Có
nhiều cách thực hành phowa (1) khác nhau. Hầu hết chúng là
sadhana (2) Amitabha (Đức Phật A Di Đà). Tôi đã nhận một
sadhana từ dòng Nyingma và cũng nhận một sadhana khác của dòng
Naropa. A Di Đà là vị Bổn Tôn đặc biệt trợ giúp cho ta
trong việc chuyển di tâm thức vào lúc chết. Nếu bạn không
có bất kỳ nghi ngờ nào thì việc tái sinh trong cõi của Đức
Phật A Di Đà sẽ không bị nhiều chướng ngại. Tuy vậy,
cho dù bạn được sinh ra ở đó, bạn cũng không được giác
ngộ. Nhưng ở cõi của Đức Phật A Di Đà bạn có thể thực
hành. Cõi giới của chúng ta có khi có Giáo Pháp và đôi khi
không có, nhưng ở cõi của Đức Phật A Di Đà thì Giáo Pháp
thường xuyên có mặt. Ở đó bạn không cần phải làm việc,
các sự việc xuất hiện hoàn toàn bằng sự ước muốn.
Vua
Trisong Deutsen đã xây dựng tu viện Samye. Ngài có một vị
thượng thư tên là Nyima, là một hành giả vĩ đại. Một
hôm vị thượng thư dùng đèn cầy để tìm vật gì đó trong
tầng hầm. Cây đèn cầy làm cháy cỏ khô, lửa bùng lên thiêu
rụi căn nhà và thiêu chết cả nhà ngoại trừ ông. Khi ấy
Vua Trisong Deutsen, vì không chịu đựng nổi những đau khổ
của vị thượng thư nên đã cầu xin Đức Padmasambhava (Liên
Hoa Sanh) ban cho một thực hành để vượt qua được những
đau khổ đó. Do đó Đức Padmasambhava đã cầu thỉnh Đức
Phật A Di Đà ban cho những giáo lý phowa. Đức Padmasambhava
bảo Yeshe Tsogyal đi gặp nhà vua và nói với vua là ngài có
một giáo lý để cứu giúp, nhưng ngài chỉ ban giáo lý này
cho vị thượng thư bởi vào lúc này tiết lộ nó cho
những người khác thì không lợi lạc. Trong thời gian này,
vị thượng thư đang vật vã khóc than và suy yếu vì không
hoạt động. Ông thực hành phowa trong bảy ngày và trở thành
một yogi chứng ngộ. Ông nhận ra rằng những người bị chết
trong gia đình ông sẽ trở thành đệ tử của ông sau này.
Ông đã chứng ngộ cấp độ nhất vị, hay đệ bát địa.
Nhà vua thỉnh cầu giáo lý phowa nhưng Đức Padmasambhava nói
rằng vua đã có những giáo lý để đạt được Giác ngộ
nếu nhà vua chịu thực hành chúng.
Vì
thế Đức Padmasambhava đặt những giáo lý trong một chiếc
hộp bằng vàng và chôn dấu chúng ở núi An Bình trong một
cái hồ. Ngài tiên đoán rằng trong tương lai một hành giả
vĩ đại tên là Nyima sẽ đưa giáo lý ra khỏi hồ. Một terton
(3) nổi tiếng tên là Nyima đã đưa nó lên và truyền dạy
cho nhiều chúng sinh. Những vị Naga (rồng) sống trong hồ và
là những vị Hộ Pháp, nhưng tôi không biết vị rồng nào
sống trong cái hồ đó. Dòng truyền terma (4) đó truyền xuống
qua dòng Drikungpa. Thực hành phowa chỉ được dạy một lần
mỗi mười hai năm và sẽ được giảng dạy vào năm tới
ở Lumbini (Lâm Tì Ni).
Phowa
là thực hành đặc biệt được sử dụng vào lúc chết. Nhưng
bạn không thể thực hiện phowa cho những người khác trừ
phi bạn đã đạt được con đường của cái thấy (kiến
đạo.) Có lẽ bạn có thể trợ giúp chút ít, nhưng sẽ không
có lợi lạc nhiều. Chúng ta không biết người chết đang
nghĩ gì, vì thế việc thực hành của ta có thể khiến cho
họ giận dữ. Bạn có thể nói cho những người đang hấp
hối về kinh nghiệm của họ. Khi lửa (hỏa đại) tan vào
gió (phong đại), bạn mất hơi ấm. Khi gió tan vào tâm bạn,
bạn không thể thở. Hãy thực hành phowa và chứng ngộ nó.
Sau khi bạn thực hiện pháp này, hãy nghĩ tưởng về nó cho
tới khi chết.
