PHẦN
NĂM
PHẠM
VI LỚN
NGÀY
HAI MƯƠI HAI
Pabongka
Dorje Chang kể một mẩu chuyện ngắn để chúng tôi khởi động
lực.
Chandrakìrti
nói:
Con
ngỗng chúa dang đôi cánh trắng
Một
cách tương đối, một cách chân như;
Bay
đầu đàn ngỗng
Được
đẩy mạnh bởi gió Phước
Băng
qua hồ Thiện đức
Đến
bờ các Đấng Chiến thắng vô thượng.
Nghĩa
là, với hai loại bồ đề tâm tương đối và tuyệt đối,
cùng với hai thứ tích lũy, bạn sẽ đạt đến tầm mức
chư Phật. Bạn phải học cách nào để thực hiện điều
này.
Khi
ấy ngài ôn lại những tiêu đề trên về: cách luyện tâm
tịnh chỉ - đào luyện năm hay sáu điều kiện tiên quyết;
năm cạm bẫy và cách đối trị, tám sự điều chỉnh; và
với những điều ấy làm căn bản, cách đạt đến chín trạng
thái tâm.
a-2.1.4.
Cách đạt trạng thái thái tâm nhờ sáu năng lực
Trạng
thái thứ nhất đạt được nhờ năng lực của sự học,
thứ hai nhờ năng lực của quán tưởng. Thứ ba và bốn nhờ
năng lực của niệm; thứ năm và sáu nhờ năng lực của tỉnh
giác; thứ bảy và tám nhờ năng lực tinh tấn; thứ chín nhờ
năng lực của sự quen thuộc. Tôi đã bàn chi tiết điều
này trong chương trên nói về mỗi trạng thái tâm riêng biệt
đó.
a-2.1.5.
Có bốn loại tiến trình tâm như thế nào
Hai
trạng thái tâm đầu tiên là những loại tập trung gượng
ép. Năm trạng thái kế kiếp là loại tập trung có gián đoạn.
Loại thứ chín là hình thức tập trung tự nhiên không cần
phải nỗ lực. Mỗi loại tiến trình tâm này được phân
biệt bằng những sắc thái sau:
Hai
trạng thái đầu chỉ có hôn trầm và trạo cử là chính yếu,
không có chút nào tịnh chỉ. Chúng không đáng được cái
tên gọi tịnh chỉ có gián đoạn hay không gián đoạn. Ở
giai đoạn này bạn phải tinh tấn buộc mình đi vào những
trạng thái tịnh chỉ này.
Bạn
không cần phải dùng tỉnh giác để tự buộc mình phải đi
vào năm trạng thái tâm kế tiếp. Tịnh chỉ của bạn cũng
tuần tự trở nên vững chãi hơn. Vậy trạng thái tâm ở
đây là trạng thái tập trung gián đoạn, vì tâm bạn gián
đoạn bởi hôn trầm và trạo cử.
Trong
trạng thái thứ tám bạn áp dụng một ít nỗ lực làm phương
pháp đối trị ở đầu thời khóa thiền; thời gian còn lại
không bị gián đoạn bởi hôn trầm hay trạo cử.
Ở
trạng thái thứ chín bạn không cần nỗ lực để gợi lên
pháp quán, như vậy sự tập trung xảy đến một cách tự
nhiên.
a-2.1.6.
Cách tâm tịnh chỉ thực thụ phatsinh từ điểm này.
Khi
đạt giai đoạn chín, định tâm chuyên nhất cả bạnh thoát
khỏi hôn trầm và trạo cử vi tế. Bạn có thể an trú trong
trạng thái ấy một cách dễ dàng không cần dụng công, trong
những thời gian dài. Tuy nhiên trạng thái ấy không phải là
tịnh chỉ thực thụ, nó chỉ tương tợ như là tịnh chỉ.
Muốn đạt đến tịnh chỉ thực thụ, bạn phải tiền định
một cách chuyên nhất nhiều lần để đạt đến sự quen
thuộc với nó. Khi ấy bạn cũng phải đạt được định
xuất thân đặc biệt xảy đến cùng với sự mềm mại (nhu
nhuyến) của thân tâm.
Tâm
nhu nhuyến phát sinh trước, nhưng hỉ lạc của thân nhu nhuyến
lại phát sinh trước hỉ lạc của tâm nhu nhuyến. Những luồng
khí lực độc hại trong thân thể đã được dẹp yên, bạn
cảm thấy thoải mái, mặc dù bạn cảm thấy một thứ áp
lực nơi sọ tương tự cảm giác một bàn tay nói sờ lên
cái đầu bạn mới cạo. Khi đạt đến điều này, là bạn
đã làm cho an tịnh những trạng thái tâm độc hại làm chướng
ngại sự thi hành một đức hạnh nào bạn muốn thi hành.
Bạn đã phát sinh tâm nhu nhuyến. Rồi bạn phát triển thân
nhu nhuyến như là hậu quả của tâm nhu nhuyến này, và những
luồng khí lực bây giờ khéo thích ứng và tuần hành khắp
châu thân. Thân thể bây giờ không còn những trạng thái độc
hại, không cảm thấy sự bất tiện nào khi bạn thực hành
những thiện hành. Nó có thể được sử dụng bất cứ cách
nào bạn muốn. Thân thể mềm mại và nhẹ như bông; bạn
cảm giác một hỉ lạc lớn lao do thân nhu nhuyến ấy, và
thân có những lạc thọ vật lý tuyệt trần. Từ đó, mỗi
khi bạn đi vào tịnh chỉ, bạn có cảm giác thân thể tan
vào đối tượng quán, đối với bạn không có gì khác hiện
ra, ngay cả thân thể, vân vân. Đây là kinh nghiệm về trạng
thái xuất thần của tâm nhu nhuyến, và tâm khi ấy tràn ngập
hỉ lạc đến độ hầu như không thể nào tiếp tục ở trong
pháp quán. Trạng thái bị hỉ lạc tràn ngập này sẽ lắng
xuống, và khi ấy bạn cảm thấy giảm bớt hỉ lạc phần
nào. Trong lúc ở trong tâm trạng này, là bạn đã đạt đến
loại nhu nhuyến bất động có tương đương của nó là tịnh
chỉ tương đương với cận hành này được gọi là “bắt
buộc” vì đấy là đạo lộ phải kinh quá, nếu không, bạn
không thể đạt các loại thiền chứng như thế gian và xuất
thế gian. Từ điểm này bạn có thể đạt những định chứng
tiếp theo chứng một loạt - quả thế bạn có thể thành tựu
cả tám thiền chứng thuộc sắc giới và vô sắc. Tuy nhiên
điều này khá vô ích, bởi thế chúng ta không triển khai những
định chứng sau này. Ngoại đạo từ bỏ những vọng tưởng
rõ rệt tương ưng với những định chứng sắc giới lên
cho đến Vô sở hữu xứ thuộc Vô sắc. Và khi đạt đến
định tâm tương ưng với Hữu đảnh (sắc cứu cánh) thì
họ cho đó là giải thoát; nhưng điều này tuyệt nhiên không
giải thoát họ khỏi sinh tử luân hồi. Như quyển Ca Tụng
những gì đáng Ca Tụng nói:
Những
người này, bị mù lòa bởi vô minh
Không
theo Pháp của Ngài.
Học
có thể đạt đến cõi Hữu đảnh
Nhưng
rồi vẫn lại đau khổ.
Một
kinh nói:
Người
thế tục rất tập trung thiền định,
Như
chưa bỏ được ngã chấp
Nên
mặc dù thật nhọc công
Với
sự nhất tâm quán tưởng
Mà
vọng tưởng vẫn trở lại tàn hại chúng.
Có
ví dụ sau đây. Một hành giả sau nhiều khó nhọc, đã trú
nhiều năm trong định an chỉ thuộc cảnh giới Sắc cứu cánh
(hữu đảnh). Chuột gặm hết mớ tóc dài của ông ta. Về
sau khi để ý đến điều này, ông nổi cáu! Thế là thiền
chứng của ông suy tàn, và ông đi đến các đọa xứ.
Khi
đạt tâm tịnh chỉ thù thắng, bạn có được sự sáng suốt
đến độ có thể đếm những cực vi trong bức tường, v.v…
Mỗi khi một trong mười tướng xuất hiện trước mắt bạn
- nghĩa là năm đối tượng giác quán (sắc pháp, v.v..), ba
độc, đàn ông, đàn bà - bạn sẽ nhớ đến lỗi lầm của
chúng và phát sinh nhàm chán. Bạn sẽ ít vọng tưởng hơn
trước, những vọng tưởng đã có sẽ phai mờ. Bạn sẽ phát
triển những thiện đức như nghĩ mình nên phối hợp tịnh
chỉ với giấc ngủ, vì sự vững chải của hình ảnh quá
mãnh liệt.
Ngày
nay có những người tìm tri kiến trong các giáo lý về Đại
thủ ấn và Dzogchen bằng cách tham chiếu những bản kinh văn
giản lược thay vì y cứ những cổ thư vĩ đại. Những người
như thế sẽ thấy khó đạt được cái gì thực có giá trị
được bàn trong cổ thư như tâm tịnh chỉ. Nhưng tịnh chỉ
là pháp mà chúng ta cùng có chung với ngoại đạo. Theo bản
kinh gốc về đại thủ ấn, thì sự theo dõi vận hành của
tâm chỉ có làm cho bạn quen thuộc vối sự thật tương đối
về tâm. Bởi thế bạn có thể nghĩ rằng pháp thiền theo
cách ấy là tốt, song kỳ thực đấy chỉ như lầm tưởng
đồng và vàng. Bạn chỉ có nước lang thang không mục đích
trên những đường tà. Bạn có thể tăng thêm hôn trầm của
tâm mà lầm cho là thiền định, nhưng cái thiền định ấy
còn không thể đưa đẩy bạn lên được…….. của cõi sắc
và vô sắc. Bạn chỉ có tạo nhân cho……. một con thú chẳng
hạn. Hiền giả Sakya nói:
Những
người mù thường khiến cho thiền đại thủ ấn
Trở
thành nhân tái sinh làm thú vật.
Người
nào khá hơn thì sẽ rơi vào
Thứ
định làm ngưng dòng tâm thức của thanh văn;
Hoặc
tái sinh vào các cõi Vô sắc.
Bạn
có thể phân tích bản chất của tâm là không màu sắc hình
dạng, nhưng không kèm theo một căn bản nào trong ba căn bản
của đạo lộ; hoặc bạn có thể quen thuộc với chỉ giáo:
“Đừng truy tầm quá khứ, đừng tìm kiếm vị lai” (nghĩa
là, chỉ an trú trong hiện tại khi bạn thiền). Những pháp
thiền định nô lệ ấy chỉ khiến cho người đời trở thành
trống rỗng vô vị; không đưa bạn đến những cấp bậc
cao của đạo lộ. Nhưng kèm với bồ đề tâm, từ bỏ, chánh
kiến và quy y, thì sự tu tập như thế trở thành pháp Đại
thừa đưa đến giải thoát, trở thành pháp Phật. Bạn phải
đi vào con đường không lầm lỗi này. Nếu không, một mình
sự thực chứng bản chất của tâm - là trong sáng, trống
rỗng không bám víu v.v… - mà thôi, thì không thể tấn caông
vào thành trì ngã chấp của bạn. Nhiều nhất là những thiền
định về kiểu ấy sẽ đạt được những hiệu quả giống
như những dụng công của ngoại đạo đạt được. Vậy đừng
xem những con đường thấp kém ấy là tốt lành. Bạn phải
biết phân biệt chánh đạo và những con đường chỉ có vẻ
là chân chánh.
a-2.2.
Làm thế nào để luyện cốt tủy của trí tuệ - tuệ quán
đặc biệt.
Có
ba tiêu đề phụ: (1) xác quyết sự phi hữu của bản ngã
cá biệt (nhân vô ngã); (2) xác quyết sự phi hữu của bản
ngã các hiện tượng (pháp vô ngã); (3) cách phát triển tuệ
quán đặc biệt.
a.2.2.1.
Xác định tính phi hữu của bản ngã cá nhân
Có
hai tiêu đề: (1) làm thế nào để nhập định như không gian;
(2) khi tâm không nhập định, làm thế nào để có thái độ
xem vạn pháp như huyễn.
(i)
Làm thế nào để phát sinh định như không gian
Có
bốn điểm then chốt cần xác định: (1) cái gì cần bác bỏ;
(2) gì là toàn bộ những khả tính; (3) thế nào ngã và các
uẩn không thể thực sự là một; (4) thế nào ngã và các
uẩn không thực sự là khác.
Sau
khi thành tựu tâm tịnh chỉ vững chắc, chúng ta không theo
những pháp thiền đi sâu vào tâm an tịnh có tướng sắc giới
và vô sắc giới thuộc các đạo lộ thế gian. Những thiền
này chỉ đàn áp vọng tưởng rõ rệt. Điều chúng ta khao
khát là giải thoát, bởi thế chúng ta phải triển khai loại
tuệ quán siêu thế là tuệ quán đặc biệt phân tích ý nghĩa
vô ngã. Điều này sẽ nhổ tận gốc rễ sinh tử luân hồi
cho chúng ta. Nếu muốn phát sinh tuệ giác ấy, chúng ta phải
đề phòng một cách có phương pháp tất cả những tệ hại
của sinh tử luân hồi mà không cần đến thiền định đặc
biệt về các cảnh giới thù thắng, như được nói trong tác
phẩm Ca tụng Những Gì đáng Ca tụng:
Mặc
dù những người theo Pháp của ngài
Không
thực sự đạt đến những cõi thiền,
Song
họ ngăn được tái sinh trong sinh tử
Làm
cho Ma vương thất vọng đứng nhìn.
Chúng
ta phải xác định gì là ý nghĩa của pháp sâu xa này, tức
là tánh không. Nếu không đạt được thực chứng về tánh
không, thì không thể nào đạt giải thoát; và cả đến những
công việc khác của một người con Phật cũng chỉ trở thành
một cái gì liên hệ đến sự chấp thủ những tướng nhị
nguyên đối đãi.
Nếu
bạn chỉ có phần nào sự phối hợp của phương pháp và
trí tuệ, bạn sẽ không thể du hành đến quốc độ của
một Đấng Chiến thắng. Bạn sẽ giống như con chim chỉ có
một cánh. Phương pháp là tâm bồ đề; trí giác là sự thực
chứng tánh không. Bạn không thể luyện cái này mà thiếu
cái kia. Đức Tsongkapa nói:
Nếu
bạn không có trí tuệ
Hiểu
được cái cách vạn pháp tồn tại,
Thì
bạn không thể nhổ tận gốc rễ sinh tử
Mặc
dù bạn quen thuộc với sự từ bỏ
Và
bồ đề tâm. Như vậy, hãy nỗ lực đạt phương tiện
Để
thực chứng sự hỗ tương liên hệ của các pháp.
Mặc
dù có khuynh hướng tin ở tánh không, có thể bạn còn vài
hoài nghi. Ngài ta nói tánh không sẽ xé tan tành sự chấp thủ
bản ngã nơi bạn: nó như một cơn mưa đá tàn hại mùa màng.
Tác phẩm Bốn trăm bài kệ nói:
Ngay
những người ít công đức
Không
hoài nghi về Pháp này.
Ngay
cả những người còn hoài nghi
Sẽ
phá tan hiện hữu thành từng mảnh.
Pháp
thực hành này cũng cần những chuẩn bị tiên quyết: muốn
phát sinh chánh kiến trong dòng tâm thức bạn phải có những
nguyên nhân và điều kiện như sau. Bạn phải tận tụy với
một bậc thầy thánh thiện có sự hiểu biết đúng về những
điểm then chốt trong kinh điển, và được ông chỉ giáo về
tánh không; bạn phải tích lũy công đức và thanh lọc chướng
ngại; phải khẩn cầu bậc thầy và xem ông không khác gì
thần hộ mạng của mình, vân vân. Nếu bạn không có đầy
đủ những điều kiện này, bạn sẽ không thể đạt một
thực chứng nào cả.
Có
nhiều trình bày khác nhau về tri kiến giữa bốn trường phái
ở Ấn, trước tiên là những nhà Trung quán. Đấy là những
luận sư duy nhất giải thích rằng ý nghĩa của duyên khởi
là tánh không, trong khi ý nghĩa của tánh không là duyên khởi.
Đức
Đạo sư đầy từ mẫn của chúng ta dạy nhiều trình độ
khác nhau cho những đệ tử có căn cơ từ thấp lên cao. Bởi
thế, trước hết ngài dạy con người là trống rỗng, không
thực chất, không có sự tồn tại độc lập. Ngài giảng
điều này để đệ tử khỏi chấp thủ vào một bản ngã
cá biệt. Vói những đệ tử thông minh hơn, Ngài phân tích
giữa các pháp thực có và không thực có. Với những người
khá hơn, Ngài dạy rằng các pháp không thực sự hiện hữu
nhưng có thể thiết lập bởi bản chất chúng. Với những
người khá hơn thế nữa, thì Ngài dạy tất cả các pháp
tự bản chất là không hiện hữu. Cách cuối cùng này là
nhất, và là tư tưởng tối hậu của đức Thế Tôn về vấn
đề này.
Như
đức Đạo sư chúng ta đã nói:
Một
vị tăng danh tiếng sáng chói
Sinh
ra ở miền nam Bhaita
Sẽ
mang tên là “Rồng”
Sẽ
phá hủy các chấp không chấp có.
Ở
đây Long Thụ đã được huyền ký là vị sư vô song giảng
giải đúng tư tưởng của Đấng Chiến thắng về sự làm
thế nào để từ bỏ hai cực đoan chấp không và chấp hữu.
Bởi thế chúng ta phải tìm học tri kiến này bằng cách theo
bước chân ngài. Có nhiều tri kiến chỉ do người ta bốc
đồng sáng chế ra cũng được công bố là sâu sắc, nhưng
tri kiến tối hậu thì phù hợp với những tư tưởng của
Long Thụ, và điều chắc chắn là, thay đổi những tư tưởng
này tức là trình bày sai lạc tư tưởng của Đấng Chiến
thắng. Và điều này không phải chi có dân Tây Tạng ngu ngốc
mới làm. Ngay cả những học giả Ấn vĩ đại như Bhàvariveka
và học giả Tây Tạng Jonangpa cũng lầm lẫn về những điểm
then chốt trong tri kiến này. Lại có những người theo Long
Thụ nhưng không hiểu ý ngài. Còn có những kẻ không những
không theo Long Thụ mà còn cố bài bác. Tuy nhiên những người
này và thừa kế của họ giảng dạy những quan điểm do họ
sáng chế, và điều này không thuộc vào hệ thống của Long
Thụ. Chandrakìrti nói:
Những
con đường
Khác
với con đường Long Thụ đã đi
Vượt
ngoài hệ thống này, và không phải cách đạt đến an tịnh.
Chúng
làm giảm giá trị tục đế và chân đế.
Với
sự giảm giá hai đế lý, thì không thể đạt giải thoát.
Vậy,
không có hai cửa ngõ dẫn đến sự an tịnh giải thoát, người
nào không theo hệ thống này thì không thể nào đạt đến
đấy. Atìsha nói:
Ai
đã đạt ngộ chân không?
Chính
Chandraikìrti:
Đức
Như Lai đã huyền ký như vậy.
Vị
ấy thấy được chân như của các pháp;
Và
là đệ tử của Long Thụ.
Qua
hệ phái chỉ giáo của ngài
Bạn
sẽ thấy được chân như của các pháp.
Nghĩa
là, Nguyệt Xứng (Chandrakìrti) là đại đệ tử của Long Thụ.
Nhiều bậc thầy Tây Tạng thuộc nhiều tông phái đã theo
ngài trong kỳ truyền pháp đầu tiên tại Tây Tạng. Tư tưởng
của những bậc thầy này còn ở trong phạm vi tư tưởng của
những bậc thầy này còn ở trong phạm vi tư tưởng phái Trung
quán (Pràsangikas), những bậc thầy Chandrakìrti đã dạy giáo
lý nhiều cách để phù hợp trình độ các đệ tử, nên về
sau, nhiều tín đồ không hiểu ý nghĩa chân thực của các
bậc thầy này, và dần dần rơi vào lầm lạc. Có ít người
có thẩm quyền định đoạt hình thức tối hậu của tri kiến,
và đức Tsongkapa, hiện thân của Văn Thù, đã không tin tưởng
những gì mà các người Tây Tạng này nói về tri kiến ấy.
Bởi thế ngài định lên đường sang thánh địa Ấn để
gặp bậc thầy Nàgabodhi, hành giả vĩ đại Maitripa, vân vân.
Lhodrag Namkha Gyaeltsaen xin ngài bỏ dự định này. Với Namkha
Gyaeltsaen làm trung gian (ngồi đồng). Tsongkapa hỏi Kim Cương
Thủ (Vajrapani) những câu hỏi về tri kiến. Giáo lý của Kim
Cương Thủ được ghi chép dưới dạng vấn đáp nhan đề
là Chuỗi Cam Lồ Tối Thượng để trị bệnh. Giáo lý này
khiến Tsongkapa càng hoài nghi thêm về những tri kiến được
trình bày trong các sách hiện hành lúc bấy giờ. Ngài vẫn
hoàn toàn bất mãn. Bởi thế ngài khẩn cầu bậc thầy mà
ngài xem không khác gì Đức Văn Thù; ngài nỗ lực tích lũy
công đức và thanh lọc bản thân, và thực hành nhiều đề
tài thiền quán. Ngài tu hành một cách miên mật, và về sau
đã thấy được linh kiến về Đức Văn Thù.
Nói
chung có ba loại linh kiến. Một loại là thấy một ảo ảnh
của một vị thần: điều này được kinh quá khi những luồng
khí lực đi vào huyệt đạo. Một loại linh kiến khác là
vị thần hiện ra trong tâm thức, loại hình này được kinh
nghiệm trong lúc nhập định. Loại cuối cùng là người ta
thực sự thấy vị thần bằng cảm quan có ý thức, có thể
nói là trực tiếp đối diện. Tsongkapa có loại linh kiến
sau cùng này về Đức Văn Thù, và có thể gặp Đức Văn Thù
như trò gặp thầy. Những câu trả lời của Đức Văn Thù
cho những câu hỏi của Tsongkapa đặt ra liên quan đến những
điểm khó trong tri kiến thật quá sau xa. Mỗi khi Tsongkapa không
hiểu điều gì, ngài thường thảo luận với Rendawa, tuy nhiên
ngài vẫn không giải tỏa được những hoài nghi. Đức Văn
Thù tuyên bố Tsongkapa nên dùng giáo lý này như khởi điểm
và trong tương lai hãy nỗ lực tra cứu các cổ thư, rồi sẽ
nhận thức được tri kiến sâu xa không cong quẹo. Việc xảy
ra như thế.
Về
sau, nhờ tích lũy công đức và thanh lọc chướng ngại, ngài
có linh kiến về Buddhapàlita; bởi thế ngài đọc luận giải
của vị này, nhan đề Sự tầm cầu Phật quả, và khởi sự
triển khai tri kiến tuyệt đối của Trung quán (Prasangika) trong
dòng tâm thức. Vào giai đoạn này trong đời, ngài đã có
linh kiến về nhiều học giảvà hành giả Ấn Độ, nhưng
ngài ít lưu ý đến họ. Đức Văn Thù bảo Tsongkapa - lúc
ấy người trung gian ngồi đồng cho vị thần nhập vào là
một vị lama tu chứng khá cao, có lẽ là ngài Umapa - rằng
“ông nên chú ý đến linh kiến ấy, vì sẽ rất lợi lạc
cho người khác và cho chính ông nếu ông căn cứ vào những
kiệt tác của họ.”
Khi
đức Tsongkapa trực ngộ được tri kiến không bị méo mó
của phái Trung quán, đức tin của ngài vào đức Phật đấng
Đạo sư càng dâng cao, và ngài đã làm một bài thơ ca tụng
lý duyên khởi mà đức Phật đã giảng dạy. Tác phẩm này
nhan đề Ca Tụng Lý Duyên Sinh Hay Tinh Túy Vắn Tắt Của Tài
Hùng Biện. Choglae Namgyael ở Badong nghe một người hành khất
đang đi chiêm bái hát bài này. Lúc đầu Namgyael tưởng đây
là tác phẩm Long Thụ hay Nguyệt Xứng, nhưng ở phần cuối
ông lại nghe tác giả bài thơ nói đã căn cứ vào tác phẩm
của hai vị này, và được trả lời chính đức Tsongkapa vĩ
đại đã viết. Namgyael phát sinh lòng tin kiên cố nơi Tsongkapa
và khởi hành đi gặp ngài. Ông khám phá ra ngài đã từ trần.
Ngài đã đi đến các cõi tịnh vì lợi lạc của những hữu
tình khác. Không được gặp ngài, Namgyael bèn cầu nguyện
cho được gặp, và tung những đồng tiền vàng và bạc lên
hư không. Chúng đáp xuống đất tu viện Ganden. Những việc
lạ như vậy có thể được tìm thấy trong tiểu sử của
đức Tsongkapa.
Vậy
trước tác của Tsongkapa thuyết minh ý nghĩa của những giáo
lý sâu xa này, và gỡ rối cho những tư tưởng các bậc thầy
khác về giáo lý. Tuy nhiên ngài không xem một bản kinh luận
là thứ thiệt chỉ vì nó xuất xứ từ thánh địa Ấn. Ngài
không sử dụng phần chính của những trước tác có thể
đáp ứng tiêu chuẩn ngài để bảo đảm sự chính xác của
tri kiến. Thay vì thế ngài đã thỉnh tôn ý của Đức Văn
Thù vị thần bảo hộ ngài. Đức Văn Thù cho biết Nguyệt
Xứng là một vị Bồ tát dũng cảm có địa vị cao, đến
từ cõi Phật với ý định hoằng dương giáo lý của đức
hộ pháp Long Thụ về tri kiến sâu xa. Bởi thiế đức Tsongkapa
xem lời của Đức Văn Thù và những trước tác của Chandrakìrti
là chính xác.
Những
trước tác của Tsongkapa liên hệ đến tri kiến đề ra trong
kinh điển thực khó cho chúng ta hiểu hay chứng trong lúc học
tập quán tưởng, vì chúng quá sâu xa. Tuy nhiên, nếu học
hỏi nhiều lần một cách chi tiết, ta sẽ triển khai được
tuệ quán vào tánh không. những luận khác không sâu xa bằng,
và ta sẽ thấu đạt được nhiều điều từ tác phẩm của
ngài hơn bất cứ tác phẩm nào khác.
(1)
Điểm then chốt thứ nhất: Cái gì nên bác bỏ
Bây
giờ tôi sẽ dạy đề tài này một cách vắn tắc căn cứ
trên tác phẩm Tsongkapa. Ngài đề cập trước hết làm thế
nào để xác quyết nhân vô ngã. Bốn trăm bài kệ của Aryadeva
(Thánh Thiên) nói:
Trước
hết hãy lật ngược trạng thái vô cùng công đức của bạn;
Kế
tiếp bác bỏ cái ngã;
Cuối
cùng, tri kiến duy nhất bác tất cả.
Người
nào biết như vậy là thiện xảo.
Điều
này phù hợp với những chỉ giáo liên hệ đến thứ tự
bạn nên theo trong pháp hành này. Trong Phạm Vi Nhỏ và Trung
bình, bạn phải bác những kiến chấp như cho rằng không có
nhân quả, v.v… Kế tiếp, bạn phải bác nhân ngã (cho rằng
chủ thể có tự tính - DG), và cuối cùng bác pháp ngã (cho
rằng đối tượng là thực có tự tính DG).
Không
có khác nhau giữa những cái ngã phi hữu được đề cập
trong lý thuyết về hai vô ngã. Tuy nhiên, trước hết tôi sẽ
giảng về vô ngã trong tương quan với một vật đặc biệt
là chủ thể hay con người. Xác định loại vô ngã này dễ
hơn. Ngoài ra lại có một số lý luận về tánh không cần
được xác định: những luận cứ dựa trên sự hỗ tương
lệ thuộc ( duyên khởi), luận cứ xem những thành phần của
một chiếc xe theo bảy cách vân vân. (CT. Ám chỉ luận lý
gồm bảy phần của Chandrakìrti). Luận cứ dễ hiểu nhất
cho người sơ cơ là ngã không phải một cũng không khác với
năm uẩn. Ở điểm này, Tsongkapa và môn đệ bàn đến bốn
điểm then chốt cho luận chứng ấy.
Điểm
then chốt đầu tiên là xác định cái gì phải bác bỏ. Trong
quyển Hành Bồ Tát Hạnh chúng ta đọc:
Khi
bạn không chạm đúng tướng,
Thì
bạn sẽ không nắm được rằng nó không thực.
Nói
cách khác, nếu bạn không thể chỉ rõ “ngã” là gì - cái
vật phải bị bác bỏ cho là phi hữu - thì bạn sẽ không
nhận ra cái “không ngã” không còn hàm ẩn gì lưu lại sau
tiến trình bác bỏ. Ví dụ: Bạn không thể bắn một mũi
tên nếu không thể thấy mục tiêu, không thể bắt trộm nếu
không thể nhận ra kẻ trộm. Bạn phải nhận ra cái ngã rồi
mới bác bỏ được. Ngã là một cái gì không thật ra “không
thật hữu,” một cái gì bản chất không thể độc lập
tự do, một cái gì về phần nó không khác với cái khác.
Luận về Bốn trăm bài kệ của Chandrakirti nói:
“Cái
vật được biết là ngã là một thực thể mà bản chất
nó không thể là hậu quả của một pháp nào khác có nhiệm
vụ tạo tác ra nó. Vô ngã là sự phi hữu của cái ngã ấy.”
Như
vậy ngã được giả thiết là một cái gì tự nó biệt lập,
vì nó không là hậu quả của những điều kiện khác. Nó
cũng được gọi là một thực thể tự tồn, vì nó không
lệ thuộc vào bất cứ gì khác; nó cũng không là hậu quả
của một cái gì khác.
Bạn
có thể sử dụng những lời này trong cuộc tranh luận để
bắt bí đối phương, nhưng nếu bạn chưa xác định được
nó bằng kinh nghiệm thì bạn vẫn chưa nhận diện ra đối
tượng của sự bác bỏ. Ví dụ, bạn sẽ không nhận ra kẻ
ăn trộm chỉ nhờ những sự mô tả như “kẻ trộm là một
con người” hay “kẻ ấy mặc áo trắng.” Bạn sẽ không
hiểu được đối tượng này qua sự mô tả của người nào
khác hoặc qua những hình ảnh trong tâm do danh từ gợi lên.
Bạn phải nhận ra đối tượng của sự bác bỏ nhờ những
kinh nghiệm tâm linh cá nhân sống động và thực thụ, qua
một tiến trình phân tích. Nếu bạn chưa xác định đối
tượng sự bác bỏ thì bạn có nguy cơ rơi vào cái bẩy là
phản chứng lý duyên sinh của các pháp, mặc dù có sử dụng
nhiều luận cứ để chứng minh chúng thiếu thực hữu. Ví
dụ, quy ước về cái bình là hoàn toàn quen thuộc với bạn.
bạn có thể nói, “cái miệng bình không phải là bình. Đáy
bình không phải là bình,” vân vân, loại trừ từng phần
của bình và cuối cùng thiền quán một cách nô lệ về tánh
không mà chỉ do vì không thể tìm cái bình ở đâu được
nữa. Nhưng với kiểu ấy bạn vẫn thiếu sự rõ ràng để
bác bỏ đối tượng cần bác bỏ trên cơ sở của chính cái
không ấy, và bạn chỉ có phá hủy cái giả danh về bình,
và rơi vào trống không toàn diện. Tánh không này mà bạn
đã tưởng tượng, là không nhằm chỗ.
Khi
tìm kiếm cái đối tượng phải bị bác bỏ, ta phải tra tâm
cái cách ta chấp thủ theo bản năng vào một cái tôi được
xem là có tự tính. Khi chúng ta tra tầm “cái tôi” xuất
hiện trong tâm theo bản năng, cách tâm bám lấy “cái tôi”,
ta khám phá ra ta nghĩ, “Cái tôi này không chỉ là một cái
gì tâm ta gán lên năm uẩn - nó được thiết lập cùng với
năm uẩn.” Như vậy sự chấp thủ vào cái tôi theo bản năng
(câu sanh ngã chấp) được tìm thấy ngay cả trong dòng tâm
thức của những con kiến, trong tận cùng tâm khảm, ngay cả
trong chiêm bao của chúng.
Nói
chung có ba cách chấp thủ cái tôi dựa trên con người (nhân
ngã). Đó là: (1) thứ chấp ngã của những người đã triển
khai tri kiến về tánh không trong dòng tâm thức họ. Họ chỉ
quy tội cái “tôi” trên khái niệm, trên giả danh. Cũng có
những người chủ trương sự vật không thực hữu, song vẫn
có kiểu chấp ngã như thế. (2) Cái cách mà người thường
- những người mà dòng tâm thức chưa bị ảnh hưởng các
lý thuyết - chấp thủ cái tôi. Cách chấp ngã này được
thấy nơi những người bất chấp cái tôi ấy thực có tự
tính hay không. (3) Hình thức chấp ngã của những người cho
ngã là thực hữu, có tự tính.
Loại
chấp thủ thứ hai trên đây là một nhận thức có giá trị
thừa nhận cái tôi giả lập (tục đế). Chủ đề của nó
chỉ là loại cái tôi này, một cái hiện hữu theo quy ước.
Cũng đúng khi nói rằng nhân quả vận hành trên cái tôi giả
lập này.
Loại
chấp ngã thứ ba ở trên là một ý thức sai lầm và cần
được phá hủy bằng một phương pháp đối trị. Chính khía
cạnh cái tôi này là đối tượng để bác trong nhiều luận
cứ khác nhau. Khi bạn bị lầm lạc để cái ngã thò ra theo
bảng năng, tỉ dụ khi nghĩ, “tôi đã ăn xong,” thế là
bạn đang chấp ngã.
Tâm
thức khi không có thái độ phê phán, thường thỏa mãn với
một cái tôi chỉ có tính cách gán ghép. Nhưng hoạt động
như đi hay ngồi - như tôi đang đi, tôi đang ngồi - chỉ là
những nhãn hiệu. Đấy là cách chúng ta đặt cho những hoạt
động của mình, theo hệ thống Trung quán. Một phần của
cách cái “ngã câu sanh” (cái tôi theo bản năng) ló ra cho
bạn chính là ý tưởng cho rằng có một cái tôi theo quy ước
ấy. Tuy nhiên, “ngã câu sanh” ấy không trình ra một cách
nào rõ rệt để không bị lầm lẫn với đối tượng khác
xuất hiện cùng lúc cho bạn. Bạn phải biết phân biệt giữa
hai điều: cách xuất hiện của cái tôi được cho là thật
có tự tính, và của cái tôi giả lập.
Hình
thức chấp ngã theo bản năng (câu sanh ngã chấp) là một cái
gì chúng ta luôn có trong dòng tâm thức, ngay cả khi mộng mị.
Khi chưa gặp hoàn cảnh thì ta vẫn còn mờ mịt về cách xuất
hiện của câu sanh ngã chấp ấy. Nhưng “cái tôi bản năng”
ấy xuất hiện rõ rệt khi gặp cảnh vui hay buồn mãnh liệt,
như khi bạn được ca tụng hay bị chỉ trích. Giả sử người
nào buộc tội bạn là kẻ trộm, làm cho bạn tức giận. Lòng
căm tức nổi lên nơi bạn, bạn nghĩ, “Tôi không có tội.”
Rồi bạn nói: “tôi không còn nhịn được nữa!” Bạn không
thể bài bác sự buộc tội ngay, mà thay vì thế bạn lại
mất tự chủ. Điều ấy đương nhiên chỉ tăng cường sự
buộc tội rằng bạn ăn trộm. Lý do làm bạn nói “tôi không
có tội” là cảm giác của bạn về cái “tôi, tôi.” Cái
tôi vươn lên một cách sống động từ trung tâm của trái
tim bạn trong tất cả vẻ sáng chói của nó. Chính đây là
cách mà đối tượng để bác bỏ sẽ trình diện cho bạn.
Mỗi khi tư duy này xuất hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào
làm bạn vui, buồn, mừng, sợ, và mỗi khi sự chấp thủ theo
bản năng - câu sanh ngã chấp - phát sinh một cách mạnh mẽ,
thì bạn phải quán xét ngay tại chỗ cái cách nó thò đầu
ra cho bạn thấy.
Giả
sử hai người đang đi cạnh nhau trên cùng mộtcon đường,
người này liếc mắt quan sát người kia. Điều này là hình
ảnh điều nói sau đây. Trong khi tâm bạn tiếp tục hoặc
động theo bản năng, và khi đối tượng cần bác bỏ trình
ra trước bạn, bạn phải dùng một phần nhỏ của tâm để
xem xét cách xuất hiện theo bản năng của đối tượng ấy.
Nếu cái tâm xem xét ấy quá mạnh, thì bạn sẽ tuột mất
không nắm được một phần của cái tôi, và phần ấy sẽ
trở nên không rõ rệt. Bởi thế, điều cốt yếu là phải
xem xét cái tôi một cách thiện xảo.
Trong
tiến trình này, trong khi bạn đang nhìn xem cái tôi theo bản
năng đó xuất hiện cách nào, cái tôi ấy có thể ló ra nhiều
cách. Đôi khi “cái tôi” có thể là một cái gì gán cho
thân thể, đôi khi gán cho thân ý. Đây không phải cách thực
thụ cái tôi ló ra do sự chấp ngã theo bản năng. Thân và
tâm, những cơ sở của sự gán ghép, cũng như con người -
hiện tượng được gán - tất cả đều hòa thành một toàn
bộ rộng rãi. Cái tôi hiển nhiên có vẻ như một cái gì
còn hơn là một ý nghĩ gán trên toàn bộ này. Thay vì thế,
nó xuất hiện như một cái gì tự tồn, biệt lập. Nếu cái
tôi dường như là vậy, thì bạn phải thấy đúng cái cách
mà đối tượng để bác bỏ xuất hiện cho bạn. Một khi
đã nhận ra nó, thì rất dễ bác bỏ.
Điểm
then chốt này rất tế nhị, đôi khi lỗi lầm là tại bạn
đã đưa nó đi quá xa, đôi khi lỗi là không đủ xa. Nếu
bạn không nhận diện đối tượng phải bác bỏ thì nó luôn
luôn thò đầu ra; nhưng khi bạn cố nhận diện nó, nó lại
ẩn nấp trong toàn bộ thân tâm, và bạn không thể tìm ra
nó. Nếu bạn phải đi lên đến mép một mỏm đá cao chẳng
hạn, trong khi sợ hãi bạn có cảm giác: “Tôi có thể rớt
xuống,” hoặc “thân thể tôi có thể rớt xuống” hay “tâm
tôi có thể rớt xuống.” Thân và tâm là hai cái, bất khả
phân như nước với sữa. Cái tôi hiển nhiên, cái vật có
thể rớt xuống vực kia, sẽ nổi lên trên đỉnh của thân
và tâm. Đây là điều thường xảy ra. Khi bạn cỡi ngựa
phi nước đại bạn không chỉ cốt thân hay tâm con ngựa khi
bạn nói “ngựa.” Ngựa chỉ là một cái tên gán cho toàn
bộ thân và tâm. Bạn hiểu “ngựa” là vật hiển nhiên
được danh từ “ngựa” bao hàm. Khi bạn nói đến Sera hay
Drepung, bạn không phân biệt những tòa nhà phía ngoài như
điện thờ, và những tu sĩ ở trong viện. Căn bản của sự
gán đặt tên ấy là tập thể gồm những khung cảnh vật
lý của tu viện cùng với những gì nó chứa bên trong. Vươn
lên trên tập thể này là cái vật thể bao quát hiển nhiên,
được gồm trong danh từ Drepung hay Sera. Đây cũng là điều
thường xảy ra. Khi bạn nói về một học giả, căn bản của
sự đặt tên ấy chỉ là toàn bộ thân và tâm của ông ta.
Nhưng còn có một cái gì hiển nhiên và hoàn toàn biệt lập
với bất cứ cái gì khác, trình ra trước bạn.
Tóm
lại, bất cứ một pháp nào cũng sẽ được gọi là “cái
này” hay “cái kia.” “Cái này” hay “cái kia” hoàn toàn
lấn lên căn bản của sự gán đặt và trình bày ra như thế
nó hiện hữu biệt lập. Đây là đối tượng tối hậu của
sự bác bỏ bằng luận lý. Nó đã được mô tả là “vật
mà bạn hướng sự chấp thủ của mình đến vì cho là thực
hữu,” “đối tượng của sự bác bỏ, được cho là thật
có vì người ta không nhận ra một phần đối tượng bác
bỏ và sử dụng một cách mà những vật được cho là thực
hữu, xuất hiện. Hãy chấm dứt ở đấy, vì thật vô ích
để đi tìm đối tượng của sự bác bỏ ở chỗ khác. Jangkya
Roelpai nói:
Một
số người có tâm sáng suốt hơn
Bám
lấy những khẩu hiệu như
“Tự
hữu” và “được lập là thật có,”
Nhưng
duy trì những giả tướng hiển nhiên.
Họ
dường như đi tìm để bác bỏ
Một
vật gì trên đầu có sừng!
“Chân
không” không phải nổi bật rõ rệt
Như
cái mặt của một phụ nữ bỏ khăn che.
Nếu
bạn nói nhiều quá
Mà
không đánh trúng chỗ cần bác bỏ,
Thì
người phụ nữ ấy sẽ chạy trốn mất!
{CT.
ám chỉ “chân không”}
Nói
cách khác, đây là mối nguy hiểm lớn. Bởi vậy điều cốt
yếu là phải tra tầm toàn triệt với một tâm phân biệt
rất vi tế. Hãy làm việc này kèm theo những điều kiện bên
ngoài thích hợp - như chỉ giáo của bậc thầy - và điều
kiện bên trong thích hợp - như đã tích lũy công đức và
thanh lọc bản thân. Nếu bạn có thể nhận diện các đối
tượng để bác bỏ, thì những luận cứ - như mệnh đề
luận lý liên hệ đến duyên khởi các pháp - sẽ làm sụp
đổ ngọn núi chấp hữu của bạn. Tiêu chuẩn để biết
đã nhận diện đúng đối tượng này là bạn trực ngộ chân
không một cách không khó khăn gì cả.
Jangkya
Roelpai Dorje nói:
Bạn
không cần phải đi tìm nó:
Cái
vật ấy, hỡi hành giả, ở ngay nơi bạn.
Nói
cách khác, bạn không cần phải tìm đâu cho xa để thấy được
chân không; vì nó cùng ở với bạn, con người tìm kiếm.
Vậy, hãy thiền quán liên tục hàng tháng, hàng năm về sự
nhận diện cái vật cần bác bỏ!
(2)
Điểm then chốt thứ hai: Xác định toàn bộ những khả tính
Như
chúng ta vừa nghe trên đây, một tâm ảnh đúng phát sinh từ
kinh nghiệm trực tiếp về đối tượng để bác bỏ có thể
xuất hiện rõ rệt trước tâm nhãn. Nếu một cái tôi - vật
được chấp thủ theo bản năng - quả thực có tự tính, thì
nó hoặc là một với năm uẩn, hoặc khác với năm uẩn. Không
có khả tính thứ ba nào ngoài hai khả tính này. Thông thường,
nếu một pháp (hay hiện tượng) hiện hữu, thì nó nhất thiết
phải thuộc số ít hoặc số nhiều. Chắc chắn điều này
bao gồm tất cả các trường hợp; bởi thế nó cũng áp dụng
cho một “cái tôi”, mà chỉ có thể là một với các uẩn,
hay khác với các uẩn.
Điểm
then chốt này phải đưa bạn đến sự xác quyết rằng, “Nếu
nó không phải là trường hợp ấy, thì nó không thể hiện
hữu.” Bạn phải thiền định về điểm then chốt này không
chỉ trong một hai ngày, mà cho đến khi bạn đạt đến lòng
tin không lay chuyển.
(3)
Điểm then chốt thứ ba: Quyết định Ngã và Uẩn không phải
là một
Bây
giờ bạn phải minh xác: giả như đối tượng cần bác bỏ
có hiện hữu, thì nó hiện hữu cách nào. Sở dĩ người ta
có thể lập rằng ngã và uẩn là một, chính vì chúng không
xuất hiện trong tâm tách rời nhau; chúng hoàn toàn bất khả
phân, vì chúng chỉ là một. Những lý lẽ ấy giới hạn chúng
vào một thực thể duy nhất rõ rệt. Tuy nhiên cách chúng xuất
hiện lại không phù hợp với cách chúng (giả thiết là) hiện
hữu - điều này sẽ chứng minh chúng là giả ngay cả trên
bình diện tương đối. Nhưng làm sao chuyện ấy có thể xảy
ra khi một vật đã được lập là thực có: cách nó xuất
hiện đáng lẽ phải tương ứng với nó hiện hữu. Nói rằng
“các uẩn của ngã” thì không khác gì nói “uẩn của uẩn”
hay ngã của ngã. “Sẽ là điều vô lý nếu phân biệt “ngã”
với “các uẩn của ngã.” Tác phẩm Gốc rễ Trí tuệ của
Long Thụ nói:
Khi
bạn cho rằng
Cái
ngã được đặt ra không thể hiện hữu
Nếu
không có các uẩn mà nó bị ô nhiễm,
Thì
các uẩn này khi ấy chính là cái ngã,
Và
ngã mà bạn nói đó sẽ là thành phần phi hữu.
Nói
cách khác, lỗi trong lập luận này là ngã sẽ thành phi hữu,
vì nó được giả thiết là cái vật bị nhiễm các uẩn,
và là một cái gì khác với năm uẩn - những vật mà ngã
nhiễm phải. Dường như điều này chưa đủ, Hành Trung Đạo
còn nói thêm:
Không
nên lập luận rằng cái nhận ô nhiễm
Và
cái vật làm nó ô nhiễm chỉ là một,
Vì
khi ấy, người làm và việc làm sẽ thành một.
Nói
cách khác, một lý luận như vậy phi lý, vì cái nhận ô nhiễm
thành một. Thân xác và cái thực thể nhập xác trở thành
một; tay chân và sinh vật có tay chân ấy thành một. Hơn nữa,
nếu ngã và uẩn là một, thì như trong Hành Trung Đạo nói:
Nếu
các uẩn là ngã, thì kết quả là
Uẩn
số nhiều nên ngã cũng phải nhiều.
Nói
khác đi, cũng như có năm uẩn, cái ngã cũng phải có năm.
Một
kết quả phi lý khác nữa là, vì chỉ có một ngã, một cái
không thể chứa đến năm uẩn - nên uẩn cũng phải là một.
Khi cái ngã được giả thiết là năm uẩn, thì có sự phi
lý và năm uẩn được xem tự bản chất chỉ là một, và
thân xác được hỏa táng sau khi chết, ra tro, thì hóa ra cái
tôi cũng đồng thời bị hỏa táng ra tro hay sao. Và hơn nữa,
khi cái tôi đi đến tái sinh kế tiếp, thì thân xác cuối
cùng của nó sẽ được thụ thai vào lúc nhập thai (trong một
bào thai trứng, chẳng hạn). Hoặc, vì thân thể ấy sẽ không
được nhập thai trong tái sinh kế tiếp, thì thân xác cuối
cùng của nó sẽ được thụ thai trong lúc nhập thai (trong
một bào thai hay trứng, chẳng hạn). Hoặc, vì thân thể ấy
sẽ không được nhập thai như thế, thì cái tôi cũng sẽ
không nhập thai trong tái sinh kế tiếp. Không thể có chuyện
một cái ngã như vậy tái sinh vào cõi Vô sắc. Cái ngã sẽ
là vật chất. Nếu tôi và tâm là một, thì cái “tôi” không
thể nào cảm thấy lạnh hay đói, vì tâm không thể lạnh
hay đói. Hậu quả phi lý là người ta không thể nói “tôi
lạnh” hay “tôi đói” khi bị nóng lạnh, đói khát vân
vân. Nếu cả thân và tâm đều là tôi thì sẽ không lý nghĩa
gì để phân biệt “thân tôi” và “tâm tôi.” Hơn nữa,
nếu ngã và uẩn được lập là một, thì chỗ ở của chúng,
thời gian và mọi sự về chúng phải giống nhau. Như thế,
như trong Gốc Rễ Trí Tuệ nói:
Nếu
các uẩn là ngã,
Thì
đấy sẽ là một vật được sinh ra rồi bị phá hủy.
Nói
cách khác, vì các uẩn có sinh diệt nên ngã cũng sinh diệt.
Như thế, cũng như sắc uẩn có những sự gián đoạn trong
quá khứ và vị lai và do vậy có sinh diệt, cai ngã cũng mất
tương tục tính, và hậu quả vô lý là ngã cũng sinh diệt.
Nếu
cái tôi tái sinh trong những đời khác và các uẩn của mỗi
tái sinh quá khứ hay vị lai tự bản chất chỉ là một, thì
cái tôi của những tái sinh quá khứ và cái tôi của tái sinh
hiện tại sẽ hoặc là một hoặc là khác. Nếu là một, thì
đáng ra trong đời hiện tại người ta phải bị câm và ngu
ngốc như trong đời quá khứ khi làm súc sinh. Một hậu quả
khác nữa là súc sinh ấy trong đời quá khứ cũng phải được
cái hạnh phúc của một con người. Nhưng nếu cái tôi là
tự nhiên tách biệt với những tái sinh quá khứ vị lai của
một người, thì, như Hành Trung Đạo nói:
Vì
những tướng ấy khác hẳn nhau
Như
Di Lặc khác Ưu ba cúc đa,
Nên
cũng không thuộc vào một tương tục duy nhất:
Tự
bản chất, chúng không tách rời nhau.
Không
đúng để bao gồm chúng
Trong
một thực thể duy nhất.
Nói
cách khác, hậu quả phi lý là luận cứ này không thể giải
thích năng lực thần thông của một người có thể nhớ lại
nhiều đời quá khứ của một chúng sinh, vì những đời này
sẽ phải tách biệt nhau và không tương quan gì nhau như Maitreya
và Upagupta, những vị có dòng tâm thức khác nhau Gốc rễ
trí tuệ nói:
Nếu
cái tôi quá khứ là khác,
Thì
nó cũng sẽ trở thành phi hữu.
Lại
nữa: nó sẽ không chết, mà sẽ tái sinh.
Rồi
kết quả là
Vì
người ta tách rời với những đời khác,
Nghiệp
cũng tự động biến mất;
Những
người sẽ đơn độc chịu đựng
Cái
nghiệp do kẻ khác làm, vân vân.
Nghĩa
là, sự biến mất của nghiệp đã làm là một tội lỗi trong
luận cứ này. Bạn có thể tự hỏi: “Phải chăng cái ngã
của một đời sau sẽ không chịu những nghiệp báo của cái
ngã đời quá khứ? Nếu thế thì có sự phi lý này xảy ra
là, một con người có tự tính riêng nó sẽ chịu những hậu
quả của nghiệp do người khác - cũng có tự tính riêng nó
sẽ chịu đựng hậu quả của nghiệp do một người khác
- cũng có tự tính riêng nó - tích lũy. Điều này cũng bằng
như gặp một quả báo mà nghiệp của nó đã không được
gây ra vân vân.
Bạn
đã xác định rằng ngã và uẩn không thực sự là một, khi
bạn tin rằng ngã: “Ngã và năm uẩn đương nhiên không phải
là một vật, một cái gì có tự tính riêng nó.”
(4)
Điểm then chốt thứ tư: xác định Ngã, Uẩn không thực là
khác
Khi
đã chắc chắn ngã, uẩn không phải một, bạn sẽ nghĩ: “Bây
giờ chỉ còn nước xem ngã và uẩn tự bản chất là riêng
biệt.” Nếu ngã và uẩn được chứng minh là có tự tính
riêng biệt, thì Gốc Rễ Trí Tuệ nói:
Chúng
ta không thể chấp nhận rằng ngã
Là
khác với các uẩn
Mà
nó bị nhiễm phải.
Nếu
ngã khác uẩn
Thì
sẽ có thể thấy được nó
Mà
không cần có uẩn nào,
Nhưng
ta không thấy ngã như vậy.
Nói
cách khác, khi bạn loại trừ dê và cừu trong một toán gồm
dê cừu vàbò, thì bạn có thể chỉ con vật còn lại mà nói:
“Đây là con bò!” Tương tự, bạn cũng phải có thể nhận
diện một cách khác với năm uẩn gọi là “tôi” còn lại
sau khi loại trừ từng uẩn một trong năm uẩn sắc thọ tưởng
hành thức. Nhưng sự thật là bạn không nhận ra được một
cái gì như vậy.
Gốc
rễ trí tuệ nói:
Nếu
nó khác với các uẩn
Thì
nó sẽ không có đặc tính của các uẩn.
Nghĩa
là, ngã sẽ không có tính sinh, diệt… những đặc tính của
pháp hữu vi. Lại nữa mặc dù các uẩn có sinh, già, chết,
mà ngã sẽ không sinh già chết vân vân. Bất cứ gì động
tới các uẩn cũng sẽ không làm tổi hại ngã. Những việc
này và nhiều ví dụ khác nữa ngược lại với kinh nghiệm
thông thường. Còn nhiều mâu thuẫn khác nữa. Người ta sẽ
vẫn còn cái ý thức về một cái tôi khi không còn cơ sở
là các uẩn. Nghiệp đã làm tan biến mất; lại còn điều
phi lý tiếp theo như đã nói, là người ta sẽ gặp một điều
mà nghiệp của nó họ đã không tạo, vân vân.
Tiến
trình xác định này - ngã và uẩn không thực sự khác nhau
- là cốt để cho bạn tin chắc rằng “Ngã và uẩn nhất
định không có tự tánh riêng biệt.”
Vậy,
trong lúc nhớ lại cách xuất hiện của đối tượng mà bạn
xác định là phải bị bác bỏ, thì hãy xem xét nó theo các
luận cứ trên đây - rằng nó không phải một cũng không phải
khác với các uẩn. Loại xác tín bạn có được - hoàn toàn
bác bỏ cả hai trường hợp trên - được minh họa như sau.
Giả sử chỉ có một con đường mòn giữa hai thung lũng, và
bạn đã mất một con bò. Chỉ nói một lời “Không có bò
trong thung lũng này,” sẽ không làm bạn thỏa mãn, bạn sẽ
tìm con bò ở khắp cả hai thung lũng. Tim bạn đặt nơi cái
vật bạn tìm kiếm, nhưng nếu bạn không tìm được, thì
tự nhiên dù không muốn, trong tâm bạn cũng nảy sinh một
ý nghĩ là con bò chưa từng có.
Cái
tôi là chủ tể của sự bám víu của bạn vào một cái ngã
do bản năng. Nhưng bạn đã thành tựu được tri kiến Trung
quán khi bạn cảm thấy “Cái tôi không là một vật gì chắc
thực để có thể thấy bằng mắt chẳng hạn, hay cầm bằng
tay,” hoặc khi cái tôi ấy xuất hiện trở nên hoàn toàn
trống rỗng, và bạn có thể được xác quyết sống động
rằng nó không có thực hữu. Ở điểm này, người lợi căn
do rất quen thuộc với vấn đề này, cảm thấy họ đã tìm
ra được một cái gì rất quý báu. Người độn căn sẽ sợ
hãi vì bỗng dưng họ thấy mất đi một vật yêu quý nhất
đời. Tuy nhiên điều này cũng không sao. Một lần, khi đức
Tsongkapa đang cho một khóa giảng về tri kiến này ở am thất
Sera Choeding, Sherab Senge ngộ được tri kiến và đâm ra hãi
sợ, tóm lấy cái ve áo tu của mình. Đức Tsongkapa hiểu được
chuyện gì đã xảy ra, và điều ấy làm ngài sung sướng.
Ngài nói: “Anh chàng ở Nartang kia đã khám phá ra chân lý
tương đối trong ve áo của y!” Lại có câu chuyện về Ngulchu
Togme Sangpo, khi ngài cho một bài giảng về tri kiến này, một
số đệ tử của ngài đâm ra hoảng sợ.
Khi
cái tôi trở nên hoàn toàn trống rỗng, bạn có thể có ý
nghĩ rằng “Đây là tánh không! Tôi đã ngộ được nó!”
Trong trường hợp ấy, hoặc là một sự phủ định có hàm
ý sâu xa hơn, hoặc một xác định thẳng thừng đang đến
trong tâm, bạn không nên nhầm lẫn. Nếu thay vì vậy, bạn
chắc chắn rằng cái tôi - đối tượng của sự bác bỏ -
không hiện hữu, sự hiểu của bạn phải có hai sắc thái.
Nó phải không bị lay chuyển, trong niềm xác tín của nó là
đối tượng bác bỏ tự bản chất là phi hữu; còn về cái
xuất hiện cho bạn vào lúc ấy, phải có một sự trống rỗng
hoàn toàn do phủ nhận mọi lập luận chấp thực có đối
tượng ấy. Hãy giữ lại niềm xác tín này đừng quên, và
luôn luôn theo đuổi nó. Nếu sự duy trì niềm xác tín này
nơi bạn bắt đầu suy yếu hay rõ rệt, bạn có thể cần
thiết hoặc không cần phải xuất định; nhưng hãy trở lại
với sự phân tích nhờ các điểm then chốt như bạn đã làm
trước đây. Khi tìm lại được sự xác tín, hãy tăng cường
tính mãnh liệt của nó. Rồi nhập vào tịnh chỉ trong khi
duy trì tính sống động ấy.
Trong
khi bạn đang ở trong tịnh chỉ ấy, một sự trống rỗng
hoàn toàn hiện ra cho bạn, giống như hư không. Tánh không
này chỉ là không của sự thiết lập cho là thực hữu cái
đối tượng để bác bỏ. Đây là cách bạn theo dõi định
tịnh chỉ.
Ở
điểm này cái tôi theo quy ước (tục đế -DG) không hiện
ra cho bạn, và bạn không thể tìm tháy nó bằng cách xóa sạch
tiến trình bác bỏ đối tượng cái ngã. Nhưng đừng sợ
bạn đã rơi vào cái bẫy ngoan không; đi tìm cái tôi theo quy
ước thì thật là điều không cần thiết và khá vô ích.
(ii)
Khi không nhập định, làm thế nào để giữ thái độ mọi
sự là như huyễn
Sau
khi xuất khỏi thiền chứng này, khi bạn xét lại những gì
còn lại sau khi bác bỏ, thì dường như chỉ còn lại cái
giả danh là cái tôi. Đây chỉ là cái “tôi” theo quy ước.
Hãy luôn luôn nhớ sự chắc chắn rằng cái này là cái tích
lũy thiện và bất thiện nghiệp như thể trong một ảo cảnh,
và trên cái loại “tôi” thông tục này sẽ chín những quả
báo của hắc hay bạch nghiệp. Một ví dụ: mặc dù cảnh
voi ngựa hiện ra cho nhà phù thủy, ông ta vẫn chắc chắn
trong tâm rằng chúng không thực có. Nhưng, trong khi ông ta hoàn
toàn chắc chắn sự xuất hiện của chúng chỉ là giả, ông
vẫn cảm thấy những voi ngựa ấy làm những hoạt động
đến đi một cách rõ ràng không chối cãi. Như trong trường
hợp chúng ta, cái tôi - một cái chỉ có nhãn hiệu, không
tự nhiên hiện hữu - vẫn tích lũy và kinh quá những vui khổ
mặc dù nó không thực hữu. Như vậy bạn thấy bạn có thể
chấp nhận sự kiện rằng cái tôi làm những hành vi qua sự
sinh khởi hỗ tương lệ thuộc không thể chối cãi của nó;
và mặc dù nó hiện ra trước bạn, song nó vẫn trống rỗng.
Mặc dù trống rỗng, mà nó vẫn hiện ra trước mắt bạn
như thể một ảo giác. Đây là cách bạn tập luyện cho mình
nghĩ tưởng.
Khi
mới tìm kiếm tri kiến này, chúng ta thấy thật khó mà chấp
nhận tánh không trong tâm nhãn vì ta đã quá quen chấp thủ
và thực hữu; nhưng về sau ta lại khó mà chấp nhận các
tướng của sự vật {vì ta đã rơi vào cái bẩy ngoan không}.
Như
Long Thụ nói:
Tất
cả pháp hữu vi bản chất là trống rỗng;
Nhưng
đức Như Lai vô tỉ đã dạy
Luật
duyên khởi của các pháp hữu vi.
Nói
cách khác, tánh không dùng làm lý do cho duyên khởi của mọi
sự vật; tánh không của chúng bao hàm ý nghĩa rằng chúng
cũng có thể hiện ra các tướng. Với duyên khởi dùng làm
lý lẽ, sự hỗ tương lệ thuộc của mọi sự đối với
bạn cũng phải bao hàm mọi ý nghĩa mọi sự trống rỗng.
Luận
lý hình thức bao gồm sự hỗ tương duyên sinh có tầm quan
trọng lớn. Ví dụ: khi ta dẫn sự hỗ tương lệ thuộc làm
bằng chứng để chứng minh rằng một chồi cây chẳng hạn
không thực hữu, thì bằng chứng ấy phản bác cái cách người
ta chấp thủ đối tượng theo bản năng - ở đây là chồi
cây - như thể nó có thực, chứ không phải là cái tên gán
cho nó. Sự bác bỏ như thế tiến hành như sau. Nếu chồi
cây tự bản chất không thực hữu, thì đáng lẽ nó không
phải là kết quả của những cái khác như nhân (vd hột giống
-DG) và duyên (vd phân, nước, đất - DG), nó cũng không là
một cái gì được dán nhãn hiệu lên đó. Nó phải là một
cái biệt lập tự tồn. Nhưng sự thật không phải vậy. Chồi
lớn lên nhờ một loạt nhân duyên - hạt giống, nước, phân,
hơi ấm, ẩm, v.v… Điều này chứng tỏ nó lệ thuộc vào
những thứ khác và là hậu quả của cái khác: đây là điều
mà ta có thể chính mình quan sát thực sự. Như vậy chồi
cây là một ví dụ về duyên khởi. Những lý luận và chứng
cứ như thế liên hệ đến duyên khởi. Sẽ bác bỏ cực đoan
cho rằng mọi sự là có tự tính và biệt lập với cái khác.
Sự bác bỏ này được nói lên để trừ cực đoan chấp hữu
- cho rằng mọi sự thực có như tướng nó xuất hiện. Như
vậy, duyên khởi bao hàm tánh không.
Nếu
hạt giống làcó tự tính của nó, thì không có nguyên nhân
hay hoàn cảnh (duyên) nào có thể thay đổi nó được: bản
chất của hạt giống nhất thiết không thay đổi. Nhưng vì
nó không có tự tính, nên khi đã vượt qua giai đoạn chồi,
cuối cùng nó sẽ lớn thành một cây nhỏ, và sẽ còn trải
qua nhiều giai đoạn trung gian.
Duyên
khởi có thể giải thích tất cả mọi giai đoạn của cái
cây, và điều này có thể áp dụng thực tiễn vào trường
hợp con người và súc vật. Điều này sẽ đưa đến sự
xác tín rằng duyên khởi loại trừ các cực đoan chấp không
hay chấp đoạn diệt.
Bởi
thế mà nói tánh không cũng bao hàm duyên khởi. Những tư tưởng
về vấn đề này có thể tìm thấy trong kinh Anavatapta thỉnh
vấn:
Bất
cứ gì do hoàn cảnh (duyên) sinh ra
Thì
không phải là có sinh;
Nó
không có bản chất của sự sinh.
Ta
nói bất cứ gì hậu quả của duyên
Là
trống rỗng.
Người
hiểu được tánh không này là chính xác.
Trong
Gốc Rễ Trí Tuệ ta đọc:
Nếu
không có tướng nào hiện hữu
Mà
không do duyên sinh,
Thì
cũng không có tướng nào hiện hữu
Mà
không trống rỗng.
Trong
Hành Trung Đạo:
{Nói
với một đối thủ:}
Vì
bất cứ gì có nguồn gốc
Đều
thuộc vào pháp hữu vi,
Quan
điểm ngài không được cứu xét kỹ.
Như
vậy những luận cứ này
Liên
hệ đến duyên khởi
Sẽ
cắt đứt mạng lưới tà kiến.
Như
Tsongkapa nói:
Nội
cái thấy rằng duyên khởi và tánh không
Đi
liền nhau, không phải loại trừ nhau,
Rằng
sự hỗ tương lệ thuộc mà không lầm lạc-
Sẽ
phá tan mọi chấp thủ vào sự vật.
Ở
điểm này bạn hoàn tất sự phân tích tri kiến.
Bạn
loại trừ cực đoan chấp hữu;
Bạn
loại trừ cực đoan chấp không.
Nếu
bạn hiểu bằng cách nào
Tánh
không trình ra nhân quả,
Thì
tri kiến chấp thủ các cực đoan
Sẽ
không ảnh hưởng đến bạn.
Nếu
bạn có vài xác quyết rằng tánh không và duyên khởi không
mâu thuẫn, mà bao hàm lẫn nhau, thì bạn sẽ hiểu những điều
thực tế như duyên khởi và nhân quả. Bạn càng thấy giá
trị của tánh không và duyên khởi nhiều hơn nữa, bạn sẽ
có lòng bi mẫn, tâm bồ đề, và sẽ thực hành mọi lời
khuyên, và tu tập một pháp tu không thiếu phương pháp cũng
không thiếu trí tuệ. Có người không làm vậy, lại xem nhân
quả như là chuyện dành cho người sơ học, và chỉ rút ra
vài chỉ giáo đặc biệt cho đệ tử họ làm theo. Những giáo
lý không đặt nặng nhân quả như thế thì không khác gì chủ
nghĩa khoái lạc của Thuận thế ngoại đạo.
a-2.2.2.
Xác địn tính phi hữu của các pháp
Có
hai: (1) hữu vi pháp không thực có; (2) vô vi pháp không có
thực.
(i)
Xác định các pháp hữu vi không tự nhiên mà có
Có
ba phần: (1) xác định rằng sắc pháp (thuộc vật lý) không
tự nhiên mà có;(2) xác định rằng tâm pháp không tự nhiên
có; (3) xác định rằng những bất tương ưng hành không tự
nhiên có.
(1)
Xác định sắc pháp không tự nhiên có
Bạn
phải sẵn sàng áp dụng cho các hiện tượng khác sự xác
định mà bạn có thể có được về sự kiện một con người
không hiện hữu biệt lập, có tự tính riêng. Một kinh nói:
Hãy
áp dụng cùng một cách suy nghĩ ấy đối với mọi sự.
Như
thái độ bạn đã có đối với ngã.
Aryadeva
nói trong Bốn trăm bài kệ:
Sự
thấy đúng đối với một pháp
Cũng
là cái thấy đúng với tất cả mọi sư.
Tánh
không đã đúng ở nơi một pháp
Cũng
đúng cho tất cả pháp.
Vậy
trước hết chúng ta xác định các sắc pháp không tự nhiên
hiện hữu.
Cái
tâm nằm trong dòng tâm thức của phàm phu chúng ta đã bị
nhiễm vô minh, nên mỗi khi các sắc pháp vân vân hiện ra trước
mắt ta, cái kiểu xuất hiện của chúng không khác gì là những
vật có tự tính thật. Cái cách các pháp xuất hiện cũng
là cách mà ngã - đối tượng cần bác bỏ - xuất hiện cho
chúng ta, và ta phải bác bỏ những tướng giống như thật
ấy.
Mọi
hiện tượng (pháp) đều là những điển hình của duyên khởi,
nghĩa là chỉ một nhãn hiệu được gán lên một vật, vật
này là một hợp thể dùng căn bản để gán nhãn hiệu lên
đấy. Lấy ví dụ cái bình. Đối với tâm thức phàm phu chưa
đạt đến tri kiến tánh không, thì cái bình không có vẻ
gì là một pháp giả danh, trái lại, cái tên bình và hiện
tượng “bình” - vật được gán tên - hòa lẫn vào nhau
một cách chặt chẽ đến nỗi cái bình như là một cái gì
hiển nhiên thực có tự tính. Đây là cách xuất hiện của
đối tượng cần bác bỏ (nhân ngã hay pháp ngã - DG) nó có
thể xuất hiện như thế, nhưng khi bạn theo đuổi luận cứ
cho rằng cái giả danh bình và hiện tượng bình tách rời
nhau, thì bạn sẽ thấy rằng cái bình, mà bản năng xem là
thực hữu, không thể được xem là một với giả danh cái
bình. Hơn nữa, thì bạn áp dụng tiến trình loại bỏ cái
được gọi là bình, thì những gì còn lại không có tướng
gì là bình để bạn có thể chỉ ra. Thay vì thế, cái bình
theo thông tục xuất hiện theo giả danh gán cho nó - nghĩa là
toàn bộ miệng bình, bụng, đáy vân vân. Vậy bạn giả thiết
rằng bình chỉ hiện hữu theo tục đế, vì nó không thể
lập như một cái gì thực hữu tách rời với giả danh.
Vậy,
nói chung, nếu một vật hiện hữu, nó phải hiện hữu hoặc
đơn chiếc hoặc số nhiều. Cũng thế, nếu nó được lập
là thật pháp, thì nó phải thật theo kiểu số ít hoặc số
nhiều; nếu không thuộc số nào trong đó cả thì không thể
là thực hữu. Vì lý do ấy, bình vân vân không thể chấp
nhận được lập là thực hữu.
Tóm
lại, từ cái bình suy ra, tất cả sắc pháp đều phải nương
vào giả danh, chúng không tồn tại như một cái gì thực hữu
tự bản chất. Bốn trăm bài kệ nói:
Những
pháp ấy thiếu sự tự do
Bởi
thế bản ngã không thực hữu.
Một
cái bình thông thường là một pháp đơn độc, nhưng không
đơn độc từ bản chất, vì nó phải lệ thuộc nhiều yếu
tố cấu tạo nên nó. Lại nữa, cái bình và cái cột có thể
rời nhau, nhưng cả hai chỉ giả lập là rời nhau. Sự giả
lập ấy sụp đổ khi người ta gom chúng lại thành một đôi.
Chúng chỉ được giả thiết là tách biệt nhau, song về phần
chúng, bình và cột không được lập là những vật tách biệt.
Nếu chúng được lập là những pháp riêng rẽ thì mỗi cái
phải có khả năng tự tách riêng của chính nó. Điều này
có hậu quả phi lý rằng mỗi cái không phải là một cá thể
riêng biệt. Do đó, mặc dù bình và cột riêng nhau, mà cái
bình không phải là một cá thể đơn độc, nó chỉ được
gán cho cái giả danh là “một” hay “tách rời.” Nó không
có những đặc tính của một cái tự hữu nội tại. Tác
phẩm Gốc rễ Trí tuệ nói:
Tính
“khác” tùy thuộc vào sự có những cái khác:
Khác
mà không có cái gì khác
Sẽ
không phải là sự khác.
Nếu
một cái gì là “khác”
Mà
không có cái khác
Thì
nó sẽ thành “khác” trên chính nó.
(2)
Xác định tâm pháp không tự nhiên mà có
Cái
vật ta gọi là “tâm” là sự thông minh sáng suốt, một
hiện tượng vận hành tương quan với một đối tượng nào
đó. Tuy nhiên, có một dọc rất dài những tâm vương và tâm
sở, tất cả cùng kinh nghiệm cái cốt tủy và những nét
đặc thù của đối tượng chúng. Một “tâm” chỉ là tên
gọi dán lên cơ sở để gán tên ấy, mà trong những trường
hợp này là một toàn bộ gồm những sát na quá khứ và vị
lai. Như vậy một tâm không phải là cái gì có tự tính biệt
lập. Tuy nhiên, đây không phải là cách nó xuất hiện cho
chúng ta; với chúng ta nó có vẻ như một cái gì hoàn toàn
độc lập và tự hữu, có tự do xử lý đối tượng của
nó. Nó được xem như một cái gì được khám phá tách biệt
với đối tượng. Đây là cách thức mà tâm, đối tượng
cần bác bỏ, trình diện cho chúng ta. Nếu cái tâm này được
lập là hiện hữu theo cách nó xuất hiện - lấy điển hình
là tâm trong dòng tâm thức của bạn - thì nhất thiết nó
phải được lập là một hay khác với những sát na tâm quá
khứ và vị lai. Nếu nó là khác, thì cái gì còn lại sau khi
loại trừ những tâm buổi sáng và tâm buổi chiều sẽ là
tâm “của bạn.” Tuy nhiên, tiến trình loại bỏ này không
thể được, do đó tâm bạn không thể lập là thực sự khác
với tâm quá khứ hay vị lai.
Nếu
tâm bạn sáng nay và tâm bạn chiều nay được lập là một,
thì kết quả là tâm bạn có nhiều. Và vì tâm buổi sáng
nay xảy ra vào buổi sáng, thì tâm buổi chiều nay cũng sẽ
xảy ra vào buổi sáng mới phải. Lại nữa, vì tâm buổi chiều
đã không xảy ra vào buổi sáng, nên kết quả là tâm hôm
nay đã không xảy ra vào buổi sáng. Vân vân. Bởi thế, không
thể nói là tâm của bạn là một hay khác với những thành
phần của nó. Bạn phải làm việc theo đường hướng ấy
để có được xác tín rằng tâm không thực hữu.
Nếu
ba phương diện của tâm (đối tượng, tâm và sự bận tâm
đến đối tượng) được lập là một, thì sẽ có hậu quả
phi lý là năng tác sở tác là một. Nếu chúng được lập
là khác, thì ta phải chấp nhận rằng có thể có một người
biết mà không có cái gì để bị biết; hoặc có thể có
hành vi biết mà không có người biết nào cả. Do những phi
lý này và khác, nên ba phương diện của tâm không thể lập
khác nhau.
Một
“tâm” hay “trí thông minh” là một cái gì được xây
dựng trên một giả lập mà chỉ là một loạt những sự
vật hỗ tương lệ thuộc như những sát na quá khứ và vị
lai, những thành phần của tâm. Một “tâm” là một cái
gì được đặt tên bởi một nhận thức theo tục đế. Chúng
ta có thể làm tất cả mọi hoạt động thuộc sinh tử và
niết bàn trong phạm vi thứ tâm này.
(3)
Xác định các “Tâm bất tương ưng hành” không thực hữu.
Ta
hãy xét yếu tố thời gian. Một năm được lập theo nghĩa
nó xuất hiện chỉ như một loạt 12 tháng. Tuy nhiên bạn phải
xác định cho chính mình rằng cái cách đối tượng cần bác
bỏ xuất hiện cho bạn là ngược lại với điều này. Năm
và giả danh của nó - 12 tháng - không thể lập như là một,
có tự tính, vì nếu thế thì năm hoặc thành 12 năm, hoặc
chỉ một tháng. Chúng có thể lập khác nhau do bản chất,
nhưng nếu ta loại trừ 12 tháng ra thì không còn gì để có
thể nhận diện là một “năm” và như vậy “năm” chỉ
là một nhãn hiệu gán đặt cho một khái niệm giả danh -
12 tháng - do nhận thức. Nó chi là một cái gì có thể trên
ngôn từ, quyết định không thực hữu.
(ii)
Xác định các vô vi pháp không tự nhiên có.
Vô
vi pháp là những pháp như hai loại diệt (trạch diệt và phi
trạch diệt), hư không, sự trống rỗng, vân vân. Những pháp
này không do nhân và duyên mà sinh rra nên gọi là “vô vi.”
(“CT.
Trạch diệt chỉ được chứng khi ở trong định an chỉ và
ở địa vị kiến đạo. Phi trạch diệt là khi một cái gì
không xảy ra hay một vật không sinh chỉ vì những nhân duyên
và duyên cần thiết không hiện hữu.)
Lấy
ví dụ hư không. Đối tượng bác bỏ không phải chỉ bao
hàm khái niệm theo quy ước rằng “không gian” là cái vắng
mặt của chướng ngại hay xúc tiếp, nghĩa là một sự phủ
định không hàm ẩn gì thêm. Nếu hư không là một cái có
thể được lập như một với các phương đông và tây của
không gian sẽ giống nhau. Nếu thế thì khi bình minh lên trên
bầu trời Đông thắng thần châu, nó cũng sẽ lên ở Tây
ngưu hóa châu. Nếu hư không và các phương hướng của nó
là khác, thì tổng số và các phần của nó sẽ là những
vật khác nhau không có tương quan. Như thế thì phải còn lại
một cái gì được nhận diện là không gian sau khi loại bỏ
các thành phần của nó - bốn phương chính, bốn phương trung
gian và trên dưới. Nếu không vậy, thì không gian không thực
hữu.
Có
người cho rằng tánh không là cái có thực. Điều này rất
sai. Một kinh nói:
“Thật
dễ dàng để giữ những chấp hữu lớn như núi Tu di; thật
sai lầm khi cho rằng tánh không là thực hữu.”
Nói
cách khác, chấp không là không đúng. Ngay cả tánh không cũng
được chia làm nhiều thành phần dùng làm cơ sở cho giả
danh ấy. Có nhiều thành phần của tánh không, và tánh không
bao gồm toàn diện những cơ sở của những cái không đặc
thù lớn nhỏ. Nhờ phân tích bạn sẽ biết được những
thành phần ấy và có thể lập hoặc là một hay khác với
tánh không ấy; hay một vật như bình - cơ sở của một cái
không đặc thù - có biệt lập với tánh không của nó hay
không. Kinh nói:
“Nếu
đã có nhận thức đúng về thân xác,
Thì
sao có thể nhận thức sai về chân như của thân xác?”
a-2.2.3.
Cách triển khai tuệ quán đặc biệt
Mặc
dù có thể bạn đã đạt đến tịnh chỉ hoàn toàn nhờ những
phương pháp bao hàm chín trạng thái của định nhất tâm đã
đề cập trước đây, và tâm tịnh chỉ của bạn chưa thối
giảm, bạn cũng vẫn chưa đạt đến tuệ quán đặc biệt
mà chỉ mới đạt được tâm nhu nhuyến. Lấy ví dụ tính
vô ngã của chúng ta. Ngoài tâm tịnh chỉ bạn còn phải thực
hành sự phân tích gồm bốn điểm như đã bàn; và khi làm
như vậy, bạn phải triển khai một niềm xác tín sống động
rằng cái tôi quyết định không có tự tính, mặc dù đấy
là cách mà ta chấp thủ theo bản năng vào một cái ngã ở
trên năm uẩn. Nếu bạn triển khai được niềm tin ấy, hãy
tập trung vào đấy mà duy trì nó không quên. Hãy tỉnh giác
đề phòng hôn trầm trạo cử, và nhập vào tịnh chỉ nhất
tâm. Nếu năng lực của sự duy trì của sự tịnh chỉ bị
suy giảm, niềm xác tín bớt rõ ràng, thì hãy làm lại sự
phân tích gồm bốn điểm như trên, vân vân. Khi bạn đã lấy
lại các niềm xác tín, hãy khởi sự thiền quán nhất tâm
trên sự xác tín này. Đây là cách bạn phải tìm sự sáng
sủa trong tánh không. Khi có được sự sáng sủa, hãy lập
lại sự phân tịch gồm bốn điểm và những hình thức phân
tích khác {không bàn ở đây} trong khi đang ở trong trạng thái
thiền định tập trung. Điều này được dụ như một con
cá lướt qua một cái hồ trong lặng không bị gió xao động.
Ở đây bạn phải tập quen qua một thời gian dài, sử dụng
vừa tịnh chỉ vừa tuệ quán. Như đã nói trên, bạn sẽ
đạt chín trạng thái tâm, sau đó, nhờ phân tích, bạn sẽ
đi đến một hình thức đặc biệt của sự mềm mại trong
thiền quán còn lớn hơn sự mềm mại bạn đã có được
khi đạt tâm tịnh chỉ. Thiền phân tích tự nhiên không cần
nỗ lực sẽ theo sau thiền tập trung. Khi đạt đến trình
độ này là bạn có được tuệ quán đặc biệt trực chỉ
vào chân không. Bây giờ tâm tịnh chỉ của bạn đã phối
hợp với tuệ quán đặc biệt.