của mình. Hãy phá hũy lòng
tham luyến ấy bằng cách dâng hiến cũng sở hữu ấy qua một
lễ cúng, v.v… Dâng hiến những vật ấy cho những người
nhận có đức; hoặc di chúc bố thí tất cả sở hữu của
bạn. Việc này còn tốt hơn để một người khác tạo công
đức hồi hướng cho bạn sau khi chết. Nếu bạn không xả
bằng cách đó thì chuyện sau đây có thể xảy ra.
Một
thầy tu tham luyến cái bát khất thực của mình, và tái sinh
làm một con rắn. Đức Phật đuổi nó vào rừng, làm cho nó
tức giận, và ngọn lửa sân của con rắn đốt cháy cả khu
rừng và chính nó. Rồi nó tái sinh vào địa ngục, và cả
ba thân xác của nó (xác ông thầy, xác con rắn và thân thể
tái sinh ở địa ngục) đồng thời bốc cháy.
Một
người bị ám ảnh bởi một số vàng chôn dưới đất. Ông
ta cũng tái sinh làm một con rắn, và bị buộc phải cúng vàng
ấy cho Phật.
Những
chuyện như thế cho thấy cái gì xảy ra nếu bạn không xả
bỏ của cải. Nhưng bạn cũng có thể tham luyến thân xác
bạn và tái sinh làm một con sâu chẳng hạn, để sống trong
cái thân xác ấy. Có lần một thi thể phụ nữ nằm trên
bờ biển. Một con sâu trông giống như một con rắn cư trú
trong cái xác, chui qua chui lại trong lỗ mũi, miệng, mắt, tai
vân vân. Chúng sinh ấy được nói là tái sinh của một cô
gái quá đam mê thân xác của mình và luôn luôn soi gương.
Bởi thế, vào lúc chết, hãy xây dựng hai sự tích lũy của
bạn (phước đức và trí tuệ - DG), và làm những cầu nguyện
tha thiết để tăng trưởng tâm bồ đề. Điều này rất cần
thiết cho những người tham luyến thân xác của mình.
Một
tu sĩ thấp kém rất tham luyến một số tiền. Ông chết và
thành một con cóc luôn luôn bám lấy số tiền ấy.
Có
nhiều người không thể chết được khi đã đến thời đáng
chết, cũng chỉ vì lòng bám víu mạnh mẽ. Một vị sư già
ở Amdo rất thích thực phẩm béo bở nên chết rất khó. Gungtang
Jampaelyang dùng phương tiện khéo nói: “Hãy luyện tập tái
sinh lên cõi trời Đâu suất đi. Thức ăn ở đấy còn béo
bở hơn những thứ mà ta có được vào ngày rằm tháng bảy.”
Vị sư liền tắt thở lập tức. Việc này cũng rất có thể
xảy đến cho chúng ta. Bởi thế, cốt nhất chúng ta phải
từ bỏ tham luyến.
Năng
lực từ bỏ là sám hối những tội phạm giới và thọ giới.
Những điều này bắt buộc phải làm. Nếu bạn tu mật tông,
bạn phải phục hồi giới mật tông và giới Bồ tát đã
vi phạm bằng cách làm một lễ tự quán đảnh hoặc thọ
pháp quán đảnh trở lại. Việc này cần làm luôn luôn, nhưng
quan trọng nhất là phải làm khi bạn chết. Nếu không làm,
thì bóng tối của tội lỗi cứ lơ lửng trên đầu bạn:
bạn có thể không đến được các cõi tịnh, v.v… mặc dù
đã đủ điều kiện để đến đấy.
Năng
lực của cầu nguyện không phải là cầu lên tịnh độ hay
gì cả; trái lại, bạn cầu xin sự gia trì trong việc phát
bồ đề tâm của bạn, cầu mong rước lấy những đau khổ
tội các và chướng ngại của mọi hữu tình.
Năng
lực của tập quán là như sau. Sau khi đã quen thuộc với bồ
đề tâm, bạn từ bỏ đời tái sinh này trong khi đang thiền
định về tâm bồ đề do thói quen. Việc ấy là tốt nhất.
Bạn nên theo thế nằm sư tử nghiêng về bên hông phải trong
khi hướng tâm về tái sinh mới. Đây là thế nằm của đức
Đạo sư đầy từ mẫn của chúng ta khi Ngài nhập Niết bàn,
và ngay cả việc làm này cũng đủ có một ảnh hưởng lớn
trong việc giúp bạn đạt đến các cõi tịnh.
Nói
chung, người ta nên thực hành phép chuyển di tâm thức bằng
cách quy y theo Phạm Vi Nhỏ. Tuy nhiên người nào đang thực
hành Phạm Vi Lớn cũng cần phải làm sự chuyển di tương
tự trong khi quán tưởng về bồ đề tâm. Bạn có thể nghĩ
rằng phương pháp sau này không thể làm bạn đạt đến các
cõi tịnh, nhưng sự thật không phải vậy. Khi Chaekawa sắp
chết, ngài bảo thị giả mau làm lễ cúng dường giúp ngài.
“Tôi đã cầu nguyện đi xuống địa ngục Vô gián để giúp
đỡ tất cả chúng sinh ở đấy, nhưng bây giờ tôi lại đang
trông thấy các cõi tịnh!” Geshe Potowa cũng có một câu chuyện
tương tự. Có hai mẹ con bị dòng nước cuốn trôi. Họ nghĩ
đến nhau với lòng thương mến, nên cả hai đều được sinh
vào cõi trời Đâu suất. Một lần có một con thuyền bằng
da dùng làm đò ngang qua sông Jasa ở phía nam bị quá tải sắp
chìm, một sứ giả phát tâm từ nhảy xuống sông (cho thuyền
nhẹ bớt). Nhưng ông lại không chết, và xung quanh ông đầy
những ánh sáng cầu vồng. Bồ đề tâm là một hình thức
thù thắng của lòng tốt; nên nếu bạn khởi động dù chỉ
một hình thức gượng gạo của tâm bồ đề, chắc chắn
bạn cũng sẽ tái sinh vào một hoàn cảnh tốt.
Chúng
ta gán tầm quan trọng nhiều hơn cho pháp chuyển di tâm thức,
sử dụng những thần chú hik và phat hơn là bồ đề phát
tâm bồ đề. Chúng ta cũng quá xem trọng việc nhận được
những triệu chứng của những thành công trong những pháp
tu như vậy. Nếu bạn thực hành việc niệm hik nhiều lần
mà không làm phép quán gì cả, thì những triệu chứng đã
được khả năng chuyền di tâm thức có thể xuất hiện trên
đầu bạn như đỉnh đầu nhô cao, nhưng đây chỉ là tác
động của các luồng khí lực, không có gì đáng quái dị.
Hình thức luyện tâm để hướng dẫn sự tái sinh này không
sử dụng hik hay phat nhưng nó là pháp sâu xa nhất trong tất
cả các pháp luyện tâm. Sau khi thực hành những phép chuyển
di khác, cũng chưa chắc bạn đã đóng được cánh cửa tái
sinh vào đọa xứ; nhưng nếu bạn hướng dẫn sự tái sinh
của bạn qua năm năng lực này, thì chắc chắn bạn sẽ không
tái sinh vào bất cứ một cõi bất hạnh nào.
a-2.5.
Tiêu chuẩn để biết đã luyện tâm
Tất
cả pháp đều do tâm tạo.
Đức
Thế Tôn đã giảng rất nhiều giáo lý riêng biệt, mà tất
cả đều là những pháp đối trị bệnh ngã ái. Đường phân
chia giữa cái gì là pháp cái gì là phi pháp, được nói là
nó có diệt trừ được vọng tưởng hay không. Như vậy dấu
hiệu thành công tốt nhất là mức độ bạn giảm thiểu những
si mê của mình. Nếu bạn chưa làm được điều này, thì
những dấu hiệu thành công khác không có nghĩa gì. Ngay cả
những con chim ăn xác chết cũng có thể bay giữa hư không,
chuột có thể độn thổ, cá có thể lặn trong nước. Bạn
cần phải trắc nghiệm Pháp bằng cách sử dụng sự tu tâm
như cán cân. Sự giảm thiểu ngã ái mới là bằng chứng rõ
rệt của sự có tu.
Hãy
chú trọng nhân chứng chính yếu.
Có
hai nhân chứng: Bản thân bạn và những người khác. Sự tu
hành của bạn có thể còn xa với sự toàn thiện, nhưng bạn
lại có thể làm cho người ta tưởng bạn đã toàn thiện.
Những người khác có thể nhìn bề ngoài của bạn để đánh
giá trị và tôn trọng đạo đức có vẻ hoàn toàn nơi bạn.
Người ta bảo có 4 hạng xoài chín; có thứ chín bên trong
lẫn bên ngoài, có thứ ngoài chín trong sống, v.v… Bạn có
thể giống như thứ xoài bên ngoài chín mà trong còn xanh. Trong
trường hợp ấy, dáng điệu “có nghiên cứu” của bạn
chỉ như một con mèo rình mồi, và bạn sẽ được những
người không biết pháp tưởng là một người tốt. Đừng
hành động như thế. Nhưng cũng không nên chỉ chín bên trong
mà xanh bên ngoài. Nếu bề ngoài bạn tỏ ra có giới luật,
thì người khác sẽ không bất mãn. Khi bạn có kỷ luật nội
tâm, thì dòng tâm thức của bạn sẽ phong phú nhờ tu tập.
Bởi thế cả trong lẫn ngoài phải được thanh tịnh. Có câu
nói: “Bồ tát không từ bỏ tiếng xấu.” Nói cách khác,
mặc dù bạn nên cẩn thận từ bỏ những hành vi có thể
mang tiếng xấu, nhưng điều quan trọng nhất là phải duy trì
tính tự trọng.
Luôn
luôn đào luyện niềm hỷ lạc nội tâm.
Nếu
bạn giàu, thì không nên đau khổ do thành kiến giữ của hoặc
muốn tăng trưởng tài sản. Nếu bạn không giàu, đừng nên
lo ngại về kế sinh nhai. Hãy nghĩ về những sự bất lợi
của giàu sang. Hãy biết hỷ túc, nghĩa là biết cách chuyển
cảnh nghèo cũng như cảnh giàu thành con đường tu tập.
Đừng
để tám mối bận tâm thế tục ló đầu ra khi bạn được
khen hay bị kết án; hãy tìm lý do mỗi khi bạn cảm thấy
sung sướng hay buồn khổ, rồi bạn sẽ không còn đau khổ
trong tâm.
Tiêu
chuẩn để biết bạn đã luyện tâm là như sau:
Bạn
đã làm chủ được tâm.
Nếu
khi tán tâm vẫn làm chủ được.
Người
cỡi ngựa chưa kinh nghiệm thì chỉ vững được khi để tâm
vào việc cỡi ngưạ; nếu tâm đi lang thang anh ta sẽ bị ngã
xuống, Nhưng người kỵ sĩ có kinh nghiệm thì không bao giời
bị té dù trong lúc lơ đễnh. Người luyện tâm chưa thuần
thục cũng giống như người cỡi ngựa thiếu kinh nghiệm,
khi bất thần bị lăng nhục, vị ấy sẽ nổi giận ngay, và
chỉ sau một lúc mới nhớ lại mà nguôi cơn giận. Một người
với tâm khéo luyện sẽ không tức giận khi bị người khác
đánh hay lăng nhục ngay cả khi tâm vị ấy không đề phòng.
Tiêu
chuẩn của tâm khéo luyện
Là
khi bạn đã lật người nó lại.
Nghĩa
là, tiêu chuẩn của tâm khéo thiền định (về cái chết và
vô thường hay thiền định về từ bỏ) là sự kiện rằng
bạn không còn bận tâm về những chuyện tầm thường của
đời này, không khát khao sự sung túc trong sinh tử. Cũng vậy,
bạn đã làm chủ được tâm nếu bạn lật ngược ngã ái
thành lòng vị tha.
Bạn
sẽ có 5 dấu hiệu chứng tỏ sự tự chủ lớn lao.
Khi
luyện tâm thuần thục bạn sẽ có 5 triệu chứng: bạn thành
một nhà khổ hạnh vĩ đại vì có khả năng nhẫn nhục. Tâm
bạn sẽ không hướng về vọng tưởng dù bị đau khổ tai
ương v.v… Bạn sẽ là một nhân vật vĩ đại vì bạn yêu
mến người khác hơn chính mình. Bạn sẽ là một người thực
hành giới vĩ đại vì trong mọi hoạt động, không bao giờ
bạn rời xa việc thực hành 10 loại pháp hành. Bạn sẽ là
một người bảo trì tạng luật vì bạn luôn luôn an tịnh,
tự chủ, và hoàn toàn không bị ô nhiễm bởi ác hành nhỏ
nhặt nhất. Bạn sẽ là một hành giả vĩ đại vì thực hành
con đường Đại thừa thực thụ.
a-2.6.
Mười tám điều kiện của pháp luyện tâm
(1)
Luôn luôn theo sát ba điểm chính
Điểm
thứ nhất là không bao giờ vi việt những giới điều của
sự luyện tâm. Đừng lấy sự luyện tâm làm cớ để mà
bỏ qua những giới luật căn bản như là những giới trong
tạng luật.
Điểm
thứ hai đừng để cho sự luyện tâm của bạn trở thành
chỉ là sự bắt chước. Đừng dùng sự luyện tâm của bạn
làm cớ để không ngần ngại làm đảo lộn mọi người và
các hữu tình như chặt phá cỏ cây v.v… vì bạn giả vờ
không còn ngã ái.
Điểm
thứ ba là đừng để sự luyện tâm của bạn trở nên bất
túc, nghĩa là chỉ kiên nhẫn đối với bạn mà không kiên
nhẫn đối với kể thù hoặc chỉ khoan hồng đối với mọi
người mà thiếu khoan hồng đối với những chúng sinh khác,
v.v…
Hãy
thay đổi những ước vọng của bạn
Nhưng
vẫn giữ phong thái như cũ.
Đừng
để nguyên những tư tưởng ngoan cố mà bạn có trong dòng
tâm thức: hãy dùng một vài biện pháp để cải thiện chúng.
Những mẫu người tốt nhất cải thiện thấy rõ từng ngày;
người trung bình chỉ cải thiện sau hàng tháng, và tệ nhất
thì cả năm mới thay đổi. Bạn phải thấy bạn có thể thuộc
vào hạng nào trong đó. Nếu cả ba hạng đều vượt quá sức
bạn thì dù bạn đã xuất gia, thọ giới và đã già, bạn
vẫn còn giữ nguyên những tư tưởng bạn có trước khi xuất
gia. Đừng giống như những tảng đá ở sau nhà bạn không
bao giờ thay đổi từ năm này qua năm khác. Hãy thay đổi những
khát vọng của bạn! Những ước vọng ấy phải được thay
đổi thành ước vọng có tâm bồ đề, có sự từ bỏ, có
thực chứng về vô thường, v.v… Nhưng đừng thay đổi tư
thái bề ngoài của bạn. Có những người không có một đức
tính nào có giá trị được phát triển bên trong, nhưng bên
ngoài lại giả vờ có một tia mắt thánh thiện nhìn xa xăm
v.v… Bạn chỉ nên phát triển những tuệ quán và cải thiện
nội tâm mà đừng bao giờ hiện tướng ra bên ngoài. Cũng
đừng để cho ai biết bạn đã làm những tiến bộ phi thường.
Bạn nên làm như Shantideva hay bậc thánh Chu Lợi Bàn Đà Già
đã từ bỏ vọng tưởng một cách âm thầm, bí mật đạt
thực chứng. Ngay cả bậc hiền trí Chandrakirti cũng chỉ ra
vẻ như một học giả không có gì đặc biệt, không ai chú
ý gì đến ông. Nhưng bên trong ngài đã đạt được thần
thông, ngài có thể nặn ra sữa từ hình vẽ một con bò cái.
Những con người như vậy không bao giờ tự làm cho mình nổi
bật. Và trong quá khứ những vị tu sĩ trong truyền thống
Kadampas cũng không tìm cách nổi tiếng như tu thiền giữa công
cọng, bày tỏ những dấu hiệu của sự đắc đạo, v.v…
Hãy theo gương họ. Bạn sẽ gặp nhiều chướng ngại khi tự
quảng cáo về mình: điều ấy cũng như có một viên ngọc
như ý mà đem đi khoe. Bạn không khác gì người thế tục
và bị rơi lại vào những chuyện thế gian. Mỗi khi chúng
ta tu được dù chỉ một pháp nào, chúng ta cũng mong cho mọi
người biết như thể là giương một lá cờ trên đỉnh núi.
Đừng làm như vậy. Trong truyền thống này của Atìsha và
phái Kamdampas, bạn phải che giấu những đức tính như ngọn
đèn giấu trong bình đèn.
Đừng
nói đến những chân tay tàn tạ của người khác.
Nghĩa
là đừng nói về những khuyết điểm của mọi người.
Đừng
bị ám ảnh bởi người khác.
Nghĩa
là bạn phải phân tích lỗi lầm của chính mình nhưng không
nên nhìn lỗi người khác. Nếu không bạn chỉ tìm lỗi nơi
những người tu khác, những người bạn trong tu viện hay những
vị tu sĩ trong nhà trọ của bạn v.v…, bạn sẽ tự nhiên
tìm lỗi ngay cả nơi chư Phật. Đừng gán lỗi cho người
khác, vì như thế bạn chỉ khinh người và không biết gì
đến họ.
Hãy
thanh lọc trước tiên vọng tưởng lớn nhất.
Hãy
thanh lọc bất cứ vọng tưởng nào mà bạn thấy là lớn
nhất trong dòng tâm thức của bạn. Nếu tham nơi bạn là lớn
nhất, thì hãy thanh lọc nó bằng cách áp dụng pháp đối
trị như quán thân bất tịnh.
Từ
bỏ tất cả hy vọng về quả báo.
Khi
bạn làm một điều gì thiện, thì đừng mong chờ sự đền
bù hay quả dị thục tốt đẹp.
Hãy
từ bỏ thực phẩm có chất độc.
Đừng
nên đào luyện bất cứ đức hạnh nào giống như thức ăn
có lẫn chất độc ngã ái.
Ta
hãy nói phần còn lại mà không trích dẫn thêm bản văn gốc.
Nếu bạn phát sinh một vọng tưởng, thì hãy đối trị ngay
không để cho nó kéo dài - hãy đối xử không nương tay với
nó.
Bản
văn nói về bốn pháp mà một hành giả cần phải thực hiện,
ví dụ đừng lấy oán trả oán. Bạn không phải là một hành
giả đức hạnh nếu bạn không thực hành bốn pháp, (CT.-
tức là bốn trọng giới của tỳ kheo. Chúng không được
kể ra ở đây) vì bạn đã hứa trước tu viện trưởng và
thầy truyền giới là bạn sẽ giữ bốn giới ấy. Nếu ai
nói với bạn “Con chó già” thì đừng trả đũa bằng “người
là đồ ăn trộm.” Nếu ai đánh bạn một cái, đừng đánh
trả lại gấp hai.
Đừng
chờ dịp trả thù một người nào, như phục kích trên đường
hẽm để hại họ. Những người thế tục ngu si tưởng rằng
tốt nhất là nên mĩm cười trong khi âm thầm nuôi dưỡng
sự thù hận. Điều này chỉ chứng tỏ rằng Pháp và những
hành vi thế tục là hai chuyện trái ngược.
Nếu
bạn biết một người nào có tội lỗi, đừng nói ra trước
nhiều người khác hay đã kích những chỗ yếu của họ. Đừng
nêu lên những lỗi lầm của họ. Cũng thế không nên tụng
những thần chú phẫn nộ để hại các hữu tình v.v…
Khi
bạn làm gì quấy thì đừng trách cứ người khác một cách
lừa dối. Cũng đừng nên tự cho mình tài khéo và chỉ trích
người khác khi công việc không suông sẻ, đừng đặt gánh
nặng của một con trâu dzo lên một con trâu thường.
Tâm
được huấn luyện cốt để hàng phục ngã ái. Nhưng nếu
những sự thiền định của bạn chỉ làm cho bạn tăng thêm
ngã ái, và bạn không làm hại hữu tình chỉ vì muốn được
danh tiếng, quà tặng v.v… thì như vậy là “bùa chú đã
mất linh.” Đừng nên làm như vậy.
Đừng
hấp tấp chiếm lấy một cái gì thuộc của công, hoặc cố
được phần nhiều nhất bằng cách đến trước - nghĩa là
đừng chạy đua.
Đừng
để cho thiên thần trở thành ác quỷ, nghĩa là đừng để
sự luyện tâm của bạn không còn là một pháp đối trị
ngã ái, mà là một cái gì làm vững chắc thêm ngã ái.
Đừng
nghĩ “Nếu kẻ thù của tôi chết hay phá sản thì tôi mới
sung sướng!” Điều này sẽ là tìm hạnh phúc trong bất hạnh.
Trên
đây là 18 lời nguyện.
a-2.7.
Hai mươi lời khuyên
Tất
cả pháp tu đều từ một pháp.
Nghĩa
là hành giả không cần thực hành thật nhiều đức hạnh,
vì tất cả đức hạnh bao gồm trong một ý “đổi địa
vị mình với người.” Khi ăn hãy nghĩ: “Tôi đã hiến thân
tôi cho hữu tình. Bởi vậy để làm việc cho lợi lạc hữu
tình, tôi sẽ nuôi dưỡng thân này.” Với tất cả lề lối
hàng ngày của bạn, cũng đều làm như vậy. Hãy làm mọi
sự bằng cách ấy, như khi bạn tụng thần chú, trừ tà v.v…
Nếu
thuốc tỏ ra không hiệu nghiệm, thì y sĩ có thể vừa châm
chích con bệnh vừa chữa bằng nước nóng. Sự đổi địa
vị mình với người cũng vậy có hàng trăm lợi ích, vì nó
là cách đối trị tất cả vọng tưởng và thói xấu.
Hãy
khởi động lực trước khi làm mọi việc lành, và cuối cùng
hãy hồi hướng công đức. Điều quan trọng nhất là mỗi
buổi sáng nên làm quyết định bạn sẽ làm gì và sẽ không
làm gì trong ngày hôm ấy.
Bạn
không được bỏ việc luyện tâm dù gặp hạnh phúc hay đau
buồn xảy đến. Có người bỏ Pháp khi được sung sướng
vì lên chức hay có tài sản. Có người bỏ Pháp khi bị kẻ
thù làm cho đau khổ. Nhưng bạn không được bảo sự luyện
tâm trong bất cứ biến cố nào.
Hãy
duy trì những lời nguyện trong khi luyện tâm và những lời
nguyện trong các pháp khác nói chung, như thể là bạn bảo
trì sinh mạng của mình.
Có
ba pháp tu khổ hạnh mà bạn nên biết để tu tập. Đó là:
nhận ra vọng tưởng, áp dụng những biện pháp đối trị,
và chấm dứt tính tương tục của vọng tưởng.
Bạn
nên cầu nguyện cho mình có đầy đủ ba nhân chính để tu
tập pháp: gặp được minh sư; tâm thích hợp cho việc tu tập;
và có đủ điều kiện cần thiết như y phục và thực phẩm.
Hãy
làm ba điều không thoái hóa: kính thầy; vui mừng trong việc
tu tập; và kiên trì nhớ kỹ những lời khuyên này.
Đừng
để cho thân lời ý của bạn nhàn rỗi, hãy làm cho chúng
bận rộn bằng thiện hành. Thiện hành của thân không chỉ
là lạy dài hay đi kinh hành v.v… mà ngay khi ngồi bạn cũng
cần chuyển tư thế ngồi thành một thiện hành bằng cách
làm thẳng cột sống. Đừng chia những đối tượng của tâm
bạn thành bạn và thù, chúng sinh và Phật. Bạn phải làm
chủ sự tập luyện này ngay trong tâm để của bạn, để
bao quát tất cả pháp, như Geshe Chaekawa đã làm. Muốn hoàn
toàn làm chủ pháp này, hãy nhấn mạnh thiền định về kẻ
thù mà bạn thấy khó kiên nhẫn với họ nhất, v.v… hãy
dành một chỗ đặc biệt cho những đối tượng có thể chứng
tỏ nguy hiểm cho bạn về phương diện nghiệp, như là thầy,
cha mẹ, người ở cùng phòng.
Hãy
tiếp tục thiền quán, dù bạn có hội đủ những điều kiện
cần thiết như cơm áo hay không. Đừng để việc sau đây
áp dụng cho bạn:
Trông
như một hành giả
Khi
cơm đầy bụng và trời nắng
Nhưng
trông như người thế tục
Khi
gặp điều rắc rối xảy ra.
Từ
hôm nay, hãy thiền quán về tâm bồ đề, một điều rất
khó triển khai nhưng lại vô cùng lợi ích. Bạn phải làm
việc này vì lợi lạc cho bản thân người khác, chứ không
phải cho những việc trên thế gian này. Bạn nên hành động
cốt yếu hướng về đời sau hơn là đời này; hướng về
pháp hơn và về những chuyện thế tục; và hướng về thiền
định luyện tâm hơn là thực hành những pháp khác.
Bản
văn gốc tiếp tục
“Đừng
hiểu lầm…” Tôi sẽ bàn phần còn lại mà không trích dẫn.
Có 6 cách hiểu lầm:
(1)
Nhẫn nhục sai:
Nghĩa
là chịu đựng được những vấn đề gặp phải trong khi
làm chuyện thế tục nhưng lại không có can đảm đối phó
với những khó khăn gặp phải trong khi thực hành pháp.
(2)
Hiểu sai mùi vị:
Bạn
phải nếm vị Phật pháp nhờ học hỏi, quán tưởng, thiền
định, v.v… Khi bạn không có quan niệm về pháp mà lại có
thể hiểu những chuyện thế gian như kinh doanh, quân sự v.v…
và có thể phân tích mọi việc, thì thế là bạn đã nếm
vị thế gian. Đây là nếm vị sai lầm.
(3)
Hiểu sai tâm đại bi:
Nghĩa
là không thiền định về tâm đại bi đối với những người
tội lỗi, mà chỉ đại bi đối với những người khi gặp
khó khăn vì chánh pháp.
(4)
Ước nguyện sai lầm:
Nghĩa
là không mong ước thực hành pháp thanh tịnh mà mong ước
có hạnh phúc, thế lực và tài sản trên thế gian.
(5)
Khuyến cáo sai lầm:
Nghĩa
là khuyến khích những người tin tưởng bạn đừng thực
hành pháp làm lợi ích cho họ trong những đời sau, mà trái
lại đi khuyến khích họ học doanh thương, pháp luật v.v…
những điều rất hại cho đời sau của họ.
(6)
Hỷ lạc sai lầm.
Nghĩa
là không vui mừng đức hạnh của chính mình hay của mọi
người, hoặc về hạnh phúc của người khác. Sự vui mừng
ấy gọi là bất thiện. Lại nữa, sự hỷ lạc hiểu sai là
vui mừng khi kẻ thù của bạn gặp đau khổ. Một ví dụ:
có lần một tu sĩ vui mừng khi đối thủ của ông phạm giới
trọng. Khi nghe chuyện này, Geshe Potowa nói: “Con người vui
mừng phạm tội lớn hơn là con người phạm giới.”
Khi
chúng ta làm những việc như học hỏi với một bậc thầy,
chúng ta có thể phát sinh một sự từ bỏ nông cạn, và trong
vài ngày có thể thực hành đức hạnh một cách cuồng nhiệt.
Sau một thời gian chúng ta đâm chán và phế bỏ việc hành
thiện. Vậy không nên gián đoạn trong việc tu tập của bạn,
làm như thế nó có từng cơn. Geshe Karag Gomchung nói:
Hãy
nhìn xa phía trước,
Hãy
thấy xa
Hãy
nhịp nhàng.
Nói
cách khác khi bạn thực hành đức hạnh, bạn nên luôn luôn
giữ mức độ vừa phải, không quá nồng nhiệt cũng không
quá buông lỏng. Sau khi làm xong pháp thiền vào buổi sáng thức
dậy, bạn nên thực hành sự tu tập đúng mức. Về sau tăng
lên, thì bạn sẽ bao quát một phạm vi rộng lớn. Giống như
câu chuyện về con rận và con bọ chét (CT.- Câu chuyện này
giống như ngụ ngôn của Aesop về con rùa và con thỏ).
Bản
văn gốc nói: “Đừng tu tập có từng cơn.”
Một
cách giải thích là: hãy để ý vào việc luyện tâm.
Khi
cần lấy máu, y sĩ đồng thời cắt xuyên qua mạch máu và
da. Cũng vậy việc luyện tâm của bạn phải làm mòn dòng
tâm thức của bạn như một tảng đá làm mòn một cục xương.
Hãy
dùng pháp thiền phân tích để luyện tâm, bằng khái niệm
và bằng phân tích.
Hãy
áp dụng cách đối trị để trừ vọng tưởng nào bạn cho
là lớn nhất.
Sự
làm việc vì lợi lạc hữu tình chỉ là chuyện đương nhiên,
một điều bạn đã phát nguyện, bởi vậy đừng khoe khoang
về điều ấy.
Giả
sử một người nào xem thường bạn trước mặt những người
khác, bạn không nên nổi giận v.v… nghĩa là đừng tỏ vẻ
khinh bỉ.
Đừng
thay đổi như thời tiết mùa xuân, đổi từ vui đến buồn
vì một lý do tầm thường nhất.
Đừng
giúp đỡ người khác với hy vọng nhận lấy tiếng khen v.v…
Điều
này kết thúc những lời khuyên.
Nếu
theo đúng những lời khuyên này, bạn có thể chuyển những
nghịch cảnh thành con đường giác ngộ, mặc dù năm thứ
suy đồi - suy giảm về thọ mạng, vân vân - là chuyện thông
thường.
Hệ
phái giảng dạy này được truyền từ Suvarnadvipi. Chỉ giáo
này đã làm cho Chaekawa sung sướng, ông bảo rằng bây giờ
ông có thể chết mà không ân hận.
Trừ
phần nói về tri kiến, thì giáo lý đến đây là hoàn tất.
Trong nhiều luận giải về bản văn này, tri kiến được đề
cập theo sự truyền giáo đầu tiên, nên không được rõ ràng.
Tác phẩm Sự Luyện Tâm Như Tia Mặt Trời khi bàn về tri kiến
thì dựa theo hệ thống trung quán. Suvarnadvipi lúc đầu theo
cách giảng Duy thức về tri kiến, nhưng về sau chuyển qua
hệ thống trung quán.
Khi
cho một buổi nói chuyện thân mật về Lam-rim thì theo truyền
thống, người ta không lập lại ba hay bốn lần tài liệu
sau phần này nói về phát bồ đề tâm.