Chánh
văn:
-Bạch
Thế Tôn! Phật vì chúng con hiển bày các tướng nhân duyên,
tự nhiên, hòa hợp và chẳng hòa hợp, tâm còn chưa rõ, nay
lại nghe nói Kiến Kiến Phi Kiến, khiến con càng thêm mê muội,
cúi xin Phật mở lòng từ bi, khai thị cho chúng con được
diệu tâm sáng tỏ trong sạch.
Nói
xong, rơi lệ đảnh lễ, kính nghe lời dạy của Phật.
Bấy
giờ, Thế Tôn thương xót A Nan và đại chúng, sắp khai giảng
pháp tổng trì (tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa),
những đường tu vi diệu của các thiền quán Tam Ma Đề, bảo
A Nan rằng:
-Ngươi
dù nhớ hay, nhưng chỉ thêm phần học rộng nghe nhiều, đối
với sự quán chiếu vi diệu của pháp Sa Ma tha, tâm còn chưa
rõ, nay ngươi hãy chú ý nghe, ta sẽ vì ngươi khai thị từng
lớp một, cũng khiến hàng hữu lậu tương lai sẽ được
chứng quả Bồ Đề.
-A
Nan, tất cả chúng sanh cam chịu luân hồi, là do hai thứ vọng
kiến điên đảo phân biệt, ngay đó phát sanh, ngay đó theo
nghiệp luân chuyển. Thế nào là hai thứ vọng kiến?
1.
Vọng kiến Biệt Nghiệp của chúng sanh.
2.
Vọng kiến Đồng Phận của chúng sanh.
-Sao
gọi là vọng kiến Biệt Nghiệp?
-A
Nan! Như người thế gian con mắt bị nhặm, ban đêm thấy ánh
sáng, riêng có bóng tròn ngũ sắc bao phủ. Ý ngươi thế nào?
Cái bóng tròn hiện nơi ánh đèn này là màu sắc của ngọn
đèn hay là màu sắc của kiến tinh?
-Nếu
là màu sắc của ngọn đèn, thì người không nhặm sao chẳng
cùng thấy, mà chỉ có người nhặm mới thấy bóng tròn này?
Nếu là màu sắc của kiến tinh, kiến tinh đã thành màu sắc,
thì người nhặm thấy bóng tròn kia gọi là cái gì?
-Lại
nữa A Nan! Nếu lìa ngọn đèn riêng có bóng tròn này, thì
khi nhìn qua bình phong, bàn ghế, phải có bóng tròn hiện ra,
nếu lìa kiến tinh riêng có bóng tròn thì chẳng phải mắt
thấy, vậy sao người nhặm lại thấy bóng tròn?
-Nên
biết, màu sắc ở nơi đèn, do mắt bị bệnh mới thấy bóng
tròn, bóng tròn và cái thấy đều là bệnh nhặm, kẻ thấy
được nhặm thì chẳng phải bệnh; chớ nên nói bóng tròn
là đèn, là thấy, hoặc nói chẳng phải ngọn đèn chẳng
phải cái thấy.
-Ví
như đệ nhị nguyệt chẳng phải bản thể, cũng chẳng phải
bóng của đệ nhất nguyệt. Tại sao? Vì do dụi mắt mới
thành có đệ nhị nguyệt. Người trí chẳng nên truy cứu
cái đệ nhị nguyệt này là hình bóng hay chẳng phải hình
bóng, là kiến tinh hay chẳng phải kiến tinh, vì đó là do
dụi mắt sanh ra, thế thì cái bóng tròn này cũng vậy, do mắt
nhặm mà thành, nay muốn gọi cái nào là màu sắc của ngọn
đèn, cái nào là màu sắc của kiến tinh? Huống còn vọng
sanh phân biệt, cho là chẳng phải màu sắc của ngọn đèn,
chẳng phải màu sắc của kiến tinh ư?
Giảng
giải:
-Bạch
Thế Tôn! Phật vì chúng con hiển bày các tướng nhân duyên,
tự nhiên hòa hợp tâm con chưa rõ, nay lại nghe nói kiến kiến
phi kiến, khiến con càng thêm mê muội, cuối xin Phật mở
lòng từ bi khai thị cho chúng con diệu tâm sáng tỏ trong sạch.
Nói
xong rơi lệ đảnh lễ kính nghe lời dạy của Phật.
Bấy
giờ Thế Tôn thương xót A Nan và đại chúng khai giảng pháp
tổng trì (tổng nhất thiết pháp, trì nhất thiết nghĩa) những
đường tu vi diệu của các thiền quán Tam Ma Đề bảo A Nan
rằng:
-Ngươi
dù nhớ hay nhưng chỉ thêm phần học rộng nghe nhiều, đối
sự quán chiếu vi diệu của pháp Sa Ma Tha tâm còn chưa rõ,
nay ngươi hãy chú ý nghe ta sẽ vì ngươi khai thị từng lớp
một, cùng khiến hàng hữu lậu tương lai sẽ được chứng
quả Bồ Đề.
Sa
Ma Tha dịch là cực tịnh giống như Không quán của tông Thiên
Thai, kinh Viên Giác ví dụ cái gương cực tịnh không lay động,
nhưng dụng luôn luôn hiển bày. Người Hán đến hiện người
Hán, người Hồ đến hiện người Hồ, nam đến hiện nam,
nữ đến hiện nữ,… cái dụng luôn luôn rõ ràng, tuy bóng
hiện trong đó có thay đổi, nhưng gương không lay động; tự
tánh của mình cũng vậy, chẳng động chẳng hoại.
A
Nan, tất cả chúng sanh cam chịu luân hồi là do hai thứ vọng
kiến điên đảo phân biệt ngay đó phát sanh, ngay đó theo
nghiệp luân chuyển. Thế nào là hai thứ vọng kiến?
Vọng
kiến là kiến chấp cũng là ở trong thế lưu bố tưởng sanh
ra trước tưởng tức là có sở trụ, còn bản thể tự tánh
là vô sở trụ. Lục Tổ nói “lấy vô trụ làm gốc”. Vì
hai thứ vọng kiến phải cam chịu luân hồi, hai thứ vọng
kiến là cái gì?
-Vọng
kiến biệt nghiệp của chúng sanh.
-Biệt
kiến đồng vọng của chúng sanh.
Sao
gọi là vọng kiến biệt nghiệp? (Nghiệp riêng tức là
nghiệp mỗi người mỗi khác).
A Nan!
Như người thế gian con mắt bị nhặm, ban đêm thấy bóng
đèn riêng có bóng tròn ngũ sắc bao phủ, ý ngươi thế nào?
Cái bóng tròn hiện nơi ánh đèn này là màu sắc của ngọn
đèn hay màu sắc của kiến tinh?
Người
mắt bệnh thấy xung quanh ngọn đèn có màu sắc bao phủ. Trong
kinh cho năng thấy là kiến tinh (tánh thấy), trước có giải
thích không phải do mắt thấy, là có tánh thấy khắp không
gian thời gian, tồn tại vĩnh viễn. Người chết rồi, nhưng
tánh thấy vẫn còn, không chết mất gọi là kiến tinh.
Bây
giờ, mình thấy cái này cái kia đều do kiến tinh mới thấy
được, không phải do con mắt; nếu nói do mắt thấy, tại
sao người chết còn con mắt sao lại không thấy? Ở trên Phật
có giải thích. Mắt nhặm nên mới thấy ngũ sắc bao xung quanh
ngọn đèn. Vậy, nói màu sắc của ngọn đèn hay màu sắc
của kiến tinh?
Nếu
là màu sắc của ngọn đèn thì người không nhặm sao không
thấy? Người bệnh nhặm mới thấy, người không bệnh nhặm
không thấy thì chứng tỏ màu sắc đó không phải của ngọn
đèn.
Nếu
là màu sắc của kiến tinh thì kiến tinh đã thành màu sắc
(kiến tinh là năng kiến), kiến tinh đã thành màu sắc thì
người nhặm thấy bóng đèn tròn đó là ai thấy? Thấy là
kiến tinh thấy, kiến tinh đã thành màu sắc thì năng thấy
là ai? Người thấy bóng tròn kia là cái gì? Vậy là vô lý!
Lại
nữa, A Nan! Nếu lìa ngọn đèn riêng có bóng đèn này thì
khi nhìn qua bình phong, bàn ghế phải có bóng tròn hiện ra.
Nhưng sự thật thì không phải, đều không có chỉ ở xung
quanh bóng đèn. Nếu lìa kiến tinh riêng có bóng tròn
thì chẳng phải mắt thấy, vì kẻ thấy là kiến tinh, nếu
lìa kiến tinh thì không có năng thấy, vậy sao người
nhặm lại thấy bóng tròn? Cũng không đủ lý do.
