THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

 
 
 
 
 
c
GIẢNG KINH LĂNG NGHIÊM
Hoà Thượng Thích Duy Lực
Thích Đồng Thường Lập Thành Văn Tự
ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chánh văn: 

-A Nan! Người tu đạo Bồ Đề, nếu chẳng suy xét cội gốc phiền não, thì chẳng thể biết căn trần hư vọng đó điên đảo ở chỗ nào; chỗ còn chẳng biết thì làm sao uốn dẹp được nó, để chứng nhập quả vị của Như Lai? 

- Cũng như người thế gian, khi muốn mở cái thắt kết, nếu chẳng thấy cái chỗ thắt kết thì làm sao biết mở? Nhưng chưa từng nghe nói hư không bị người ta phá hủy. Tại sao? Vì hư không chẳng hình tướng, chẳng thể thắt mở. 

Vậy thì hiện tiền lục căn của ngươi làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà, vọng thành sự thắt kết (phiền não). Do sự thắt kết này nên thế giới chúng sanh tự sanh ràng buộc từ vô thỉ, chẳng thể ra khỏi thế gian vậy. 

-A Nan! Sao gọi là thế giới chúng sanh? Thế là dời đổi, Giới là phương vị, nên biết: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên phương dưới là giới; quá khứ, hiện tại, vị lai là Thế. 

Về phương vị của không gian có mười, về sự lưu chuyển của thời gian có ba. Không gian, thời gian cùng với sự dời đổi trong thân của tất cả chúng sanh giao lộn lẫn nhau, nên thành thế giới chúng sanh. 

Tánh giới (không gian) dù thiết lập thành mười phương, nhưng phương vị nhất định mà người thế gian có thể rõ được, chỉ có Đông, Tây, Nam, Bắc tứ phương, còn phương trên, phương dưới và chính giữa thì chẳng có vị trí nhất định. 

-Tứ phương nhân với tam thế, thành số mười hai, rồi nhân với lớp thứ ba, thành 12 x 100 = 1200 (Nguyên văn có nêu ra 4 lớp: l, l0, l00, l000). Tổng quát lại, trong lục căn mỗi mỗi có đến một ngàn hai trăm công đức. 

-A Nan! Ngươi nên ở trong lục căn xác định chỗ hơn kém của mỗi căn. 

-Như Nhãn Căn chỉ thấy phía trước, chẳng thấy phía sau, ngó qua hai bên thì ba phần chỉ thấy được hai. Tóm lại, công đức của nhãn căn chỉ được hai phần ba, vậy biết nhãn căn chỉ có tám trăm công đức. 

-Như Nhĩ Căn nghe khắp mười phương chẳng sót, lúc động thì tựa như có xa gần, lúc tịnh thì chẳng bờ bến, vậy biết nhĩ căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức. 

-Như Tỷ Căn ngửi biết khi thở ra hít vào, có ra có vào, mà sót khoảng giữa khi ra vào giao tiếp, vậy ba phần thiếu một, nên biết Tỷ Căn chỉ có tám trăm công đức. 

-Như Thiệt Căn tuyên dương cùng tột trí thế gian và xuất thế gian; lời nói dù có chừng ngằn, nhưng nghĩa lý thì vô cùng, vậy biết thiệt căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức. 

-Như Thân căn ở nơi thuận nghịch sanh ra xúc giác; (khi hợp thì năng giác có xúc giác), khi lìa thì bất tri (chẳng xúc giác), lìa chỉ có một, hợp thì thành hai, (khi lìa chỉ có một năng hoặc một sở chẳng định, khi hợp thì gồm đủ năng sở thành có hai), vậy ba phần thiếu một, nên biết thân căn chỉ có tám trăm công đức. 

-Như Ý Căn thầm lặng mà cùng khắp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian trong mười phương tam thế, cùng tột thánh phàm, đều bao gồm trong đó, vậy biết ý căn đầy đủ một ngàn hai trăm công đức. 

-A Nan! Nay ngươi muốn ngược dòng sanh tử, trở về nguồn gốc của lưu chuyển, đến chỗ chẳng sanh diệt, thì nên xét kỹ sự thọ dụng của lục căn này, cái nào hợp, cái nào lìa; cái nào sâu, cái nào cạn; cái nào viên thông, cái nào chẳng viên thông. 

Nếu ngươi ngay nơi những căn này ngộ được căn nào viên thông, nương theo căn viên thông đó mà xoay ngược dòng nghiệp hư vọng từ vô thỉ thì so với các căn khác, hiệu quả gấp nhiều lần, một ngày bằng một kiếp. 

- Nay ta đã hiển bày một số công đức của lục căn như vậy, tùy ngươi lựa chọn căn nào dễ nhập, thì ta sẽ phát minh, khiến ngươi được thêm tinh tấn. Mười phương Như Lai nơi thập bát giới, mỗi người mỗi chọn một giới theo đó mà tu hành, đều được Vô thượng Bồ Đề, trong đó vốn chẳng hơn kém. 

Vì ngươi nay còn thấp kém, chưa thể phát huy trí huệ tự tại, nên ta khai thị căn viên thông, khiến ngươi từ một cửa đi vào. Vào sâu một cửa đến chỗ chẳng vọng, thì tất cả lục căn đều nhất thời trong sạch. 

-Bạch Thế Tôn, tại sao ngược dòng sanh tử đi sâu vào một căn, có thể khiến lục căn đều nhất thời trong sạch? 

Phật bảo A Nan: 

-Nay ngươi đã được quả Tu Đà Hoàn, diệt được kiến hoặc của chúng sanh ba cõi trên thế gian, nhưng còn chưa biết những tập khí hư vọng đã tích chứa trong căn từ vô thỉ, tập khí ấy phải nhờ tu đạo mới được dứt trừ. Khi đã dứt trừ, tức là đến bậc vô học, chẳng những biết được quá trình dời đổi của sanh, trụ, dị, diệt nơi một chúng sanh, mà còn biết được những hành tướng vi tế, niệm niệm dời đổi của tất cả chúng sanh trong đại thiên thế giới. 

-Nay ngươi hãy xét lục căn này là nhất hay lục? A Nan, nếu cho là nhất, thì taïi sao chẳng thấy, mắt sao chẳng nghe, đầu sao chẳng đi, chân sao chẳng nói? Nếu cho là lục, như ta ở trong hội vì ngươi chỉ dạy pháp môn nhiệm mầu, vậy lục căn của ngươi căn nào lãnh thọ? 

A Nan đáp: 

-Con dùng tai nghe. 

Phật nói: 

-Tai ngươi tự nghe, có liên quan gì đến thân miệng, mà miệng thì hỏi đạo, thân tỏ cung kính? Vậy biết phi nhất thành lục, phi lục thành nhất; kỳ thật căn ngươi chẳng phải vốn nhất vốn lục. A Nan nên biết cái căn phi nhất phi lục này, vì vọng chấp điên đảo, chìm nổi từ vô thỉ, nên ở nơi bản tánh viên thông, sanh ra cái nghĩa nhất lục. 

