Tính
chất quan trọng của sự Khẩu truyền
Dù
giáo lý hay thực hành mà chúng ta đang thảo luận trong truyền
thống Phật Giáo đặc biệt tới mức độ nào, dù truyền
thống đó là Tiểu thừa, Đại thừa hay Kim Cương thừa, tiến
trình của việc phát triển tâm linh là tiến trình của đệ
tử nương tựa một vị Thầy. Chúng ta có thể gọi vị Thầy
đó là một Lạt ma, một Guru, hay bất kỳ danh hiệu gì, nhưng
vấn đề trọng yếu là có một sự khẩu truyền xảy ra trong
đó một vị Thầy giảng dạy đệ tử: đệ tử nghe các giáo
lý, thâm nhập ý nghĩa của chúng và đưa chúng vào thực hành.
Việc
chúng ta nhấn mạnh vào một sự khẩu truyền là có lý do.
Từ thời đại của Đức Phật cho tới ngày nay, Phật Pháp
luôn luôn được truyền dạy và có nghĩa là được khẩu
truyền, bảo đảm rằng có một truyền thống sống động
vẫn thấm đẫm sự ban phước và năng lực của những giáo
lý nguyên thủy. Sự khẩu truyền này cũng ngăn ngừa việc
có thể có những kẻ gọi là Thầy chỉ xuất phát từ những
ý tưởng của riêng họ. Thay vào đó, vị Thầy phải kinh
qua một truyền thống giáo lý được chứng minh.
Điều
này làm cho Phật Pháp khác biệt với những loại kiến thức
khác ở đó người ta có thể làm đổi mới. Trong những lãnh
vực kiến thức như thế việc nảy sinh ra những hệ thống
tư tưởng mới hay đưa vào những ý tưởng mới mẻ có thể
là điều thích đáng. Nhưng khi ta nói về Phật Pháp thì để
một giáo lý có giá trị, mỗi giáo lý phải nối kết với
những giáo lý nguyên thủy của Đức Phật. Những giáo lý
không thể là điều mà một người nào đó hoàn toàn phát
khởi trong đầu họ. Các giáo lý là những gì vị Thầy kinh
qua.
Cũng
thế, trong những loại kiến thức khác của nhân loại, người
ta có thể chấp nhận được việc đưa ra thông tin theo một
cách càng làm vui lòng và dễ chịu thì càng tốt. Nhưng mặc
dù các Giáo Pháp cần được giới thiệu trong một phương
cách dễ nghe, điều tối quan trọng là những giáo lý được
trao truyền có năng lực để ban phước và gây ảnh hưởng
cho những người nghe chúng trong một cách thế tích cực –
không chỉ trong đời này, mà còn cả những đời sau. Vì thế
mặc dù việc giảng dạy Pháp cần tao nhã và được giới
thiệu khéo léo, điều tối quan trọng là sự ban phước của
thông điệp cốt tủy.
Những
Phẩm tính của Lạt ma
Những
giáo lý mà chúng ta biết là Phật giáo được Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni giảng dạy trước tiên. Những giáo lý này
đã được hộ trì nhờ một dòng truyền dạy sống động
cho tới ngày nay bởi những người được hứng khởi để
đi theo gương mẫu của Đức Phật và nghiên cứu con đường
đó và truyền dạy nó cho những người khác. Trong bất kỳ
truyền thống Phật Giáo khác nhau nào chúng ta cũng nhận ra
rằng có vô số người nhờ nghiên cứu và thiền định mà
trở nên vô cùng uyên bác, có năng lực và chứng ngộ tâm
linh. Nhưng lý do tại sao các ngài giảng dạy và lý do vì sao
những cá nhân này cam kết để trở nên uyên bác trong lãnh
vực Giáo Pháp thì không nên để cho mình chìm ngập trong việc
tự thổi phồng mình lên. Ta không trở nên uyên bác về Pháp
để tự cho rằng bản thân ta uyên bác và để đạt được
một địa vị đặc biệt nào đó. Ta cũng không giảng dạy
người khác từ một cảm thức tự phụ có tính cách cá nhân.
Pháp được hộ trì bởi nó mang lại những lợi ích cho những
người lắng nghe giáo lý. Đó là động lực đằng sau việc
giảng dạy.
Để
trở thành một vị Thầy đích thực của truyền thống thì
sẽ không đủ nếu chỉ đọc sách vừa đủ để trở nên
thật tinh thông giáo lý và sau đó tự coi mình như một vị
Thầy. Đúng hơn, ta phải được vị Thầy của ta, một người
chứng ngộ một cách đặc biệt, cho phép giảng dạy. Cũng
có thể có trường hợp ta được ban cho một thị kiến về
Bổn tôn chọn lựa của ta, trong kinh nghiệm đó Bổn tôn sẽ
ban cho ta sự ban phước và thẩm quyền để giảng dạy.
Như
vậy vấn đề không chỉ đơn giản là việc một người bình
thường phát điển đầy đủ sự thông minh tài giỏi để
có thể nói thật hay về Pháp. Lợi ích thật sự của những
giáo lý không xảy đến nhờ một sự tiếp cận thông thường,
bởi lẽ càng thêm sự tiếp cận thông thường thì chỉ càng
tăng thêm khuynh hướng nuôi dưỡng sự tự phụ và những
cảm xúc mâu thuẫn của riêng ta. Chẳng có lợi lạc nào có
thể đến từ điều đó. Chỉ khi việc giảng dạy là một
hành động vô ngã để làm lợi lạc người khác được đặt
nền trên một sự truyền dạy đích thực thì ta mới thực
sự có lợi lạc là điều cần thiết để Giáo Pháp được
hộ trì.
Nếu
ta chiếu cố tới tất cả những giáo lý của Đức Phật,
bao gồm mọi luận giảng về những giáo lý đó của các đại
thành tựu giả vĩ đại – những pundit (học giả) uyên bác
của Ấn Độ, Tây Tạng và những truyền thống Phật
Giáo khác – thì một cá nhân đơn độc không thể nỗ lực
và đưa tất cả những giáo lý đó vào thực hành. Điều
này không có nghĩa là có phương diện nào đó của những
giáo lý đó là vô ích và không có chức năng. Trong thế giới
này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chuyển Pháp luân trong ba
lần truyền dạy liên tiếp trong thời đại của Ngài. Trong
Kim Cương thừa khi chúng ta khảo sát hàng ngàn pho sách được
gọi chung là Phật Pháp, bao gồm 84.000 tuyển tập của những
giáo lý của Đức Phật và 6.400.000 bản văn Tantra (Mật điển),
thì rõ ràng là không một người đơn độc nào có thể thâm
nhập và thực hành tất cả những giáo lý đó.
Khảo
sát vị Thầy
Như
thế điều này đưa chúng ta tới chủ đề guru yoga. Ta hãy
xem xét từ nguyên của từ ‘lama’ trong tiếng Tây Tạng.
Âm đầu tiên ‘la’ có nghĩa là ‘cái gì không thể vượt
qua’ (vô song). Từ thứ hai ‘ma’ theo nghĩa đen có nghĩa
là mẹ. Điều này có nghĩa là thái độ của vị Thầy thì
giống như thái độ của một bà mẹ đối với những đứa
con của bà. Có một hàm ý rằng mối liên hệ với Lạt ma
mang theo nó rất nhiều sức nặng. Đệ tử cũng có một tiềm
năng khổng lồ để được lợi lạc từ mối liên hệ đó.
Đây
là lý do tại sao trong con đường thần chú bí mật của giáo
lý Kim Cương thừa, điều được nhấn mạnh ngay từ lúc khởi
đầu là việc vị Thầy và đệ tử khảo sát lẫn nhau thì
rất quan trọng. Hẳn đó phải là một tiến trình phê phán
nhờ đó người này chọn lựa người kia. Ví dụ như các
Mật điển có nói rằng nếu một Lạt ma hám lợi, tham vọng,
bị lệ thuộc vào những cảm xúc mâu thuẫn, tràn đầy kiêu
ngạo, ganh tị hay tranh đua, thì việc một đệ tử nương
tựa vào một vị Thầy như thế sẽ không thích hợp cho dù
Lạt ma đó là ai. Lạt ma phải có những phẩm chất đúng
đắn, kể cả phẩm tính của lòng bi mẫn. Nếu vị Thầy
không có những phẩm tính căn bản này thì một Lạt ma như
thế sẽ rất khó ban phước cho đệ tử – sự ban phước
là điều cần thiết để mối liên hệ Thầy/trò mang lại
kết quả tốt đẹp.
Trong
việc khảo sát những phẩm tính của một Lạt ma, một người
bình thường khó có thể đánh giá được những phẩm tính
của dòng tâm thức của Lạt ma đó, đặc biệt là khi mới
gặp vị Thầy này. Nhưng một yếu tố quyết định được
cân nhắc là dòng truyền thừa mà vị Lạt ma hộ trì và dòng
truyền đó có được duy trì với samaya thanh tịnh hay không.
Ta
không thể xác định một cách đơn giản dựa vào mức độ
hiểu biết của một vị Thầy để xem ông có năng lực tâm
linh có thể trao truyền ân phước chân chính hay không. Nếu
dòng tâm của vị Thầy không được thúc đẩy bởi một phẩm
tính vị tha và bi mẫn – phẩm tính của Bồ đề tâm –
mà đúng hơn bị kích động bởi một phẩm tính kiêu ngạo
và những cảm xúc phiền não, thì điều đó sẽ không phải
là một mối liên hệ lợi lạc cho dù vị Thầy đó rất uyên
bác. Đây là bởi động lực của vị Thầy không đúng đắn.
Vì
thế vào lúc đầu, điều quan trọng đối với đệ tử là
khảo sát một vị Thầy tương lai. Một khi đệ tử đi tới
chỗ quyết định nương tựa một vị Thầy nhất định thì
không còn gì để thảo luận nữa. Quyết định đã được
lập ra. Vào lúc đó điều quan trọng đối với đệ tử là
nương tựa toàn tâm toàn ý nơi vị Thầy. Nếu ta trải qua
tiến trình khảo sát để kiểm tra những phẩm tính của vị
Thầy và quyết định rằng vị Thầy này thích hợp đối
với bản thân ta, thì ta sẽ có thể duy trì một sự tôn kính
và một niềm tin nơi vị Thầy.
Khi
ấy, miễn là đệ tử duy trì một thái độ tin tưởng và
sùng mộ đối với một Lạt ma được chọn lựa theo cách
này, sẽ không đệ tử nào không được trực tiếp nhận
những sự ban phước của Đức Phật trong dòng truyền thừa
sống động này. Điều này thì hoàn toàn không thể sai lầm.
Câu
chuyện của Lạt ma-Chăn cừu
Ở
Tây Tạng có một gia đình du cư chăn nuôi gia súc. Họ sinh
sống bằng nghề nuôi và bán thú vật và tuyệt nhiên không
hiểu biết gì về Pháp. Công việc của họ có bản chất
thế tục.
Một
người chăn gia súc làm thuê cho gia đình này được cho thực
phẩm khi anh ta đưa đàn thú ra ngoài mỗi ngày. Vào lúc giữa
trưa, anh đi tới một bờ sông, để mặc đàn thú gặm cỏ,
anh ngồi xuống uống trà và dùng bữa trưa của mình. Ở nơi
anh ngồi có một tảng đá nhô lên. Mỗi ngày anh dùng những
thực phẩm dư thừa gồm thức ăn và trà và để chúng trên
tảng đá. Anh ta làm điều này mà không suy xét rằng việc
đó là tốt hay xấu. Việc để thức ăn thừa trên tảng đá
chỉ là một tập quán lười nhác của anh.
Tảng
đá nhô lên đặc biệt này có ba mặt trên đó anh ta thường
đặt thức ăn. Khi sự việc đó xảy ra, những tảng đá này
có một vài tinh linh địa phương tới cư ngụ. Trong số đó
có một tinh linh rồng, một tinh linh ma quỷ và một tinh
linh khác được gọi là tsen. Ba tinh linh phi nhân này rất tán
thưởng những “vật cúng dường” này mà người có vẻ
là một con người tâm linh và hành giả thành tựu này đang
ban tặng họ mỗi ngày. Họ thảo luận với nhau: “Để tỏ
lòng biết ơn, ít nhất là một người trong chúng ta phải
làm điều gì đó. Ai sẽ làm việc ấy?” Và họ đi tới
kết luận là tinh linh ma sẽ là người giúp đỡ người chăn
cừu. Và vì thế tinh linh ma nhập vào người chăn cừu khiến
anh ta bị thay đổi toàn diện. Anh thực sự trở thành một
người rất thông thái và tài giỏi.
Khi
từ cánh đồng trở về nhà, anh là một người khác. Thay
vì chỉ về nhà như thường lệ, anh trở về nhà và bắt
đầu nói về Pháp, anh bắt đầu thuyết giảng. Trải qua một
thời gian, anh có tới hàng ngàn đệ tử. Anh tạo được một
ấn tượng sâu sắc như một vị thầy tâm linh đến độ
tập họp được quanh mình một nhóm đệ tử khổng lồ. Anh
cũng viết nhiều quyển sách và nổi danh là người rất uyên
bác về Pháp. Điều này tiếp diễn trong nhiều năm và danh
tiếng của anh tiếp tục phát triển.
Anh
ta đang tiếp tục những hoạt động này thì một Lạt ma khác
đang du hành trong vùng nghe nói về anh. Nhờ những năng lực
tâm linh đích thực, vị Lạt ma chân chính này hiểu rõ là
Lạt ma-chăn cừu không phải là người thực sự có những
phẩm tính chân chính. Ngài nhận ra rằng một tinh linh ma ám
nhập đã truyền cho Lạt ma-chăn cừu khả năng giảng dạy.
Và
vì thế Lạt ma chân chính nói với một tu sĩ thị giả của
ngài: “Ta muốn ông để hương trầm xuống những nơi Lạt
ma này giảng dạy và đốt nó, làm khói thoảng khắp vùng
để Lạt ma này và tất cả những đệ tử đều ngửi thấy
mùi khói. Ông có thể làm được điều đó cho ta không?”
Vị
sư nói: “Chẳng có vấn đề gì,” và ông để hương trầm
xuống và đốt. Ông đi qua đám đông hàng ngàn người đang
lắng nghe người chăn cừu biến thành vị Thầy này. Ngay khi
người chăn cừu ngửi thấy mùi khói hương, tinh linh ma xuất
ra khỏi thân thể anh ta. Người chăn cừu khốn khổ ngồi
trên ngai nhìn quanh đám đông và nói: “Cừu của tôi đâu?”
Trọng
tâm của câu chuyện này là cho dù một vị Thầy có thể tài
giỏi, nổi tiếng và có biện tài về Pháp, nhưng điều đó
không quyết định tính chất xác thực. Bạn cần khảo sát
rõ ràng những gì bạn đang tìm kiếm ở một vị Thầy.
Khi
bạn đã trải qua tiến trình khảo sát này với tư cách một
đệ tử và đi tới quyết định rằng bạn muốn nương tựa
một vị Thầy nhất định, thì với một cảm thức của niềm
tin và thị kiến thanh tịnh, bạn sẽ không gặp rắc rối
gì liên quan tới vị Thầy đó. Như thế, khi bạn nhận các
giáo lý từ vị Thầy, bạn hoàn toàn tiếp thu được những
gì vị Thầy ban cho.
Nương
tựa vị Thầy
Một
số vấn đề trong những điều quan trọng nhất mà bạn nên
tự hỏi chính mình là: “vị Thầy này có kinh nghiệm giải
thoát khỏi đau khổ và vô minh để có thể truyền đạt loại
tự do đó cho tôi không? Vị Thầy này có được thúc đẩy
bởi Bồ đề tâm hay không? Vị Thầy này có thực sự từ
bi khi quan tâm tới tôi như một đệ tử không?” Đây là
điều chúng ta tìm thấy trong tất cả những giáo lý của
Kinh điển, các Tantra (Mật điển) và đặc biệt là trong những
giáo lý tâm của những trường phái Mahamudra (Đại Ấn) và
Dzogchen (Đại Viên mãn): Điều cực kỳ quan trọng là phải
khảo sát những phẩm tính của một Lạt ma để xác định
rõ những phẩm tính ấy trước khi nương tựa vị Thầy đó.
Toàn
bộ vấn đề của tiến trình khảo sát là không xét đoán
một vị Thầy trong một diễn đàn công cộng hay trong một
ý nghĩa trừu tượng. Thay vì thế, đó là việc đánh giá
vị Thầy ngay trên một bình diện cá nhân để xác định
xem mối quan hệ với vị Thầy đó sẽ có lợi ích cho bạn
với tư cách một đệ tử hay không. Vị Thầy này có những
phẩm tính và giáo lý để hiến tặng khiến cho bạn có thể
được lợi lạc khi thọ nhận những giáo lý ấy hay không?
Việc khảo sát hoàn toàn xuất phát từ quan điểm của riêng
bạn chứ không từ viễn cảnh có tính chất khái niệm.
Việc
nương tựa một vị Thầy thì tuyệt đối cần yếu đối
với đệ tử để thọ nhận một cách thuần tịnh sự trao
truyền các giáo lý. Điều này hoàn toàn đúng trong trường
hợp các giáo lý Đại Viên mãn. Bạn chỉ có thể nhận sự
trao truyền thuần tịnh của Đại Viên mãn từ một vị Thầy
còn sống. Không có nguồn mạch trao truyền nào khác ngoài
suối nguồn của việc bạn làm việc với một vị Thầy đích
thực.
Và
thêm nữa, điều quan trọng là Lạt ma hay các Lạt ma
mà bạn nương tựa không phải là những cá nhân bị thúc
đẩy bởi những tham muốn vị kỷ cho những lợi lạc cá
nhân; về mặt nào đó họ không phải là người thủ đoạn
hay lừa dối; cách họ nói Pháp không mâu thuẫn và phản tác
dụng; họ không kiêu ngạo về những phẩm tính của riêng
mình và thường xuyên nói về hay phô bày những phẩm tính
của họ trong một cách thế tranh đua hay tự khoa trương. Tất
cả những loại phẩm tính này nơi một vị Thầy cần phải
được tránh xa.
Trái
lại, khi bạn gặp một Lạt ma hay vị Thầy có một tính cách
cao quý, những phẩm tính tuyệt vời, thiện xảo và quan tâm
sâu sắc tới thực hành Phật giáo nói chung và con đường
Kim Cương thừa nói riêng, có dòng tâm thức được Bồ đề
tâm thúc đẩy, hết sức từ ái và bi mẫn khi quan tâm tới
người khác, và bản thân đã chứng ngộ bản tánh nền tảng
của các hiện tượng trong một cách thế rất đáng tin cậy
và trực tiếp, thì khi bạn gặp một người nào đó hiện
thân tất cả những phẩm tính này, bạn đang có cơ hội lý
tưởng để nương tựa người ấy như một vị Thầy. Người
này hội tụ tất cả những phẩm chất của một vị Thầy
tốt lành và đích thực.
Vì
thế, khi ta nói về một người nào đó là một Lạt ma đích
thực, ta không chỉ đang nói về một người có danh hiệu
hay được coi là một Lạt ma theo một ý nghĩa nói chung hay
thông thường. Chỉ khi nào ta nói về một người thực sự
có những phẩm tính đáng tin cậy này thì ta mới đang thực
sự nói về một Lạt ma có phẩm chất và đích thực, có
nghĩa là người mà nếu bạn nương tựa vào họ bạn sẽ
chỉ nhận được những lợi lạc. Thực hành và kinh nghiệm
của bạn trong Pháp sẽ chỉ phát triển như kết quả của
một sự nối kết với người thực sự xứng đáng với danh
hiệu “Lạt ma.”
Khi
thái độ của đệ tử đối với Lạt ma của họ là một
thái độ tin tưởng và sùng mộ đến nỗi người đệ tử
thực sự thấy vị Thầy là một vị Phật thực sự, hay là
hiện thân đích thực của Pháp Thân Vajradhara (Kim Cương Trì),
hay là hiện thân đích thực của Bổn tôn của đệ tử –
khi đệ tử có loại tin cậy và niềm tin đó mà không có
chút nghi ngờ và do dự nào - thì những sự ban phước và
phẩm tính của thân, ngữ và tâm giác ngộ của tất cả chư
Phật và Bồ Tát được trao truyền qua Lạt ma tới đệ tử.
Cũng
có những trường hợp trong đó ta gặp một Lạt ma mà với
ngài ta có một mối liên hệ trong nhiều đời. Dấu hiệu
bạn sẽ có trong trường hợp này là chỉ nghe nói tới danh
hiệu của vị Thầy thì cũng đã là một kinh nghiệm thật
cuốn hút đối với bạn: mọi lông tóc trên thân thể bạn
liên tục dựng đứng lên. Đó là một điều gì xảy ra hoàn
toàn tự nhiên và không phải là một kinh nghiệm giả tạo.
Khi
có một sự xác quyết trong tâm bạn rằng đây chính là một
vị Phật, đây đích thực là Pháp Thân Kim Cương Trì, hay
đây thực sự là Guru Rinpoche mà bạn đang gặp và nương tựa
vào Lạt ma của bạn, và khi bạn cầu nguyện với sự xác
quyết đó trong tâm bạn, thì chắc chắn là bạn sẽ nhận
được những sự ban phước từ mối liên hệ đó. Nhưng điều
này cũng hàm ý rằng bạn, với tư cách là một đệ tử,
hãy giữ gìn thái độ của riêng bạn đối với vị Thầy
và bảo đảm rằng bạn luôn luôn tôn kính và lĩnh hội dễ
dàng những gì vị Thầy đang nói. Đừng nhượng bộ những
tập quán thông thường của sự kiêu ngạo hay khoa trương
hay trong một cách thế làm suy yếu mối liên hệ với vị
Thầy bằng cách phủ nhận những gì Thầy nói hay bằng cách
cố gắng ngăn trở những nỗ lực của Thầy. Tất cả những
thái độ này cần phải né tránh bởi chúng không hỗ trợ
cho mối liên hệ đáng tin cậy và cởi mở rất cần thiết
để những sự ban phước tuôn chảy từ vị Thầy tới đệ
tử.
Các
Tantra (Mật điển) lập đi lập lại tầm quan trọng của việc
nương tựa Lạt ma như suối nguồn của những sự ban phước
trong thực hành của ta. Bất luận lời cầu nguyện đặc biệt
mà đệ tử dâng lên Lạt ma, bất luận nó có thể có vẻ
tầm thường và nhỏ bé ra sao, nếu lời cầu nguyện đó được
đặt nền trên sự tin cậy và niềm tin trọn vẹn nơi Lạt
ma, thì những sự ban phước của Lạt ma sẽ luôn luôn đến
được với người đệ tử. Trong Tantra Đại dương Giác tánh
Phi Thời gian có nói rằng một lời cầu nguyện nhỏ bé tới
vị Thầy với niềm tin và lòng sùng mộ thanh tịnh thì tốt
hơn nhiều nếu so với việc thực hiện hàng trăm triệu lần
trì tụng các thần chú Bổn tôn. Kết quả của lời cầu
nguyện sẽ mãnh liệt hơn nhiều khi nó thực sự là một biểu
lộ của niềm tin và lòng sùng mộ của ta nơi Lạt ma.
Khi
ta đã thiết lập một mối liên hệ với Lạt ma dựa trên
sự tin cậy, niềm tin và lòng sùng mộ, thì có những cách
thức khác nhau để nương tựa mối liên hệ ấy nhờ đó
những loại thành tựu khác nhau có thể xảy ra. Nếu một
đệ tử có ý định đạt được thành tựu giác ngộ cao
cả nhất, đệ tử đồng nhất Lạt ma với Đức Vajradhara
(Kim Cương Trì) – Đức Phật Pháp Thân. Nếu đệ tử
được đặc biệt thúc đẩy để phát triển trí tuệ sâu
xa hơn, đệ tử đồng nhất Lạt ma với Đức Manjushri (Văn
Thù), Bồ Tát của trí tuệ. Để khuyến khích lòng từ và
bi của họ, đệ tử thiền định về Lạt ma như bất khả
phân với Đức Avalokitesvara (Quán Thế Âm), Bồ Tát của lòng
bi mẫn. Để thâu đạt năng lực tâm linh vĩ đại hơn, đệ
tử tập trung trên Lạt ma như bất khả phân với Đức Vajrapani
(Kim Cương Thủ), Bồ Tát của năng lực tâm linh. Để chiến
thắng những loại sợ hãi và phiền muộn khác nhau, ta nương
tựa Lạt ma như hiện thân đích thực của Đức Tara tôn quý.
Để tăng trưởng sự trường thọ của ta, ta thiền định
về Lạt ma bất khả phân với Đức Amitayus (Đức Phật Vô
lương Thọ). Để chiến thắng bệnh tật, ta thiền định
Lạt ma là Đức Phật Dược Sư. Để tăng trưởng tài bảo
và sự thịnh vượng của ta, ta thiền định Lạt ma như bất
khả phân với Đức Vaishravana, Jambhala, hay bất kỳ Bổn tôn
tài bảo nào. Để tịnh hóa hậu quả của những ác hạnh
và những che chướng của thân, ngữ và tâm ta, ta thiền
định Lạt ma như bất khả phân với Đức Phật Vajrasattva
(Kim Cương Tát Đỏa). Để tăng trưởng sự vinh quang, của
cải, và cơ hội của ta, ta thiền định Lạt ma như bất khả
phân với Đức Phật Ratnasambhava (Bảo Sanh), Đức Phật của
Bảo Sanh bộ. Để phát triển năng lực của ta – khả năng
để sử dụng ảnh hưởng mạnh mẽ và lợi lạc trên thế
giới – ta thiền định Lạt ma như bất khả phân với Đức
Amitabha (Đức Phật A Di Đà) hay một Bổn tôn như Kurukulla.
Nếu ta ước muốn thực hiện hoạt động phẫn nộ, ta thiền
định Lạt ma như bất khả phân với Đức Vajrabhairava (2)
hay những Bổn Tôn phẫn nộ hơn nữa. Nếu ta muốn theo
cách tiếp cận kết hợp tất cả những phẩm tính này trong
một thân tướng duy nhất, ta thiền định Lạt ma như bất
khả phân với Guru Rinpoche. Trong mỗi một trường hợp này,
quan điểm của ta là: Lạt ma gốc của ta là hiện thân đích
thực của một hay những phương diện khác của đấng Giác
ngộ.
Đạo
sư Vĩ đại Liên Hoa Sanh
Cách
tiếp cận phổ quát bao gồm tất cả những phương diện này
là thiền định Lạt ma của ta như hiện thân đích thực của
Guru Rinpoche. Trong trường hợp này không nên nghĩ tưởng Guru
Rinpoche chỉ đơn giản là một nhân vật lịch sử, tức là
như một cá nhân xuất hiện sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
trong thời đại và không gian đặc biệt của chúng ta. Tinh
túy (bản chất) thực sự của Guru Rinpoche xảy ra trước Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni một quãng thời gian vô tận. Dòng tâm
giác ngộ - dòng tâm giác ngộ của Guru Rinpoche - là biểu lộ
duy nhất của lòng bi mẫn, những sự ban phước và trí tuệ
bẩm sinh của vô số chư Phật từ vô lượng kiếp trong quá
khứ, tất cả tập trung trong dòng tâm duy nhất này là dòng
tâm của Đạo sư vĩ đại Guru Rinpoche.
Nếu
chúng ta nghĩ tưởng Phật Pháp như được phân chia thành các
giáo lý Kinh điển và Tantra (Mật điển), thì những giáo lý
mà ngày nay chúng ta biết là Phật Giáo chính là các giáo lý
được Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni giảng dạy. Tuy
nhiên, trong ý nghĩa to lớn hơn, những giáo lý của Phật Pháp
và đặc biệt là các giáo lý của con đường Mật thừa thì
không bị giới hạn vào sự biểu lộ của Đức Phật duy
nhất đó. Đây là nơi hoạt động của Guru Rinpoche được
coi là rất phổ quát và hết sức rộng lớn. Bất kỳ nơi
nào giáo lý Kim Cương thừa được mọi vị Phật giảng dạy
trong quá khứ, đang được giảng dạy hay sẽ được giảng
dạy, bất kỳ nơi nào một vị Thầy tâm linh đang trao truyền
những giáo lý đó, thì tinh túy của Guru Rinpoche được hiện
thân ở đó – trong vị Phật đó, trong vị Thầy, trong Lạt
ma đó. Vô số hiển lộ của Guru Rinpoche đã xuất hiện và
tiếp tục xuất hiện trong những cõi giới khác nhau, những
vũ trụ khác nhau, dưới những danh hiệu khác nhau, trong những
thân tướng khác nhau. Có nhiều miêu tả trong Kinh văn truyền
thống chứng minh cho sự phô diễn đa dạng của hoạt động
của Guru Rinpoche.
Trong
thời đại và không gian đặc biệt của chúng ta – khi chúng
ta kinh nghiệm di sản của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một
trong một ngàn vị Phật sẽ xuấât hiện trong thời đại
này trong đó chúng ta sống – tất cả một ngàn vị Phật
này và mọi hoạt động của các ngài kể cả Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni đều là những hiển lộ từ một nguồn mạch
duy nhất. Tất cả đều là những phương diện hoạt động
khác nhau bắt nguồn từ một nguồn mạch ân phước và trao
truyền duy nhất. Khắp trong vũ trụ to lớn và phạm vi thời
gian rộng lớn này, hàng trăm triệu hiển lộ của chư Phật
và các vị Thầy xuất hiện đều là những hiển lộ của
năng lực của Guru Rinpoche. Vì thế, biểu lộ của những sự
ban phước của Guru Rinpoche không thể bị giới hạn vào một
cấu trúc thời gian duy nhất và một tôn giáo duy nhất như
Ấn Độ hay Tây Tạng.
Những
miêu tả về việc đản sinh kỳ diệu của Guru Rinpoche ở
Ấn Độ và chuyến du hành đem giáo lý tới Tây Tạng của
Ngài chỉ là một khía cạnh nhỏ bé của toàn bộ sự ban
phước và hoạt động của Guru Rinpoche. Ngay cả những miêu
tả về cuộc đời của Guru Rinpoche mà chúng ta có cũng không
nói tới một nhân vật duy nhất, mà nói tới tám hiển lộ
của Guru Rinpoche như sự biểu lộ phạm vi rộng lớn của
sự ban phước và hoạt động của Guru Rinpoche. Sự ban phước
và hoạt động này tiếp tục hiển lộ trong tất cả những
vị Thầy và Đạo sư vĩ đại là những hiện thân của Guru
Rinpoche. Guru Rinpoche không chết. Guru Rinpoche không tịch diệt.
Guru Rinpoche tiếp tục biểu lộ hoạt động kỳ diệu này
để mang lại lợi lạc cho chúng sinh hiện nay và trong tương
lai.
Không
điều nào trong giáo lý này mâu thuẫn với bất kỳ giáo lý
nào được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trao truyền. Cuộc chuyển
Pháp luân lần thứ ba của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là cuộc
chuyển Pháp luân liên quan tới bản tánh rốt ráo của thực
tại và chính trong lần chuyển Pháp luân này mà nền tảng
của giáo lý Kim Cương thừa được tìm thấy. Tuy nhiên, trong
thời gian và không gian đặc biệt của chúng ta, chính Guru
Rinpoche là người hữu hiệu nhất trong việc phát triển và
giới thiệu những giáo lý Kim Cương thừa này.
Trong
những nhận thức thông thường của chúng ta những gì chúng
ta tri giác là hiện tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,
là bậc sinh ra như một thái tử ở một nơi vào thời đó
thuộc miền bắc Ấn Độ, là nam tử của Vua Shudodena (Tịnh
Phạn) và Hoàng hậu Mayadevi (Tịnh Diệu). Ngài lớn lên và
đạt được Giác ngộ, chuyển Pháp luân, nhập Niết bàn,
di hài được hỏa thiêu và để lại xá lợi vẫn còn tồn
tại cho chúng ta tới ngày nay.
Tinh
túy của Guru Rinpoche thì bất sinh và bất diệt. Nó không phải
là cái gì chúng ta có thể giới hạn vào một thực thể ra
đời vào một lúc nào đó và chấm dứt hiện hữu vào một
thời điểm khác. Thân của Guru Rinpoche không phải là một
thân thể gồm máu và thịt. Sự hiện diện của Guru Rinpoche
không được đặt nền trên bất kỳ nền tảng vật lý nào.
Tinh túy đó luôn luôn hiện diện. Nó đã luôn luôn tồn tại
và lúc nào cũng sẽ tồn tại, bởi nó không lệ thuộc vào
những giới hạn của bất kỳ thân tướng hữu hình nào.
Có nhiều dịp các vị vua và thượng thư ở Ấn Độ cố
gắng ám sát Guru Rinpoche. Có một lần Ngài bị thiêu sống.
Một người bình thường sẽ chết ngay lập tức, nhưng thân
thể Ngài không bao giờ bị tổn hại về mặt vật lý trong
mọi cách thế bởi hiện thân của Ngài không có tính chất
bình thường.
Khi
Guru Rinpoche tới xứ Tuyết và vua Tây Tạng lễ lạy Ngài,
nhà vua cúi mình và chạm đầu vào nơi mà ông nghĩ là đầu
gối của Guru Rinpoche an tọa phía trước nhà vua. Tuy nhiên,
đầu vua lướt qua thân Guru Rinpoche và chạm vào bên dưới
tấm thảm. Khi Guru Rinpoche rời Tây Tạng tới cõi của quỷ
ăn thịt người, Ngài không chết theo một cách bình thường
và lìa bỏ thân xác. Ngài thực sự rời Xứ Tây Tạng theo
một cách thế kỳ diệu – là điều mà mọi người hiện
diện nhân dịp đó đã chứng kiến.
Tuy
nhiên, tôi từng nghe rằng ở Tây phương có những người
tham gia vào việc buôn bán xá lợi của Guru Rinpoche! Chẳng
hạn như người ta nói rằng đó là những sợi tóc lấy từ
đầu của Guru Rinpoche. Có một hộp terma do Jatson Nyingpo khám
phá được nhắc tới như một sợi tóc của Guru Rinpoche, nhưng
nó giống một sợi (tia) ánh sáng cầu vồng hơn – không thực
sự có sợi tóc nào ở đó.
Thiền
định về Lạt ma gốc của ta như hiện thân đích thực của
tinh túy và những sự ban phước của Guru Rinpoche có nghĩa
là mọi thực hành Bổn tôn mà bạn thực hiện, hay mọi hoạt
động mà bạn có ý định làm trong thực hành của bạn –
dù là hoạt động làm an bình (tức tai), làm giàu có (tăng
ích), lôi cuốn (kính ái), hay phẫn nộ (hàng phục) – trong
tất cả những cách thế này sự thực hành của bạn sẽ
thành công và có kết quả mỹ mãn. Nếu bạn cầu nguyện
Lạt ma của bạn như bất khả phân với Guru Rinpoche với một
tâm thức tràn đầy niềm tin và sùng mộ thì Guru Rinpoche không
bao giờ xa rời bạn.
Khi
tới thực hành Bổn tôn, chúng ta có thể nhận thấy những
phán đoán phát khởi trong tâm ta, chẳng hạn như nói rằng
Bổn tôn này tốt hơn Bổn tôn kia, hay Bổn tôn này mạnh mẽ
hơn Bổn tôn kia, hay với Bổn tôn này thì sự ban phước đến
nhanh hơn. Những loại tư tưởng thông thường này không thực
sự thích hợp khi ta đang đối xử với sự việc thuộc loại
này. Yếu tố quan trọng duy nhất là sự quan tâm đầy sùng
mộ và niềm tin trong tâm đệ tử. Có thể là trong một vài
tình huống, niềm tin của bạn mạnh mẽ hơn nơi một Bổn
tôn nhất định và vì thế thực hành Bổn tôn đó hữu hiệu
hơn đối với bạn. Nhưng điều đó không có nghĩa là ở
một bình diện rốt ráo hơn có sự khác biệt được lập
ra giữa những phương diện khác nhau của bậc giác ngộ. Tất
cả các ngài đều xuất hiện từ phạm vi bao la duy nhất của
giác tánh phi thời gian như những hiển lộ đích thực như
nhau của sự ban phước và năng lực. Có thể nói là không
có đẳng cấp trong các Bổn tôn. Không phải là một vài vị
mạnh mẽ hơn những vị khác, hay một vài vị linh thiêng hơn
những vị khác, hay một vài vị mang lại nhiều lợi lạc
hơn những vị khác. Đúng hơn, vấn đề nằm ở chỗ bạn
được thúc đẩy tới mức độ nào theo một hướng nhất
định với tư cách là một hành giả.
Nếu
bạn bị bận tâm về mức độ bạn nhận lãnh những sự
ban phước từ Bổn tôn hay từ việc thực hành của bạn,
thì sẽ còn lợi ích hơn nữa khi bạn khảo sát xem ở mức
độ nào bản thân bạn đang phát triển niềm tin và lòng sùng
mộ đối với Bổn tôn đó và đối với việc thực hành
của bạn. Tâm ta càng ấp ủ sự hoài nghi và bất kỳ điều
gì khác ngoài một niềm tin vững chắc trong sáng chân thành
nơi việc thực hành của ta, thì bản thân ta càng thêm lầm
lạc. Ta ngăn che tâm thức của chính mình bằng sự hoài nghi,
chao đảo và thiếu sự xác quyết và tin cậy đó. Chính ở
trên bình diện đó chúng ta có thể nói rằng không có sự
ban phước trong thực hành. Không phải vì Bổn tôn không có
sự ban phước. Không phải vì Lạt ma không có sự ban phước.
Nhưng chính là bởi đệ tử đóng kín đối với sự ban phước
đó bằng sự hoài nghi hay mê lầm của họ.
Thực
hành pháp Guru Yoga
Phương
cách thực sự trong đó bạn thực hiện thiền định guru yoga
là quán tưởng bản thân bạn trong thân tướng của một Bổn
tôn, trong trường hợp này là nữ Bổn tôn Vajrayogini. Hãy
thiền định trong không gian trên đầu bạn, bằng độ dài
khoảng một cubit trên đỉnh đầu (bằng bề dài khoảng một
cẳng tay của bạn), là một ngai tòa làm bằng ba hoa sen, cái
này trên cái kia – một hoa sen trắng, đỏ và xanh dương đậm.
Bạn quán tưởng chiếc đĩa dẹt hình mặt trăng viên mãn
trên ngai tòa ba hoa sen này. Trên đĩa này bạn thiền định
thân tướng của Guru Rinpoche, coi Ngài là tinh túy của tất
cả những sự ban phước của tất cả chư Phật và Bồ Tát
được hợp nhất trong thân tướng duy nhất này. Mặc dù sự
hiển lộ của thân tướng Guru Rinpoche mang một hình tướng
nào đó với tư thế, những điệu bộ, vật trang sức và
y phục đặc biệt, tinh túy (bản chất) của ngài thì bất
khả phân với bản chất của Lạt ma gốc của bạn. Việc
cầu nguyện với sự xác tín này là nền tảng cho thực hành
guru yoga.
Thân
tướng đặc biệt của Guru Rinpoche có sắc trắng hơi pha đỏ.
Ngài có một mặt, hai bàn tay và vẻ biểu lộ của ngài được
mô tả là có phần phẫn nộ trong ý nghĩa về mặt cơ bản
thì đó là một biểu lộ an bình thoáng chút phẫn nộ –
chứ không phải là một biểu lộ phẫn nộ rõ ràng. Thân
Guru Rinpoche được tô điểm ba mươi hai hảo tướng chính
và tám mươi hảo tướng phụ khiến sắc thân của Ngài không
có điều gì làm người nhìn thấy phải khó chịu, phiền
lòng, hay cảm thấy thiếu cân xứng. Mái tóc Ngài chảy xuống
vai và lưng. Trên đầu Ngài là vương miện hoa sen mang lại
sự giải thoát cho tất cả những ai nhìn thấy nó.
Thân
tướng của Guru Rinpoche mặc một áo khoác lộng lẫy được
nói tới là Áo Khoác của Vua Sawok. Nguồn gốc của chiếc
áo này được truy nguyên từ một sự kiện đặc biệt khi
Guru Rinpoche đang ở một miền ngày nay người Tây Tạng gọi
là Tso Pema hay Rewalsar ở Ấn Độ. Vua xứ này dâng chiếc áo
choàng của mình cho Guru Rinpoche. Để công nhận việc vị vua
thế tục này dâng cúng biểu tượng tráng lệ của Guru Rinpoche,
thân tướng Guru Rinpoche khoác chiếc áo choàng ngoài này. Ngoài
ra, Guru Rinpoche mặc một y tu sĩ theo nghi thức tượng trưng
cho giới luật Tiểu thừa. Ngài được tô điểm bằng những
vật trang sức quý báu như các bông tai, chuỗi hạt, vòng xuyến
và vòng chân. Bàn tay phải ngài cầm một chày kim cương năm
chấu nơi trung tâm tim. Bàn tay trái đặt trong lòng trong một
cử chỉ quân bình thiền định, cầm một tách sọ người
đầy cam lồ trong đó có một bình đầy chất cam lồ bất
tử.
Trong
chỗ gập của khuỷu tay trái của Guru Rinpoche có một chĩa
ba là một ám chỉ kín đáo nguyên lý nữ, phương diện của
Vajra Yogini. Những phối ngẫu khác nhau như Yeshe Tsogyal và Mandarava
được kết hợp với Guru Rinpoche. Căn cứ vào việc về bản
chất các phối ngẫu này hoàn toàn cùng một bản tánh với
Vajra Yogini, như thế đây là ý nghĩa của chĩa ba trong chỗ
gập của khuỷu tay trái.
Khi
ta nhận ra sự quan hệ của yab và yum (phối ngẫu nam/nữ hay
phối ngẫu cha/mẹ) được áp dụng cho các Bổn tôn, chúng
ta không nên tạo ra một sai lầm hiển nhiên khi cho rằng điều
này phải thực hiện với người nam/nữ trong ý nghĩa vật
lý. Các Bổn tôn không phải là những chúng sinh nam và nữ,
nhưng là những năng lực nam và nữ. Hình tượng lưỡng cực
của người nam và nữ minh họa sự hợp nhất nguyên thủy
của sắc tướng (hay thân tướng) và tánh Không. Một trong
những miêu tả của hình tượng này là miêu tả phương diện
nam, phương diện yab, ám chỉ sắc tướng hiện tượng trong
khi yum, phương diện nữ, là biểu lộ của tánh Không. Vì
thế cách thức trong đó các Bổn tôn hiển lộ chỉ là một
biểu lộ trực tiếp của bản tánh nền tảng của thực tại
như nó là.
Dakini
Yeshe Tsogyal nổi tiếng vì từng là phối ngẫu của Guru Rinpoche,
nhưng chúng ta nên nhớ rằng với tư cách là phối ngẫu của
Ngài, chức năng đầu tiên của bà là thâu thập và hệ thống
hóa các giáo lý của Guru Rinpoche. Vai trò của bà rất giống
vai trò của đệ tử của Đức Phật là Ananda đã thực hiện
sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, đó là thâu thập những
giáo lý của Đức Phật để chúng có thể được truyền
lại cho những thế hệ tương lai. Đây đúng là chức năng
của Yeshe Tsogyal – duy trì, hệ thống hóa, sưu tầm và thu
thập những giáo lý của Guru Rinpoche. Trong khi Dakini Yeshe Tsogyal
đã xuất hiện trong thân tướng một phụ nữ ở Tây Tạng,
tinh túy (bản chất) rốt ráo của bà là tinh túy của một
Dakini của giác tánh phi thời gian. Vì thế không có mâu thuẫn
nào trong hiển lộ của bà mà cốt tủy là một phụ nữ hay
là một chĩa ba được mang trong chỗ gập của khuỷu tay trái
của Guru Rinpoche.
Thêm
vào đó, bạn thiền định rằng thân tướng của Guru Rinpoche
ở trên đầu bạn an tọa trong tư thế kim cương viên mãn
(kiết già) với chân trái ở trên đùi phải và chân phải
ở trên đùi trái. Hãy thiền định thân tướng của Ngài
đang phóng ra muôn phương những tia sáng chói lọi.
Vật
trang sức vô tận của thân tướng Guru Rinpoche là tinh túy
của nguyên lý Tăng đoàn; vật trang sức vô tận của ngữ
của Ngài là nguyên lý của Pháp; vật trang sức vô tận của
tâm ngài là nguyên lý của Phật như một suối nguồn của
sự quy y (nương tựa). Những phẩm tính của Guru Rinpoche hiện
thân nguyên lý Bổn tôn được chọn lựa của Kim Cương thừa;
hoạt động của Ngài hiện thân nguyên lý Bổn tôn được
chọn lựa của các Dakini và Dharmapala (Hộ Pháp). Tóm
lại, những gì xuất hiện lúc ban đầu chỉ là thân tướng
của Guru Rinpoche, khi được thấu hiểu trên một bình diện
rốt ráo hơn thì chính là tinh túy đích thực của tất cả
chư Phật, Bổn tôn, Daka và Dakini, Hộ Pháp và toàn bộ tập
hội rộng lớn của Tam Bảo và ba cội gốc (3), tất cả được
bao gồm trong một hiển lộ duy nhất.
Bất
luận Bổn tôn đặc biệt mà bạn đang thiền định trong thực
hành cá nhân của riêng bạn và bất luận thân tướng đặc
biệt mà bạn đang quán tưởng là ai, điều quan trọng là
bạn quán tưởng thân tướng ấy là sắc tướng thuần tịnh
không có bất kỳ tính chất thật có hay hữu hình nào. Bạn
không quán tưởng Bổn tôn như một thân thể gồm thịt và
máu, nhưng đúng hơn là một thân thể hoàn toàn không có thực
chất – một thân tướng không là gì ngoài sự xuấât hiện
thuần tịnh không có chút vững chắc hay thực chất nào. Ví
dụ như khi bạn đang thực hành ka-gye (tám mệnh lệnh về
thực hành sadhana), nếu bạn đang thiền định về Vajrakilaya
(4) hay Chemchog hay bất kỳ heruka (5) chính yếu nào của giáo
khóa này, việc quán tưởng trong những thực hành rộng lớn
hơn bao hàm sự quán tưởng căn bản thân tướng bạn như
thân tướng của Bổn tôn với toàn bộ các mạn đà la của
các Bổn tôn xuất hiện ở các điểm trong thân bạn được
kết hợp với việc tập hợp của năng lực vi tế. Vì
thế bạn không quán tưởng một thân tướng có một khung
xương, một hệ thống tuần hoàn, một hệ thống tiêu hóa
hay cơ bắp. Không có yếu tố nào trong những yếu tố vật
lý thông thường này đi vào việc hình dung của bạn.
Trong
thời đại và không gian của chúng ta Guru Rinpoche là suối
nguồn cho những dòng truyền thừa mà ta nhận lãnh. Mặc dù
chúng ta không thể nhận thức trực tiếp sự hiện diện thực
sự của Guru Rinpoche, ta vẫn nối kết với suối nguồn đó
nhờ dòng truyền thừa không đứt đoạn được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác. Khi chúng ta nương tựa Lạt
ma như hiện thân đích thực của Guru Rinpoche và bất khả
phân với Ngài, thì chúng ta trực tiếp nối kết với suối
nguồn không đứt đoạn đó đã truyền xuống chúng ta về
mặt lịch sử.
Trong
cõi thuần tịnh tối thượng Akanishta, Guru Rinpoche đã nhận
sự trao truyền từ Dakini tên là Leche Wangmo, thiên nữ đầy
năng lực của sự hoạt động. Tiến trình trong đó Guru Rinpoche
thọ nhận sự trao truyền là tiến trình vị Dakini này biến
Ngài thành một chủng tự hung mà bà nuốt vào bụng. Khi chữ
hung đi qua các luân xa trong thân bà, Ngài thọ nhận bốn cấp
độ quán đảnh: quán đảnh bình chứa, quán đảnh bí mật,
quán đảnh giác tánh trí tuệ và quán đảnh thứ tư. Bà trục
xuất Ngài qua cơ quan bí mật của bà và Ngài lấy lại thân
tướng của mình. Đây rõ ràng không phải là một tiến trình
bình thường của việc nuốt một vật nào đó, tiêu hóa và
bài tiết nó.
Tiến
trình đặc biệt này cũng tìm thấy sự biểu lộ của nó
trong nhiều abisheka hay các lễ quán đảnh được các Đạo
sư kim cương thực hiện. Những buỗi lễ này bao gồm những
quán tưởng tương tự trong đó đệ tử được chuyển hóa
thành một chữ, được Đạo sư kim cương nuốt vào bụng,
được chuyển hóa và lại được sinh vào thế giới như Bổn
tôn. Đây là những tiến trình nhờ đó khi ban phước cho đệ
tử, Đạo sư kim cương tịnh hóa dòng tâm của đệ tử về
những hậu quả của các ác hạnh và những che chướng và
trao truyền năng lực tâm linh của lễ quán đảnh.
Một
khi nhờ Đạo sư kim cương mà đệ tử được phát triển
như Bổn tôn, đệ tử duy trì sự đồng nhất với Bổn tôn
được chọn lựa trong suốt thời gian lễ quán đảnh. Đệ
tử nhận ra tinh túy của mình là tinh túy của Bổn tôn hiển
lộ trong thân tướng đặc biệt đó. Việc đệ tử nhận
thức mình là Bổn tôn là samayasattva (nguyện tát đỏa), phương
diện hứa nguyện, là cái mà Đạo sư kim cương thấm đẫm
với jnanasattva (trí tát đỏa), phương diện giác tánh phi thời
gian. Sau đó Đạo sư kim cương tiến hành sử dụng những
chất thể hay vật phẩm khác nhau như chiếc bình v.v.. như
những biểu tượng trao truyền sự ban phước tối thượng
của những cấp độ quán đảnh khác nhau. Chính trên nền
tảng đó mà sự trao truyền thực sự năng lực và sức mạnh
tâm linh có thể xảy ra.
Đây
chỉ là một biểu lộ của một nguyên lý rộng lớn hơn nhiều.
Dù chúng ta để hết tâm trí trong những hoạt động của
Pháp hay trong công việc bình thường, chính tâm thức của
ta là yếu tố quan trọng nhất – tâm ta nhìn tình huống ra
sao, tâm ta có liên quan với những hoàn cảnh thế nào. Ở
đây cả Lạt ma lẫn đệ tử đều có một trách nhiệm: để
sự trao truyền thực sự xảy ra, tâm của Lạt ma và tâm của
đệ tử quan niệm tình huống theo một cách thế thích hợp.
Khi ấy và chỉ khi ấy mới thực sự có thể có sự ban phước
đích thực trong một lễ quán đảnh.
Trở
lại thiền định thực sự của guru yoga: sau khi quán tưởng
thân tướng của Guru Rinpoche như sự hợp nhất của chư Phật
và mọi suối nguồn quy y ở trên đỉnh đầu bạn, bạn thiền
định rằng thân tướng được đánh dấu ở trán với một
chữ om màu trắng, ở cổ họng với một chữ ah màu đỏ,
ở trung tâm tim với một chữ hung màu xanh dương đậm và
ở trung tâm rốn với một chữ hri xanh lá cây. Thêm nữa,
bạn thiền định rằng trên lòng bàn tay và lòng bàn chân
của thân tướng Guru Rinpoche là bốn chữ ha ri ni sa. Những
tia sáng chiếu sáng khắp muôn phương từ những chữ này khẩn
cầu những sự ban phước của mọi suối nguồn quy y quay trở
lại và thấm nhập vào thân tướng của Ngài ở trên đỉnh
đầu bạn. Với một sự nhất tâm bạn bắt đầu phần thực
hành thực sự của pháp guru yoga, nó bao gồm sự khẩn cầu
Lạt ma và trì tụng thần chú Đạo sư kim cương, thần chú
của Guru Rinpoche.
Tiếp
theo phần chính của thực hành, trước tiên bạn thiền định
rằng từ chữ om trắng ở trung tâm trán của Guru Rinpoche xuất
hiện một tia sáng trắng, giống như một ngôi sao băng, đi
vào trán bạn và hoàn toàn tràn ngập thân thể bạn. Ánh sáng
trắng tịnh hóa bạn trên bình diện vật lý về những hậu
quả của các che chướng và ác hạnh, thấm đẫm thân bạn
với những sự ban phước của thân giác ngộ. Bằng một tiến
trình tương tự bạn thiền định rằng từ trung tâm cổ họng
của Guru Rinpoche, từ chữ ah màu đỏ, xuất hiện một tia
sáng đỏ đi vào trung tâm cổ họng của bạn, tịnh hóa ngữ
của bạn. Từ trung tâm tim của Guru Rinpoche, từ chữ hung màu
xanh dương đậm, xuất hiện một sợi hay sợi tơ ánh sáng
giống như một làn khói hương thoang thoảng thâm nhập trung
tâm tim và tịnh hóa tâm bạn. Và cuối cùng bạn thiền định
rằng từ tất cả những trung tâm của thân Guru Rinpoche xuất
hiện những tia sáng cầu vồng năm màu, trắng, đỏ, vàng,
xanh lá cây và xanh dương, tất cả những tia sáng này được
thâu rút vào các luân xa của riêng bạn và tịnh hóa những
dấu vết cuối cùng của sự che chướng và mang lại cấp
độ thứ tư của sự quán đảnh. Theo cách này bạn nhận
lãnh bốn cấp độ quán đảnh, là quán đảnh bình chứa,
bí mật, giác tánh trí tuệ và quán đảnh thứ tư. Điều
này thiết lập tiềm năng cho sự chứng ngộ của riêng bạn
theo thứ tự, là những chứng ngộ thuộc Hóa thân, Báo thân,
Pháp thân và Svabhavikakaya (Thân tự tánh), tổng thể của ba
kaya (thân).
Khi
tới lúc thực sự chấm dứt thời khóa, bạn thiền định
rằng thân tướng của Guru Rinpoche ở trên đỉnh đầu bạn
tan hòa thành ánh sáng. Ánh sáng này thấm nhập vào bạn và
vào lúc đó bạn đi vào giai đoạn thành tựu vô tướng của
thực hành. Bạn thiền định rằng thân, ngữ và tâm giác
ngộ của Guru Rinpoche tuyệt nhiên không xa lìa thân, ngữ và
tâm của riêng bạn. Đó là sự hợp nhất bất nhị viên mãn.
Bạn thiền định trong một tâm thái vô tướng, không có bất
kỳ cấu trúc quy chiếu nào, không có bất kỳ sự tạo tác
khái niệm nào, chỉ đơn giản để tâm bạn nghỉ ngơi trong
trạng thái bất nhị đó càng lâu càng tốt. Tiếp sau đó,
bạn kết thúc với những lời nguyện hồi hướng và nguyện
ước.
Có
một số phương pháp đặc biệt khác trong đó sự quán tưởng
của thực hành guru yoga được giới thiệu tùy theo các dòng
truyền thừa đặc biệt, các truyền thống đặc biệt và
ngay cả những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng các nguyên lý tổng
quát được mô tả trong giới thiệu này có thể áp dụng
trong mọi trường hợp: bạn quán tưởng Lạt ma ở trên đỉnh
đầu bạn. Trong trường hợp đặc biệt này bạn hình dung
thân tướng của Guru Rinpoche là thân tướng hiện thân mọi
suối nguồn của sự quy y. Trong những hệ thống thực hành
khác bạn có thể được chỉ dẫn để quán tưởng một đám
đông thực sự của các suối nguồn quy y, giống như một
tập hội rộng lớn, trên đỉnh đầu bạn. Hay bạn có thể
được dạy để quán tưởng một dòng truyền thừa, với
mỗi nhân vật của dòng truyền ở trên nhân vật kia, kéo
thẳng lên ở trên đỉnh đầu bạn. Có những chi tiết khác
nhau trong những cách quán tưởng đặc biệt tùy thuộc vào
hệ thống bạn đang nghiên cứu, nhưng bạn nên hiểu rằng
mặc dù có vẻ có những khác biệt trong các chi tiết, nhưng
bản tánh cốt tủy của thực hành thì đồng nhất trong mỗi
trường hợp.
Như
tôi đã nói ở trên, những phẩm tính quan trọng nhất để
bảo đảm sự thành công của việc thực hành trong tâm thức
đệ tử là niềm tin, lòng sùng mộ, sự tin cậy và thị kiến
thanh tịnh. Nếu một đệ tử thực sự nhất quyết nhận
được lợi lạc từ việc thực hành hay kết hợp với Pháp
thì những phẩm tính đó rất cần thiết./.
Chokyi
Nyima (Richard Barron) dịch sang Anh ngữ.
Bill
Speckart biên tập.
Nguyên
tác: “Guru Yoga Teaching”
by
H.H. Penor Rinpoche
http://palyul.org/eng_teachings-guruyoga.htm#pema
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
H.H. Penor Rinpoche sinh năm 1932 tại miền Powo thuộc tỉnh Kham,
Đông Tây Tạng. Ngài là vị Hộ trì Ngai tòa thứ 11 của Dòng
Palyul của phái Nyingma. Ngài được coi là một trong những
Đạo sư xuất sắc nhất của truyền thống Phật Giáo Tây
Tạng.
(2)
Vajrabhairava: Hiện thân phẫn nộ của Đức Manjushri (Văn Thù).
Ngài là Bổn tôn chính của phái Gelupa. Là một Hộ Pháp, ngài
giải trừ mọi chướng ngại của hành giả trên con đường.
(3)
Ba cội gốc: Lạt ma, Bổn tôn, Dakini (hay những vị Bảo trợ).
(4)
Vajrakilaya: Một trong những Bổn tôn chính của phái Nyingma
thuộc về Các Giáo lý Tám Sadhana.
(5)
Heruka: Nghĩa đen là ‘người uống máu.’ Một Bổn tôn phẫn
nộ; người uống máu của sự chấp ngã.