Bạn
phải bắt đầu bất kỳ thực hành nào với sự Quy y và phát
Bồ Đề tâm. Hành giả sơ cơ cần nghĩ tưởng Tam Bảo như
cái gì ở bên ngoài họ. Một số người nói rằng nơi quy
y (nương tựa) chính yếu là Đức Phật, nhưng Ngài không thể
mang ta tới sự Giác ngộ mà ta cần phải thực hành Pháp.
Nhưng không có Đức Phật thì chúng ta không thể hiểu Pháp
bởi vì Ngài đã giảng dạy nó. Sau đó chúng ta thực hành
Pháp và Pháp bảo vệ chúng ta thoát khỏi sinh tử. Chúng ta
cần tới Tăng Đoàn bởi Đức Phật đã tịch diệt 2500 năm
trước. Trong Kim Cương thừa có thêm ba sự quy y nữa, đó
là quy y Lạt Ma, Bổn Tôn, và những Hộ Pháp. Lạt Ma hiện
thân cho Tam Bảo. Nơi ngài giảng dạy là cõi tịnh độ. Ngài
Marpa đã hiển lộ một mạn đà la Chakrasamvara (5) trong bầu
trời và hỏi Naropa là ngài lễ lạy Bổn Tôn hay Lạt Ma. Naropa
đã lạy vị Bổn Tôn và sau đó tan hòa vị Bổn Tôn vào tim
ngài và nói rằng không có sự khác biệt (giữa Bổn Tôn và
Lạt Ma). Kim Cương thừa cũng là con đường nhanh chóng hơn
con đường Kinh thừa, bởi trong Kim Cương thừa kết quả được
dùng như con đường. Bạn trở thành Bổn Tôn và thế giới
trở thành cõi tịnh độ. Bồ Đề tâm kết hợp lòng bi mẫn
và trí tuệ. Lòng bi mẫn của Bồ Tát trùm chứa tất cả
những chúng sinh đau khổ chứ không chỉ những bằng hữu
của ta. Vì thế nó là lòng đại bi. Bồ Tát thực hành để
đạt được Giác ngộ chứ không phải vì lợi ích của đời
này hay đời sau. Đó là trí tuệ. Đó là việc sử dụng Pháp
như con đường. Tất cả những ai có trí tuệ và lòng bi mẫn
đều là những Bồ Tát và là trưởng tử của Đức Phật.
Nếu
bạn có lòng sùng mộ thì việc chứng ngộ Mahamudra (Đại
Ấn) không có gì khó khăn. Có người hỏi tôi Tây Tạng có
yoga không và tôi trả lời là có, có yoga tâm. Tây Tạng cũng
có yoga thân, nhưng nó không được giảng dạy cho mọi người.
Bạn cần thấu hiểu tánh Không. Tánh Không thì khác với không
có gì hết. Ở đây tôi muốn nói tới bản tánh của các
hiện tượng thì như một giấc mơ. Nó hơi khó hiểu một
chút. Cái này được gọi là cái bàn, nhưng ta không thể tìm
thấy cái bàn trong những bộ phận của nó. Ngài Chandrakirti
(Nguyệt Xứng) thường lấy cỗ xe ngựa làm ví dụ. Ta không
thể tìm ra cỗ xe ngựa trong những bộ phận của nó. Chiếc
xe hơi thì cũng thế. Tánh Không cũng là sự tương thuộc.
Nếu chúng ta hiểu rõ nhân và quả thì ta sẽ hiểu được
tánh Không. Một đứa trẻ không thể hiện hữu mà không có
cha mẹ hay cha mẹ không thể hiện hữu nếu không có đứa
con. Cha mẹ không thể là nguyên nhân của đứa con bởi họ
không xuất hiện trước đứa con, nhưng cha mẹ không là cha
mẹ trước khi có một đứa con.
Nếu
chúng ta nhận ra tâm ta, ta sẽ thấy tâm ta không khác tâm Đức
Phật. Nhưng chúng ta có sự vô minh. Drugpa Kunley là một yogi
điên vĩ đại. Có lần ngài nghe nói có người chết và được
yêu cầu mang tử thi tới cho đàn kên kên. Ngài đánh cái xác
và nó bước tới nghĩa địa. Một lần khác ngài được một
người yêu cầu tụng một thần chú và ngài bảo ông ta tụng
vài lời nguyền rủa. Nhưng ông ta đã tụng một cách trung
thực và khi ông ta chết, ông đạt được thân cầu vồng.
Có lần ngài lễ lạy trước pho tượng (6) trong điện Jokhang
và nói: “Có lúc chúng ta cũng như nhau, nhưng ngài thực hành
thiền định và đạt được Giác ngộ. Vì thế tôi lễ lạy
vị Bổn Tôn là sự thiền định.” Kinh Vật Trang sức Quý
báu nói rằng Niết Bàn và sinh tử cùng có một bản tánh,
nhưng kết quả thì khác nhau. Chúng ta nghe nói các Lạt Ma cao
cấp là những Hóa Thân của chư Phật và ta cho rằng mình
không thể làm như các ngài đã làm. Nhưng các ngài đã thực
hành và đã đạt được trạng thái này, vì thế nếu ta thực
hành thì ta cũng sẽ là một Hoá Thân của những hiện thể
cao cấp. Tam Bảo thực sự ở trong ta nhưng bởi không nhận
ra điều này nên ta cần tới Tam Bảo ở bên ngoài.
Nếu
ta có lòng từ và bi thì không chướng ngại nào có thể ngăn
cản ta. Bất kỳ ai có đức hạnh vĩ đại không thể bị
ngăn cản. Một đạo quân Hồi Giáo xuất hiện và phá hủy
một tu viện Phật Giáo tại Ấn Độ. Tất cả các tu sĩ chạy
trốn, và một người nhìn thấy Mahakala (7) chạy trốn cùng
với họ. Khi được hỏi vì sao ngài chạy trốn trong khi ngài
là một vị Hộ Pháp, Mahakala nói bây giờ không phải là lúc
để bảo vệ. Chỉ khi nào ta có đức hạnh ta mới được
bảo vệ. Nếu ta có đức hạnh thì không điều gì có thể
ngăn cản được ta. Nếu ta sám hối, ta có thể làm cho nghiệp
giảm bớt đi nhưng sẽ vẫn còn một dấu vết nhỏ. Giống
như Angulimala (8), người đã trở thành một A La Hán nhưng
vẫn còn bị dân chúng ném đá. Vì thế Bồ Đề tâm là cách
bảo vệ tuyệt vời nhất. Nếu bạn thiền định về tánh
Không thì đó cũng là cách bảo vệ tốt đẹp. Đó là lý
do tại sao chúng ta tụng Bát Nhã Tâm Kinh mỗi buổi sáng. Chư
thiên trong cõi trời không muốn ai siêu việt hơn họ nên họ
đã tạo ra những chướng ngại trong con đường của họ,
như Ma quân đã làm thế. Thực hành nào cũng có sự Quy y và
phát Bồ Đề tâm. Nếu bạn thực hành chúng thì bạn ở trên
con đường dẫn tới giác ngộ. Nếu bạn thực hành Bồ Đề
tâm thì bạn ở trên con đường dẫn tới Phật Quả.
Khi
bạn mơ, bạn không nhận ra nó. Ngay bây giờ dường như chúng
ta đang ở trong một giấc mơ và không nhận ra bản tánh của
các hiện tượng. Chúng không sinh và không diệt. Mọi hình
tướng đều được sinh ra, tồn tại (trụ) và suy tàn (diệt).
Nhưng nếu chúng không sinh thì chúng sẽ không trụ và không
diệt. Đó là cách mọi sự là. Lòng đại bi và sắc tướng-tánh
Không là hai phương diện của Bồ Đề tâm. Chư Phật đã
chứng ngộ Niết Bàn nhưng bởi lòng đại bi các Ngài đã
hiển lộ là Báo Thân và Hóa Thân. Thích Ca Mâu Ni là một
Hoá Thân, nhưng Ngài đã chứng ngộ Pháp Thân. Các vị A La
Hán nhận ra chân lý nhưng trụ trong sự tịch diệt hàng nhiều
kiếp. Chư Phật không trụ ở đó bởi những chúng sinh đau
khổ giống như con cái của các Ngài. Nếu bạn có thiện nghiệp
và niềm tin, bạn có thể nhìn thấy Phật. Nhiều người nghĩ
rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma thật đặc biệt, nhưng một số
ít thì cho rằng ngài không tốt. Khi tôi ở trung tâm của Lạt
Ma Samten ở San Diego, một người nói rằng bạn không nhìn
thấy những điều tiêu cực về Đức Đạt Lai Lạt Ma. Mọi
chúng sinh đều có một ít tiêu cực. Tâm ta phóng chiếu những
phẩm tính của riêng ta lên những người khác. Để nhận
ra Báo Thân và Hoá Thân, bạn cần có thiện nghiệp.
Trong
sadhana A Di Đà bạn hiển lộ trên một tòa sen, mặt trời
và mặt trăng như Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) bốn tay.
Bốn tay tượng trưng cho bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỉ,
và xả. Thân tướng thì không bền chắc mà như ánh sáng.
Trước mặt bạn, trong không trung là một tòa chim công với
một hoa sen và đĩa mặt trăng. Mặt trăng tượng trưng cho
sự làm nguôi dịu sức nóng của dục vọng. Một chữ HRI
đỏ ở trên đĩa mặt trăng. Ánh sáng phát ra đi tới tất
cả chúng sinh và khi nó quay trở lại, nó hiển lộ như Đức
Phật A Di Đà. Ngài cầm một cái bát chứa đầy chất cam
lồ trí tuệ. Ngài mặc ba chiếc y tu sĩ. Ba y này là hạ y,
thượng y trong và thượng y ngoài. Đức Phật cho phép các
tu sĩ của Ngài mặc những y phục màu xanh dương, đỏ, và
vàng. Đức Vajrapani (Kim Cương Thủ) và Avalokiteshvara (Quán
Thế Âm) đứng hai bên Đức Phật A Di Đà. Các Ngài được
bao quanh xa rộng hơn bởi một tập hội các Bồ Tát và A La
Hán. Bạn tụng thần chú DZA HUNG BAM HO. DZA là cái móc, HUNG
là sợi thòng lọng, được cho là để đưa những Bổn Tôn
xuống. Nếu bạn gặp khó khăn trong khi quán tưởng một Bổn
Tôn thì hãy quán tưởng những chủng tự của các ngài. Hiện
thể samaya (nguyện tát đỏa) là những gì ta quán tưởng.
Hiện thể trí tuệ (trí tát đỏa) là những gì chúng ta mời
thỉnh từ Cõi Tịnh Độ. Trong trái tim của Đức Phật A Di
Đà là một chữ HRIH nhỏ xíu được bao quanh bởi thần chú
OM AMI DEWA HRI của Ngài. Việc quán tưởng thế giới này như
một cõi tịnh độ trong khi bạn thực hành thì rất quan trọng.
Tôi biết một phụ nữ ở Tây Tạng bị mù đã sáng mắt
nhờ trì tụng thần chú này. Khi bạn lập lại một thần
chú, hãy hát nó nếu bạn buồn ngủ và tụng nó khi bạn trở
nên quá bất an. Vào lúc kết thúc thần chú, tất cả các
chúng sinh tan hòa thành Đức Phật A Di Đà trước mặt ta.
Sau đó bốn ánh sáng phát ra từ Đức Phật A Di Đà đi vào
bốn trung tâm ở trán (màu trắng, thân, Hóa Thân), cổ họng
(màu đỏ, ngữ, Báo Thân), trái tim (xanh dương, tâm, Pháp Thân),
và rốn (màu vàng, tất cả thân, ngữ, tâm, nhưng vi tế, Thân
Tự Tánh). EH MA HO là sự kinh ngạc sung sướng. Nó là sự
nhận ra những phẩm tính của Lạt Ma và sau đó trở thành
bất nhị./.
Nguyên
tác: “Phowa Instruction”
by
Khenpo Tsultrim Tendzin
Trung
tâm Vajra Konchog Ling
http://buddhism.inbaltimore.org/phowa.html
Bản
dịch Việt ngữ: Thanh Liên
Chú
thích:
1.
Phowa: Pháp chuyển di tâm thức vào lúc chết, một trong Sáu
Pháp Yoga của Naropa.
2.
Sadhana: “Các phương tiện để thành tựu.” Nghi thức và
thủ tục Kim Cương thừa để thực hành, thường chú trọng
giai đoạn phát triển.
3.
Terton: Bậc khám phá những kho tàng tâm linh (terma).
4.
Terma: Kho tàng tâm linh được cất dấu, sẽ được một terton
khám phá để làm lợi lạc cho những thế hệ tương lai.
5.
Chakrasamvara: Một Bổn Tôn chính thuộc bộ anuttara tantra của
phái Tân Dịch. Hóa Thân Kim Cương thừa được kết hợp với
các thực hành nhằm tịnh hóa tâm thức và chuyển hóa các
chướng ngại.
6.
Pho tượng: Tượng Jowo Rinpoche tượng trưng cho Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni lúc 12 tuổi ở điện Jokhang tại Lhasa.
7.
Mahakala: “Vị Sắc Đen Vĩ đại,” một hiển lộ phẫn nộ
của một vị Bảo hộ được dùng để chiến thắng những
chướng ngại. Vị này có thể xuất hiện với bốn tay hay
sáu tay.
8.
Angulimala: Một đệ tử của Đức Phật, mặc dù từng giết
chín trăm chín mươi chín người, nhưng nhờ tịnh hóa các
ác hạnh của mình ngài đã chứng ngộ quả vị A La Hán. Danh
hiêu của ngài có nghĩa là: “Tràng hoa các ngón tay.”