Nên
biết, màu sắc ở nơi đèn, do mắt bị bệnh nên thấy bóng
tròn, bóng tròn và cái thấy đều là bệnh nhặm, (chứ không
có sự chân thật) kẻ thấy được nhặm thì chẳng phải
bệnh, chớ nên nói bóng tròn là đèn, là thấy, hoặc nói
chẳng phải ngọn đèn chẳng phải cái thấy.
Vì
việc đó là vọng, không có thể nói thấy hoặc chẳng thấy,
nói là đèn hay chẳng là đèn, vì vốn không có, tại con mắt
bệnh mới có.
Ví
như đệ nhị nguyệt chẳng phải bản thể cũng chẳng phải
bóng của đệ nhất nguyệt.
Như
trên có nói, chỉ có 1 mặt trăng là chơn nguyệt, vì do mắt
bệnh nên thấy mặt trăng thứ 2 (đệ nhị nguyệt), không
phải bản thể mặt trăng và không phải bóng của mặt trăng
chân thật.
Tại
sao? Vì dụi mắt thấy thành đệ nhị nguyệt, nên người
trí không cần truy cứu đệ nhị nguyệt là hình bóng hay chẳng
phải hình bóng, là kiến tinh hay chẳng kiến tinh.
Khi
không dụi mắt mới thấy mặt trăng thứ 2, nếu không dụi
mắt thì đâu thấy có mặt trăng thứ 2. Bây giờ thấy mặt
trăng thứ 2 và lại hỏi mặt trăng thứ 2 là gì, hình bóng
hay chẳng phải hình bóng, là kiến tinh hay chẳng phải là
kiến tinh.
Đó
là việc vô lý, do dụi mắt sinh ra; thế thì cái bóng tròn
này cũng vậy, do mắt nhặm mà thành; nay muốn gọi cái nào
là màu sắc của ngọn đèn, cái nào là màu sắc của kiến
tinh? Tất cả đều việc vô lý, việc không có mà nói thành
có.
Huống
còn vọng sanh ra phân biệt, cho là chẳng phải màu sắc của
ngọn đèn, chẳng phải màu sắc của kiến tinh ư? Phải và
chẳng phải đâu có dính dáng gì! Tất cả đều là vọng.
Chánh
văn:
Sao
gọi là vọng kiến Đồng Phận?
-A
Nan! Ở cõi Ta Bà này, trừ biển cả ra, phần đất bằng gồm
có ba ngàn châu, ở giữa là đại châu, Đông Tây bao gồm
hai ngàn ba trăm nước, ngoài ra các tiểu châu ở giữa biển
hoặc có từ hai trăm đến ba trăm nước, hoặc có từ một,
hai cho đến bốn mươi, năm mươi nước.
A Nan,
ví như trong đó có một tiểu châu, chỉ có hai nước, dân
một nước thì đồng cảm ác duyên, khiến cả nước cùng
thấy tất cả cảnh giới chẳng lành, như những ác tướng
do nhựt nguyệt, tinh tú và khí trời hiện ra v.v... Chỉ cả
nước này thấy đủ thứ ác tướng như vậy, còn dân nước
kia lại chẳng hề thấy nghe những ác tướng đó.
-A
Nan, nay ta vì ngươi đem hai việc kể trên so sánh cho rõ: Như
chúng sanh kia vọng kiến biệt nghiệp, thấy bóng tròn hiện
nơi ánh đèn, dù hình như có cảnh tượng trước mặt, nhưng
cái thấy ấy vốn do mắt nhặm mà thành, nhặm tức là kiến
bệnh, chẳng phải màu sắc sở tạo, nhưng người thấy được
nhặm thì chẳng có kiến bệnh (biết Phật tánh vẫn là bệnh,
phải được thấy Phật tánh mới hết bệnh).
-Như
ngươi hôm nay, dùng con mắt thấy núi sông đất đai và chúng
sanh, đều là cái kiến bệnh đã thành từ vô thỉ. Tại sao?
Vì có năng thấy và sở thấy, nên tựa như cảnh tượng hiện
ra trước mắt, giống cái giác minh của ngươi duyên cái sở
thấy thành nhặm.
-Bản
giác có năng thấy tức là nhặm, "Bổn giác minh tâm" là tự
tánh, cái giác ấy vốn chẳng phải bệnh, có năng giác sở
giác mới thành bệnh. Nếu bổn giác không ở trong bệnh, đó
mới thật là Kiến Kiến (tức là kiến tánh). Đã được
kiến tánh thì đâu còn tên gọi là Kiến, Văn, Giác, Tri nữa!
-Cho
nên, ngươi hôm nay thấy ta, thấy ngươi và thấy tất cả
chúng sanh đều do kiến bệnh, nếu chẳng phải kẻ có kiến
bệnh, thì cái kiến ấy chơn thật, thể tánh chẳng bệnh
nên chẳng gọi là Kiến.
-A
Nan! Vọng kiến Đồng Phận của cả nước, cũng như vọng
kiến Biệt Nghiệp của một người. Người mắt nhặm thấy
bóng tròn kia là do biệt nghiệp sở sanh; cả nước đồng
phận sở dĩ thấy tướng chẳng lành này là do cộng nghiệp
tạo nên. Cả hai đều là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ.
-Tất
cả chúng sanh cõi Ta Bà, cho đến mười phương các nước
hữu lậu, đều vì đem cái sáng tỏ vô lậu của diệu tâm,
cùng với bệnh duyên hư vọng của kiến, văn, giác, tri, hòa
hợp vọng sanh, hòa hợp vọng tử. Nếu được xa lìa các
duyên hòa hợp và chẳng hòa hợp, thì diệt trừ được những
cái nhân sanh tử, tự hiện tánh đầy đủ chẳng sanh diệt
của Bồ Đề, nên được bản tâm trong sạch bản giác thường
trụ.
Giảng
giải:
Sao
gọi là vọng kiến đồng phận?
-A
Nan! Ở cõi Ta Bà này, trừ biển cả ra phần đất bằng gồm
có 3.000 châu, Đông Tây bao gồm 2.300 nước, ngoài ra các tiểu
châu ở giữa các biển, hoặc có từ 200 đến 300 nước hoặc
có từ 1, 2 cho đến 40, 50 nước.
Đây
là kiến thức thời Phật thuyết pháp người ta chỉ biết
bao nhiêu đó, Phật thuyết pháp cho đương cơ, cho biết tình
hình thế giới bao nhiêu vậy thôi. Khoa học bây giờ hiểu
biết khác, lúc ấy người ta hiểu biết đến đâu thì Phật
chỉ nói đến đó, Phật chỉ muốn nói rõ vọng kiến đồng
phận.
A Nan,
ví như trong đó có 1 tiểu châu, chỉ có 2 nước, dân 1 nước
thì đồng cảm ác duyên, khiến cả nước cùng thấy tất
cả cảnh giới chẳng lành, như những ác tướng do nhật nguyệt,
tinh tú và khí trời hiện ra, chỉ cả nước này thấy đủ
ác tướng như vậy, còn dân nước kia lại chẳng thấy
nghe những ác tướng ấy.
Như
mình đang ở nước Mỹ không có gì, còn những chỗ khác có
bão lụt là cùng cảm ác duyên đó mới cùng chịu cảnh tai
nạn. Đó gọi là vọng kiến đồng phận (cộng nghiệp).
A Nan,
nay ta vì ngươi đem hai chuyện kể trên so sánh cho rõ: Như
chúng sanh kia vọng kiến biệt nghiệp, thấy bóng tròn hiện
nơi ánh đèn, dù hình như có cảnh tượng trước mắt,
nhưng cái thấy vốn do mắt nhặm mà thành, nhặm tức là kiến
bệnh, chẳng phải màu sắc sở tạo, nhưng người ta thấy
được nhặm, thì chẳng có kiến bệnh (biết có Phật tánh
vẫn là bệnh, phải thấy Phật tánh mới là hết bệnh).
Như
ngươi hôm nay, dùng con mắt thấy núi sông đất đai và chúng
sanh, đều là cái thấy kiến bệnh đã thành từ vô thỉ.
Bây
giờ, mình thấy cái này cái kia đều là kiến bệnh đã thành
từ vô thỉ, nhưng không ai nhìn nhận như vậy, cho đến nhà
khoa học, nhà triết học đều cho cái thấy này là chân thật,
nhưng Phật nói có bệnh nên mới thấy cái này cái kia, ở
trước mắt mình đều là kiến bệnh.
Tại
sao? Vì có năng thấy và sở thấy nên tựa như cảnh tượng
hiện ra trước mắt, vốn cái giác minh của ngươi duyên cái
sở thấy thành nhặm.
Cái
năng thấy có bệnh tức là nhặm. “Bản giác minh tâm” là
tự tánh, cái giác ấy vốn chẳng có bệnh, nhưng có năng
giác và sở giác mới thành bệnh (phàm có năng sở đối đãi
đều là bệnh). Nếu bản giác không ở trong bệnh, đó mới
thật là kiến kiến (kiến tánh). Đã được kiến tánh thì
đâu còn tên gọi kiến, văn, giác, tri nữa!
Do
con mắt bệnh mới có kiến, văn, giác tri, nên Bát Nhã Tâm
Kinh nói: “Vô lục căn, vô lục trần, vô lục thức”, dùng
chữ “vô” để quét sạch, lục căn tiếp lục trần sanh
ra lục thức trở thành kiến bệnh từ vô thỉ. Bát Nhã Tâm
Kinh không giải thích, nhưng kinh Lăng Nghiêm giải thích từng
lớp một.
Cho
nên, ngươi hôm nay thấy ta, thấy ngươi và thấy tất cả
chúng sanh đều do kiến bệnh, nếu chẳng phải kẻ có kiến
bệnh thì cái kiến ấy chơn thật, thể tánh chẳng bệnh nên
chẳng gọi là kiến.
Bây
giờ, gọi kiến là bệnh, vì người thế gian đặt tên kiến,
tại có bệnh nên mới đặt tên như vậy. Tự tánh không
có năng kiến và sở kiến, nên không có tên gọi là kiến.
Phật thuyết pháp muốn cho người thế gian được hiểu, phải
dùng lời nói của thế gian, nên Phật mới phân biệt thế
lưu bố tưởng và trước tưởng.
Người
thế gian đặt ra lưu hành phổ biến gọi là thế lưu bố
tưởng, phàm phu ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước
tưởng gọi là điên đảo tưởng, còn bậc thánh thuyết pháp
cũng gọi theo thế gian, nhưng không sanh ra trước tưởng, nên
không gọi là điên đảo tưởng (Đại Niết Bàn).
A Nan,
vọng kiến Đồng Phận của cả nước cũng như vọng kiến
Biệt Nghiệp của một người. Người mắt nhặm thấy bóng
kia là do biệt nghiệp sở sanh, cả nước đồng phận sở
dĩ thấy tướng chẳng lành này là do cộng nghiệp tạo nên.
Cả hai đều là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ.
Một
mình thấy riêng là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ, chung
một nước cùng thấy cũng là kiến bệnh từ vô thỉ. Nếu
không có kiến bệnh thì không phải là thấy hay chẳng thấy.
Việc đó sau khi ngộ mới biết được, bây giờ Phật dùng
lời nói cũng không thể cho mình hiểu được, Phật chứng
tỏ cái bệnh của mình, chứ không phải chứng tỏ cái không
có bệnh.
Như
mình ở trong chiêm bao, nếu muốn biết việc không chiêm bao
thì phải nhảy ra ngoài chiêm bao. Nếu cứ ở trong chiêm bao
truy tìm thì tìm không ra được, vì gặp đâu cũng là cảnh
chiêm bao.
Tất
cả chúng sanh cõi Ta Bà, cho đến 10 phương các nước hữu
lậu (hữu lậu là đối với vô lậu, lậu là tâïp khí phiền
não, Tiểu thừa chứng quả A La Hán thì tất cả hữu lậu
kiến hoặc, tư hoặc đều hết thì chứng vô lậu. Còn những
người chưa hết kiến hoặc, tư hoặc của tam giới thì còn
là hữu lậu), đều vì đem cái sáng tỏ vô lậu của diệu
tâm (diệu tâm không có tập khí phiền não nên gọi là vô
lậu), cùng với duyên hư vọng của kiến, văn, giác tri,
hòa hợp vọng sanh, hòa hợp vọng tử.
Mình
bị sanh tử nhưng không mất Phật tánh, chỉ là đem diệu
tâm để hòa hợp vọng tưởng, thành có sanh tử, tức là
vọng sanh vọng tử, sanh tử đều là vọng.
Nếu
được xa lìa các duyên hòa hợp (hòa hợp với chẳng hòa
hợp là tương đối đều không đúng) thì diệt trừ được
những cái nhân sanh tử, tự hiện tánh đầy đủ chẳng sanh
diệt của Bồ Đề, nên được bản tâm trong sạch bản giác
thường trụ.
Chánh
văn:
-A
Nan! Ngươi dù đã ngộ bản giác diệu minh, thể tánh phi nhân
duyên phi tự nhiên, nhưng còn chưa rõ bản giác này chẳng
phải do hòa hợp sanh, cũng chẳng phải không hòa hợp.
A Nan,
ta dùng sự tiền trần hỏi ngươi, nay ngươi còn bị những
tánh nhân duyên vọng tưởng hòa hợp của thế gian mà tự
nghi hoặc, lại cho sự chứng tâm Bồ Đề là do hòa hợp sanh
khởi. Vậy thì cái kiến tinh vi diệu trong sạch này là hòa
với sáng hay hòa với tối? Hòa với thông hay hoà với nghẽn?
-Nếu
hòa với sáng, thì khi ngươi thấy sáng hiện tiền, kiến tinh
xen lộn ở đâu? Tướng thấy còn có thể phân biệt, cái
hình tướng xen lộn là như thế nào?
-Nếu
chẳng phải kiến tinh thì làm sao thấy sáng? Nếu là kiến
tinh thì làm sao kiến tinh lại thấy kiến tinh?
-Nếu
kiến tinh đầy khắp thì còn chỗ nào hòa với sáng? Nếu
sáng đầy khắp thì còn chỗ nào để hòa với kiến tinh.
Kiến tinh phải khác với sáng, khi xen lộn thì làm mất tánh
sáng, nếu mất tánh sáng, nói hòa với sáng là chẳng đúng.
Hòa tối, hòa thông, hòa nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-Lại
nữa, A Nan! Kiến tinh của ngươi là hợp với sáng hay hợp
với tối? Hợp với thông hay hợp với nghẽn?
-Nếu
hợp với sáng, thì khi tối, tướng sáng đã diệt, thì kiến
tinh này chẳng thể hợp với tối, làm sao thấy tối? Nếu
lúc thấy tối chẳng hợp với tối, thì khi hợp với sáng
cũng chẳng phải thấy sáng. Đã chẳng thấy sáng, sao nói
hợp với sáng, và biết cái sáng chẳng phải tối? Hợp tối,
hợp thông, hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-Bạch
Thế Tôn! Theo con suy nghĩ, cái bản giác này với các cảnh
trần và cái tâm niệm tưởng là chẳng hòa hợp.
Phật
bảo:
-Nay
ngươi lại cho là chẳng hòa hợp, ta lại hỏi ngươi, cái
kiến tinh này nếu chẳng hòa hợp, là chẳng hòa với sáng
hay chẳng hòa với tối? Chẳng hòa với thông hay chẳng hòa
với nghẽn?
Nếu
chẳng hoà với sáng, thì kiến tinh với cái sáng phải có
ranh giới, vậy ngươi hãy xét xem chỗ nào là sáng? Chỗ nào
là kiến tinh? Giữa kiến tinh với sáng, ranh giới ở đâu?
-A
Nan! Nếu ở nơi sáng chẳng có kiến tinh thì sáng và kiến
tinh chẳng tiếp xúc nhau, làm sao thấy được tướng sáng
để thành lập ranh giới? Hòa tối, hòa thông, hòa nghẽn nghĩa
cũng như vậy.
-Lại
nữa, kiến tinh của ngươi nếu chẳng hòa hợp, là chẳng
hòa hợp với sáng hay chẳng hòa hợp với tối? Chẳng hợp
với thông hay chẳng hợp với nghẽn?
-Nếu
chẳng hợp với sáng, thì kiến tinh với sáng hai tánh trái
ngược nhau, cũng như lỗ tai với sáng chẳng thể tiếp xúc,
thế thì cái thấy còn chẳng biết chỗ của tướng sáng,
làm sao xét rõ cái lý hợp hay chẳng hợp? Hợp tối, hợp
thông, hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-A
Nan! Ngươi còn chưa rõ tất cả tướng huyễn hóa nơi tiền
trần, tùy nơi nhân duyên sanh ra, theo nơi nhân duyên diệt mất,
thể tánh của tướng huyễn hóa hư vọng này vốn là diệu
giác sáng tỏ, như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, thập
nhị xứ, thập bát giới, vì nhân duyên hòa hợp, hư vọng
cho là có sanh, nhân duyên tan rã, hư vọng cho là có diệt,
mà chẳng biết sanh diệt khứ lai vốn là Như Lai Tạng, cũng
gọi là diệu minh thường trụ, bất động chu viên (cùng khắp
không gian), diệu tánh chơn như, nơi tánh chơn thường tìm
sự khứ lai, mê ngộ, sanh diệt đều bất khả đắc.
Giảng
giải:
A
Nan! Người dù đã ngộ bản giác diệu minh, thể tánh phi nhân
duyên phi tự nhiên, nhưng còn chưa rõ cái bản giác này chẳng
phải do hòa hợp sanh, cũng chẳng phải không hòa hợp.
A Nan,
ta dùng tiền trần hỏi ngươi (tiền trần là sắc, hương,
vị, xúc. Còn ý căn là pháp trần, không phải trước mắt,
như mình ở đây có thể nghĩ về Việt-Nam, chỗ này chỗ
kia), nay ngươi còn bị những tánh nhân duyên vọng tưởng
hòa hợp của thế gian mà tự nghi hoặc, lại cho sự chứng
tâm Bồ Đề là do hòa hợp sanh khởi.
Vậy,
kiến tinh vi diệu trong sạch này là hòa với sáng hay hòa với
tối? Hòa với thông hay hòa với nghẽn?
Phát
hiện tiền trần, 4 nhân duyên (sáng, tối, thông, nghẽn), nói
kiến tinh thấy sáng thì hòa với sáng, đã hòa với sáng thì
lúc tối không thấy tối, làm sao kiến tinh phân biệt được
sáng tối? Hòa thông hòa nghẽn nghĩa cũng vậy. Nhưng Phật
ở đây giải thích rõ ràng hơn.
-Nếu
hòa với sáng thì khi ngươi thấy sáng hiện tiền, kiến tinh
xem lộn ở đâu? Tướng thấy còn có thể phân biệt, cái
hình tướng xen lộn là như thế nào?
Nếu
chẳng phải kiến tinh làm sao thấy sáng? Nếu là kiến tinh
thì làm sao kiến tinh lại thấy kiến tinh?
Kiến
tinh đã hòa với sáng, thì thấy sáng tức là thấy kiến tinh!
Vậy kiến tinh làm sao thấy được kiến tinh? Kiến tinh là
năng kiến, sáng là sở kiến. Nếu kiến tinh hòa với sáng
thì kiến tinh thành sở thấy rồi. Kiến tinh thấy kiến tinh
là vô lý!
Nếu
kiến tinh đầy khắp thì còn chỗ nào hòa với sáng? Nếu
sáng đầy khắp thì chỗ nào để hòa với kiến tinh? (Vì
sáng khắp hư không, bản thể kiến tinh cũng khắp hư không
thì có chỗ nào để hòa!) kiến tinh phải khác với sáng (kiến
tinh thì biết, sáng thì vô tri), khi xen lộn thì làm mất tánh
sáng, nếu mất tánh sáng, nói hòa với sáng là chẳng đúng.
Hòa tối, hòa thông, hòa nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-Lại
nữa, A Nan! Kiến tinh của ngươi là hợp với sáng hay hợp
với tối? Hợp với thông hay hợp với nghẽn?
-Nếu
hợp với sáng thì khi tối, tướng sáng này đã diệt thì
kiến này chẳng hợp với tối, làm sao thấy tối? Nếu lúc
thấy tối chẳng hợp với tối thì khi hợp với sáng cũng
chẳng thấy sáng. Đã chẳng thấy sáng, sao nói hợp với sáng;
và biết cái sáng chẳng phải tối? Hợp tối, hợp thông,
hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-Bạch
Thế Tôn! Theo con suy nghĩ cái bản giác này với các cảnh
trần và cái tâm niệm tưởng là chẳng hoà hợp. (Trước
kia nói hoà hợp, khi Phật giải thích thì A Nan nói chẳng
hòa hợp).
Phật
bảo:
-Nay
ngươi lại cho chẳng hòa hợp, ta lại hỏi ngươi cái kiến
tinh này nếu chẳng hòa hợp, là chẳng hòa hợp với sáng
hay chẳng hòa hợp với tối? Chẳng hòa hợp với thông hay
chẳng hòa hợp với nghẽn?
-Nếu
chẳng hòa hợp với sáng thì kiến tinh và cái sáng phải có
ranh giới (mới không có hòa được), vậy ngươi hãy xét xem
chỗ nào là sáng? Chỗ nào là kiến tinh? Giữa kiến tinh với
sáng, ranh giới ở đâu?
Bây
giờ mình thấy sáng, ranh giới ở đâu? Chỗ nào là kiến
tinh? Chỗ nào là sáng? Chỉ không được, vậy nói không hòa
hợp cũng chẳng đúng, vì không có ranh giới.
-A
Nan! Nếu ở nơi sáng chẳng có kiến tinh thì sáng và kiến
tinh chẳng tiếp xúc nhau, làm sao thấy được tướng sáng
để thành lập ranh giới? Hòa tối, hòa thông, hòa nghẽn nghĩa
cũng như vậy.
-Lại
nữa, kiến tinh của ngươi nếu chẳng hòa hợp, là chẳng
hòa hợp với sáng hay chẳng hòa hợp với tối? Chẳng hợp
với thông hay chẳng hợp với nghẽn?
Nếu
chẳng hợp với sáng thì kiến tinh với sáng, hai tánh trái
ngược nhau (tức là 1 cái biết và 1 cái không biết), cũng
như lỗ tai với sáng chẳng thể tiếp xúc, (vì lỗ tai tiếp
xúc với âm thanh), thế thì cái thấy còn chẳng biết chỗ
của tướng sáng, làm sao xét rõ cái lý hợp hay chẳng hợp?
Hợp tối, hợp thông hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
-A
Nan! Còn chưa rõ tất cả tướng huyễn hóa nơi tiền trần,
tùy nơi nhân duyên sanh ra, theo nơi nhân duyên diệt mất, thể
tánh của tướng huyễn hóa hư vọng này vốn là Diệu Giác
sáng tỏ, như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, thập nhị
xứ, thập bát giới, vì nhân duyên hòa hợp, hư vọng cho là
có sanh, nhân duyên tan rã, hư vọng cho là có diệt, mà chẳng
biết sanh diệt khứ lai vốn là Như Lai tạng, cũng gọi là
diệu minh thường trụ, bất động chu viên, diệu tánh chơn
như, nơi tánh chơn thường tìm sự khứ lai, mê ngộ, sanh diệt
đều bất khả đắc.
Tức
là cùng khắp không gian, nếu phân biệt thì thành vọng, nếu
không phân biệt là diệu tánh chơn như, cũng như trước kia
có nói tánh thấy không chết không mất, tồn tại vĩnh viễn,
muốn chỉ thì chỉ không ra, vì khắp không gian, khắp thời
gian; khắp thời gian nên không có sự bắt đầu, không có
sự sanh khởi. Nếu không có sự sanh khởi thì lấy cái gì
để phân biệt, bổn lai vốn là vậy.
Nếu
dùng lục căn hư vọng của thế gian muốn tiếp xúc thì không
thể được, nhưng không phải không có, vốn là Như Lai Tạng
sẵn sàng. Bộ óc tiếp xúc không được, khi nào kiến tánh
thì hiện ra tự biết, là tự tánh tự biết chứ không phải
bộ óc tự biết. Bộ óc sau khi chết, biến thành tro biến
thành đất.
Vậy
lấy cái sinh diệt để biết không sinh diệt làm sao đựơc?
Cái không sinh diệt thì biết cái sinh diệt. Nhà khoa học căn
cứ bộ óc phát minh máy điện toán, tận sức nghiên cứu
tinh vi của bộ óc, phát hiện một chút thì tiến bộ thêm
một chút, bây giờ còn tiến hoài vì chưa hiểu rõ cấu tạo
tinh vi của bộ óc tới chỗ cuối cùng. Nhà khoa học và triết
học đều không biết, chỉ có Thiền tông phát hiện cấu
tạo tinh vi bộ óc, gọi là kiến tánh.
Nhà
khoa học phải căn cứ cái hiện hữu mới nghiên cứu phát
minh cái này cái kia. Nhưng bộ óc tinh vi đã sẵn có, rồi
mới phát minh được cái máy điện toán, bộ óc tinh
vi mà ai tạo ra? Căn cứ vào đâu mà thành lập? Vì không có
chỗ để căn cứ, bộ óc không thể biết, do bộ óc sinh diệt.
Người tạo ra bộ óc không sinh diệt, cho nên dưới đây nói
đều là vốn vô sanh.
Liên
Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép
Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh
