PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
HAI MƯƠI MỐT
Kyabje
Pabongka Rinpoche cho một chuyện ngắn để dẫn nhập. Ngài trích
dẫn câu sau đây từ tác phẩm của Gyaltsab Rinpoche Jampa Goenpo:
Trước
hết nhờ sự học
Mà
tư tưởng bạn trở nên thiết thực
Do
sự thiết thực ấy bạn sẽ đạt đến
Căn
bản trí đi sâu vào những việc thuần tịnh.
Rồi
ngài kể ra những tiêu đề đã bàn, và ôn lại vắn tắt
bốn mục bố thí v.v… trong tiêu đề “Sau khi phát tâm bồ
đề, cách luyện tập các hành vi của người con Phật.”
a-2.
đặc biệt, cách luyện hai pháp ba la mật sau cùng.
Có
hai tiêu đề phụ: (1) làm thế nào để tập tinh yếu của
định - tịnh chỉ; (2) làm thế nào để tập tinh yếu của
tuệ - tuệ quán đặc biệt.
a-2.1.
Làm thế nòa để tập tinh yếu của định - tịnh chỉ
Có
sáu mục nhỏ: (1) Đào luyện những điều kiện đưa đến
tịnh chỉ: (2) cách thực thụ để đạt đến tịnh chỉ;
(3) từ căn bản này, làm sao để đạt chín định chứng;
(4) Cách đạt định nhờ 6 năng lực; (5) Thế nào là có 4
loại tiến trình tâm; (6) Cách phát triển tịnh chỉ chân thực.
Trong
phần Phạm Vi Trung Bình, Kyabje Pabongka đã không bàn đến tăng
thượng định học và tuệ học mà ngài sẽ bàn trong chương
này, tức hai pháp ba la mật cuối.
Định
là một cái gì chúng ta có chung với người không phải Phật
tử. Những hình thức thấp kém của định là những pháp
tu các thiền thuộc sắc và vô sắc. Chúng ta có thể phát
triển những pháp tu này thành ra nhân giải thoát bằng cách
thực hành chúng kèm với những tư tưởng từ bỏ. Chúng ta
cũng có thể làm cho chúng trở thành Phật pháp bằng cách
tu tập kèm theo sự quy y. Nếu không có tịnh chỉ, thì ta sẽ
không phát triển được bất cứ một gì thực chứng lớn
lao từ các loại thiền quán về tánh không trong kinh điển
hay những loại thực chứng trong mật tông về các giai đoạn
phất sinh và thành tựu v.v… Nếu bạn không có tâm tịnh
chỉ thì không thể nào có được một đức tính gì bạn
có thể phát triển được qua các định nhứt tâm thuộc kinh
điển hay mật điển. Tâm tịnh chỉ giống như một bình chứa
để bạn rót nước vào. Bởi thế thực vô cùng quan trọng
để phát triển sự tịnh chỉ vững chắc trong những giai
đoạn đầu tiên. Bạn phải phát triển tuệ đi sâu vào tánh
không để chặt đức gốc rễ sinh tử và đạt giải thoát;
nhưng muốn làm điều này thì trước hết bạn phải đạt
đến tịnh chỉ rất vững. Muốn thấy được vạn pháp như
thực chất của chúng, thấy một cách rõ ràng, thì trước
hết bạn phải có sự bền vững và kiên cố. Giả sử bạn
dang nhìn một bức họa trên tường. Có hai điều kiện cần
thiết để xua tan bóng tối che mờ các bức họa: một ngọn
đèn sáng, và không có những luồng gió làm cho ngọn đèn
(dầu) ấy lung lay.
Cũng
thế nếu bạn đã đạt đến tâm tịnh chỉ thì thực dễ
dàng hơn nhiều để phát triển thực chứng qua pháp thiền
về thân người khó được hoặc thiền quán về vô thường.
Tác phẩm Ngọn Đèn Soi Đường của Atìsha nói về sự phát
triển tịnh chỉ để đạt được những thần thông về thiên
nhãn. Tuy nhiên, điều căn bản để hiểu tất cả điều này
đã được Shantideva nói như sau:
Hãy
biết rằng nhờ tuệ quán đặc biệt
Sau
khi đạt tịnh chỉ lớn,
Bạn
sẽ phá hủy vọng tưởng
Bởi
vậy ngay từ đầu
Hãy
nỗ lực đạt tâm tịnh chỉ.
Như
vậy bạn phải đật tâm tịnh chỉ ngay từ đầu trở đi.
Bạn không nhất thiết phải phát triển nó sau khi hoàn tất
tâm bồ đề, vì bạn có thể có được nó trước hoặc sau
khi thành tựu tâm bồ đề. Nếu thành tựu được tâm tịnh
chỉ, bạn sẽ tiến bộ nhiều trong các pháp quán về bất
cứ đề mục nào thuộc cả ba thừa.
Trước
hết bạn phải đào luyện những điều kiện tiên quyết cho
tâm tịnh chỉ, nếu không bạn sẽ không đạt được. Ngọn
Đèn Soi Đường nói:
“Khi
chân tay của tịnh chỉ đã tàn tạ, bạn sẽ không thành tựu
được định nhất tâm, dù có thiền quán hàng ngàn năm đi
nữa.”
Điều
này đưa đến:
a-2.1.1.
Đào luyện những điều kiện tiên quyết để đạt tâm tịnh
chỉ
Có
6 điều kiện: (1) Ở chỗ thích hợp, (2) ít muốn; (3) Biết
đủ; (4) hoàn toàn từ bỏ những yêu cầu đủ thứ của xã
hội; (5) có giới thanh tịnh; (6) hoàn toàn từ bỏ những tư
tưởng thuộc về tham dục.
(i)
Ở chỗ thích hợp
Nơi
chốn mà bạn tu tập có 5 yếu tố. Tác phẩm Trang Nghiêm Kinh
mô tả loại trú xứ cần thiết như sau:
Có
hiền trí tu tập
Được
lương thực thù thắng;
Một
chỗ ở tốt lành;
Một
chỗ không ô nhiễm;
Thiện
trí thức gần kề;
Và
có những điều kiện
Vừa
ý một hành giả.
Nếu
bạn thấy không dễ tự hài lòng với mình khi ở một nơi
hợp pháp, thì bạn cứ mãi xuống phố. Nhưng bạn cần phải
được cung cấp đầy đủ đúng pháp, nếu không, bạn có
thể kiếm được những phẩm vật do tà mạng, hoặc những
vật tội lỗi. Những vị thầy chúng ta nói rằng những loại
lương thực ấy rất nguy hiểm. Bởi thế, bạn cần lương
thực dễ kiếm, không bị ô nhiễm do tội lỗi, gọi là “lương
thực thù thắng.”
Trú
xứ mà bạn ở phải là một nơi thiêng liêng ở dấy những
bậc thánh trong quá khứ đã cư trú. Khi những người sơ cơ
cư trú một nơi như vậy, thì trú xứ tự nó đã là một
ơn ích đối với họ. Nếu bạn không thể tìm một nơi như
vậy, thì bất cứ chỗ nào bạn ở phải là một nơi không
có người phạm giới hoặc người phá tăng đã cư trú.
Trú
xứ còn phải là một nơi lành tốt, nghĩa là không có thú
dữ, trộm cướp, hay những chúng sinh xấu ác. Nơi ấy phải
có những người sẵn sàng làm thí chủ. Nếu không vậy, bạn
có thể tưởng mình sẽ sống yên ổn, nhưng về sau bạn sẽ
đi đến sầu muộn.
{Kyabje
Pabongka Rinpoche chứng minh điều này bằng một mẫu chuyện
về một tu sĩ trong quá khứ.}
Nơi
mà bạn sắp ở có thể là nhà của những phi nhân, vậy điều
cốt yếu là phải dùng vài biện pháp ôn hòa để hàng phục
chứ không phải để xua đuôi chúng.
“Một
nơi không ô nhiễm” nghĩa là một trú xứ ở đấy bạn sẽ
không bị những cơn nóng lạnh, có nước uống tốt lành.
Bằng
hữu cũng thế, phải là những người bạn giúp cho ta về
tri kiến và hành động. Hai hạng người này chỉ là một.