Ngươi là bậc Tu Đà Hoàn, dù được tiêu lục, nhưng chưa diệt nhất, ví như hư không đặt vào nhiều khuôn hình, do khuôn hình khác nhau nên nói hư không có khác, nếu trừ bỏ khuôn hình, xem lại hư không thì nói hư không là một, hư không làm sao lại vì ngươi mà thành đồng hay dị, huống chi còn gọi là một hay chẳng phải một! Vậy biết, sự thọ dụng của lục căn cũng như vậy. 

Lược giải:

A Nan nghi: Sao một căn sâu vào có thể khiến lục căn đều nhất thời trong sạch? 

Phật giải thích rằng: Giả sử lục căn vốn một, vốn tự trong sạch, thì chẳng cần nói chi "lục tặc", giả sử lục căn vốn lục, chaüng hỗ dụng nhau, làm sao có thể nhất thời trong sạch? 

Như hư không vốn chẳng khác biệt, do đặt nhiều khuôn hình thành có khác biệt; vì khuôn hình khác biệt, bèn cho hư không cũng khác biệt, nên nói sáu chẳng phải một, nếu trừ bỏ khuôn hình, xem lại hư không, thì nói hư không là một, tức là sáu tiêu một còn, đây là dụ cho sanh ra nghĩa nhất lục. 

Thật ra, hư không và khuôn hình chẳng thể hòa hợp, tất nhiên chẳng có đồng dị, đã chẳng đồng dị thì có chỗ nào để gán cái tên nhất lục ư? Đây là dụ cho vốn chẳng nhất lục. Thấy được chỗ vốn chẳng nhất lục, thì tánh viên thông thường tịch hiện tiền, đâu còn chỗ nào chẳng trong sạch! 

Tu Đà Hoàn gọi là "nhập lưu", mà chẳng có sở nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, tức là lục tiêu, nhưng còn chấp thật có Niết Bàn, nên chưa diệt nhất. Kỳ thật, Nhất từ đâu đến, Không từ đâu khởi? Chỗ này cần phải tham cứu đến tự ngộ mới được rõ. 

Giảng giải:

A Nan đại diện đương cơ trong kinh Lăng Nghiêm, thay mặt cho đại chúng để hỏi Phật. Phật giải thích cho A Nan nghe, tức là nói cho tất cả đại chúng, cho đến chúng sanh đời sau.

Bát Nhã Tâm Kinh phủ nhận lục căn, tự tâm của mình vốn trong sạch. Như hư không chẳng cần biết, là có từ vô thỉ đến nay. Trung Quán Luận nói: “Vì có nghĩa không, nên các pháp mới thành tựu”, tất cả dùng đều phải nhờ cái không, hư không chẳng làm nhưng hiển bày tất cả cái dùng.

Hiển bày tất cả cái dùng thì đâu cần lục căn. Ở Trung Quốc có người con gái dùng lỗ tai thấy được, chứ không phải dùng con mắt. Trương Bảo Thắng không dùng tai mắt thấy, mà dùng ý căn nhìn thấy; không những thấy được, mà lấy cũng được. Ông dùng tâm niệm lấy tiền ngân hàng để cho mọi người xem, rồi trả lại y như cũ, mà ngân hàng không biết. Việc ấy chứng tỏ khỏi cần lục căn.

Bây giờ, mình cần lục căn, tại do tâm chấp. Phật dạy mình tu là phá tâm chấp, khỏi cần lục căn, rồi hiện ra cái dụng lục căn. Như Quán Thế Âm là lục căn hỗ dụng. Đáng lẽ, âm thanh phải dùng tai để nghe, mà lại dùng con mắt để nghe! Tiểu thừa chứng sơ quả Tu Đà Hoàn lìa khỏi lục căn, nhưng họ còn chấp Niết Bàn, nên gọi lục tiêu  nhất còn.

A Nan nghi nhất tiêu, làm sao lục cũng tiêu?

Phật giải thích rằng: Giả sử lục căn vốn tự trong sạch là một thì chẳng cần nói chi lục tặc.

Lục căn là lục tặc tự ăn trộm của báu trong nhà, làm cho mình nghèo khổ. Kỳ thật, bản năng tâm mình rất lớn, tất cả đều sẵn có, do lục căn làm chướng ngại cái dụng của bản tâm.

Giả sử lục căn vốn là lục thì không hỗ dụng với nhau, làm sao có thể nhất thời trong sạch? Vì mắt chủ sự thấy, tai chủ sự nghe, 2 việc này tác dụng khác nhau. Như hư không vốn chẳng khác biệt, do đặt nhiều khuôn hình nên có khác biệt. 

Phật giải thích vốn không có khác biệt, như đặt khuôn vuông cho là hư không vuông, bỏ khuôn vuông rồi đặt khuôn tròn cho là hư không tròn, có vuông tròn là do khuôn. Nếu nói bỏ hư không vuông hay bỏ hư không tròn là không đúng. 

Nói bỏ lục căn là không đúng, bỏ khuôn hình thì hư không chẳng có vuông tròn. Lục căn như khuôn hình, mắt tai khác nhau như vuông tròn. Sự thật chứng tỏ vậy, trừ bỏ khuôn hình thì hư không vốn là một, nếu nói một cũng không có.

Chánh văn:

-Nhãn căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ sáng và tối tỏ bày lẫn nhau, dính bụi thành cái thấy; cái thấy gặp sắc trần, kết sắc trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại, gọi là bản thể con mắt như trái nho tươi. Phù căn tứ trần lưu chuyển theo sắc trần, tạo đủ thứ nghiệp. 

-Nhĩ căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ động và tịnh đối chọi lẫn nhau dính bụi thành cái nghe, cái nghe gặp thanh trần, cuốn thanh trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại gọi là bản thể lỗ tai như lá cây cuốn. Phù căn tứ trần lưu chuyển theo thanh trần tạo đủ thứ nghiệp. 

-Tỷ căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ thông và nghẽn phát hiện lẫn nhau, dính bụi thành cái ngửi, cái ngửi gặp hương trần, thu nạp hương trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại, gọi là bản thể cái mũi như hai móng tay rũ xuống. Phù căn từ trần lưu chuyển theo hương trần, tạo đủ thứ nghiệp. 

-Thiệt căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ lạt và vị xen lộn lẫn nhau, dính bụi thành cái nếm, cái nếm gặp vị trần, thu hút vị trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại, gọi là bản thể cái lưỡi như trăng lưỡi liềm. Phù căn tứ trần lưu chuyển theo vị trần, tạo đủ thứ nghiệp. 

-Thân căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ ly và hợp xoa nhau, dính bụi thành xúc giác, xúc giác gặp xúc trần, nắm xúc trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại, gọi là bản thể cái thân như dáng trống cơm. Phù căn tứ trần lưu chuyển theo xúc trần, tạo đủ thứ nghiệp. 

-Ý căn nơi diệu viên, tánh vốn trong lặng, do hai thứ sanh và diệt tương tục lẫn nhau, dính bụi thành cái biết; cái biết gặp pháp trần, ôm pháp trần thành căn, gốc căn thuộc nơi thanh tịnh tứ đại, gọi là cái ý suy tư như sự thấy trong phòng tối. Phù căn tứ trần lưu chuyển theo pháp trần tạo đủ thứ nghiệp. 

-A Nan! Lục căn như thế, do giác minh kia có năng minh để minh cái giác, thì đánh mất cái tinh minh liễu triệt ấy (tự tánh), thành ra dính mắc nơi hư vọng, rồi phát ra ánh sáng (cái ánh sáng do hư vọng phát ra, thì sáng chẳng phải sáng thật). Cho nên ngươi hôm nay, lìa tối lìa sáng thì chẳng có cái thấy; lìa động lìa tịnh thì vốn chẳng cái nghe; không thông không nghẽn thì cái tánh ngửi chẳng sanh; không vị không lạt thì sự nếm chẳng ra; bất ly bất hợp thì xúc giác vốn chẳng có; không sanh không diệt thì sự liễu tri đặt ở chỗ nào? 

-Ngươi chỉ cần chẳng duyên theo sự động tịnh, hợp ly, vị lạt, thông nghẽn, sanh diệt, sáng tối, mười hai tướng hữu vi này, tùy tiện nhổ ra một căn, thoát khỏi sự dính mắc, trở về bản tánh chân thật, hiện ra sự chiếu soi của tự tánh. Tánh chiếu soi phát ra ánh sáng, thì sự dính mắc của ngũ căn kia liền cùng được giải thoát và tri kiến khởi lên, chẳng do cảnh trần. Chiếu soi chẳng duyên theo lục căn, mà nhờ lục căn phát ra ánh sáng, do đó, sự dụng của lục căn dung thông lẫn nhau. 

Lược giải:

Bản tánh diệu viên trong lặng, gặp sắc trần thì thành cái thấy, gặp thanh trần thì thành cái nghe, v.v... Nên gọi là diệu viên. Nước trong lặng vốn chẳng dính mắc, do bụi trần lọt vào thành có dính mắc. Tánh của địa, thủy, hỏa, phong vốn đều không tịch, nên gọi là thanh tịnh tứ đại, gốc căn ẩn bên trong, trần phù bên ngoài, nên gọi là phù căn, tướng của địa, thủy, hỏa, phong vốn đều lay động, nên gọi là tứ trần. 

Nếu như sự thấy trong phòng tối thì đâu thể có phù căn tứ trần? Vì tánh "không" lìa bản giác thành ám muội, cái ám muội này kết với tối đen thành sắc trần; tối đen và sắc trần xen lộn với vọng tưởng, lay động bên trong thành có đen tối để thấy, cũng có thể gọi là phù căn tứ trần vậy, nên nói như sự thấy trong phòng tối. 

Thanh tịnh tứ đại là một danh từ để tỏ rõ cái nghĩa của thắng-nghĩa-căn, hai chữ Thắng Nghĩa là để hiển bày cái nghĩa lý siêu việt hơn nghĩa lý thông thường. Vì hay chiếu soi cảnh trần, phát ra cái thức phân biệt, cũng gọi là tịnh-sắc-căn (gốc căn chẳng có hình sắc để đối với mắt, nên gọi tịnh-sắc-căn). Phù căn tứ trần là một danh từ để tỏ rõ cái nghĩa của phù-trần-căn, vì hay lưu chuyển theo cảnh trần, tạo đủ thứ nghiệp vậy. 

Giảng giải:

Phật giải thích lục căn tiếp xúc lục trần đều là hư vọng. Trần là bụi có thấy sắc gì cũng là bụi. Cho nên kinh này nói: “Mắt thấy sắc là cái bệnh từ vô thỉ”. Tai nghe tiếng động tịnh cũng là bụi, gọi là thanh trần. Mũi ngửi thơm thúi gọi là hương trần, cũng là bụi.

Dính bụi thì không trong sạch, tứ đại vốn trong sạch; nhưng mình thấy sắc, chấp cho là thật nên phải dính bụi. 5 căn kia cũng vậy.

Bản tánh diệu viên trong lặng (viên là tròn bao gồm hết, trong lặng như nước trong lặng) gặp sắc trần thành cái thấy, gặp thanh trần thành cái nghe. Nếu không gặp sắc trần, thanh trần thì không thấy nghe; không thấy nghe, không phải chết mất. Bản tánh vốn thanh tịnh trong sạch, mà cái thấy nghe là dụng của tâm. Nhưng dụng ấy là vọng do bệnh chấp, vốn diệu viên bất khả tư nghì.

Nước trong lặng vốn chẳng dính mắc (trong lặng thí dụ cho nước, tâm mình như nước trong lặng), do bụi trần lọt vào, thành có dính mắc.

Như lục căn (tâm mình) vốn trong sạch, tại có lục trần lọt vào, thành bị lục trần dính mắc; như thấy sắc thì ham đẹp chê xấu, nghe tiếng thì thích khen ghét chê là do tâm chấp trước phân biệt, thành có dính mắc.

Tánh của địa, thủy, hỏa, phong vốn là không tịch; không tịch gọi là thanh tịnh tứ đại. Gốc căn ẩn bên trong, trần lộ bên ngoài gọi là phù căn. Tướng của địa, thủy, hỏa, phong vốn đều lay động, gọi là tứ trần.

Con mắt, lỗ tai đều là phù trần căn; con mắt giống như trái nho tươi, lỗ tai như lá cây cuốn, lỗ mũi như hai ngón tay rũ xuống. Đó là hình dung tứ trần, tứ là tứ đại. Thân do tứ đại tổ chức thành, nhưng 5 căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) nổi bên ngoài thấy được. Còn ý căn gọi là tịnh sắc căn, tịnh sắc là không có vật tượng nổi bên ngoài để thấy; nhưng có sự hiểu biết, mà không có cái sắc khắp hư không.

Nếu sự thấy trong phòng tối thì đâu có phù căn tứ trần!

Trong phòng tối không thấy đồ vật trong phòng, đồ vật trước mắt gọi là tiền trần. Tiền trần là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân tiếp xúc trước mắt là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Còn ý căn là đối với pháp trần không có giới hạn. Như thân ở đây tưởng nhớ bà con ở Việt Nam, cái ấy thuộc hiểu biết của ý căn. Sự thấy trong phòng tối như không thấy mà biết.

Thanh tịnh tứ đại là một danh từ để tỏ rõ cái nghĩa của thắng nghĩa căn. Siêu việt nghĩa thông thường gọi là thắng nghĩa. Vì hay chiếu soi cảnh trần, phát ra thức phân biệt cũng gọi là tịnh sắc căn.

Gốc căn chẳng có hình sắc để đối với mắt, nên gọi là tịnh sắc căn. Phù trần căn có hình sắc để đối. Mặc dầu, nhĩ căn không có hình sắc, nhưng có âm thanh động tịnh để đối. Còn ý căn thì không có.

Phù căn tứ trần là một danh từ để tỏ rõ cái nghĩa phù trần căn, vì hay lưu chuyển theo cảnh trần, tạo đủ thứ nghiệp. Tại sao hay lưu chuyển theo cảnh trần? Như cảnh đẹp thì thích, cảnh xấu thì chẳng ưa; tiếng khen thì vui, tiếng chê thì buồn; đều đuổi theo cảnh trần, cho nên tạo ra đủ nghiệp.

Trong giới luật nhà Phật, đồng thời một giới; vì tham mà phạm giới thì tội nhẹ, vì sân mà phạm giới thì tội nặng. Tại sao? Tại sân khó trị, tham dễ trị.

Hỏi:

Thế nào là đệ nhất nghĩa và thắng nghĩa?

Đáp:

Đệ nhất nghĩa khác với thắng nghĩa, thắng nghĩa là hơn cái nghĩa thông thường còn trong số lượng. Đệ nhất nghĩa thì không thể nói, là tự tánh không có nghĩa lý. Có nghĩa lý thì có số lượng là vọng, tự tánh không có số lượng. 

Hỏi:

Chánh tư duy là gì?

Đáp:

Chánh tư duy là chấp cái chánh 37 phẩm trợ đạo trong Bát Chánh Đạo của Tiểu thừa. Lục Tổ nói: “Hữu niệm niệm là tà, vô niệm niệm là chánh và tà chánh đều quét sạch, trong sạch không còn gì”. Nếu còn giữ cái chánh thì đạo còn cách xa, cũng gọi vô tâm còn cách muôn trùng quan. 

Tiểu thừa cho chánh tư duy là tốt, nhưng Đại thừa và Tối thượng thừa thì tư duy không được; phải ngưng tư duy, luôn cả tư duy cũng quét sạch. Tà chánh đều phải quét sạch, không có tà chánh để đối đãi. Ấy mới là bản tánh của tâm mình.

Hỏi:

Ý nghĩa văn, tư, tu của kinh này?

Đáp:

Văn, tư, tu này quét sạch tất cả đối đãi. Bước đầu ở trong sự nghe được nhập lưu. Nhập lưu là chẳng chạy theo lục trần mà quên sở nghe, sở nhập đãø tịch, tức là không có sở thì 2 tướng động tịnh chẳng sanh (động tịnh là đối đãi). Âm thanh thì đối với nhĩ căn, đã dứt sở nghe thì không có âm thanh, động tịnh đều là sở nghe. Nếu tịnh không phải sở nghe làm sao biết là tịnh? Cho nên, sở nghe đã dứt thì 2 tướng động tịnh không sanh khởi.

Như thế dần dần tiến thêm thì năng nghe và sở nghe đều hết, sự hết năng sở nghe này chẳng trụ, còn biết chẳng trụ thì còn năng giác và sở giác (biết là giác), nên phải không chẳng trụ (không năng giác sở giác, vì năng giác và sở giác là đối đãi) thì sự không giác ấy mới cực viên. Nhưng không được trụ nơi không, năng giác sở giác được không, đến cùng tột là nhập vào chỗ không. 

Nhập vào chỗ không thì còn trụ nơi không, nên năng không sở không còn phải dẹp. Năng sở của không đã dẹp, thì tất cả sự sanh và diệt đều hết. Lúc ấy, sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền là Niết Bàn. Thình lình siêu việt thế gian và xuất thế gian, đến đây khắp 10 phương pháp giới đều sáng tỏ, được 2 thứ thù thắng tròn đầy sáng tỏ.

Tất cả tương đối từ lớp từ lớp, ban đầu năng nghe sở nghe, rồi hết năng nghe sở nghe thì đến năng giác sở giác; năng giác sở giác hết rồi, có năng không sở không.

Hỏi:

Tổ Sư thiền không cần văn, tư, chỉ cần tu phải không?

Đáp:

Cần hay không cần là đối đãi. Nghe cứ nghe, thấy cứ thấy, nhưng không chấp thấy nghe. Thấy nghe là pháp thế lưu bố tưởng, mình đừng sanh ra trước tưởng thì thấy cứ thấy, đâu phải mù! Nghe cứ nghe, đâu phải điếc! 

Cho nên, chánh pháp không phá hoại pháp thế gian. Pháp thế gian vẫn y như cũ, chứ đừng thêm bớt. Thêm bớt là vọng thì phá hoại pháp thế gian, pháp thế gian cũng là dụng của tâm vậy. Vì chấp mới có tranh cải biện luận, Phật không cho biện luận, tranh cải. Tự tánh rất vi diệu, mà vi diệu thì khỏi làm. 

Năm kia tôi đi Canada gặp một giáo sư đại học dạy tâm lý học, chuyên tâm lý thầy trò. Thầy làm sao đối với học trò, học trò làm sao đối với thầy, dùng tâm lý trạng thái gì? Tôi hỏi y, y nói tùm lum, nói mấy cái chi tiết, nói suôn một danh từ cũng không biết được.

Tôi nói: Làm thầy giảng bài cho học trò nghe, có thái độ gì cho đúng? Y nói không được, tôi nói phải dùng thái độ khách quan mới được. Nếu thầy đó dùng thái độ chủ quan thì không được, không được lấy ý mình dạy học trò. 

Khách quan giống như vô sở trụ của Phật, nhưng chưa tới vô trụ mà hơn chủ quan. Nghe tôi nói y rất phục và nói không nghe những danh từ này. Tôi nói tôi chỉ học hết tiểu học thôi, bây giờ tôi dạy giáo sư đại học.

Chánh văn: 

A Nan bạch Phật rằng: 

-Như lời Phật dạy, nếu muốn cầu được quả thường trụ, thì chỗ phát tâm của nhân địa và quả địa phải cân xứng với nhau. Thế Tôn, trong quả vị Như Lai, bảy thứ: Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật tánh, Am Ma La Thức, Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, tên gọi dù khác, nhưng thể tánh trong sạch viên mãn kiên cố như Kim Cang Vương, thường trụ chẳng hoại. 

-Nếu cái thấy nghe này lìa những tướng sáng tối, động tịnh, thông nghẽn vốn chẳng tự thể; cũng như tâm niệm lìa nơi tiền trần vốn chẳng có gì cả, thì tại sao lại có thể đem sự đoạn diệt này làm nhân tu, mà mong cầu bảy quả thường trụ của Như Lai. 

-Thế Tôn, nếu lìa sáng tối thì cái thấy thành không có; nếu chẳng có tiền trần thì tâm niệm tịch diệt, nghĩ tới nghĩ lui, suy xét tỉ mỉ, vốn chẳng có cái tâm và tâm sở của con, vậy lấy gì làm nhân để cầu quả Vô Thượng Giác? Như Lai trước kia đã nói tánh giác trạm nhiên thường trụ, vậy lời nói trái với lẽ thường thì chỉ thành hý luận, làm sao nhận được lời nói của Như Lai là chơn thật? Xin Phật từ bi khai mở chỗ mê muội của con. 

Phật bảo A Nan: 

-Ngươi chỉ học rộng nghe nhiều, chưa dứt sạch tập khí phiền não, trong tâm dù biết rõ cái nhân điên đảo, mà điên đảo thật hiện tiền thì chẳng biết, e rằng ngươi còn chưa thiệt lòng tín phục, nay ta thử đem những việc trần thế để phá trừ cái nghi của ngươi. 

Tức thời, Như Lai bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, hỏi A Nan:  

-Nay ngươi nghe chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Có nghe! 

Khi tiếng chuông dứt rồi, Phật lại hỏi:  

-Các ngươi nghe chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Chẳng nghe! 

Khi đó La Hầu La lại đánh thêm một tiếng, Phật lại hỏi:  

-Các ngươi nghe chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Có nghe! 

Phật hỏi A Nan:  

-Ngươi cho thế nào là có nghe, thế nào là chẳng nghe? 