Điều này dĩ nhiên không có nghĩa rằng chỉ nên có hai người
bạn, hoặc phải sống một mình. Nó chỉ có nghĩa rằng những
người ấy và mình phải giống nhau về tư tưởng. Những
người sơ cơ sống một mình không bầu bạn rất nguy hiểm.
Cần phải có ít nhất ba người bạn, và nếu đấy là bạn
đạo, thì càng nên có nhiều hơn. Tuy nhiên, dù có bao nhiêu
bạn đi nữa, họ phải là những người mà ta kính trọng,
không xem ngang hàng, vì ta có thể đâm ra bất cẩn một cách
tai hại.
Người
ta cũng nói “Âm thanh quấy nhiễu định.” Nghĩa là trú xứ
phải xa tiếng người ban ngày, hay tiếng cho sủa, nước chảy
về đêm.
Bậc
tôn sư tôi nói, bạn phải là người có thể tự lập: nhờ
học hỏi, thiền định bản đã bỏ được những điều không
chính xác trong ý nghĩa những gì bạn phải quán. Một người
như vậy đã được trang bị để đạt được sự toại ý.
Nhưng điều này cũng có nghĩa là bạn đã làm tất cả những
chuẩn bị cần thiết - như đã có quán đảnh, giáo lý, kinh
sách, v.v… Việc chính yếu bây giờ là phải thiện xảo trong
sự tu tập. Ngày nay người ta dường như buộc lòng phải
cần đến bói toán, vân vân., vì không biết phải làm gì
để tự trang bị cho mình trong khi khởi tu thực sự. Không
nên hành động kiểu ấy, mà phải làm những chuẩn bị chính
đáng cho sự thực hành pháp.
(ii)
Ít muốn
Ít
muốn có nghĩa là không ham có nhiều y phục tốt, thực phẩm
ngon, v.v…
(iii)
Biết đủ
Là
hài lòng với thực phẩm và y phục tồi tàn nhất. Bạn sẽ
ham khoái lạc giác quan nếu không có thiểu dục tri túc. Bạn
sẽ không triển khai được định nhất tâm vì bị chia trí
bởi nhu cầu bảo vệ tài sản, v.v…
(iv)
Giới thanh tịnh
Giới
tướng là căn bản của tất cả thiện đức. Sự dẹp trừ
những tán loạn nội tâm vi tế tùy thuộc vào sự từ bỏ
nhưng tán loạn thô ở ngoài. Giới chế ngự và làm an tịnh
những ác hành về thân và lời, nhờ nó bạn ra khỏi sự
khỏi sự trói buộc của những thô chấp và danh tướng.
(v)
Từ bỏ những yêu cầu của xã hội.
Có
nghĩa là hạn chế thì giờ bạn dùng vào cũng hoạt động
và chuyện văn vô ích. Bạn phải rất ít dính dấp đến những
hoạt động vô nghĩa thì mới khỏi bị chia trí vì chúng.
Sự tu tập định là điều quan trọng hơn nhiều, nên nếu
ít muốn, biết đủ thì tự nhiên bạn sẽ ít liên hệ đến
những chuyện ấy. Muốn được nhất tâm trong sự tu tập,
bạn phải từ bỏ xem thiên văn, lý số, học y dược, và
đi vào làng xóm để làm lễ cho gia chủ, vì đấy là những
yêu cầu của xã hội.
Điều
này không những áp dụng cho người sơ học như chúng ta mà
thôi. Nó có thể tai hại ngay cả đối vói những người thánh
thiện. Butoen Rinpoche và Lama Dampa được ân sủng của vua Pehar,
vua thường tặng họ bút sắt để viết. Họ dùng hàng ngàn
cây bút như thế, và tương truyền trong đời ấy họ đã
không đắc quả thù thắng vì mãi mê xem thiên văn. Nhưng Togme
Sangpo, một bậc Pháp vương tử chân chính, thì vẫn kiên cố
thiền quán về tâm từ và tâm bi, nên mưu kế của Pehar không
thành công đối với ngài.
Đức
Tsongkapa viết 18 pho sách nhưng không pho nào nói về y dược;
không phải vì ngài không biết, mà vì ngài thấy nó có thể
phương hại đến việc tu hành. Trong một năm, ngài nghiên
cứu cơ cấu của những huyệt đạo trong cơ thể, làm mòn
những ngón tay ngài và hai ba tấm đá bảng. Nhưng ngay cả
việc này cũng là nhượng bộ những yêu cầu của xã hội;
nó không giúp gì cho sự tu hành của ngài.
Nếu
bạn nỗ lực vào những việc như thế, thì chẳng những bạn
thêm một bản năng vô ích, mà còn không thể tập luyện những
bản năng đưa đến hậu quả tái sinh lên thượng giới hay
đạt được sự thù thắng quyết định. Bạn sẽ không thành
tựu được điều gì có ý nghĩa sâu xa, và giống như người
tham luyến cây mía mà không rút tỉa được chất ngọt nào.
những học thuật thấp kém ấy không lợi ích, thì bản tâm
điêu luyện nó làm gì?
Có
người nói: Bây giờ tuổi già của bạn chưa rõ rệt lắm,
nhưng tình trạng của bạn thật đáng thương khi bạn chạy
theo dục lạc giác quan. Đấy cũng là lý do kẻ ăn xin Sùrata
khi tìm được viên ngọc ước đã đem cho vua Ba tư nặc mà
nói: “Này đại vương, trong toàn quốc này, vua là người
ít hỉ túc nhất. Vậy tốt nhất là tôi nên cho ngài viên
ngọc này.”
Pabongka
Rinpoche còn kể chuyện về Geshe Baen Gung- gyal sửa lại tấm
thảm.
(vi)
Hoàn toàn từ bỏ những tư tưởng tham dục
Chuyển
những tư tưởng này thành ra nghĩ về những lỗi lầm của
tham dục và tưởng vô thường.
Khi
bạn đã hoàn thành tất cả những điều kiện trên, bạn
chỉ cần sáu tháng để đạt tịnh chỉ.
a-2.1.2.
Cách thực thụ để đạt tâm tịnh chỉ
Phân
biệt giữa cực đoan và Trung đạo của Di Lặc nói
Từ
bỏ năm hố sâu
Đào
luyện tám điều chỉnh
Sẽ
làm bạn đạt được.
Năm
hố là: lười biếng,
Quên
lời chỉ giáo;
Trạo
cử và bôn trầm;
Không
sửa đổi, và chỉnh lại.
Nói
cách khác, bạn phải đạo luyện tám điều đối lại năm
hố sâu. Không lời chỉ giáo nào về cách đạt đến tịnh
chỉ tốt hơn là chỉ giáo tìm thấy trong cổ thư - những
tác phẩm của Di Lặc, những khảo cứu của Vô Trước về
những địa vị khác nhau, những bản văn về trung đạo và
những tầng thiền định v.v… Ta phải tìm những chỉ giáo
như vậy để quán niệm. Thay vì làm thế ta có thể xem trong
một chỉ giáo khẩu truyền của một vị thầy không phù hợp
với Pháp trình bày trong cổ thư, hoặc ta có thể xem trọng
vài bùa chú linh tinh, v.v… Đấy là tìm một cái gì tại một
nơi ta không thể gặp nó. Nhưng nếu ta theo dõi chương nói
về tịnh chỉ của Tsongkapa trong quyển Những Giai Đoạn Lớn
Của Đạo Lộ thì sẽ không bị nguy cơ này.
Vậy
nếu không tham chiếu luận thư cổ, bạn có thể tin tưởng
lời nói của một thầy nào đó, xem nó là “chỉ giáo.”
Nếu thế thì dù có bỏ cả đời còn lại để tu trong hang
núi, việc thiền định của bạn cũng hỏng vì sự hôn trầm
vi tế. Quá nhiều người đã sai về bí quyết đại đến
tâm tịnh chỉ bằng cách chỉ hướng chú ý vào tâm mà thôi.
Họ đã hụt mất cơ hội lớn. Đặt nỗ lực vào chỉ giáo
sai thì chỉ làm cho đời người của mình trống rỗng. Nhiều
học giả nổi tiếng của Tây Tạng đã lầm về tri kiến,
làm sao để thiền quán về nó, vân vân. Những người biết
phân biệt nên nhìn kỹ những truyền thống của những học
giả ấy rồi sẽ hiểu được sự thật là thế. Hãy chứng
kiến sự kiện rằng, cách Tsongkapa đề cập tri kiến, thiền
quán, và những phận sự bao hàm trong đó, đều phù hợp với
những tác phẩm của những hiền trí và học giả Ấn Độ.
Hơn nữa, chính Đức Văn Thù đã giải tỏa những hoài nghi
của Tsongkapa. Bởi thế chúng ta nên y cứ vào những chỉ giáo
của ngài vì những chỉ giáo ấy được thiết lập có thẩm
quyền của kinh điển hoàn toàn vô cấu. Nhưng nếu bạn dán
hy vọng vào một chỉ giáo không phù hợp với kinh điển,
một chỉ giáo đề cập những điều không có trong kinh, thì
bạn có nguy cơ chứng được những điều chưa ai nghe tới.
Điều này cũng áp dụng cho những giai đoạn phát sinh và thành
tựu định chứng tầm thường nhất nếu không có chỉ giáo
này, đề cập cách đạt đến tâm tịnh chỉ. Nguồn gốc
chỉ giáo này là những luận giải bàn về những phương pháp
ra
khỏi năm hố sâu bằng cách đào luyện tám sự điều chỉnh.
(i)
Cạm bẫy thứ nhắt: Lười biếng
Có
bốn cách chữa trị: (1) lòng tin do thấy những đức của
tịnh chỉ; (2) sự khát khao có được tịnh chỉ; (3) kiên
trì tinh tấn trong việc tầm cầu tịnh chỉ; (4) tìm quả báo
của tịnh chỉ - tâm nhu nhuyến.
Lại
phải để ý: tinh chỉ có thể áp dụng cho bất cứ đối
tượng thiền định nào.
Đức
tin do thấy những đức tính của tịnh chỉ là như sau. Hố
sâu lười biếng là không có một ước muốn sâu xa nào đối
với sự nhất tâm, không mong muốn có khả năng đi vào những
thiền định ấy. Cứu cánh chân thực của sự tập luyện
này là tâm nhu nhuyến (mềm mại) trong thiền định. Mặc dù
hiện tại bạn chưa có được, song bạn phải nghĩ đến những
đức của tịnh chỉ, rồi bạn sẽ có niềm tin vào đấy
Hành Bồ Tát Hạnh nói:
Bạn
có thể nỗ lực lâu dài
Tụng
đọc và đủ thứ khổ hạnh,
Với
một tâm bị chia trí vào những việc khác,
Những
điều ấy thực hoàn toàn vô nghĩa.
Nói
cách khác, hãy nghĩ về tai nạn mà một tâm tán loạn có thể
gây ra. Nếu bạn phát triển được tịnh chỉ, bạn có thể
tập trung ý vào một đối tượng một cách kiên cố mỗi
khi bạn làm một việc có công đức. Nhờ sự kiên cố ấy
mà bạn sẽ đạt được những thần thông thuộc thế gian
vân vân. Giấc ngủ của bạn sẽ thành một sự nhập định,
vọng tưởng nơi bạn sẽ rất ít. Quan trọng hơn, bạn sẽ
dễ dàng triển khai thực chứng vào đạo lộ, từ sự nhờ
thầy cho đến cuối cùng là các giai đoạn phát sinh và thành
tựu, v.v…
Hãy
nghĩ về những điều tốt lành ấy. Tất cả đều là hậu
quả của sự có niềm tin do thấy công đức của tịnh chỉ.
Vơi niềm tin ấy bạn có thể thành tựu ước muốn và kiên
trì để tầm cầu tịnh chỉ, bạn sẽ mong có được sự
nhu nhuyến trong thiền định. Đây là cách bốn phương thuốc
này là nhân quả lẫn nhau - những cái sau phát sinh từ cái
trước theo một trật tự.
(ii)
Cạm bẫy thứ hai: Quên chỉ giáo
Đây
là điều chúng ta gọi là không nhớ đề mục thiền; nó rất
tai hại cho sự thực hành tâm tịnh chỉ. Trái tim của Trung
Đạo nói:
Hãy
buộc chặt con voi hoang là tâm ý
Vào
cái cọc chắc chắn của sự quán tưởng
Dùng
sợi dây “niệm”;
Làm
thuần nó bằng móc câu trí tuệ.
Bạn
phải cột con voi tâm vào cái cột quán tưởng, phép quán mà
bạn sử dụng. Bạn cần một cái gì để buộc tâm vào -
nghĩa là, pháp quán được dùng để phát sinh tâm tịnh chỉ.
Đề mục thiền có thể là bất cứ hiện tượng nào được
quán, hay một pháp đặc biệt nào. Ngoại đạo dùng đá và
những mảnh gỗ để quán. Những người theo đạo Bon quán
mẫu tự A. Như vậy những người khởi sự đạt tâm tịnh
chỉ sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, nhưng đây chỉ
là những đối tượng quán. Có những người có nhìn bằng
mắt những đối tượng quán, nhưng pháp thiền này không bằng
hai pháp đã đề cập, vì tâm tịnh chỉ cần phải đạt bằng
tâm chứ không phải bằng con mắt. Dù sao, những phương tiện
này cũng ngăn chận được một số vấn đề, như năm hố
sâu nói trên. có lần một người từ Ấn sang đây (Tây Tạng)
dùng một cái sừng bò làm đối tượng quán. Ông ta không
sử dụng các loại đối tượng thuần tâm linh khác để đạt
chín tầng thiền chứng, nhưng vẫn đạt tâm tịnh chỉ. Điều
này chứng tỏ bạn có thể đạt tâm tịnh chỉ với bất
cứ đối tượng quán nào mà bạn dùng.
Tuy
nhiên, khi chúng ta tu tập để đạt tịnh chỉ, ta thường
quán tưởng hình tượng Phật phù hợp với truyền thống
khẩu quyết bắt nguồn từ Tsongkapa. Một mặt, pháp quán tưởng
này giúp bạn tích lũy công đức và thanh lọc chướng ngại.
Mặt khác, nó làm cho bạn quen với pháp thiền quán về thiền
thiên trong các mật điển. Thật lợi lạc vô cùng nếu ta
luôn luôn nhớ Phật. Vân vân.
Từ
bậc thầy của bạn được quán ở trên đỉnh đầu, nói
lên đức Đạo sư Thích Ca Mâu Ni. Ngài đến an vị trước
mặt bạn, ngang chỗ trống giữa đôi chân mày. Ngài cao chừng
một gang tay. Bạn cũng có thể quán tưởng Ngài an vị ngang
với tấm rốn của bạn. Hoặc, hãy quán tưởng bạn biến
thành Thích Ca Mâu Ni.
Có
người thích tưởng tượng những vô sắc làm đối tượng
quán, hơn là quán một cái gì thuộc vật lý. Bởi thế Panchen
Lama Lozang Choekyi Gyaeltaen khởi đầu một truyền thống trong
giáo lý ngài về Đại Thủ Ấn của Hoàng Mạo phái phù hợp
với tư tưởng của Rinpoche trong Những Giai Đoạn Giữa Của
Đạo Lộ. Trong truyền thống này, bạn đạt tịnh chỉ nhờ
tập trung vào chính cái tâm của mình; và những người nói
trên có thể thích sử dụng pháp này. Nó còn có tương đương
của nó trong các tông phái khác, nhưng phải chủ trương theo
dõi sự vận hành có ý thức của tâm. Cũng có thể đạt
tịnh chỉ bằng cách quán hình ảnh một vị thiên, như trong
giai đoạn phát sinh, hoặc quán mẫu tự A hay một lằn thẳng
đứng, như trong giai đoạn thành tựu. Còn có nhiều pháp quán
để đạt tịnh chỉ khác, bằng cách biến mãn đối tượng
ra cùng khắp, sử dụng một cái “mánh” nào đó, một hoạt
động nào đó, hoặc quán một vọng tưởng đã được tịnh
hóa. Trong thực hành, hãy sử dụng bất cứ phương pháp nào
bạn thấy dễ nhất cho mình để quán tưởng cho đến khi
đạt tâm tịnh chỉ. Đừng thay bằng một pháp quán nào khác.
Bạn không được quán cả bốn đối tượng tả trong kinh
(thân, cảm thọ, tâm và các pháp). Bạn phải dẫn tâm vào
một đối tượng duy nhất. Và đối tượng ấy phải làm
bạn cảm thấy thoải mái dễ chịu. Bồ tát Mã Minh nói:
Hãy
kiên cố trong sự quán tưởng:
Luôn
luôn dùng một đối tượng quán ấy.
Nếu
quán nhiều đối tượng liên tiếp,
Thì
tâm bạn sẽ bị kích động bởi vọng tưởng.
Nói
cách khác, hãy dán tâm vào một pháp quán duy nhất khi bạn
thiền. Bạn sẽ không đạt tịnh chỉ nếu cứ đổi đối
tượng quán. Giả sử bạn cọ hai thanh gỗ vào nhau để lấy
lửa, mà cứ đổi thanh khác thì không bao giờ có lữa. Hơn
nữa, bạn phải thiền liên tục để đạt tâm tịnh chỉ,
trừ khi bạn ăn, ngủ, bài tiết, cũng như bạn phải luôn
cọ hai thanh gỗ cho đến khi có lửa. Hãy làm việc ấy cho
đến khi hoàn tất tâm tịnh chỉ - trong sáu tháng, một năm
hay hơn nữa. Bạn sẽ không đạt tâm tịnh chỉ nếu bạn
đâm chán và khởi sự tu kiểu gì khác, hoặc nếu bạn nghỉ
xả vài ngày, vân vân.
Bạn
được chỉ giáo phải thuộc lòng những đường nét của
một bức tranh hay tượng Phật dùng làm đề tài quán, để
bạn có thể dễ dàng tưởng tượng phần nào đề mục quán
của bạn với hình ảnh thô (thô tướng) mà bạn có được
do thấy bằng mắt thịt. Chúng ta nói bạn đã “quen lời
chỉ giáo” khi bạn không còn nhớ được hình ảnh này. Đây
là hố thứ hai.
Cách
chữa trị là sự điều chỉnh thứ năm trong tám pháp - đó
là niệm. Niệm cường liệt là cần thiết để duy trì sự
tương tục của đề mục thiền quán, hơi giống một chuỗi
tràng. Niệm của một người có thể mạnh hay yếu, làm cho
người ấy dễ dàng hay khó khăn đạt đến tâm tịnh chỉ
Vô Trước nói như sau về niệm:
“Niệm
là gì? Đó là một pháp có nhiệm vụ làm cho tâm không quên
một vật mà nó đã quen thuộc.”
Nói
cách khác, niệm cần thiết phải có ba đức tính. Nó phải
phân biệt được đối tượng - nghĩa là trước đấy bạn
đã nhìn đối tượng dùng để thiền quán, và làm cho mắt
bạn quen thuộc với những đặc điểm của nó. Sau đó khi
bạn hướng tâm về những đặc điểm ấy, thì niệm phải
có cái đức tính duy trì - nghĩa là bạn không quên những
đặc điểm ấy, và nó hiện lại một cách sống động. Cũng
như bạn nhớ đồ ăn một cách sống động khi bạn đói.
Cuối cùng, niệm có một đức nữa là cái nhiệm vụ nó thực
hiện - tâm được làm cho không đi lạc, không phân tán khỏi
đối tượng nó hướng đến.
Nếu
ba pháp này có mặt, thì bạn sẽ có thể quán tưởng hình
dạng của Phật trước khi bạn trong tâm nhãn. Đừng chia trí
- hãy duy trì sự dán chặt vào đối tượng quán. Bạn phải
tưởng tượng, không làm gì khác.
(iii)
Cạm bẫy thứ ba: Trạo cử và hôn trầm
Bạn
sẽ rơi vào cái cạm bẫy thứ ba - trạo cử và hôn trầm
trong giai đoạn thực sự thiền quán, khi nhớ lại đối tượng
quán của mình. Nếu bạn không phân biệt được giữa hôn
trầm như đám mù trong tâm, với trạo cử, thì điều ấy
cũng giống như không nhận ra kẻ thù sắp giết mình.
Đám
mù trong tâm có thể là bất thiện hay trung tính. Nó che mờ
ý thức, làm cho thân tâm nặng nề như khi bạn muốn ngủ.
Nó là một cái nhân cho sự hôn trầm và không bao giờ là
thiện.
Có
hai loại hôn trầm: Tế và thô. Khi bạn nhớ lại đề mục
quán, hình ảnh có thể vững vàng nhưng không rõ. Đây là
hôn trầm thô. Hôn trầm tế là như sau: bạn chưa bị mất
những đường nét đã nhớ được về đối tượng quán,
bạn còn có sự vững vàng và rõ ràng của hình ảnh, những
năng lực của sự duy trì nơi bạn đã yếu, và vẻ rõ nét
của hình ảnh không mãnh liệt. Sự hôn trầm tế nhị là
chướng ngại chính cho thiền định. “Không mãnh liệt”
nghĩa là gì? Nghĩa là hình ảnh có rõ rệt, nhưng tâm đã
trở nên hơi lỏng lẻo. Và lúc ấy mặc dù hình ảnh quán
là hoàn toàn vững chắc, sự lỏng lẻo này đã làm nhân cho
hôn trầm vi tế. Nếu hình ảnh có sự rõ ràng, thì tâm bén
nhạy, tươi mát, sinh động, và vấn đề trên đối tượng
quán.
Sự
kiện đối tượng quán vừa rõ ràng vừa vững chắc nhưng
sự rõ ràng ấy có thể mãnh liệt là như sau. Giả sử bạn
đang cầm trong hai tay chuỗi tràng và bình bát. Bạn có thể
cầm tay này chặt tay kia lỏng. Hoặc thông thường, chúng ta
có thể luôn luôn tin tưởng vào một bậc thầy; cái cách
chúng ta duy trì niềm tin khi ấy sẽ mạnh hơn trước. Đấy
là sự khác nhau giữa hai tình trạng. Người ta bảo rằng
điều này sẽ trở nên rất sáng sủa dưới ánh sáng của
kinh nghiệm thiền quán - không thể nào nói được nên lời.
Để
ý: sự sáng sủa rõ ràng không do nơi đối tượng. Có sự
rõ ràng hay không cốt yếu là nhiệm vụ của ý thức chủ
quan. Khi không có sự rõ rệt, thì nó như một tấm màn đã
bị kéo lên che khuất hình ảnh.
Sự
hôn trầm vi tế là định nhất cả hai đều có thể vừa
có sự sáng sủa và vững chãi; nhưng thật khó mà phân biệt
giữa định nhất tâm và hôn trầm vi tế. Ngay cả gió có
thể đã ngưng vào ra lỗ mũi của bạn, và tâm bạn có thể
an trú suốt ngày, nhưng kỳ thực bạn chỉ xây dựng sự hôn
trầm vi tế. Nhiều học giả Tây Tạng ngày trước đã hiểu
lầm trạng thái này và ca tụng nó là “sự nghỉ ngợi sâu
xa nhất trong thiền định thâm sâu.” Họ đã không hiểu
được điểm then chốt này trong thiền quán. Nếu bạn lầm
hôn trầm vi tế là thiền định, thì thiền định của bạn
còn không làm nhân đưa đến tái sinh vào các cõi sắc và
vô sắc, và ngay trong đời này bạn cũng sẽ tăng sự đãng
trí. Vì tuệ của bạn trở nên không rõ ràng, sự thực hành
này không khá gì hơn việc thiền quán thật nhiều về một
phép quán trong đó bạn quán tưởng mình là một súc sinh!
Tác
phẩm Toát yếu về thắng pháp nói như sau về trạo cử:
“Trạo
cử là gì? Là một khía cạnh tâm bị kích động, một hình
thức bám víu bị lạc hướng vì những dấu hiệu đẹp đẽ.
Nó có nhiệm vụ làm gián đoạn tâm tịnh chỉ.”
Những
đối tượng đẹp - những đối tượng mà bạn tham ái - làm
cho tâm hết tập trung. Đây là “những dấu hiệu đẹp đẽ”
(tịnh tướng - DG) được nói đến. Giả sử ban ngày bạn
xem một buổi ca vũ nhạc và ban đêm bạn nhớ lại quang cảnh
ấy một cách sống động: đây là một điển hình về việc
nhớ lại một đối tượng lôi cuốn tham ái của bạn.
Có
sự khác nhau lớn lao giữa thiếu tập trung và trạo cử. Bạn
có thể trở nên thiếu tập trung vì một đối tượng khó
chịu, ví dụ kẻ thù của bạn. Vào một lúc như vậy, bạn
trải qua sự buồn bực nội tâm. Hoặc trong khi thiền định
về tâm tịnh chỉ bạn có thể trở nên thiếu tập trung vì
một thiện pháp như bố thí, giới, v.v… Đây có thể là
những hình thức thiếu tập trung vì một thiện pháp như bố
thí, giới, v.v… Đây có thể là những hình thức thiếu tập
trung, nhưng không phải là trạo cử. Tuy nhiên cả hai việc,
thiếu tập trung và trạo cử, đều có thể gián đoạn tâm
tịnh chỉ của bạn. Vậy thì tại sao chỉ có trạo cử được
xem là pháp gián đoạn tâm tịnh chỉ? Vì sự thiếu tập trung
thì nhẹ hơn và không kéo dài khi đối tượng của nó là
thù nghịch, hoặc khi sự chú ý của bạn hướng về một
thiện pháp. Và theo hệ phái của sự trình bày này thì sự
thiếu tập trung càng lớn thì đối tượng là một cái gì
mà bạn ham thích. Bởi vậy sự thiếu tập trung thông thường
thuộc về loại sau, nghĩa là trạo cử, vì nó dễ dàng phát
triển hơn những hình thức trạo cử khác. Chúng ta sẽ bàn
về trạo cử mà thôi vì nó đã được cho một địa vị
ở đây. Nhưng hãy để ý: khi bạn thiền quán về tâm tịnh
chỉ, tâm bạn sẽ bị gián đoạn bởi hai loại thiếu tập
trung kia: thiếu tập trung do những đối tượng lạc hoặc
khổ; và thiếu tập trung chẳng hạn do vì nhớ lại một hành
vi bố thí hay sự lễ bái bạn đã làm, v.v… Khi bạn thiền
quán để đạt tâm tịnh chỉ, bạn phải chấm dứt những
hình thức tán loạn này bất cứ lúc nào nó xảy đến.
Chúng
ta có thể mất dấu đề mục quán đến nổi nó không còn
là đối tượng trong tâm. Chẳng hạn khi thiền quán về hình
dạng của một vị thần, ta có thể quên quán trong một lúc.
Sự trạo cử thô chỉ là sự mất dấu đối tượng quán
như thế.
Trạo
cử vi tế là như sau. Tâm không mất dấu đối tượng quán,
nhưng có một cái gì trong tiềm thức có vẻ dễ chịu khởi
lên trong một phần của tâm thức ở dưới lằn mức của
ý thức nhận biết. Hình thái trạo cử này khác với trạo
cử thô, nó được ví như nước chảy dưới một làn băng.
Mặc
dầu phương thức đối trị cả hai trạng thái này không phải
là tinh tấn, song tinh tấn vẫn là một thành phần của phương
thuốc, giống như quân đội có những lính trinh sát. Bạn
phải đào luyện tinh tấn - thứ sáu trong tám cách điều chỉnh
- để xem bạn có sự trạo cử hay hôn trầm nào không.
Nếu
bạn áp dụng tinh tấn một cách liên tục, nó sẽ trở thành
một chướng ngại cho trạng thái thiền định, nhưng nếu
không áp dụng tinh tấn thì bạn có thể phát triển vài lỗi
lầm nghiêm trọng mà bạn không biết đến. Khi ấy cũng như
thể là trộm đã mang đi hết tài sản của bạn. Tác phẩm
Đại Thủ Ấn của phái Hoàng mạo nói: “Hãy tắt sự tinh
tấn đúng lúc”. Nói cách khác hãy kiểm soát sự tinh tấn
của bạn. Bạn chỉ áp dụng tinh tấn thỉnh thoảng, để
xem tâm mình có trạo cử hay hôn trầm nào không. trong quyển
Hành Bồ Tát Hạnh có nói:
Thỉnh
thoảng hãy quán sát
Trạng
thái của thân tâm
Bản
chất của tinh tấn
Là
tên lính đi tuần.
Điều
này cũng giống như cầm một chén trà trong tay: bạn vừa cầm
nó một cách vững chắc lại vừa xem nó có nghiêng đổ không.
Cũng tương tự, bạn dùng niệm để duy trì thiền quán, giữ
vững hình ảnh quán, và duy trì sự quán tưởng ấy bằng
cách sử dụng tinh tấn để kiểm soát xem bạn có trạo cử
hay hôn trầm. Nhân tiện cũng cần nói thêm rằng tinh tấn
là một đồng minh của trí tuệ.
(iv)
Cạm bẫy thứ tư: Không điều chỉnh (xả)
Khi
tâm bạn trạo cử hoặc hôn trầm, thì sự “không điều
chỉnh” một trong những phương thuốc chữa trở thành một
cạm bẫy, và cạm bẫy này cũng có cách đối trị riêng.
Khi sự tinh tấn đã khám phá ra trạo cử hoặc hôn trầm nào
xảy đến, thô hoặc tế, thì bạn phải áp dụng thuốc chữa
ngay không ngần ngại. Cách thứ bảy trong tám điều chính
- sự điều chỉnh lại - chính thức là phương pháp đối
trị sự điều chỉnh thứ tám - xả (còn gọi là không điều
chỉnh hay phó mặc). Sự điều chỉnh cần phải được áp
dụng trong tâm để đối trị lại sự phó mặc hay xả. Hai
pháp này cũng như hai trinh sát thù nghịch: vừa khi trông thấy
tên kia, tên này liền tốp y lại.
Vậy
thì làm sao để áp dụng pháp đối trị này? Hôn trầm vi
tế là một trạng thái hoạt động tâm ý lụn bại. Cả hai,
sự lụn bại và hồn trầm đều có hậu quả giống nhau.
Khi có hôn trầm vi tế bạn thấy rõ nét và vững chải hình
ảnh quán, nhưng tính chất sự duy trì hình ảnh đã rớt mất,
và bởi thế sự rõ ràng không còn mãnh liệt như trước.
Khi có sự hôn trầm này thì không cần gián đoạn pháp quán
vì chỉ cần bám riết lấy hình ảnh là đủ. Nhưng khi bám
riết quá nhiều, bạn lại đâm ra trạo cử, và thế là lại
phải buông ra. Đức thế tôn dạy:
“Nếu
dây đàn quá căng, hãy nới dây; hãy siết hay nới dây đàn
theo nhu cầu nhưng phải bồ đề nó đừng quá chùng, thì cuối
cùng âm thanh tiếng đàn sẽ thanh thoát.”
Bạn
nên làm như vậy: nới lỏng một chút khi bạn cảm thấy mình
sắp trạo cử và siết lại một chút khi bạn cảm thấy sẽ
hôn trầm nếu bạn nới thêm nữa. Chỉ có kinh nghiệm với
vạch được lằn ranh giữa hai điều này. Nếu bạn không
dùng tinh tấn để phân tách một cách thông minh, thì thật
vô cùng khó khăn để thọc ngón tay vào Bậc thậy Chandragomin
nói:
Nỗ
lực thì rơi vào trạo cử;
Bỏ
nỗ lực thì sinh hôn trầm.
“Nếu
tịnh chỉ khó đạt đến thế,
Thì
tôi bận tâm làm gì:
Nó
chỉ quấy rầy tâm tôi.”
Làm
việc ấy có thể là chuyện nhọc tâm, nhưng trong tất cả
kẻ thù, kẻ ở ngay trong nhà khó nhận ra nhất, và bởi thế
cũng là kẻ nguy hiểm nhất. Cũng vậy, loại hôn trầm này
dễ làm hại tâm tịnh chỉ của bạn nhất: do vậy cần phải
có sự lên dây đàn vừa phải.
Vậy,
mặc dù tâm bạn đã lên dây vừa phải, đôi lúc đối tượng
quán của bạn lại mất tính rõ rệt mãnh liệt. Khi điều
ấy xảy ra, thì sự nắm giữ đã tuột mất và hình ảnh
không còn rõ như trước. Nếu tình trạng ấy tiếp tục thì
hôn trầm thô đã trở về. Trái Tim của Trung Đạo nói:
Khi
thiền quán về những đối tượng cao cả
Làm
bạn buồn sầu, thì hãy thư dãn…
Lỗi
là tâm bạn đang ở trong một gút mắc lớn; bởi thế bạn
nên trầm tư một lát, không nghĩ tới pháp quán. Nếu vấn
đề khi ấy vẫn không biến mất và khi trở lại với sự
quán tưởng, tâm bạn vẫn buồn nản, thì có cách nào làm
nó phấn chấn lên chăng? Có thể làm bạn tươi tỉnh lên
bằng cách quán thật khó có được tái sinh thân người thuận
lợi, hoặc quán những thiện đức của Ba ngôi báu, hoặc
những ích lợi của sự thờ kính một bậc thầy, những lợi
lạc của bồ đề tâm, v.v… Những điều này sẽ làm tâm
bạn phấn chấn. Bạn cũng có thể tưởng tượng những tia
sáng chiếu lên mình bạn, hoặc thiền quán về những chuyện
như quán tưởng bố thí. Những thiền quán này sẽ nâng tâm
bạn đến một cảnh giới cao, và khi ấy nó có thể duy trì
sự quán tưởng.
Có
thể tâm ta chưa từng quen thuộc với điều này trong quá khứ,
nên khó mà có được lợi lạc tức khắc từ những kỹ thuật
này. Nhưng khi ta đã quen thuộc, thì những phép quán như thân
người khó được sẽ giống như tia nước lạnh rưới lên
mặt, vấn đề sẽ tiêu tan.
Nếu
sự hôn trầm vẫn không tan biến thì hãy sử dụng một biện
pháp mạnh hơn, hãy quán tưởng tâm bạn như một ánh sáng
trắng ở tim. Khi bạn đọc âm phat, tâm bạn thoát ra từ ở
phía đỉnh đầu và đi sâu vào không gian. Hãy tương tâm bạn
và không gian hòa lẫn. Làm vậy nhiều lần.
Nếu
hôn trầm vẫn không tan, thì hãy chấm dứt thời thiền. Đám
mù trong tâm đã khiến bạn phát sinh hôn trầm. Hãy dùng vài
phương tiện để làm tiêu tan sự ảm đạm, hôn trầm, chếch
choáng. Hãy ngồi ở chỗ mát mẻ, tản bộ trên một chỗ
cao khoáng đạt, vảy nước lên mặt, v.v… Nếu tâm bạn trở
nên sáng suốt trở lại, thì hãy tiếp tục thiền quán.
Sự
trạo cử vi tế là khi bạn không mất dấu đề mục thiền.
Như tâm lại phân tán. Điều này xảy ra là bởi tâm quá dán
chặt. Hãy nới lỏng sự duy trì hình ảnh. Nếu làm vậy mà
tâm vẫn phân tán, thì thế là bạn có một hình thức trạo
cử thô. Nó phát sinh vì tâm trạng vui mừng, vậy không nên
tăng sự vui thêm nữa. Quá vui là tai hại, như câu chuyện
vua Tịnh Phạn không thể đắc quả Dự lưu vì ông quá mừng
khi thấy Phật trở về. Trong tình trạng ấy, thì đừng gián
đoạn thời thiền. Trái Tim Trung Đạo nói:
Hãy
làm tâm hết trạo cử
Bằng
cách nghĩ đến các pháp như vô thường.
Nghĩa
là hãy quán những điều làm cho tâm buồn khổ, mệt mỏi,
từ bỏ: đó là quán về chết, vô thường, những khổ trong
sinh tử và các đọa xứ.
Nếu
tâm vẫn trạo cử, thì hãy dùng một phương pháp mạnh hơn
để diệt trừ trạo cử. Vì vọng tưởng càng tăng, bạn
nên quán hơi thở khi thở vào thở ra. Khi thở, hãy nghĩ, “tôi
đang thở ra” hoặc “tôi đang thở vào.” Và lại nghĩ,
“đây là lần thứ nhất,” và tiếp tục đếm trong tâm
số lần thở ra và vào. Lúc đầu bạn chỉ có thể làm được
đến ba hay bốn chu kỳ; nhưng hãy bắt đầu đếm từ “một
trở lại. Khi bạn có thể đếm tới hai mươi mốt mà tâm
không bị phân tán, thế là đã đạt tiêu chuẩn về trạng
thái tâm đầu tiên.
Có
câu chuyện về hành giả vĩ đại Puentsog Gyatso ở Yerpa. Ngài
có một cháu trai làm người hầu cho vị nhiếp chính Sangyae
Gyatso. Người hầu này đã chịu chung một số phận ghê gớm
cùng với vị nhiếp chính bị Lhazang Khan hãm hại. Bởi thế
ngài không có tâm hồn nào để thiền quán. Ngài đếm hơi
thở, và nhờ thế ngài có thể trở lại với pháp quán.
Nếu
đếm hơi thở cũng không hết trạo cử, thì hãy ngưng thời
thiền định. Sau đó bạn hãy thiền từng thời ngắn, trước
khi thiền hãy lập nguyện kiên quyết. Nếu bạn kéo dài những
thời thiền, thì đôi khi chỉ cần trông thấy chiếc tọa
cụ cũng đủ làm cho bạn chóng mặt nôn mửa. Điều quan trọng
nhất là hãy gián đoạn thời thiền đúng lúc: hãy dừng lại
khi bạn còn thấy thời thiền định là một lạc thú. Ví
dụ, khi hai người chia tay đúng lúc, thì họ sẽ hoan hỉ gặp
nhau lại về sau. Khi hình ảnh quán còn rõ, bạn nên ngưng;
nhưng nếu hình ảnh không rõ, thì bạn cũng phải ngưng. Nếu
bạn định một lằn mức trong đó bạn còn chưa cảm thấy
muốn ngồi thiền thêm nữa, thì bạn sẽ muốn thiền trở
lại với tất cả nhiệt tình. Đấy là cách tốt nhất để
thiền. Hãy làm như vậy và bạn sẽ cảm thấy sung sướng.
Nhưng nếu bạn dừng lại trong khi hình ảnh vẫn còn không
rõ rệt, mà sự thiếu rõ rệt vẫn không tiếp tục khi bạn
thiền quán trở lại, thì bạn chỉ có nước ngủ gục nếu
bạn cố kéo dài thêm nữa; và về sau sự thiếu sáng sủa
sẽ tăng trưởng còn tệ hơn. Có câu chuyện như sau. Có vị
hành giả vĩ đại tên Lozang Namgyael đang cho một giáo chỉ
truyền khẩu về các tác phẩm của phái Kadampas. Ngài đọc:
“Vào thời suy đồi này, thì đúng là lúc để điều phục
dòng tâm thức của chính mình, chứ không phải tâm thức của
người khác.” Ngài bổng khóc lên, và phải chấm dứt buổi
giảng. Trong hai ngày kế tiếp ngài không thể giảng dạy gì
được mỗi khi ngài đọc tới câu ấy.
{CT.
Trạng thái xuống tinh thần này là do thiền quán quá độ.
Để tránh điều này xảy ra đừng bao giờ làm gì quá trớn.}
Mặc
dù hy vọng của ta có một đối tượng quán lưu lại trong
tâm ta lâu dài, song hiện tại ta chỉ có thể quán tưởng
ra hình ảnh, nhưng hình ảnh ấy không ở lâu. Bởi thế ta
nên làm thời thiền quán ngắn lại. Chúng ta được bảo phải
làm mười tám thời thiền mỗi ngày. Nếu sau một thời gian
bạn vẫn không mất sự hôn trầm hay trạo cử thì phải làm
những thời thiền rất ngắn, và ngồi thiền nhiều lần hơn.
Những thời thiền này phải có chất lượng hảo hạng. Hãy
làm thế, và hình ảnh sẽ tự động khởi sự ở lại trong
tâm bạn. Chỉ khi điều này xảy đến bạn mới nên kéo dài
thời thiền.
(v)
Cạm bẫy thứ năm: Sự tái điều chỉnh
Khi
bạn đã chấm dứt hôn trầm trạo cử, thì sự tái điều
chỉnh lại trở thành một cạm bẫy, mặc dù kỳ thực nó
là một phương thuốc đối trị. Đối lại sự điều chỉnh
là số tám trong các pháp điều chỉnh, nghĩa là xả hay không
điều chỉnh. Bạn phải đào luyện xả ấy.
Bạn
sẽ bị qua lại giữa trạo cử và hôn trầm khi bạn chưa
đạt đến tâm trạng thứ tám. Ở giai đoạn này bạn có
thể đã an tịnh cả trạo cử lẫn hôn trầm, tuy nhiên vẫn
còn phải tra tầm xem chúng còn hiện diện hay không. Nhưng
nếu vì quá hăng hái bạn áp dụng một phương chữa trị
thì bạn sẽ làm gián đoạn một tâm trạng này - bởi thế
sự tái điều chỉnh là một cạm bẫy. Đừng nỗ lực trong
sự tinh tấn; tốt nhất là buông lỏng và đào luyện sự
điều chỉnh bằng “xả.” Mọi người đều bảo ở điểm
này bạn nên buông lỏng vì trước ấy đã quá căng. Cuối
tâm trạng thứ tám bạn không còn bị rơi vào hôn trầm hay
trạo cử gì nữa và người ta nói bạn chỉ cần tinh tấn
vừa phải. Nhưng khi chưa đạt đến điểm này thì lại là
vấn đề khác hẳn, và sự buông lỏng ở đây không phải
là sự buông lỏng nói trong phần bàn về niệm và về nới
lỏng cường độ mãnh liệt của sự duy trì hình ảnh quán.
Những hành giả Tây Tạng trong thời quá khứ không nhận ra
thời điểm đúng để nới lỏng, nên họ tự cho mình có
“thiền định sâu xa trong sự thư giản sâu xa.” Lỗi của
họ là nới lỏng niệm quá sớm. Vậy đừng rơi vào cái bẫy
mà họ đã rơi vào ấy. Vì sao? Vì nó sẽ mang bạn đi xa khỏi
thứ định nhất tâm, cái khiến bạn đạt đến sự ổn định
hình ảnh quán một cách nhanh chóng và rũ bỏ sự hôn trầm
vi tế.
Đấy
cũng là cách theo đuổi các pháp quán khác, từ giai đoạn
thành tựu trở xuống.
Bây
giờ tôi sẽ bàn cách theo đuổi pháp tu này. Hãy hoàn tất
những chuẩn bị sự tu tập tịnh chỉ, như ở chỗ thích
hợp có năm đặc tính. Rồi ngồi trên một tọa cụ thoải
mái theo thế ngồi của Phật Tỳ lô với bảy sắc thái. Quán
trên đỉnh đầu bạn hình ảnh bậc thầy của bạn, và từ
bậc thầy ấy tách ra một hình ảnh Đức Thích Ca Mâu Ni.
Hình ảnh này ngồi giữa hư không, ngang tầm rốn bạn. Lúc
đầu hình ảnh không rõ lắm, nhưng chưa cần làm cho rõ. Có
thể bạn chỉ thấy xuất hiện một viên tròn lung linh vàng
nhạt hay chỉ một phần ngài, như đầu hoặc tay chân, v.v…
Đừng để hình ảnh ấy tuột khỏi tâm tư bạn; giữ chặt
nó đừng để tâm phân tán. Chỉ một việc nuôi dưỡng niệm
ấy cũng đủ để ngăn sự hôn trầm hay trạo cử. Đấy là
lý do bạn cần giữ trong tim lời chỉ giáo tối thượng này
của các bậc thánh giả vĩ đại. Hơn nữa hôn trầm được
cắt đứt nhờ siết chặt sự nắm giữ hình ảnh. Trạo cử
được cắt đứt nhờ không phân tán. Khi bạn thiền theo cách
ấy và đã đạt được một mức độ an định, thì bạn
lại rất dễ rơi vào hôn trầm, bởi thế hãy bám siết sự
rõ rệt của hình ảnh. Khi bạn đạt đến một mức độ
rõ rệt đáng kể, thì mối nguy lại là trạo cử. Hãy dùng
những biện pháp cần thiết để đối trị trạo cử, và
lại tìm sự rõ rệt của hình ảnh quán.
Mặc
dù bạn có thể giả vờ đang tu tập, nhưng bạn không tu tập
gì ráo nếu không biết cần phải làm gì để đạt tâm tịnh
chỉ. Bạn nhất định phải đạt tịnh chỉ với hai sắc
thái: sự rõ rệt và khá an trú của tâm ảnh, và một sự
duy trì chặt chẽ hình ảnh ấy.
Như
trong phần nói chi tiết về tịnh chỉ trên đây, đề mục
thiền được duy trì nhờ “niệm” không thể mất hình ảnh.
Ở giai đoạn ấy bạn rơi vào hôn trầm hay trạo cử. Vừa
lúc khám phá ra chúng nhờ tinh tấn canh chừng, bạn hãy áp
dụng ngay pháp đối trị thích hợp để chấm dứt chúng.
Sau khi đã chấm dứt thì đừng áp dụng pháp đối trị nào
nữa: cứ việc nhất tâm trên hình ảnh quán, đồng thời
duy trì sự rõ ràng sáng suốt nhất.
Hãy
để ý: Theo pháp Đại Thủ ấn (Mahàmudra) thì đối tượng
tập trung vào cái tâm quán sát đối tượng ấy cần được
xem như một. Một mục đồng cần phải coi chừng hai chuyện:
con vật nào đã bị bỏ quên lại trên núi, con nào không quên.
Khi bạn phát sinh vọng tưởng cũng thế, có hai cách để nó
tự động chấm dứt, hoặc có thể áp dụng một cách trừ
vọng để chấm dứt, hoặc có thể áp dụng một cách trừ
vọng để chấm dứt nó, và hướng sự chú ý của bạn đến
trí sáng suốt. Bạn sẽ đọc nhiều chi tiết hơn về điều
này trong tác phẩm Đại Thủ Ấn của phái Hoàng Mạo. Những
người mong muốn đạt thành tâm tịnh chỉ bằng cách sử
dụng tâm để làm đối tượng tập trung (thay vì dùng một
sắc pháp như quán kasina - DG) cần phải biết những điều
này.
a-2.1.3.
Từ căn bản này, làm thế nào để đạt chín trạng thái
tâm.
Nếu
bạn muốn thiền, bạn phải tự mình kinh nghiệm chín trạng
thái tâm. Trước hết phải biết chín trạng thái ấy là gì.
Đấy là: (1) Dán chặt vào tâm; (2) Sự dán chặt có phần
nào liên tục; (3) sự dán chặt một cách sơ hở; (4) sự dán
chặt hoàn toàn; (5) có kỷ luật; (6) trở nên an tịnh; (7)
trở nên rất an tịnh; (8) trở nên nhất tâm; (9) tịnh chỉ
hoàn toàn.
(i)
Dán chặt tâm
Điều
này thành tựu được nhờ năng lực học với một bậc thầy
sự chỉ giáo về quán tưởng. Tuy nhiên ở giai đoạn này
bạn chỉ có gợi lên hình ảnh quán. Nó không an trụ, và
bạn cũng không thể làm cho nó an trụ. Ở điểm này, nhờ
năng lực của tâm phân biệt, bạn có thể biết mình đang
rơi vào tình trạng thiếu tập trung hay trạo cử. Bạn có
cảm giác tâm phân biệt (vọng tưởng) của bạn gia tăng,
song kỳ thực không tăng, mà chỉ vì bạn đã đạt đến tuệ
thấy được những vọng tưởng ấy, làm quen với nó.
(ii)
Sự dán chặt có phần liên tục
Sau
khi thiền định theo cách ấy, bạn có thể gợi lên hìnhảnh
và còn làm cho nó kéo dài một lúc chẳng hạn thời gian cần
thiết để niệm một chuỗi om mani padme hum mà không bnị phân
tán. Ở điểm này vọng tưởng có khi an tịnh, có khi phát
triển. Đây là một tuệ quán thấy được thế nào là khỏi
vọng tưởng. Trạng thái này có được nhờ năng lực quán.
Cả
hai trạng thái tâm đầu tiên này có rất nhiều hôn trầm
và trạo cử, và hình ảnh không ở lại lâu. Vào lúc này
bạn đang sử dụng cái đầu tiên của bốn tiến trình tâm
là “sự dán chặt gượng ép,” như sự phân tán của bạn
kéo dài lâu hơn thời gian hình ảnh kéo dài.
(iii)
Sự dán chặt có cách hở
Trạng
thái này như mặt áo vá. Mặc dù hình ảnh vẫn kéo dài, tâm
trở nên phân tán khỏi sự quán tưởng. Nhưng bạn liền ý
thức điều này và “vá lại sự tập trung” trên đề mục.
Thời gian tán tâm ở giai đoạn này ngắn hơn ở giai đoạn
trước. Bạn bắt đầu phát triển niệm lực mạnh hơn.
(iv)
Dán chặt hoàn toàn
Bạn
đã phát triển niệm cường liệt và có thể dán chặt tâm
trên đối tượng quán. Từ đây trở đi, bạn không thể nào
mất dấu đề mục, bởi thế trạng thái này mãnh liệt hơn
ba trạng thái trước rất nhiều. Nhưng đồng thời bạn lại
rơi vào những hình thái mạnh nhất của hôn trầm và trạo
cử, và phải áp dụng cách đối trị.
Cả
hai trạng thái ba và bốn đều được đạt đến nhờ niệm
lực. Nhưng từ đây trở đi, niệm như một đời người đã
đạt đến tột đỉnh uy quyền, vì năng lực của niệm đã
toàn vẹn.
(v)
Trở nên có kỷ luật
Ở
trạng thái thứ tư, tâm bị thắt gút quá nhiều ở bên trong.
Bây giờ ở trạng thái thứ năm, mối nguy lớn nhất là hôn
trầm vi tế. Ở đây bạn phát sinh tỉnh giác mãnh liệt. Tỉnh
giác đứng canh chừng, bạn nghĩ đây là một đức của định
nhất tâm, và nó làm cho tâm bạn phấn chấn.
Sự
khác nhau giữa trạng thái bốn và năm là chỉ trạng thái
trên mới có hôn trầm và trạo cử thô.
(vi)
Trở nên an tịnh
Ở
trạng thái thứ năm, tâm được nâng lên hơi quá mức, và
như vậy mối nguy bây giờ chính là trạo cử vi tế. Khi nó
xảy đến, bạn phát sinh một hình thức tỉnh giác mạnh hơn
để khám phá ra nó. Bạn phân tích mối hại của trạo cử
vi tế và muốn ngăn ngừa nó xảy ra thêm.
Khác
nhau giữa trạng thái này và trạng thái thứ năm là, ở đây
hôn trầm vi tế không phải là mối nguy chính yếu. Cả trạng
thái thứ năm và thứ sáu đều nhờ năng lực tỉnh giác và
đạt được. Ở điểm này năng lực của tỉnh giác đã đạt
đến chỗ hoàn hảo.
(vii)
Trở nên an tịnh
Ở
trạng thái thứ bảy, rất khó mà phát sinh hôn trầm hay trạo
cử vì năng lực của tỉnh giác nơi bạn đã tuyệt hảo.
Ở điểm này bạn muốn phát triển năng lực của tinh tấn
vì bạn mong muốn từ bỏ hôn trầm trạo cử càng nhiều càng
tốt, sau khi đã nhìn thấy rõ tai hại mà chúng gây ra.
Khác
nhau giữa trạng thái thứ sáu và thứ bảy là: trong trạng
thái thứ sáu, bạn phải rất thận trọng đừng để rơi
vào hôn trầm trạo cử vi tế, nhưng ở trạng thái thứ bảy
thì không. Ở trạng thái này không còn mối nguy hại hôn trầm
trạo cử, nhưng bạn vẫn phải nỗ lực về kỹ thuật từ
bỏ chúng. Trong các trạng thái năm và sáu, bạn đã cẩn thận
đề phòng trạo cử. Bây giờ ở giai đoạn này, bạn tinh
cần và có thể chấm dứt trạo cử và hôn trầm bất cứ
lúc nào chúng ló ra, bởi thế chúng không thể ngăn ngại bạn
lâu.
Năm
giai đoạn từ ba đến bảy trên đây phần lớn là định
nhất tâm, bị gián đoạn bởi trạo cử và hôn trầm. Ở
những giai đoạn này, tiến trình của tâm là tiến trình nhất
tâm có gián đoạn.
(viii)
Trở nên là nhất tâm
Trước
tiên bạn dùng phương pháp đối trị niệm. Mặc dù điều
này cầm một ít nỗ lực, sau đó bạn có thể theo đuổi
toàn thời thiền quán không bị chút hôn trầm trạo cử nào.
Sau đó sức mạnh kẻ thù sút giảm, rồi mất hẳn. Năng lực
của hôn trầm trạo cử nơi bạn cũng vậy. Ở giai đoạn
thứ tám bạn không cần nỗ lực trong việc áp dụng tỉnh
giác canh chừng. Sau khi cố gắng một chút lúc đầu giai đoạn
tám, toàn thời thiền quán không bị gián đoạn vì hôn trầm
trạo cử, bởi thế tiến trình tâm lúc ấy là tiến trình
dán chặt hay tập trung.
Giai
đoạn bảy và tám được hoàn tất nhờ năng lực tinh tấn.
(ix)
Định an chỉ.
Bây
giờ sự tập trung không còn cần nỗ lực. Bạn tự nhiên
đạt đến sự không nỗ lực này nhờ đào luyện sự quen
thuộc với trạng thái thứ tám. Bạn không cần một phí sức
nào để lướt vào định nhất tâm, cũng như một người
khởi sự đọc một đoạn văn đã thuộc lòng. Trạng thái
này tương đương với sự tịnh chỉ nhất tam ở cõi Dục.
Trạng thái thứ chín được thành tựu nhờ năng lực của
thói quen hoàn toàn.
Trong
trạng thái đầu, tuệ của bạn làm cho bạn quen thuộc với
tâm phân biệt (hay vọng tưởng).
Trong
trạng thái tâm thứ hai, bạn thấy được phần nào sự thể
sẽ ra sao khi vọng tưởng của bạn tạm thời nghỉ mệt.
Trong
trạng thái thứ ba, dường như những vọng tưởng tự chúng
đã kiệt quệ hết hơi sức.
Tóm
tắt, trong trạng thái đầu, hình ảnh chỉ ở một lúc ngắn.
Trong trạng thái hai và ba, sự phân tán của bạn chỉ kéo
dài một lúc. Khác nhau giữa tâm trạng ba và bốn là bạn
có thể hay không thể mất dầu đề mục. Ở giai đoạn bốn,
bạn phát sinh hôn trầm tthô, ở giai đoạn năm thì không.
Ở giai đoạn năm, bạn phải coi chừng hôn trầm vi tế, mà
không càn coi chừng ở giai đoạn sáu. Mặc dù ở giai đoạn
sáu bạn có phát sinh trạo cử vi tế, nhưng ít hơn trước
đây. Ở giai đoạn sáu, bạn phải đặc biệt cẩn thận đề
phòng trạo cử, nhưng không cần làm thế ở giai đoạn bảy.
Bạn còn có trạo cử hôn trầm ở giai đoạn bảy, nhưng không
ở giai đoạn tám. Ởgiai đoạn tám, bạn còn cần nỗ lực
nhưng không cần ở giai đoạn chín.
Ở
giai đoạn bảy, bạn chỉ mới chấm dứt hôn trầm trạo cử.
Không cần phải rất cẩn thận sợ bị rơi vào hai việc ấy.
Giả sử bạn đi đánh giặc. Nếu thế giặc thua, bạn không
cần cẩn thận quá mà chỉ cần dí nó xuống cũng đủ.