A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: 

-Khi tiếng chuông đánh lên thì chúng con được nghe. Khi tiếng chuông ngưng rồi, âm vang đều dứt thì chẳng nghe. 

Như Lai lại bảo La Hầu La đánh chuông, rồi hỏi A Nan:  

-Nay có tiếng chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Có tiếng. 

Ít lâu tiếng ngưng, Phật lại hỏi:  

-Nay có tiếng chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Không tiếng.  

Lát sau, La Hầu La lại đánh một tiếng chuông. Phật lại hỏi: 

-Nay có tiếng chăng? 

A Nan và đại chúng đều đáp:  

-Có tiếng. 

Phật hỏi A Nan:  

-Ngươi cho thế nào là có tiếng, thế nào là chẳng có tiếng? 

A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng: 

-Khi tiếng chuông đánh lên thì gọi là có tiếng, khi tiếng chuông ngưng rồi, âm vang đều dứt, thì gọi là chẳng có tiếng. 

Phật bảo A Nan và đại chúng:  

-Lời nói các ngươi sao tự càn loạn với nhau! 

Đại chúng và A Nan đồng thời bạch Phật:  

-Sao gọi chúng con là càn loạn? 

Phật nói: 

-Ta hỏi về nghe thì các ngươi nói nghe, ta hỏi về tiếng thì ngươi nói tiếng, cái nghe và tiếng trả lời chẳng định như thế, không phải càn loạn là gì? 

-A Nan! Tiếng dứt chẳng âm vang thì ngươi nói là chẳng nghe, nếu thật chẳng nghe thì tánh nghe phải diệt, đồng như cây khô, khi tiếng chuông lại đánh lên, thì ngươi làm sao biết được? Biết có biết không ấy là thanh trần, hoặc có hoặc không đâu phải tánh nghe vì ngươi mà thành có thành không? Nếu tánh nghe thật không thì ai biết không nghe? 

-A Nan! Thanh trần ở trong tánh nghe tự có sanh diệt, chẳng phải tánh nghe của ngươi theo thanh trần sanh diệt khiến tánh nghe thành có thành không. Ngươi còn điên đảo nhận lầm thanh trần là tánh nghe, lạ gì chẳng mê muội cho Thường là Đoạn? 

-Tóm lại, chẳng nên cho rằng lìa các tướng động, tịnh, thông, nghẽn, nói chẳng có tánh nghe. 

Như người đang ngủ mê trên giường, trong nhà có người giã gạo, người ấy trong chiêm bao nghe tiếng giã gạo, tưởng thành tiếng khác, hoặc cho là tiếng trống, hoặc cho là tiếng chuông, trong chiêm bao liền lấy làm lạ, sao tiếng chuông lại như tiếng cây đập vào đá, khi chợt tỉnh dậy nghe tiếng chày, bảo với người nhà rằng, trong lúc chiêm bao đã lầm tiếng chày cho là tiếng trống. 

A Nan, người đó trong chiêm bao đâu nhớ những sự động, tịnh, thông, nghẽn. Thân hình dù ngủ, nhưng tánh nghe chẳng mất, vậy dẫu cho hình tướng tiêu tan, thân mạng dời đổi, làm sao tánh nghe này lại vì ngươi mà tiêu diệt. 

-Do các chúng sanh từ vô thỉ, nương theo sắc thanh, đuổi theo vọng niệm mà lưu chuyển, chưa từng khai ngộ bản tánh trong sạch thường trụ, chẳng theo tánh chơn thường, lại đuổi theo sanh diệt, do đó đời đời bị xoay vần trong vòng tạp nhiễm. 

-Nếu bỏ sanh diệt, giữ tánh chơn thường, thì ánh sáng của Chơn Thường tự hiện, căn, trần, tâm thức, ngay đó liền tiêu; tướng vọng tưởng là trần, tánh phân biệt là cấu, cả hai đều xa lìa, thì pháp nhãn của ngươi liền được trong suốt, làm sao lại chẳng thành Vô Thượng Tri Giác? 

Giảng giải:

Âm thanh là sanh diệt, tánh nghe thì không có sanh diệt.

-A Nan! Ngươi há chẳng biết hiện trong hội này, A Na Luật Đà chẳng mắt mà thấy (Trương Bảo Thắng dùng ý căn cũng thấy được), rồng Bạt Nan Đà chẳng tai mà nghe; thần Nữ Căng Già chẳng mũi mà ngửi hương; Kiều Phạm Bát Đề lưỡi trâu mà biết vị; thần Thuấn Nhã Đa bản chất là gió, vốn chẳng tự thể, do ánh sáng tự tánh, tạm hiện hình bóng, nên chẳng có thân mà biết xúc; các hàng Thanh Văn được diệt tận định trong hội này, như Ma Ha Ca Diếp ý căn đã diệt từ lâu mà vẫn rõ biết khắp nơi, chẳng do tâm niệm.

 Trương Bảo Thắng làm được, Y dùng ý căn để thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả đều do tâm tạo”. Tâm mình tạo cũng được nhưng lâu, kiếp này tạo kiếp sau có. Như trong kinh, Phật đưa ra 6 người khỏi dùng 6 căn mà biết 6 trần. Chứng tỏ năng lực của tâm mình siêu việt tất cả. Tất cả vũ trụ vạn vật sanh diệt biến đổi thành tựu đều ở trong tâm mình, tất cả chúng sanh cũng có năng lực đó. 

Tuy Phật đề ra 6 người để chứng tỏ, nhưng những cái đó mình cũng làm được. Tại sao mình làm không được? Tại do vọng tưởng che khuất. Dân mỹ gồm 2, 3 trăm triệu, mỗi người đều có thẻ an sinh xã hội. 

Lấy bộ ghi nhớ của bộ óc chế tạo ra cái máy ghi nhớ mấy trăm triệu người không bao giờ lộn. 

Chính người tạo ra cái máy hay quên. Tại sao? Vì người đó suy nghĩ, còn cái máy không có bộ phận suy nghĩ. Chính cái suy nghĩ làm cho quên, làm cho mình nhớ lộn. Cái suy nghĩ đó, trong kinh gọi là vọng tưởng. Tham thiền là ngưng suy nghĩ, cho năng lực trong tâm hiện ra khắp không gian thời gian, làm gì cũng được.

-A Nan! Nếu các căn của ngươi đều được giải thoát thì dụng của tự tánh tự hiện, như trong lặng mà phát ra ánh sáng, vậy phù trần và các tướng biến hóa trong thế gian đều tiêu, như nước sôi làm tan băng, ngay liền hóa thành vô thượng tri giác.

Mình sẵn có vô thượng tri giác, tại mình không tin; không phải tri giác bộ óc, tri giác bộ óc là vọng. Còn tri giác Phật tánh (chân tâm) gọi là vô thượng, không có cái nào cao nữa. Tham thiền là phát hiện tri giác của mình, để đem ra dùng.

 Muốn vô thượng tri giác hiện ra thì trần lao phiền não phải tiêu hết, cái dụng mới hiện ra được, tức là tập khí hết sạch. Nếu dứt được một phần tập khí thì cái dụng hiện ra một phần. Những người tham thiền cũng có hiện  một phần nào, như Trương Quốc Anh, cô Hằng Thiền, Trương Bảo Thắng,… 

Mặc dầu, mình chưa hiện ra, nhưng dụng vẫn có đầy đủ. Nếu lục căn và lục trần tiêu hết thì giác tánh thành diệu viên, tức tròn đầy đủ, gọi là vô thượng tri giác.

-A Nan! Bạch Phật rằng:

Như lời Phật dạy, nếu muốn cầu được thường trụ thì chỗ phát tâm của nhân địa và quả địa phải cân xứng với nhau. Thế Tôn, trong quả vị của Như Lai, bảy thứ: Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như Phật tánh, Am Ma La Thức (bản thức là chưa có nổi niệm nào), Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí, tên gọi dù khác, nhưng thể tánh trong sạch viên mãn, kiên cố như kim cang vương thường trụ chẳng hoại.

Tuy nói 7 thứ, tên gọi dù có khác, nhưng bản thể không có khác. Như nhiều cây đèn khác nhau, nhưng ánh sáng thì không khác. Tâm của mình cũng vậy, mặc dầu, nhiều chúng sanh khác nhau, nhưng Phật tánh không khác.

-Nếu cái thấy nghe này lìa tướng sáng tối, động tịnh, thông nghẽn vốn chẳng tự thể; như tâm niệm lìa nơi tiền trần vốn chẳng có gì cả, thì tại sao lại có thể đem sự đoạn diệt này làm nhân tu, mà mong cầu 7 quả thường trụ của Như Lai?

Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật tánh,… là 7 quả thường trụ không bao giờ hoại. Còn sự thấy nghe này, thấy phải nhờ sáng tối, nghe phải nhờ động tịnh, ngửi phải nhờ thông nghẽn. Nếu không động tịnh, thông nghẽn thì nghe và ngửi không có. Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật tánh vốn không có, nhưng các thứ ấy vẫn tồn tại mãi. Lấy nhân sanh diệt để cầu quả thường trụ thì nhân với quả không hợp, vậy làm sao được?

Phật nói: “Muốn cầu quả thường trụ thì phải làm nhân thường trụ”. Như nhân vô vi thì được quả vô vi, nếu nhân hữu vi thì được quả hữu vi. Dùng nhân sanh diệt để cầu cái quả thường trụ, làm sao được? A Nan có cái nghi này hỏi Phật:

Thế Tôn! Nếu lìa sáng tối thì cái thấy thành không có. Nếu chẳng có tiền trần thì tâm niệm tịch diệt.

Nay tâm niệm hoạt động suy nghĩ. Suy nghĩ cái gì? Suy nghĩ tiền trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc). Mình nổi lên một niệm, không phải là niệm thấy, niệm nghe, niệm ngửi, niệm nếm, niệm xúc. Phải trong đó có một tiền trần, nếu hết tất cả tiền trần thì tâm niệm không có chỗ dựa, làm sao nổi lên được? Đây là nghi của A Nan, cho nên A Nan nói: Lời nói của Phật dù đúng, nhưng làm sao nhận được lời nói của Như Lai là chân thật? Xin Phật từ bi khai mở chỗ mê muội của con?

Phật bảo A Nan:

-Ngươi chỉ học rộng nghe nhiều, chưa dứt được tập khí phiền não, trong tâm dù biết rõ cái nhân điên đảo, điên đảo hiện tiền mà chẳng biết, e rằng người chưa thật lòng tin phục, nay ta đem những việc trần thế để phá trừ cái nghi của ngươi.

Mặc dầu, A Nan nghe Phật giải thích rất có lý. Nhưng sự thật chưa có tin, nên cầu Phật khai thị thêm. Phật mới dùng chuyện trước mắt để khai thị, nói A Nan chỉ học rộng nghe nhiều, không tu làm sao phát hiện tri giác vô thượng của mình. Lúc đó, Phật dùng phương tiện để phá nghi của A Nan.

Tức thời, Như Lai bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông, hỏi A Nan: Nay ngươi nghe chăng?

A Nan và đại chúng đều đáp: Có nghe!

Khi tiếng chuông dứt rồi, Phật lại hỏi:

-Các ngươi nghe chăng?

A Nan và đại chúng đều đáp: Chẳng nghe.

-Khi đó La Hầu La lại đánh thêm một tiếng chuông.

Phật lại hỏi: Các ngươi có nghe chăng?

A Nan và đại chúng đều đáp: Có nghe!

Phật hỏi A Nan:

-Ngươi cho thế nào là có nghe, thế nào là chẳng nghe?

A Nan và đại chúng đều bạch Phật rằng:

-Khi tiếng chuông đánh lên thì chúng con được nghe, khi tiếng chuông ngưng rồi, âm vang đều dứt thì chẳng nghe (trả lời như vậy, theo người thường thì đúng; đánh lên thì nghe, một hồi lâu dứt tiếng không nghe).

Phật lại bảo La Hầu La đánh chuông, rồi hỏi A Nan: Nay có tiếng chăng?

A Nan và đại chúng đều đáp: Có tiếng.

Ít lâu tiếng ngưng, Phật hỏi: Nay có tiếng chăng?

A Nan và đại chúng đều đáp: Không tiếng.

Phật nói các ngươi sao trả lời càn loạn bậy bạ vậy?

A Nan và đại chúng hỏi: Tại sao Phật nói chúng con trả lời càn loạn bậy bạ?

Phật nói: Cái nghe và tiếng khác nhau mà! Tôi hỏi tiếng trả lời tiếng. Tôi hỏi nghe thì trả lời nghe. Nếu nói chẳng nghe thì tánh nghe mất rồi. Như tiếng chuông gõ rồi làm sao nghe được? Tức là Phật cho biết, tiếng chuông có sanh diệt, tiếng là âm thanh thuộc về lục trần có sanh diệt. Còn tánh nghe, tánh thấy là cái dụng của tự tánh không sanh diệt, vì bản thể không sanh diệt thì cái dụng cũng không sanh diệt.

Tuy, cái dụng là vọng, nhưng bản thể không sanh diệt. Cho nên tánh nghe không theo chuông mà diệt. Tiếng chuông sanh khởi, nhưng tánh nghe không sanh khởi. Tiếng chuông diệt, nhưng tánh nghe không diệt. Phật dùng tiếng chuông để chứng tỏ cái dụng của tâm này chơn thường không chết mất. 

Thân này sau khi chết, thiêu ra tro, chôn thành đất. Còn tánh thấy tánh nghe không chết, vì bản thể khắp không gian thời gian. Khắp thời gian thì không mất, nếu có mất thì không khắp thời gian.

Người thế gian tin thân này sanh diệt, mà cứ bảo vệ thương xót nuôi dưỡng thân này. Còn Phật tánh không màn đến! Cái ấy là chính của mình, tồn tại vĩnh viễn, nhưng lại bỏ rơi không màn đến; rất là mâu thuẫn điên đảo!

Trong này thí dụ: Lúc ngủ mê chiêm bao, tánh nghe vẫn còn. Như nghe tiếng chày tưởng là tiếng chuông. Mặc dầu tưởng lầm nhưng cũng do tánh nghe. Chứng tỏ tánh nghe vẫn còn, cho đến thân này chết, nhưng tánh nghe tánh thấy vẫn còn, không chết mất. Cái nào lay động thì biến đổi nên chết mất. Tánh thấy tánh nghe không lay động thì không biến đổi nên không chết mất.

Tham thiền là phát hiện cái của mình tồn tại vĩnh viễn, làm việc gì cũng được. Vì khắp không gian thời gian nên cái dụng cũng vô lượng vô biên. Nhưng tại mình không tin, lại tin bộ óc và thân này. Thân này không đáng tin, vì sau khi chết biến thành tro đất. Cái không thể biến thành tro đất đó lại không tin, mà tin cái sanh diệt biến thành tro đất. Cho nên, Phật nói điên đảo, rất đáng thương xót!
 

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM      
Quyển 5

Chánh văn:

A Nan bạch Phật rằng: 

-Như Lai dù đã khai thị nghĩa thứ hai, nhưng con xét những người mở thắt kết, nếu chẳng biết cái gốc của thắt kết, thì con tin chắc người ấy chẳng bao giờ mở được. 

Thế Tôn, con và hàng hữu học Thanh văn trong hội cũng như vậy; chúng con với vô minh cùng sanh cùng diệt từ vô thỉ, dù được thiện căn đa văn, mang tiếng là xuất gia, mà sự tu như người sốt rét cách nhật, lúc có lúc không. Xin Phật từ bi thương xót kẻ chìm đắm, khai thị thế nào là cái thắt kết của thân tâm hiện hữu này, làm sao được mở, cũng khiến chúng sanh khổ não đời vị lai được ra khỏi luân hồi. 

Nói xong, cùng đại chúng năm vóc gieo sát đất, cung kính rơi lệ, mong đợi lời khai thị vô thượng của Phật. 

Bấy giờ, Thế Tôn thương xót A Nan và hàng hữu học trong hội, đồng thời làm nhân xuất thế gian, chỉ đường cho tất cả chúng sanh đời vị lai, lấy tay xoa đầu A Nan. Liền đó, sáu thứ rung động khắp mười phương thế giới, vô số Như Lai trong các cõi ấy, mỗi mỗi đều từ đỉnh đầu phóng ra hào quang, đồng thời chiếu đến rừng Kỳ Đà, rọi vào đỉnh đầu Như Lai, cả chúng đều được pháp chưa từng có. 

Lúc ấy, A Nan và đại chúng đều nghe mười phương Như Lai đồng thanh bảo A Nan rằng: 

-Lành thay, A Nan! Ngươi muốn biết cái Câu Sinh Vô Minh (căn bản vô minh), là gốc thắt kết khiến ngươi lưu chuyển trong vòng sanh tử ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác; ngươi lại muốn biết đạo Vô Thượng Bồ Đề khiến ngươi mau chứng quả tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ ấy, cũng chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác. 

A Nan dù được nghe pháp âm như vậy, tâm còn chưa rõ, cúi đầu bạch Phật: 

-Tại sao khiến con bị sanh tử luân hồi và được tự tại giải thoát, đều là lục căn, chẳng phải vật khác? 

Phật bảo A Nan: 

-Căn trần cùng gốc, thắt mở chẳng hai, tánh thức hư vọng như hoa đốm trên không. A Nan, do trần phát tri, vì căn kiến tướng; kiến và tướng chẳng có tự tánh, như những cây sậy gác vào nhau, cho nên ngươi nay lập tri kiến thành tri, tức là căn bản của vô minh, nếu đối với tri kiến chẳng chấp là tri kiến, ấy tức là Niết Bàn, trong sạch vô lậu, làm sao trong đó còn có thể dung nạp vật khác. 

Bấy giờ, Thế Tôn muốn lập lại nghĩa trên, bèn nói kệ rằng: 

Chơn tánh hữu vi không 
Duyên sanh cố như huyễn 
Vô vi vô khởi diệt, 
Bất thật như không hoa 
Ngôn vọng hiện chư chơn, 
Vọng chơn đồng nhị vọng, 
Do phi chơn phi chơn, 
Vân hà kiến sở kiến? 
Trung gian vô thật tánh, 
Thị cố nhược giao lô, 
Kết giải đồng sở nhân, 
Thánh phàm vô nhị lộ, 
Nhữ quán giao trung tánh, 
Không hữu nhị câu phi. 
Mê hối tức vô minh, 
Phát minh tiện giải thoát, 
Giải kết nhân thứ đệ, 
Lục giải nhất diệc vong, 
Căn tuyển trạch viên thông, 
Nhập lưu thành Chánh Giác, 
Đà Na vi tế thức, 
Tập khí thành bạo lưu. 
Chơn phi chơn khủng mê, 
Ngã thường bất khai diễn 
Tự tâm thủ tự tâm, 
Phi huyễn thành huyễn pháp 
Bất thủ vô phi huyễn, 
Phi huyễn thượng bất sanh, 
Huyễn pháp vân hà lập? 
Thị danh Diệu Liên Hoa, 
Kim Cang Vương Bửu Giác 
Như huyễn Tam Ma Đề, 
Đờn chỉ siêu vô học 
Thử A Tỳ Đạt Ma, 
Thập phương Bạt Già Phạn, 
Nhất lộ Niết Bàn môn.
Dịch nghĩa: 
Tánh hữu vi vốn không, 
Duyên sanh nên như huyễn 
Vô vi không sanh diệt, 
Chẳng thật như hoa đốm, 
Nói vọng để hiển chơn, 
Vọng chơn là hai vọng 
Phi chơn phi bất chơn 
Làm sao kiến sở kiến? 
Trong đó chẳng thật tánh, 
Nên như sậy gác nhau. 
Thắt, mở đồng một nhân, 
Thánh phàm chẳng hai đường, 
Ngươi xem tánh gác nhau, 
Không, Hữu thảy đều sai. 
Mê muội tức vô minh, 
Phát minh liền giải thoát. 
Mở, thắt theo thứ tự, 
Lục mở nhất cũng tiêu 
Chọn căn nào viên thông, 
Nhập lưu thành Chánh Giác. 
Đà Na (thức thứ tám) thức vi tế, 
Tập khí như nước dốc. 
Sợ chấp Chơn phi chơn, 
Nên ta chẳng khai giảng 
Tự tâm chấp tự tâm, 
Phi huyễn thành pháp huyễn. 
Chẳng chấp chẳng phi huyễn 
Phi huyễn còn chẳng sanh, 
Pháp huyễn làm sao lập? 
Đây gọi Diệu Liên Hoa 
Bửu giác như Kim Cang 
Tu theo Tam Ma Đề, 
Búng tay siêu vô học 
Pháp này chẳng gì bằng, 
Mười phương chư Như Lai, 
Chỉ một cửa Niết Bàn.

Lược giải:

Trước kia, A Nan hỏi Phật những phương tiện đầu tiên về ba thứ Thiền Quán: Sa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na, mà mười phương Như Lai đồng thanh đáp lại A Nan rằng: "Ngươi muốn biết cái Câu Sinh Vô Minh, là gốc thắt kết khiến ngươi lưu chuyển trong vòng sanh tử ấy, chính là lục căn của ngươi chứ chẳng phải vật khác; ngươi lại muốn biết Đạo Vô Thượng Bồ Đề, khiến ngươi mau chứng quả tự tại giải thoát, tịch lặng thường trụ ấy, cũng chính là lục căn của ngươi, chứ chẳng phải vật khác". 

Cũng như lời thí dụ băng nước kể trên, nước đóng thì thành băng, đâu thể cho lộn vật khác mà thành băng; băng tan thì thành nước, đâu thể cho lộn vật khác mà thành nước. 

Lục căn làm mai mối cho giặc, tự cướp của báu trong nhà, ấy là lục căn; lục mở nhất tiêu, mau chứng Chánh Giác, cũng là lục căn. Vậy tức vọng tức chơn, tức chơn tức vọng, chỗ này cần phải có diệu ngộ mới được, chữ Diệu này lời nói chẳng thể diễn tả, ắt phải chuyển thức thành trí, khế hợp với Diệu Tâm sáng tỏ, mới có thể nói là Vô Thượng Bồ Đề. 

Bửu Giác như Kim Cang: Tánh Kim Cang hay phá hủy tất cả, Thập Địa đều gọi là Tâm Kim Cang, như phá hủy sơ địa lên nhị địa, phá hủy nhị địa lên tam địa v.v... Nếu Bửu Giác này được hiện ra, chẳng những căn bản vô minh liền tiêu, cả Tri kiến Bồ Tát và Tri Kiến Phật cũng không còn. 

Ba thứ Thiền quán Sa Ma Tha, Tam Ma và Thiền Na chỉ cần tự ngộ, hễ ngộ thì liền đến địa vị Phật, nên trong búng ngón tay siêu việt bậc vô học của nhị thừa. Bậc vô học vì còn chấp vô kiến, tức còn lọt vào công dụng, đây chơn tánh hiện tiền, hữu vô đều lìa, một cửa sâu vào, chẳng phải nhờ công dụng, nên gọi là cửa Đốn Ngộ vậy. (Chẳng nhờ công dụng là chẳng phải chẳng cần công phu).

Giảng giải:

A Nan bạch Phật rằng:

-Như Lai dù đã khai thị nghĩa thứ hai, nhưng con xét những người mở thắt kết, nếu chẳng biết cái gốc của thắt kết thì con tin chắc người ấy chẳng bao giờ mở được. 

Thắt kết tức là cái vô minh phiền não của mình, cũng như bị trói buộc, lấy thắt kết để hình dung. Thắt kết giải tỏa tức là phiền não hết, nhưng chúng sanh đã chấp chặt thành thắt kết thì phải biết nguồn gốc của thắt kết mới mở được. Nếu chẳng biết gốc của thắt kết thì không bao giờ mở được. 

A Nan bạch Phật:

Thế Tôn! Con và hàng hữu học Thanh Văn trong hội cũng như thế, chúng con với vô minh cùng sanh cùng diệt từ vô thỉ, dù được thiện căn đa văn (học rộng nghe nhiều). Mang tiếng xuất gia, mà sự tu như người sốt rét cách nhật (sốt rét cách một ngày lại nổi lên).

Nói là chơn thì không đúng. Tại sao? Vì chơn và chẳng phải chơn là đối đãi sanh với nhau. Do có chơn nên mới lập ra chẳng phải chơn, tại chẳng phải chơn mới lập ra chơn. Vậy, chẳng phải chơn và cũng chẳng phải bất chơn. Sự thật là vậy, làm sao có năng kiến để thấy sở kiến. Kiến là thấy, có mắt để thấy sở thấy, làm sao có? Nhưng bây giờ thì có, cái có này là vọng. Tại sao nói là vọng? Vì căn với trần đối đãi sanh với nhau, tức là nhân duyên. Nhân duyên mới có, không nhân duyên thì không có. Cho nên, tất cả đều chẳng thật.

 Trong đó chẳng thật tánh,
 Nên như sậy gát nhau.

Hai cây sậy gát nhau là có, nhưng lìa nhau thì không; như con gà lìa trứng gà thì không có con gà, trứng gà lìa con gà thì không có trứng gà. Cho nên nói như sậy gát nhau.

 Thắt, mở đồng một nhân,
 Thánh, phàm chẳng hai đường.

Phiền não như thắt kết, giải thoát phiền não như mở thắt kết. Thắt và mở không khác đều do lục căn. Thắt và mở là lục căn, vì đồng một nhân (lục căn). Thánh phàm cũng vậy, vì có phàm mới có thánh, vì có thánh nên có phàm. Thánh và phàm là tương đối sanh nhau. Như con gà và trứng gà tương đối sanh nhau, lìa khỏi thì không có.

 Ngươi xem tánh gát nhau,
 Không, hữu thảy đều sai.

Vừa rồi nói cây sậy gát nhau, nói tánh gát nhau có, nhưng lìa thì không. Cho nên, nói có và nói không đều sai.

 Mê muội tức là vô minh,
 Phát minh liền giải thoát.

Mình không hiểu nên mê muội, chứng ngộ thì không thấy có vô minh là giải thoát. Như Bát Nhã nói: “Vô vô minh” (không có vô minh). Tại tâm chấp thành có vô minh. Không có tâm chấp thật thì vô minh cũng tiêu. Chấp thật và giải thoát đều do lục căn, chứ không phải vật khác. Cho nên, Phật nói lục căn là lục tặc (6 kẻ ăn trộm), tự trộm gia tài của mình mà không biết, cứ tin lục căn. Mắt muốn xem sắc đẹp, tai thích nghe lời khen ngợi, mũi ham ngửi mùi thơm, lưỡi ưa nếm đồ ngon,... Tất cả đều do lục căn.

 Mở, thắt theo thứ tự,
 Lục mở nhất cũng tiêu.
 Chọn căn nào viên thông,
 Nhập lưu thành chánh giác.

Tu Đà Hoàn dịch là nhập lưu, tức là lìa tục lưu nhập thánh lưu; lìa được lục trần, không bị lục trần dính mắc. Còn chấp có lục trần để lìa nên nói là sơ quả, còn phải đầu thai con người tới 7 lần, mới được giải thoát sanh tử luân hồi.

 Đà na thức vi tế.

Đà na (A đà na) là tiếng Ấn Độ, tức thức thứ 9. Thường thường nói có 8 thức: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý là lục thức; Mạt na là thức thứ 7; A lại da là thức thứ 8; Đà na là bản thức. Chưa gắn tên 8 thức kia, gọi là Đà na thức. Thức này rất vi tế khó thấy, cho nên Phật ít giảng thức này, vì giảng ra sợ người ta chấp thật.

 Tập khí như nước dốc.

Nước dốc chảy thật nhanh, thấy giống như không chảy. Thời gian của sát na đi qua rất mau, nếu đem 1  sát na chia ra 60 A, 1 A chia ra làm 60 B, 1 B chia ra làm 60 C; thời gian của con số còn đó, nhưng bộ óc không biết được. Vì không lập thành hiện tại, vừa nói ra thì đã qua rất nhiều con số chia ấy rồi. Mình đang sống trong thời gian phân tích vi tế thì không thể dùng lời nói để diễn tả! Chỉ ngộ mới biết được.
 (Hết tập một).
 
 
 

ML
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

Liên Hệ:
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, HT. Nhẫn Tế
Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Tổng Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
Pháp Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, HT. Thích Huệ Hưng
Phép Tu Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap