KIẾN
THỨC VỀ NHỮNG GIỚI LUẬT SỬ DỤNG TIỀN BẠC
Bài
viết này được biên soạn bởi có nhiều Tỳ khưu hỏi tôi
về những giới luật sử dụng tiền bạc được tìm thấy
trong vinaya (Tạng Luật). Bởi một tân Tỳ khưu ít có cơ hội
được đọc những luận giảng mà tôi đã phiên dịch nhiều
đề mục từ trong đó. Tôi hy vọng là trong bài viết này
có đầy đủ kiến thức để giúp các Tỳ khưu hiểu rõ cách
tuân thủ những giới luật này.
PHẦN
1. KIẾN THỨC DÀNH CHO NHỮNG CƯ SĨ NGOẠI HỘ
Quý
vị có biết rằng Đức Phật không cho phép các tu sĩ và sa
di nhận tiền bạc?
Chắc
chắn là quý vị đã để ý thấy đại đa số các tu sĩ nhận
và sử dụng tiền bạc. Đây là một trong những yếu tố
sẽ dẫn tới việc Giáo Pháp của Đức Phật biến mất. Quý
vị có thể góp phần để duy trì Phật Pháp được tồn tại
bằng cách học tập cách cúng dường những vật dụng cần
thiết được cho phép.
Trong
mục này chúng ta sẽ liệt kê những điểm chính mà một cư
sĩ nên ghi nhớ để một tu sĩ (Tỳ khưu) có thể có được
những vật dụng cần thiết mà không vi phạm những giới
luật của Vinaya.
1.
Không bao giờ cúng dường tiền cho các Tỳ khưu, nhưng chỉ
cúng dường những vật dụng cần thiết được cho phép chẳng
hạn như các bộ y, thuốc men, sách, hay vé để đi lại. Nếu
quý vị không chắc chắn về những gì một Tỳ khưu cần
có thì quý vị có thể hỏi họ, hoặc mời họ yêu cầu quý
vị nếu họ cần thứ gì đó.
2.
Một ngân quỹ dành để mua những vật dụng cần thiết có
thể được để lại cho một kappiya (người phục vụ cho
một Tỳ khưu) và ông ta nên được chỉ dẫn để mua và cúng
dường những vật dụng cần thiết cho một Tỳ khưu, một
nhóm Tỳ khưu, hay Tăng đoàn của một tu viện. Đừng hỏi
Tỳ khưu: ‘Nên trao số tiền này cho ai?’ Nếu quý vị hỏi
theo cách này thì một Tỳ khưu không được phép chỉ rõ một
kappiya. Chỉ nên nói: ‘Thưa Sư, con muốn cúng dường những
vật dụng cần thiết cho Sư. Ai là kappiya của Sư?’
3.
Khi đã cho kappiya biết, quý vị thông báo cho Tỳ khưu bằng
cách nói: ‘Con đã để lại một món tiền trị giá ‘x’
đô la cho kappiya của Sư. Khi Sư cần những vật dụng cần
thiết Sư cứ hỏi họ và họ sẽ dâng cho Sư những vật dụng
đó.’
4.
Nếu quý vị đã biết ai là kappiya của Tỳ khưu thì khi đó
quý vị chỉ cần để lại món tiền cho kappiya và thông báo
cho Tỳ khưu như mục 3 ở trên.
Xin
đọc kỹ những điều trên và lưu ý tới những gì được
nói trong đó. Thủ tục ở trên được Đức Phật cho phép
trong phần được gọi là ‘thừa nhận mendaka’. Nó được
tìm thấy trong Bhesajja Khandhaka của Mahavagga (Đại Phẩm) trong
Vinaya Pitaka (Tạng Luật) và đây là bản dịch của nó:
Các
Tỳ khưu, có những người có niềm tin và lòng tôn kính và
nếu họ giao phó tiền cho một kappiya và chỉ dẫn cho người
này: ’Với số tiền này xin cúng dường những vật dụng
cần thiết được cho phép cho vị Sư này,’ thì các Tỳ khưu,
ta cho phép các ông nhận mọi vật dụng cần thiết được
phép nhận và được mua bằng số tiền này, nhưng các Tỳ
khưu, ta chẳng thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.
Cũng
có một giới luật được gọi là Raja sikkhapada, giới luật
thứ mười của Kathina Vagga (phẩm Dâng Y) trong mục Nissaggiya
Pacittiya (Ni tát kỳ ba la dật đề pháp) của Patimokkha (Giới
bổn Tỳ khưu) mang lại kiến thức thích đáng. Nó được
dịch như sau:
Nếu
một vị vua, một người bà la môn viên chức của nhà vua,
hay một cư sĩ gởi người đưa tin (sứ giả) cùng một món
tiền để mua một bộ y cho một Tỳ khưu và nói: ‘Sau khi
mua một bộ y bằng số tiền này, hãy cúng dường nó cho một
Tỳ khưu nào đó,’ và nếu sứ giả ấy tới tiếp xúc với
vị Tỳ khưu và nói: ‘Thưa Sư, tiền để mua một bộ y đã
được mang tới đây cho Sư. Xin hãy nhận tiền này để mua
một bộ y.’ Khi ấy vị Tỳ khưu đó nói với sứ giả: ‘Chúng
tôi không nhận tiền để mua một bộ y, chúng tôi nhận y
nếu chúng được dâng cúng vào một thời điểm thích hợp
và nếu chúng được cho phép.’
Khi
ấy nếu sứ giả nói: ‘Thưa Sư, ai là người phục vụ cho
Sư?’ Lúc đó nếu Tỳ khưu muốn có một bộ y thì ông chỉ
rõ người phục vụ, người này là một thị giả của tu
viện hay là một cư sĩ. Tỳ khưu nói: ‘Người đó phục
vụ cho các Tỳ khưu.’
Nếu
sau khi sứ giả đã chỉ dẫn cho người phục vụ, sứ giả
tiếp xúc với Tỳ khưu và nói: ‘Con đã chỉ dẫn cho người
Sư chỉ định. Xin Sư tiếp xúc với người ấy vào một lúc
thích hợp, ông ta sẽ dâng cho Sư một bộ y.’ Như vậy một
Tỳ khưu muốn có một bộ y sau khi tiếp xúc với người phục
vụ đó, có thể hỏi hay nhắc ông ta hai hay ba lần: ‘Tôi
cần một bộ y.’ Nếu sau khi hỏi hay nhắc hai hay ba lần,
Tỳ kheo nhận được bộ y thì điều đó thật tốt. Nếu
Tỳ kheo không nhận được y thì ông có thể đứng yên lặng
trong bốn, năm, hay sáu lần để nhận được bộ y đó. Nếu
sau khi đứng yên lặng trong bốn, năm hay sáu lần ông nhận
được bộ y thì điều đó thật tốt. Nếu ông phải nỗ
lực hơn thế và nhận được bộ y thì đó là một vi phạm
nissaggiya pacittiya.
Nếu
Tỳ kheo không nhận được bộ y đó thì đích thân ông đi
gặp hay gởi một sứ giả tới gặp người đã gởi tiền
để mua y và nói: ‘Số tiền để mua một bộ y cho Tỳ khưu
mà ông gởi đã không mang lại điều gì cho vị Tỳ khưu đó,
hãy cố gắng thu hồi số tiền của ông để nó không bị
thất lạc.’ Đây là điều nên làm.
PHẦN
2. SAI LẦM TRONG VIỆC NHẬN TIỀN
Trước
khi nhập diệt, Đức Phật đã nói rằng nói sau khi Ngài nhập
diệt, Tăng đoàn có thể - nếu họ muốn – hủy bỏ những
giới luật thấp hay thứ yếu của Tạng Luật. Một vài Tỳ
khưu đã trích dẫn điều này như một lý do để hỗ trợ
cho việc họ nhận tiền, nhưng những trích dẫn tiếp theo
từ các bộ Kinh cho thấy những giới luật ngăn cấm việc
sử dụng tiền không phải là những giới luật thấp hay thứ
yếu. Những giới luật sử dụng tiền bạc được những
trích dẫn này đưa ra là nền tảng và cốt tủy cho sự thành
tựu giác ngộ. Kinh Maniculaka: (Samyutta Nikaya, Salayatana Samyutta,
Gamani Samyutta, Kinh số 10,):
Khi
ấy Đức Thế Tôn đang cư trú ở Rajagaha (thành Vương Xá)
tại một nơi gọi là Veluvana (Trúc Lâm Tịnh Xá), ở đó những
con sóc và chim muông được nuôi dưỡng. Vào lúc đó, quần
thần tụ họp trong cung điện của nhà vua và trong khi họ
tụ họp cuộc đàm luận này đã phát sinh:
‘Đối
với những tu sĩ là các trưởng tử của Thái tử dòng họ
Thích Ca (Đức Phật) thì vàng, bạc và tiền được cho phép.
Những tu sĩ là trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca ưng
thuận vàng, bạc, và tiền. Những tu sĩ là trưởng tử của
Thái tử dòng Thích Ca nhận vàng, bạc và tiền.’
Vào
lúc đó vị trưởng làng là Maniculaka đang có mặt trong cuộc
họp và ông nói với mọi người:
‘Thưa
quý vị, đừng nói như thế. Vàng, bạc, và tiền không được
cho phép đối với những tu sĩ là các trưởng tử của Thái
tử dòng Thích Ca. Những tu sĩ trưởng tử của Thái tử dòng
Thích Ca không ưng thuận vàng, bạc, hay tiền. Những tu sĩ
trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca không nhận vàng, bạc,
và tiền. Những tu sĩ trưởng tử của Thái tử dòng Thích
Ca đã từ bỏ vàng, ngọc và không có tiền của.’
Nhưng
trưởng làng Maniculaka không thể thuyết phục những người
ấy.
Sau
đó trưởng làng Maniculaka tới gặp Đức Thế Tôn, và sau
khi tới gần Đức Thế tôn ông lễ lạy và ngồi sang một
bên. Trong khi ngồi ở một bên trưởng làng Maniculaka nói với
Đức Thế Tôn:
‘Thưa
Thế Tôn, trong hoàng cung quần thần của nhà vua đang tụ họp…
(Ông lập lại tất cả những điều đã được nói ở trên.)…
Nhưng Thế Tôn, con không thể thuyết phục tập hội đó.
‘Thưa
Thế tôn, do giải thích như thế con là người diễn đạt
những điều Đức Thế Tôn nói hay con đã xuyên tạc Đức
Thế Tôn? Con đã trả lời phù hợp với Giáo Pháp hay người
diễn đạt phù hợp với Giáo Pháp này sẽ tìm ra lý do để
chê trách con?’
(Đức
Thế Tôn): ‘Thật vậy, trưởng làng, bằng cách giải thích
như thế ông diễn đạt những gì ta nói và không xuyên tạc
ta. Ông đã trả lời phù hợp với Giáo Pháp này và người
diễn đạt phù hợp với Giáo Pháp này sẽ không tìm ra lý
do để chê trách ông.
‘Trưởng
làng, bởi vàng, bạc, và tiền không được cho phép đối
với những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca.
Những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca không
ưng thuận vàng, bạc, hay tiền. Những tu sĩ là trưởng tử
của thái tử dòng Thích Ca không nhận vàng, bạc, hay tiền.
Những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca đã
từ bỏ vàng ngọc và không có tiền của.
‘Trưởng
làng, đối với bất kỳ ai mà vàng, bạc, hay tiền được
cho phép thì đối với họ năm loại lạc thú giác quan được
cho phép. Đối với bất kỳ ai mà năm loại lạc thú giác
quan được cho phép thì ông có thể chắc chắn: “Ông ta không
có tính chất của một tu sĩ, ông ta không có tính chất của
một trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca.”
‘Trưởng
làng, thật vậy ta nói điều này: “Bởi một tu sĩ cần cỏ,
cỏ có thể được tìm kiếm. Bởi một tu sĩ cần gỗ, gỗ
có thể được tìm kiếm. Bởi một tu sĩ cần một chiếc
xe ngựa, xe ngựa có thể được tìm kiếm.” Nhưng, trưởng
làng, ta cũng nói: “Chẳng thể nào được nhận hay tìm kiếm
vàng, bạc, hay tiền của.”’
Trích
dẫn kế tiếp được lấy từ phần cuối của Kinh Upakkilesa
– Kinh Tùy phiền não (Anguttara Nikaya – Tăng Nhứt A Hàm, Tăng
Chi Bộ Kinh - một bộ bốn cuốn, Rohitassa Vagga, Kinh số 10.)
cho thấy việc nhận tiền dẫn tới việc liên tục tái sinh.
‘Bị
ô nhiễm bởi tham, sân, và mù quáng vì vô minh, một vài tu
sĩ và bà la môn ham thích những lạc thú giác quan.
Những
tu sĩ và bà la môn ngu xuẩn này uống rượu, dấn mình vào
tình dục, nhận vàng, bạc và tiền, và có được những vật
dụng cần thiết của họ bằng cách kiếm tiền tà vạy.
Đức
Phật, đấng chói lọi như mặt trời, gọi tất cả những
điều đó là những suy đồi.
Những
tu sĩ và bà la môn bị mua chuộc bởi những suy đồi này thì
bất tịnh, ô nhiễm, và không chói lọi hay sáng ngời.
Nhưng
thay vì bối rối, mù quáng, làm nô lệ cho dục vọng, và tràn
trề tham muốn, họ làm cho các nghĩa địa lớn rộng thêm
bằng cách liên tục tái sinh.’
Trong
những bộ Kinh này Đức Phật xem việc nhận tiền bạc cũng
giống như sự đam mê các lạc thú giác quan. Trong Kinh Dhammacakkappavattana
(Kinh Chuyển Pháp Luân) Đức Phật giảng dạy thật rõ ràng:
‘Các
Tỳ khưu, người đã lên đường không nên thực hành hai cực
đoan này. Hai cực đoan là gì? Đó là đam mê lạc thú giác
quan, là cách sống thấp hèn, cách sống của những người
dân làng, cách sống của những người tầm thường, cách
sống của những người không giác ngộ và không mang lại
lợi lạc; và tự hành xác đầy đau khổ, cách sống của
những người không giác ngộ, và không mang lại lợi lạc.’
Kinh
có dạy rằng ngay cả một cư sĩ là một anagami (A na hàm,
người không trở lại, Bất Lai) cũng giữ mười giới luật
một cách tự nhiên và không nhận hay sử dụng tiền bạc.
Ví dụ như A na hàm Ghatikara không có ngọc quý, vàng, bạc,
hay tiền của, kiếm sống bằng cách lấy đất bị xói mòn
ở bờ sông và làm thành những cái bình. Ông đặt những
cái bình này ở ven đường và những ai thích có thể để
lại một số gạo hay thực phẩm thích hợp và lấy những
cái bình. Bằng cách này Ghatikara nuôi sống bản thân và cha
mẹ bị mù lòa của ông. (Xem Kinh Ghatikara trong Majjhima Nikaya
– Kinh Trung A Hàm, Trung Bộ Kinh.)
Điều
này cho thấy làm thế nào tiền bạc là một chướng ngại
cho sự giác ngộ và một người thực sự giác ngộ không
sử dụng tiền bạc ra sao. Những trích dẫn ở trên hoàn toàn
minh chứng rằng việc các tu sĩ nhận tiền không phải là
một lỗi lầm nhỏ bé, và hành động đó có thể khiến cho
một tu sĩ không thể đạt được Niết bàn.
PHẦN
3. NHỮNG GIỚI LUẬT LIÊN QUAN TỚI TIỀN BẠC
Ý
nghĩa của ‘tiền bạc’ trong tất cả những giới luật
này là: Bất kỳ những gì được sử dụng như tiền tệ
để mua và bán. Tiền bạc bao gồm những đồng xu, giấy bạc,
séc, vàng, và bạc.
Vì
sao một một tấm séc không được phép nhận? Một tấm séc
không được phép nhận là bởi đôi khi nó có thể được
đổi thành tiền và cũng bởi một tấm séc là một mệnh
lệnh cho một ngân hàng để chi trả tiền cho người cầm
tấm séc. Người ta thường nói những câu như: ‘Tỳ khưu
Dhamminda, xin trả số tiền một trăm đô la cho người cầm
séc.’ Do đó một tấm séc được viết ra cho một tu sĩ là
một mệnh lệnh để chi trả tiền cho tu sĩ đó và nếu ông
ta nhận séc thì điều đó có nghĩa là ông ta đang nhận số
tiền đó tại ngân hàng. Cách nhận tiền thứ ba cũng tương
tự như thế (xem ở dưới); ‘Ở một nơi nào đó, tiền
đó là của tôi, tiền đó là để dành cho Sư.’ Vì thế
một tấm séc là một cách thức biếu tặng tiền cho một
tu sĩ và phải được từ chối.
Một
tu sĩ viết một tấm séc vi phạm việc có sẵn tiền. Nếu
trước hết ông ta nhận ngân quỹ thì đó là một vi phạm
nissaggiya pacittiya hay nếu ngân quỹ được để lại cho một
kappiya theo một cách thức đúng đắn thì đó là một vi phạm
dukkata (tác ác) về việc sắp xếp sai lầm.
Một
sa di được yêu cầu giữ mười giới luật trong đó điều
thứ mười là tự chế không nhận vàng, bạc, hay tiền. Trong
việc thực hành thì điều này có nghĩa là một samanera (sa
di) giữ tất cả những giới luật có liên quan tới tiền
bạc tương tự như cách thức một tu sĩ giữ giới.
Đối
với các tu sĩ (Tỳ khưu) thì có bốn giới luật chính liên
quan tới tiền bạc được tìm thấy trong vinaya (Tạng Luật):
1.
Rupiya sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 18)
2.
Mendaka sikkhapada (Vinaya Mahavagga, Bhesajja Khandhaka)
3.
Raja sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 10)
4.
Rupiya samvohara sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 19.)
Các
bản dịch số 2 và 3 đã được đưa ra ở trên và những
bản dịch số 1 và 4 như sau:
1.
Rupiya Sikkhapada
Bất
kỳ Tỳ khưu nào tự mình nhận tiền hay là nguyên nhân khiến
người khác nhận tiền cho mình, hay ưng thuận để tiền được
đặt ở gần mình hay được giữ cho mình, Tỳ khưu đó đã
vi phạm nissaggiya pacittiya.
4.
Rupiya samvohara sikkhapada
Bất
kỳ Tỳ khưu nào tham gia vào việc trao đổi bất kỳ thứ
gì trong những hình thức khác nhau của vàng, bạc, hay tiền,
Tỳ khưu đó đã vi phạm nissaggiya pacittiya.
Cần
phải thấu suốt Rupiya sikkhapada bởi nếu giới luật này được
giữ gìn một cách đúng đắn thì một tu sĩ sẽ không hiểu
sai những giới luật khác liên quan tới tiền bạc. Một tu
sĩ bị cấm làm ba điều:
1.
Tự mình nhận tiền bạc.
2.
Tạo nguyên nhân khiến người khác nhận tiền cho mình.
3.
Ưng thuận để tiền được đặt ở gần mình hay được
giữ cho mình.
Bản
văn pali nguyên thủy định nghĩa ba điều này là:
1.
sayam ganhati –Tỳ kheo đích thân nhận tiền.
2.
annam gahapeti – ông ta làm cho người khác nhận tiền cho ông.
3.
idam ayassa hotu ti upanikkhittam sadiyati – Họ nói: ‘Thưa Sư,
món tiền này là dành cho Sư,’ và ông ta ưng thuận để họ
đặt số tiền gần mình.
Luận
giảng Kankhavitarani giảng nghĩa ba cách nhận tiền ở trên
theo cách này:
1.
Tỳ kheo tự mình nhận tiền khi tiền được cúng dường cho
ông ta, hay đích thân ông giữ tiền khi ông tìm thấy nó ở
một nơi nào đó và nó không thuộc về ai.
2.
Trong những trường hợp tương tự này (khi tiền được cúng
dường cho ông ta hay ông tìm thấy nó) ông ta khiến cho người
khác nhận tiền (cho ông ta.)
3.
Nếu cùng với số tiền trước sự hiện diện của vị Tỳ
kheo, họ nói: ‘Tiền này là để dành cho Sư,’ hay khi tiền
được giữ ở một nơi nào khác, họ nói: ‘Ở một nơi
nào đó, tiền đó là của tôi, tiền đó là để dành cho
Sư.’ Khi đó nếu họ truyền đạt về số tiền cúng dường
đó chỉ bằng lời nói hay ra dấu bằng tay và tu sĩ đó không
từ chối điều đó bằng cách ra dấu bằng tay hay bằng lời
nói và âm thầm nhận nó thì điều đó được gọi là ‘ưng
thuận.’
Nếu
vị tu sĩ âm thầm ưng thuận và muốn nhận, nhưng bằng cách
ra dấu hay bằng lời nói ông từ chối bằng cách nói: ‘Điều
này không được cho phép,’ hay nếu ông ta không từ chối
số tiền bằng cách ra dấu hay bằng lời nói nhưng với một
tâm thức thuần tịnh ông không ưng thuận và nói: ‘Chúng
tôi không được phép làm điều này,’ thì điều đó được
cho phép (không được gọi là ưng thuận).
Với
giới luật này Đức Phật đã cấm mọi cách thức nhận tiền
có thể xảy ra. Nếu có ai cố gắng cúng dường tiền cho
một tu sĩ theo cách nào đó trong ba cách này thì tu sĩ ấy
không thể nói: ‘Người nào đó là kappiya của tôi. Hãy đưa
tiền này cho kappiya của tôi. Hãy nhận tiền này cho tôi. Hãy
để số tiền này ở đó.’ Tất cả những gì vị tu sĩ
có thể làm là từ chối không nhận số tiền đó bằng cách
nói: ‘Điều này không được cho phép.’ Từ chối là hành
động duy nhất tu sĩ cần nhớ để hành động.
Luận
giảng Samantapasadika (Thiện Kiến Luật chú) giải thích rằng
không chỉ không được phép nhận tiền cho bản thân bằng
một trong ba cách, tu sĩ cũng không được nhận tiền cho Tăng
đoàn, cho một nhóm người, cho người khác, cho một ngôi chùa,
một tu viện, hay cho bất kỳ điều gì khác. Nếu một tu sĩ
nhận tiền cho bản thân bằng một trong ba cách này thì đó
là vi phạm nissaggiya pacittiya. Nếu ông nhận cho người khác
như đã được đề cập thì đó là vi phạm dukkata (tác ác).
Có
một quyển sách mới được biên soạn về Luật trong đó
trình bày một quan điểm sai lầm. Quyển sách viết:
Ta
được phép ‘tạo ra tiền được ký thác’ cho một tu viện,
cho một ngân quỹ để mua sắm những vật dụng cần thiết,
cho một lời kêu gọi cứu trợ (ví dụ ngân quỹ cho viện
mồ côi), nhưng không dành cho cá nhân tu sĩ. Ví dụ như một
người hiến tặng cúng dường tiền cho ngôi chùa có thể
được hướng dẫn: ‘Xin cho vào thùng cúng dường’, hay:
‘Xin gởi tiền vào số tài khoản này’, mặc dù một tu
sĩ có thể không đích thân nhận số tiền như thế. Tăng
đoàn, hay các viên chức được chỉ định có thể hướng
dẫn việc sử dụng một ngân quỹ như thế, thậm chí nói:
‘Hãy mua cái này,’ hay ‘Hãy mua cái kia.’
Ở
trên ta đã được giảng dạy rằng không được phép tạo
nguyên nhân để được nhận hay được ký thác tiền bạc
cho một ngôi chùa hay cho bất kỳ điều gì khác. Vì thế quan
điểm này không phù hợp với Tạng Luật.
Luận
giảng minh họa những nguyên lý được bao hàm trong những
giới luật này bằng một câu chuyện hư cấu. Nó đối phó
với một tình huống trong đó người hiến tặng không biết
việc tu sĩ từ chối và chỉ đơn giản để lại tiền trước
mặt tu sĩ và ra đi. Luận giảng chỉ rõ:
1.
Nếu một tu sĩ nói: ‘Hãy giữ nó ở đây,’ thì đó là
vi phạm nissaggiya đối với việc nhận tiền.
2.
Nếu tu sĩ muốn có mua món đồ gì đó và nói: ‘Hãy lấy
cái này,’ thì đó là việc sắp xếp theo một cách thế không
được cho phép. (Nếu ngân quỹ được cho phép).
3.
Giới luật này giống như đi trên một sợi giây làm xiếc
bằng một cái lưỡi nhỏ xíu, tất nhiên là sẽ đi tới chỗ
vi phạm giới luật.
Câu
chuyện viết:
Giả
sử có một người đặt một trăm hay một ngàn đồng xu dưới
chân một Tỳ khưu và nói: ‘Tiền này dành cho Sư,’ vị
Tỳ khưu từ chối và nói: ‘Điều này không được cho phép,’
nhưng cư sĩ đáp: ‘Con đã biếu nó cho Sư,’ rồi ra đi.
Sau đó nếu có cư sĩ khác đến và hỏi: ‘Thưa Sư, tiền
gì đây?’ Khi đó cư sĩ này có thể được nghe thuật lại
những gì cư sĩ thứ nhất và vị tu sĩ đã nói. Nếu cư sĩ
đó nói: ‘Thưa Sư, hãy để con cất giữ nó cho an toàn, xin
chỉ cho con một nơi an toàn.’ Sau khi leo lên một ngôi nhà
bảy tầng vị tu sĩ có thể giải thích: ‘Nơi này an toàn,’
nhưng ông ta không nên nói: ‘Hãy giữ nó ở đây.’ Bằng
cách nói như thế này việc nhận tiền sẽ trở thành được
cho phép hay không được cho phép.
(Luận
giảng phụ Vimativinodana nói: Nếu tu sĩ nói: ‘Hãy giữ nó
ở đây,’ đó là hành động nhận tiền và là vi phạm nissaggiya
pacittiya.) Sau đó ông ta có thể đóng cửa lại và bảo vệ
nó. Nếu sau này một người bán hàng tới cùng với hàng hóa
chẳng hạn như một cái chén hay những bộ y và nói: ‘Sư
hãy lấy cái này,’ khi đó Tỳ khưu có thể nói: ‘Cư sĩ,
tôi cần cái này và có phương tiện để sở hữu nó nhưng
hiện giờ không có kappiya ở đây.’ Và nếu người bán hàng
nói: ‘Tôi sẽ là kappiya của Sư, xin mở cửa và đưa tiền
cho tôi.’ Sau khi mở cửa Tỳ khưu nên nói: ‘Tiền được
để trong phòng này.’ Ông ta không nên nói: ‘Hãy cầm số
tiền này.’ Như thế tùy thuộc vào những gì được nói
ra việc nhận tiền trở thành được cho phép hay không được
cho phép. Khi ấy nếu người bán hàng đó nhận những đồng
tiền và đưa các vật dụng cần thiết được phép nhận
cho Tỳ khưu thì điều đó được cho phép. Nếu ông ta lấy
quá nhiều đồng xu thì Tỳ khưu đó nên nói: ‘Tôi sẽ không
lấy hàng của ông, hãy đi đi!’
2.
Mendaka sikkhapada
Một
bản dịch của bản văn này đã được đưa ra ở trên. Không
có thông tin riêng biệt về việc thừa nhận này trong các
luận giảng. Mọi điều cần nói về nó được giải thích
trong luận giảng cho Raja sikkhapada. Giòng cuối cùng đáng ghi
nhớ của thừa nhận này là một tóm tắt của tất cả những
quy tắc liên quan tới tiền bạc: ‘Các Tỳ khưu, ta chẳng
thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.’
3.
Raja sikkhapada
Một
bản dịch của bản văn này đã được đưa ra ở trên. Luận
giảng cho giới luật này đưa ra rất nhiều thông tin giúp
cho một tu sĩ biết cách nói và làm trong những tình huống
khác nhau. Dưới đây là một vài bản dịch của những trích
dẫn được chọn lọc từ những luận giảng cùng với một
vài giải thích xa rộng hơn của tác giả.
Những
chọn lọc từ Luận giảng Kankhavitarani
1.
‘Khi đã mua một bộ y bằng số tiền này, xin hãy cúng dường
nó cho một Tỳ khưu nào đó,’ được nói (trong giới luật)
để cho thấy tiền được gởi với ý hướng thanh tịnh.
Nếu người hiến tặng gởi sứ giả và nói: ‘Xin cúng số
tiền này cho một Tỳ khưu nào đó,’ khi ấy số tiền đó
được gởi một cách bất tịnh bởi có liên quan tới tiền
không được phép nhận. Trong trường hợp đó một Tỳ khưu
đừng bao giờ nên chỉ rõ một người là kappiya.
Nếu
người hiến tặng đích thân đến và nói: ‘Con cúng dường
số tiền này cho Sư,’ thì một Tỳ khưu không thể chỉ rõ
một kappiya. Nếu một Tỳ khưu nói: ‘Người nào đó là kappiya
của tôi,’ vào thời điểm này sẽ khiến cho tiền được
nhận cho Tỳ khưu và là một vi phạm nissaggiya pacittiya. Tất
cả những gì một Tỳ khưu có thể làm trong trường hợp
này là từ chối nhận món tiền.
2.
‘Chúng tôi không nhận tiền để mua một bộ y, chúng tôi
nhận y nếu chúng được cúng dường vào một thời điểm
thích hợp và nếu chúng được cho phép,’ được nói ra để
cho thấy tiền phải được từ chối, mặc dù ngân quỹ để
mua một bộ y được gởi một cách thanh tịnh, lời nói của
sứ giả không được cho phép. (‘Xin nhận số tiền này để
mua một bộ y.’)
Một
ngân quỹ gồm vàng, bạc, đồng xu, hay tiền là một nguyên
nhân cho một vi phạm nissaggiya pacittiya. Ngọc, ngọc trai, hồng
ngọc, đá quý, bảy loại hạt, những nô lệ nữ, nô lệ
nam, ruộng lúa, những cánh đồng canh tác, vườn cây ăn quả,
hay vườn hoa được gọi là những vật là nguyên nhân cho
một vi phạm dukkata (tác ác). Tu sĩ không được phép nhận
bất kỳ món gì trong những loại này cho bản thân, cho một
ngôi chùa, Tăng đoàn, một nhóm người, hay cho người khác.
Ở
đây và ở nơi khác trong toàn bộ các luận giảng, ‘nhận’
có nghĩa là nhận bằng cách nào đó trong ba cách được đề
cập tới trong Rupiya sikkhapada.
3.
Nếu sứ giả hỏi trong một cách thế được cho phép: ‘Thưa
Sư, có ai phục vụ cho Sư không?’ Khi ấy tu sĩ được phép
chỉ ra người nào đó. Tuy nhiên, nếu sứ giả hỏi: ‘Ai
sẽ nhận tiền này?’ hay ‘Con nên đưa tiền này cho ai?’
thì tu sĩ không được phép chỉ ra ai là một kappiya.
Nếu
Tỳ khưu chỉ ra một kappiya khi cư sĩ hỏi một cách sai lạc
thì điều đó sẽ là một vi phạm nissaggiya pacittiya vì làm
cho người khác nhận tiền cho vị Tỳ khưu.
4.
‘Người nào đó phục vụ cho các Tỳ khưu,’ được nói
ra để cho thấy cách nói được cho phép đối với một Tỳ
khưu. Tỳ khưu chỉ có thể nói điều đó theo cách này và
không nên nói: ‘Hãy đưa tiền cho ông ta. Ông ta sẽ giữ
nó. Ông ta sẽ đổi nó. Ông ta sẽ mua nó.’
Nếu
cư sĩ hỏi theo cách thế được cho phép thì Tỳ khưu chỉ
có thể chỉ ra một kappiya theo cách thế được cho phép. Nếu
Tỳ khưu chỉ ra theo cách thế sai lầm thì đó sẽ là một
vi phạm nissaggiya pacittiya.
5.
‘Thưa Sư, người mà Sư chỉ ra đó đã được con chỉ dẫn.
Xin tiếp xúc với ông ta vào một thời điểm thích hợp và
ông ta sẽ dâng cúng Sư một bộ y,’ có nghĩa là: người
đó đã được con ra lệnh khi Sư cần một bộ y thì người
đó sẽ dâng y cho Sư. Nếu sứ giả thực sự nói điều này
thì sau khi được thông tin như thế, tu sĩ được phép yêu
cầu một bộ y. Tu sĩ không được phép hỏi nếu sứ giả
chỉ đơn thuần đi tới và trao cho một kappiya ngân quỹ để
mua một bộ y.
Sẽ
là một cách kiếm sống tà vạy khi yêu cầu một bộ y từ
người không đưa ra một lời mời để hỏi.
6.
Nếu Tỳ khưu nói: ‘Đây là người phục vụ cho các Tỳ
khưu,’ và chỉ rõ một người đang hiện diện vào lúc đó.
Khi ấy, trước sự hiện diện của Tỳ khưu, nếu sứ giả
trao cho người ấy ngân quỹ và nói: ‘Sau khi mua một bộ
y cho Thera (Thượng Tọa, Trưởng Lão) này, xin hãy dâng y cho
Sư,’ và sau đó ra đi. Như vậy thậm chí không được nói:
‘… đã được tôi chỉ dẫn…’ thì Tỳ khưu được
cho phép yêu cầu một bộ y.\
Nếu
khi sứ giả sắp ra đi, ông ta nói với Tỳ khưu: ‘Con sẽ
trao tiền này tận tay ông ta, Sư hãy nhận một bộ y,’ và
sau đó nếu người ấy ra đi hay nếu ông ta gởi người khác
tới để thông báo cho Tỳ khưu thì trong cả hai trường hợp
này Tỳ khưu được phép yêu cầu một bộ y. Mặc dù giới
luật này chỉ đề cập tới một ‘sứ giả’ nhưng nếu
đích thân người hiến tặng mang số tiền tới thì thủ tục
cũng tương tự và những khác biệt cũng tương tự như được
đề cập ở trên.
7.
‘Tôi cần một bộ y,’ cho thấy cách thế đúng đắn để
yêu cầu một bộ y. Tỳ khưu được phép nói điều gì đó
có ý nghĩa tương tự khi sử dụng bất kỳ ngôn ngữ nào.
Không bao giờ được phép nói: ‘Hãy cho tôi một bộ y, Hãy
mang cho tôi một bộ y, Hãy sắm cho tôi một bộ y, Hãy mua
cho tôi một bộ y.’
Những
Chọn lọc từ Samantapasadika (Thiện Kiến Luật chú)
1.
Không chỉ không được phép nhận tiền cho bản thân, mà cũng
không được phép nhận tiền nếu số tiền đó do người
hiến tặng mang đến và họ nói: ‘Con dâng cúng số tiền
này cho Tăng đoàn. Xin làm một vườn hoa, một ngôi chùa, phòng
ăn hay bất kỳ thứ gì khác.’ Bất kỳ ai nhận tiền cho
người nào khác sẽ vi phạm dukkata theo luận giảng Mahapaccariya.
(Một luận giảng cổ xưa không còn hiện hữu.)
2.
Nếu một Tỳ khưu từ chối không nhận tiền và nói: ‘Các
Tỳ khưu không được phép nhận tiền này.’ Khi ấy nếu
người hiến tặng nói: ‘Con sẽ trao số tiền này tận tay
một người thợ mộc hay công nhân. Sư chỉ trông coi để
công việc của họ được thực hiện một cách đúng đắn.’
Sau đó nếu ông ta giao tiền cho những người thợ và ra đi
thì điều đó được cho phép. Nếu ông ta nói: ‘Con sẽ trao
số tiền này tận tay người của con hay chính con sẽ giữ
số tiền này. Sư cần giao cho ai thì xin bảo người đó tới
gặp con để nhận nó.’ Điều này cũng được cho phép.
3.
Nếu không hỏi ý kiến Tăng đoàn, một nhóm người, hay một
cá nhân, họ chỉ nói: ‘Chúng con biếu số vàng, bạc, hay
tiền này cho chùa, cho tu viện, cho công trình mới,’ thì không
được phép từ chối điều đó. Tỳ khưu nên thông báo cho
kappiya của ông và nói: ‘Đây là điều họ đã nói.’ Tuy
nhiên nếu họ nói: ‘Chúng con cúng dường tiền này vì ngôi
chùa, tu viện, công trình mới, xin Sư nhận và giữ nó.’
Khi ấy Tỳ khưu phải từ chối và nói: ‘Chúng tôi không
được phép nhận số tiền này.’
Trong
trường hợp thứ nhất Tỳ khưu không được từ chối bởi
ông không bị yêu cầu nhận số tiền. Ông không thể làm
điều gì ngoại trừ thuật lại cho kappiya của ông những
gì những người hiến tặng nói. Ông không thể nhận số
tiền đó.
4.
Nếu một người mang nhiều vàng, bạc, hay tiền và nói: ‘Thưa
Sư, con cúng dường món này cho Tăng đoàn, xin sử dụng bốn
vật dụng cần thiết có được từ món cúng dường này.’
Khi ấy nếu Tăng đoàn nhận món cúng dường đó thì việc
chấp nhận ấy là một vi phạm và việc sử dụng những vật
dụng cần thiết có được từ món cúng dường đó cũng là
một vi phạm.
Nếu
vào lúc Tăng đoàn được cúng dường, một Tỳ khưu từ chối
không nhận và nói: ‘Điều này không được cho phép.’ Những
cư sĩ ra đi và nói: ‘Nếu điều này không được cho phép
thì con sẽ giữ nó.’ Khi ấy những Tỳ khưu khác không nên
nói với vị Tỳ khưu đó: ‘Ông đã gây trở ngại cho Tăng
đoàn,’ hay điều gì khác đối với kết quả đó. Đối
với bất kỳ ai nói một điều như thế với vị Tỳ kheo,
người ấy sẽ mắc vào một vi phạm (dukkata) bởi bằng cách
từ chối món cúng dường vị Tỳ khưu đơn độc đó đã
tránh cho nhiều người không bị vi phạm.
Nếu
những Tỳ khưu đó từ chối số tiền và nói: ‘Điều này
không được cho phép,’ và khi ấy những cư sĩ nói: ‘Con
sẽ trao số tiền này cho một kappiya hay cho người của con
hay đích thân con giữ nó. Sư chỉ nhận và sử dụng những
vật dụng cần thiết có được từ số tiền này.’ Điều
đó được cho phép.
Luận
giảng giải thích rằng không phải kappiya nào cũng cần thực
hành những phương pháp được chỉ bày trong giới luật này.
Luận giảng giải thích rằng có mười loại và hai hạng kappiya.
Các chi tiết như sau:
5.
Nếu người nào đó gởi một sứ giả cùng một số tiền
để mua một bộ y cho một Tỳ khưu và sau khi tiếp xúc với
Tỳ khưu, sứ giả đó nói: ‘Thưa Sư, một người nào đó
đã gởi số tiền này để mua một chiếc y cho Sư. Xin nhận
số tiền này.’ Khi ấy vị Tỳ khưu phải từ chối và nói:
‘Điều này không được cho phép.’ Nếu sau đó sứ giả
hỏi: ‘Thưa Sư, Sư có người phục vụ không?’ Khi ấy nếu
có một người như thế thì hoặc người ấy sẽ được một
cư sĩ chỉ dẫn: ‘Ông phục vụ cho những Tỳ khưu này,’
hoặc nếu ông ta chỉ là một người bạn hay người cộng
tác của Tỳ khưu đó và phục vụ cho Tỳ khưu. Nếu vào lúc
đó người ấy đang ngồi trước sự hiện diện của Tỳ
khưu đó và Tỳ khưu chỉ rõ ông ta và nói: ‘Đây là người
phục vụ cho các Tỳ khưu.’ Khi ấy nếu sứ giả trao ngân
quỹ tận tay người đó và nói: ‘Sau khi mua một bộ y hãy
cúng nó cho Thera (Thượng Tọa, Trưởng Lão) này,’ và sau
đó ông ta ra đi. Như vậy kappiya này được gọi là được
Tỳ khưu chỉ rõ trước sự hiện diện của người ấy (1).
Tuy
nhiên nếu lúc đó người ấy không ngồi trước sự hiện
diện của vị Tỳ khưu và vị Tỳ khưu chỉ rõ người đó
và nói: ‘Trong làng nào đó có một người tên như thế phục
vụ cho các Tỳ khưu,’ Khi ấy nếu sứ giả đi tới làng
đó mang ngân quỹ trao tận tay người ấy và nói: ‘‘Sau
khi mua một bộ y hãy cúng nó cho Thera này,’ và sau đó trở
về gặp vị Tỳ khưu và thông báo cho Tỳ khưu điều này
trước khi ra đi. Như vậy kappiya này được gọi là được
Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của người ấy
(2).
Tuy
nhiên nếu sứ giả không đích thân trở lại thông báo cho
Tỳ khưu mà gởi một người khác tới thông báo và nói: ‘Thưa
Sư, chúng con đã trao cho người đó ngân quỹ để mua một
bộ y. Xin Sư nhận một bộ y.’ Như vậy kappiya này được
gọi là loại thứ hai được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có
sự hiện diện của người ấy (3).
Tuy
nhiên nếu sứ giả không gởi người nào đó giống như thế
mà thay vào đó ông ta nói với Tỳ khưu trước khi đi: ‘Thưa
Sư, con sẽ gởi tiền cho người đó để mua một bộ y, xin
Sư nhận một bộ y.’ Như vậy kappiya này là loại thứ ba
được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của người
ấy (4).
Như
thế có bốn kappiya được Tỳ khưu chỉ rõ, một người được
Tỳ khưu chỉ rõ trước sự hiện diện của người ấy và
ba người được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện
của họ. Trong tất cả bốn trường hợp này một Tỳ khưu
nên thực hành đúng y như được nói trong giới luật của
Raja sikkhapada.
Nếu
một sứ giả hỏi Tỳ khưu cùng cách thức được nói ở
trên và nếu Tỳ khưu hoặc không có một kappiya hoặc không
muốn sắp xếp như thế, Tỳ khưu nên nói: ‘Tôi không có
một kappiya.’ Nếu vào lúc đó một người đi tới và sứ
giả trao ngân quỹ tận tay người ấy và ra đi sau khi nói:
‘Xin nhận một bộ y từ người này.’ Như vậy kappiya này
được gọi là được sứ giả chỉ rõ trước sự hiện diện
của Tỳ khưu (1).
Trong
trường hợp khác đích thân sứ giả vào làng và chọn một
người rồi trao ngân quỹ tận tay người đó. Như vậy cũng
giống như những cách thức đã được nói ở trên, hoặc
người đó quay lại và thông báo cho Tỳ khưu, gởi người
khác tới thông báo cho Tỳ khưu, hay nói trước khi đi: ‘Con
sẽ trao ngân quỹ này tận tay người tên gì đó, xin Sư nhận
một chiếc y,’ và sau đó ra đi. Đây là ba trường hợp được
gọi là kappiya được sứ giả chỉ rõ mà không có sự hiện
diện của Tỳ khưu (2,3 &4).
Cả
bốn trường hợp này được gọi là các kapiya được sứ
giả chỉ rõ. Trong bốn trường hợp này một Tỳ khưu nên
thực hành hoàn toàn giống như cách được nói trong thừa
nhận Menkada, trong đó nói:
Các
Tỳ khưu, có những người có niềm tin và lòng tôn kính và
nếu họ ký thác tiền bạc cho một kappiya, chỉ dẫn cho người
này và nói: ‘Với số tiền này xin dâng những vật dụng
cần thiết được cho phép cho vị Sư này,’ thì các Tỳ khưu,
ta cho phép các ông nhận mọi vật dụng cần thiết được
cho phép có được từ số tiền này, nhưng các Tỳ khưu, ta
chẳng thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.’ Theo
sự thừa nhận này một Tỳ khưu có thể yêu cầu vô số
lần. Một Tỳ khưu, người không đồng ý nhận ngân quỹ,
cho dù ông đã yêu cầu hay đứng một ngàn lần thì được
phép nhận những vật dụng cần thiết được cho phép. Nếu
họ không biếu tặng vật gì, sau đó cử một người khác
làm kappiya cho vị Tỳ kheo thì ông ta nên làm cho người đó
mang lại những vật dụng cần thiết.* Nếu vị Tỳ khưu muốn
thì ông có thể thông báo cho người hiến tặng lúc ban đầu,
nhưng ông không cần phải làm thế nếu ông không muốn.
*
Một Tỳ khưu không được phép làm cho tiền di chuyển từ
một kappiya sang một người khác. Ông ta nên nói với kappiya
mới: ‘Có người đã để lại một số tiền để mua môt
bộ y cùng với … và tôi cần một bộ y.’
5.
(tiếp theo) Nếu tỳ khưu được sứ giả hỏi theo cùng cách
thức đã nói ở trên và Tỳ khưu trả lời: ‘Tôi không có
một kappiya.’ Lúc ấy nếu có một người hiện diện nghe
câu nói đó và nói: ‘Xin mang tiền lại đây, tôi sẽ mua
một bộ y cho Sư và dâng nó cho Sư.’ Khi ấy nếu sứ giả
nói: ‘Tốt quá, xin hãy dâng y cho Sư,’ và sau khi trao ngân
quỹ tận tay người đó và không thông báo cho Tỳ khưu, người
ấy ra đi (không nói với Tỳ khưu là Tỳ khưu nhận một bộ
y từ người đó). Điều này được gọi là trở thành một
kappiya nhờ miệng của mình.
Trong
trường hợp khác, nếu sứ giả chỉ đơn giản trao ngân quỹ
cho người nào đó và nói với ông ta: ‘Ông dâng một bộ
y cho Sư,’ và sau đó ra đi. Như vậy điều này được gọi
là trở thành một kappiya nhờ miệng của người khác.
Hai
loại sau cùng này được gọi là những kappiya không được
chỉ rõ. Trong những trường hợp này một Tỳ khưu nên thực
hành theo một cách thế tương tự như thể những kappiya ấy
không phải là những người thân thuộc hay không đưa ra lời
mời thỉnh để yêu cầu những vật dụng cần thiết. Nếu
những người ấy tự nguyện mang một bộ y và cúng dường
nó thì Tỳ khưu có thể nhận y. Nếu họ không làm như thế
thì Tỳ khưu không nên nói gì hết.
Mặc
dù trong giới luật chỉ có một sứ giả giữ ngân quỹ, nếu
người hiến tặng đích thân mang ngân quỹ hay đó là ngân
quỹ để mua thực phẩm hay thứ gì khác thì thủ tục cũng
tương tự như ở trên.
4.
Rupiya samvohara sikkhapada
Cho
dù Tỳ khưu tham gia vào điều gì trong việc trao đổi những
hình thức khác nhau của vàng, bạc, hay tiền thì Tỳ khưu
cũng mắc vào một vi phạm nissaggiya pacittiya.
Rupiya
sikkhapada ngăn cấm việc nhận vàng, bạc, hay tiền. Giới luật
này cấm việc trao đổi vàng, bạc, và tiền để lấy những
thứ khác làm bằng vàng hay bạc (chẳng hạn như vật trang
sức), hay để lấy những tài sản được cho phép (chẳng
hạn như những bộ y, bát, hay những vật dụng cần thiết
khác). Giới luật này cũng ngăn cấm việc trao đổi những
vật dụng cần thiết được cho phép, hay những vật làm bằng
vàng hay bạc, để lấy vàng, bạc, hay tiền.
Luận
giảng Samantapasadika (Thiện Kiến Luận chú) đưa ra một giải
thích bằng một ví dụ được gọi là ‘bốn cái chén không
được phép nhận.’ Bản văn viết:
Để
chỉ rõ lỗi lầm nghiêm trọng trong việc vi phạm giới luật
này, việc bốn cái chén không được phép nhận được giải
thích như sau: Nếu một Tỳ khưu sau khi nhận tiền, mua quặng
sắt, nấu chảy thành sắt và làm thành một cái chén khất
thực (bình bát). Như vậy cái chén này được gọi là một
‘cái chén vĩ đại không được phép nhận’ do bởi chẳng
có cách nào làm cho nó được nhận. Nếu cái chén bị đập
vỡ và được làm thành những cái tách thì chúng cũng không
được phép nhận. Nếu nó được làm thành một con dao thì
những tooth-wood (a) được làm bằng con dao đó không được
phép nhận. Nếu nó được làm thành những lưỡi câu để
câu cá thì ngay cả cá bị vướng vào những lưỡi câu đó
cũng không được phép nhận. Nếu người ấy nung nóng lưỡi
dao làm từ cái chén đó và nhúng nó vào nước hay sữa và
làm nước hay sữa ấm lên thì nước hay sữa đó cũng không
được phép nhận.
Nếu
một Tỳ khưu sau khi nhận tiền, mua một cái chén được làm
sẵn thì cái chén đó không được phép nhận. Trong luận giảng
Mahapaccariya có nói: ‘Bất kỳ Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, samanera
(Sa di), samaneri (Sa di ni), hay sikkhamana (Thức xoa ma na, Học nữ)
nào cũng không được phép nhận cái chén đó.’ Cũng có thể
làm cho cái chén này lại được phép nhận. Nếu vị Tỳ khưu
trả cái chén cho nơi ông đã mua, lấy lại tiền, và trả
lại cái chén thì cái chén trở thành được phép nhận. Như
vậy nếu ta có cái chén bằng một cách thế được cho phép
thì ta được phép sử dụng nó.
Nếu
một Tỳ khưu sau khi nhận tiền đi tới một tiệm bán chén
bát cùng với kappiya của ông và khi nhìn thấy một cái chén
ông nói: ‘Tôi thích cái này,’ và người kappiya đó đưa
tiền và thỏa thuận với người chủ tiệm để mua chén.
Khi ấy mặc dù cái chén đó được sở hữu bằng lời nói
được cho phép nhưng nó vẫn không được phép nhận do bởi
việc nhận tiền lúc ban đầu. Không có sự khác biệt với
thí dụ thứ hai. Vì sao các Tỳ khưu khác cũng không được
phép nhận những cái chén? Đó là bởi tiền lúc ban đầu
không được thu hồi (theo đúng Luật ở giữa Tăng đoàn).
Nếu
một Tỳ khưu không nhận tiền và sau khi một kappiya được
gởi tới và được chỉ dẫn, người này nói: ‘Sau khi mua
một cái chén xin cúng nó cho Thera.’ Sau đó nếu kappiya và
Tỳ khưu cùng đi tới tiệm bán chén bát và khi nhìn thấy
cái chén Tỳ khưu nói: ‘Hãy nhận số tiền này và đưa cho
tôi cái chén,’ và như thế sau khi làm cho tiền được đưa
ra vị Tỳ khưu nhận cái chén. Như vậy chỉ một mình Tỳ
khưu đó không được phép nhận cái chén bởi ông đã sắp
xếp việc mua bán một cách sai lầm. Những Tỳ khưu khác thì
được phép nhận bởi số tiền đã không được nhận ngay
từ đầu.
Thầy
giáo của Mahasuma Thera được gọi là Anuruddha Thera và ông
có một cái chén như thế, nó đựng đầy sữa trâu và ông
tặng nó cho Tăng đoàn. Đệ tử của Tipitaka Culanaga Thera cũng
có một cái chén như thế, và vì thế Thera làm cái chén được
rót đầy sữa trâu và tặng cho Tăng đoàn. Đây là bốn cái
chén không được phép nhận.
Nếu
một Tỳ khưu không nhận tiền và sau khi một kappiya được
gởi tới và được chỉ dẫn, người này nói: ‘‘Sau khi
mua một cái chén xin cúng nó cho Thera,’ khi ấy nếu kappiya
và Tỳ khưu cùng đi tới tiệm bán chén bát và sau khi nhìn
thấy cái chén Tỳ khưu nói: ‘Tôi thích cái này,‘ hay ‘Tôi
sẽ lấy cái này,’ và kappiya đưa tiền và thỏa thuận việc
mua bán với chủ tiệm thì cái chén đó hoàn toàn được phép
nhận và ngay cả Đức Phật cũng sử dụng nó.
PHẦN
4. VIỆC BỊ THU HỒI VÀ SÁM HỐI
Nếu
một Tỳ khưu đã nhận vàng, bạc, hay tiền thì trước tiên,
theo những giới luật của Tạng Luật, ngay giữa Tăng đoàn
ông phải bị thu hồi những vật dụng không được phép nhận
và sau đó sám hối vi phạm đó. Nếu ông đã mua thứ gì đó
với vàng, bạc, hay tiền thì những món đồ đã được mua
đó cũng phải bị thu hồi và sau đó phải sám hối việc
vi phạm. Nếu vào lúc xảy ra việc thu hồi một cư sĩ có
mặt ở đó thì được phép giải thích cho người ấy những
gì đã xảy ra. Nếu cư sĩ đó nhận số tiền và nói: ‘Con
nên mua cái gì với số tiền này?’ Khi ấy Tỳ khưu có thể
nói: ‘Món nào đó được phép nhận (sữa trâu, bơ, v.v..)
Ông ta không thể nói: ‘Hãy mua món nào đó.’ Như vậy nếu
cư sĩ mua món nào đó và dâng nó cho Tăng đoàn thì tất cả
các Tỳ khưu, ngoại trừ người đã nhận số tiền đó, có
thể sử dụng nó. Nếu không có cư sĩ hiện diện ở đó
thì Tăng đoàn có thể chỉ định một Tỳ khưu nhận tiền
và ném nó đi.
Đức
Phật đã dạy rằng chẳng có cách nào để một Tỳ khưu
có thể được lợi lạc sau khi nhận tiền hay mua những đồ
vật bằng số tiền đó. Nhưng nếu tiền được thu hồi phù
hợp với những giới luật của Tạng Luật thì những người
khác trong Tăng đoàn có thể được lợi lạc. Nếu những
vật phẩm và tiền không bị thu hồi thì không có Tỳ khưu
hay samanera (Sa di) nào có thể sử dụng những món đó.
Nếu
một Tỳ khưu không thu hồi hay ném bỏ tiền hay những món
đồ được mua bằng tiền đó thì cho dù ông ta sám hối bao
nhiêu lần chăng nữa ông vẫn được coi là đã vi phạm. Như
vậy nếu ông ta nghe trì tụng Giới bổn Tỳ khưu (Giới bổn
Ba-la-đề-mộc-xoa) hay tuyên bố là mình trong sạch thì ông
ta cũng vi phạm việc nói dối có ý thức. Giới bổn Tỳ khưu
nói:
‘Bất
kỳ Tỳ khưu nào được chất vấn ba lần, biết rằng mình
vi phạm nhưng vẫn không bộc lộ điều đó thì đó là một
người nói dối có ý thức. Các Sư, Đức Thế Tôn đã dạy
rằng nói dối có ý thức là một chướng ngại cho việc thành
tựu.’
PHẦN
5. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÂN TIẾN
Có
nhiều phương pháp mà hiện nay các tu sĩ dùng để thâu thập
và sử dụng những ngân quỹ to lớn. Nếu quý vị là một
tu sĩ quý vị sẽ trải qua những phương pháp khác nhau ở
những tu viện khác nhau. Hầu hết những phương pháp này không
tuân theo những thủ tục được sắp xếp trong những bản
văn. Cách tốt nhất là tránh những thực hành đáng ngờ và
không rõ ràng và hãy thực hành phù hợp với những thủ tục
(trình tự) được đưa ra trong các bản văn.
Chẳng
hạn như các bản văn không chỉ cho một tu sĩ cách dạy cho
một người khi họ nỗ lực cúng dường tiền, chỉ bày cho
họ cách cúng dường những vật dụng cần thiết được cho
phép. Các bản văn chỉ dẫn rằng nếu tiền được mang với
ý hướng bất tịnh nhằm cúng dường cho tu sĩ thì tu sĩ đó
không thể chỉ rõ một kappiya (xem ở trên). Tuyệt nhiên không
được phép cúng dường tiền. Tu sĩ không bao giờ được
sở hữu tiền bạc. Tu sĩ không bao giờ có thể cho ý kiến
về việc phải làm gì với số tiền trong một ngân quỹ dành
để mua những vật dụng cần thiết, mà chỉ có thể yêu
cầu những vật dụng ấy. Những vấn đề này thật tế nhị
và hầu hết các tu sĩ không hiểu rõ chúng hoặc bởi thiếu
nghiên cứu, bởi truyền thống, hay do ảnh hưởng vi tế của
việc khao khát một số tiền.
Như
vậy làm thế nào một tu sĩ không nhận tiền có thể có được
những vật dụng cần thiết? Có một vài phương pháp được
Đức Phật cho phép để có được những vật dụng cần thiết.
Cách thức dễ dàng nhất là hỏi một người nào đó ai là
người thân thuộc hay ai đã đưa ra một lời mời các Tỳ
khưu yêu cầu những vật dụng cần thiết. Thường thì một
Tỳ khưu không thể yêu cầu những vật dụng cần thiết từ
một người không đưa ra lời mời và không phải là người
thân thuộc. Làm như thế là cách kiếm sống tà vạy. Tuy nhiên
nếu một Tỳ khưu bị bệnh thì ông ta có thể yêu cầu người
nào đó cung cấp thuốc hay thực phẩm. Cũng thế, nếu những
bộ y hay chén bát của Tỳ khưu bị mất cắp hay bị hư hỏng
thì ông có thể hỏi xin một người khác (Nissaggiya Pacittiya
6 & 21). Một Tỳ khưu cũng có thể yêu cầu nhân công hay
mượn các dụng cụ. Ông có thể yêu cầu người nào đó
lấy nước từ một nguồn nước công cộng chẳng hạn như
một con sông hay một con đập, nhưng ông không thể hỏi xin
nước uống là sở hữu riêng tư của một căn nhà của người
nào đó. Một tu sĩ cũng có thể lấy gỗ, đá, hay những vật
liệu xây dựng từ những vùng đất hoang vu không có người
sở hữu và được pháp luật cho phép.
Trước
khi thọ giới làm một sa di hay tu sĩ, một người có thể
chuẩn bị một ngân quỹ để cung cấp những vật dụng cần
thiết khi ông ta trở thành một tu sĩ hay sa di. Một ngân quỹ
như thế có thể được để lại cho một người thân hay
người bạn và những người này nên được hướng dẫn để
dâng cúng những vật dụng cần thiết cho tu sĩ ấy sau khi
ông đã thọ giới. Tân tu sĩ hay tân sa di có thể yêu cầu
những vật dụng cần thiết từ một người giữ ngân quỹ
nếu họ là một thân nhân ruột thịt, nhưng trước hết tu
sĩ hay sa di cần được cho một lời mời trước khi ông có
thể yêu cầu một người bạn. Điều này nên được giải
thích cho người bạn trước khi thọ giới.
Khi
một người đã được thọ giới xuất gia, nếu người ấy
vẫn còn tiền trong ngân hàng từ khi còn là một cư sĩ, thì
người ấy không thể đảm nhận bất kỳ sự dàn xếp nào
về số tiền ấy vì lợi ích của riêng ông. Ông có thể
để lại số tiền đó trong ngân hàng cho tới khi ông giải
y và không sử dụng số tiền đó trong khi ông thọ giới xuất
gia. Ông có thể tặng số tiền đó cho cha mẹ, những người
thân, hay bạn hữu của ông để họ sử dụng, nhưng không
thể tặng cho bất kỳ tu sĩ, sa di, hay tu viện nào.
Việc
nhận hay sử dụng tiền trợ cấp trong khi đang thọ giới
xuất gia cũng không được cho phép. Những người muốn xuất
gia trong Tăng đoàn nên thực hiện những chuẩn bị thích hợp
liên quan tới tiền trợ cấp của họ trước khi đắp y tu
sĩ.
KẾT
LUẬN
Những
giới luật liên quan tới tiền bạc thật phức tạp khi giải
thích nhưng không khó thực hành; mọi sự một Tỳ khưu cần
làm là từ chối nhận tiền. Đối với những người giữ
những giới luật một cách chân thành thì họ sẽ đạt được
một sự hiểu biết sâu xa về Pháp. Họ sẽ có thể chứng
ngộ những trái quả của Tạng Luật là những gì không tìm
thấy trong chữ nghĩa của các giới luật mà được khám phá
trong trái tim của những người thực hành nó.
OVADA
PATIMOKKHA DHAMMACETI
Nhẫn
nại là thực hành tối thượng,
Chư
Phật nói Niết bàn là Pháp tối thượng,
Kẻ
giết hại người khác không phải là người thực sự lên
đường,
Kẻ
làm hại chúng sinh không phải là một Samana (Sa môn) đích
thực.
Đừng
làm mọi ác hạnh,
Hãy
phát triển những phẩm tính tốt đẹp,
Tịnh
hóa bổn tâm,
Đây
là lời chư Phật dạy.
Đừng
lăng mạ, sỉ nhục hay làm hại người khác,
Hãy
tự chế phù hợp với những giới luật của
Giới
bổn Tỳ khưu,
Ăn
uống điều độ,
Ẩn
dật nơi hẻo lánh,
Và
nỗ lực định tâm,
Đây
là lời chư Phật dạy.
Chú
thích:
(a)
Tooth-woods, tạm dịch: mộc xỉ, một loại cây thời Đức
Phật. Xơ của loại cây này rất mềm, dân Ấn Độ dùng để
nhai mỗi buổi sáng cho sạch và thơm miệng.
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Có
thể đọc bản Anh ngữ “A Life Free From Money” trong:
http://zencomp.com/greatwisdom/ebud/ebsut060.htm
A
Life Free from Money:
Information
about the Money Rules for Buddhist Monks and Nuns
Bhikkhu
Dhamminda
This
manuscript may be reproduced without the permission of the author.
Contents
Part
1 Information For Lay Supporters
Part
2 The Fault In Accepting Money
Part
3 The Rules Concerning Money
Part
4 Forfeiture And Confession
Part
5 Modern Methods
Conclusion
Information
about the Money Rules
This
article was written for the many bhikkhus who have asked me questions about
the money rules found in the Vinaya. Since a newly ordained bhikkhu has
little chance of being able to read the commentaries I have translated
many sections from there. I hope that there is sufficient information in
this article to help bhikkhus to understand how to keep these rules.
Part
1. Information for Lay Supporters
Do
you know that the Buddha did not allow monks and novices to accept money?
You
will certainly have noticed that the vast majority of monks do accept and
use money. This is one of the factors that will lead to the disappearance
of the Buddha´s Teaching. You can help to keep the Buddha´s Teaching
alive by learning how to offer allowable requisites.
In
this section we will list the main points that a layperson should remember
so that a monk (bhikkhu) may obtain requisites without breaking the rules
of Vinaya.
1.
Never offer money to bhikkhus, but only offer allowable requisites such
as robes, medicine, books, or tickets for transport. If you are unsure
as to what a bhikkhu needs then you can ask him, or invite him to ask you
if he needs anything.
2.
A fund for requisites can be left with a kappiya (someone who performs
services for a bhikkhu) and he should be instructed to buy and offer requisites
for a bhikkhu, a group of bhikkhus, or the sangha of a monastery. Do not
ask the bhikkhu, `To whom should this be given to?´ If you ask in this
way then it is not allowable for a bhikkhu to point out a kappiya. Simply
say, `Venerable Sir, I want to offer requisites to you. Who is your kappiya?´
3.
Having instructed the kappiya then inform the bhikkhu by saying, `I have
left a fund for requisites worth `x´ dollars with your kappiya. When you
need requisites ask him and he will offer them to you.´
4.
If you already know who the bhikkhu´s kappiya is then you can simply leave
the fund with the kappiya and inform the bhikkhu as above in no 3.
Please
read the above carefully and take note of what to say. The above procedure
was allowed by the Buddha in what is called the `Mendaka allowance´. It
is found in the Bhesajja Khandhaka of Mahavagga in the Vinaya Pitaka and
the translation of it reads:
Bhikkhus,
there are people of faith and respect and if they should entrust money
in the hands of a kappiya and instruct him saying, `With this money offer
allowable requisites to this Venerable One,´ then bhikkhus I allow you
to accept whatever allowable requisites are obtained with that money, but
bhikkhus, in no way whatsoever do I allow money to be accepted or searched
for.´
Also
a rule called Raja-sikkhapada, the tenth rule of the Kathina Vagga in the
Nissaggiya Pacittiya section of the Patimokkha gives relevant information.
It is translated as follows:
If
a king, a king´s officer, a brahmin, or a layperson should send a messenger
with money in order to buy a robe for a bhikkhu saying, `Having bought
a robe with this money offer it to such and such a bhikkhu,´ and if that
messenger should approach that bhikkhu and say, `Venerable Sir, this money
for buying a robe has been brought here for you. Venerable Sir, please
accept this money for buying a robe.´ Then that bhikkhu should say to
that messenger, `We do not accept money for buying a robe, we accept robes
if they are offered at an appropriate time and if they are allowable.
´
If
then that messenger should ask, `Venerable Sir, is there anyone who performs
services for you?´ Then if that bhikkhu wants a robe he should point out
someone who performs services for him be he a monastery attendant or a
layperson saying, `Such and such performs services for bhikkhus.´
If
that messenger having instructed that person who performs services should
then approach that bhikkhu and say, `That person who you pointed out has
been instructed by me. Venerable Sir, approach him at an appropriate time
and he will offer you a robe.´ Then a bhikkhu who wants a robe having
approached that person who performs services can ask or remind him two
or three times saying, `I need a robe.´
If
having asked or reminded two or three times he obtains that robe then that
is good. If he should not obtain it then he can stand silently for four,
five, or six times in order to obtain that robe. If having stood silently
for four, five, or six times he obtains that robe then that is good. If
he should make any more effort than this and he obtains that robe then
it is a nissaggiya pacittiya offense.
If
he does not obtain that robe then he should go himself or he should send
a messenger to that person who sent that money for buying a robe and say,
`That money for buying a robe for a bhikkhu that you sent has produced
nothing at all for that bhikkhu, try to get your money returned to you
lest your money be lost.´ This is what should be done.
Part
2. The Fault in Accepting Money
Before
he passed away the Buddha said that after his death the sangha, if it wanted
to, could revoke the lesser and minor rules of the Vinaya. Some bhikkhus
quote this as a reason to support their acceptance of money, but the following
quotes from the suttas show that the rules prohibiting money are not lesser
or minor rules. The money rules are shown by these quotes to be fundamental
and essential for the attainment of enlightenment. Maniculaka Sutta (Samyutta
Nikaya, Salayatana Samyutta, Gamani Vagga, sutta no. 10):
At
one time, the Blessed One was living in Rajagaha in the place where squirrels
and birds were fed called Veluvana. At that time in the king´s palace,
the king´s retinue were assembled and whilst assembled this conversation
arose amongst them:
`Gold,
silver, and money are allowable for those monks who are the sons of the
Sakyan prince (the Buddha). Those monks who are the sons of the Sakyan
prince consent to gold, silver, and money. Those monks who are the sons
of the Sakyan prince accept gold, silver, and money.´
Then
at that time Maniculaka the village headman was sitting present in that
assembly and he spoke to that assembly saying:
`Good
sirs, do not say that. Gold, silver, and money are not allowable for those
monks who are sons of the Sakyan prince. Those monks who are the sons of
the Sakyan prince do not consent to gold, silver, or money. Those monks
who are the sons of the Sakyan prince do not accept gold, silver, and money.
Those monks who are the sons of the Sakyan prince have renounced gold and
gems and are without money.´
But
Maniculaka the village headman was unable to convince that assembly.
Then
Maniculaka the village headman went to the Blessed One, and having approached
the Blessed One bowed to him and sat down at one side. While sitting at
one side Maniculaka the village headman said to the Blessed One:
`Venerable
Sir, in the king´s palace the king´s retinue were assembled... (He repeated
all that had been said above.)... But Venerable Sir, I was not able to
convince that assembly.
`Venerable
Sir, by thus explaining am I one who speaks what is said by the Blessed
One or have I falsely misrepresented the Blessed One? Have I answered in
accordance with this Teaching or would someone speaking in accordance with
this Teaching find reason to blame me?´
(The
Blessed One:) `Truly you, headman, by thus explaining are one who speaks
what is said by me and did not falsely misrepresent me. You have answered
in accordance with this Teaching and someone speaking in accordance with
this Teaching would not find reason to blame you.
`For,
headman, gold, silver, and money are not allowable for those monks who
are the sons of the Sakyan prince. Those monks who are the sons of the
Sakyan prince do not consent to gold, silver, or money. Those monks who
are the sons of the Sakyan prince do not accept gold, silver, or money.
Those monks who are the sons of the Sakyan prince have renounced gold and
gems and are without money.
`Headman,
for whoever gold, silver, or money are allowable then for him the five
types of sense pleasure are allowable. For whoever the five types of sense
pleasure are allowable you can be certain, "He does not possess the nature
of a monk, he does not possess the nature of a son of the Sakyan prince."
`Headman,
really I say this, "By a monk who needs grass, grass can be searched for.
For a monk who needs timber, timber can be searched for. For a monk who
needs a cart, a cart can be searched for." But, headman, I also say, "In
no way whatsoever can gold, silver, or money be accepted or searched for."´
The
next quote from the end of Upakkilesa Sutta (Anguttara Nikaya, Book of
Fours, Rohitassa Vagga, sutta no. 10) demonstrates that accepting money
leads to continued rebirth.
`Stained
by lust, anger, and blinded by ignorance
some
monks and brahmins take delight in sense pleasures.
Those
foolish monks and brahmins drink alcohol,
engage
in sexual intercourse,
accept
gold, silver, and money,
and
obtain their requisites by wrong livelihood.
All
of these are called corruptions by the Buddha who shines like the sun.
Those
foolish monks and brahmins who are corrupted by these corruptions,
impure,
and defiled, do not blaze or shine.
But
instead bewildered, blinded, slaves to desire, and full of craving
they
increase the size of cemeteries by taking birth again and again.´
In
these suttas the Buddha has equated the acceptance of money with the indulgence
in sense pleasures. In the Dhammacakkappavattana Sutta the Buddha clearly
instructs:
`These
two extremes, bhikkhus, should not be practised by one who has gone forth.
Which two? Indulgence in sense pleasure which is low, the way of villagers,
the way of ordinary people, the way of the unenlightened, and unprofitable;
and self-mortification which is painful, the way of the unenlightened,
and unprofitable.´
It
is taught that even a layperson who is an anagami (non-returner) keeps
the ten precepts naturally and does not accept or use money. For example
the anagami Ghatikara was without gems, gold, silver, or money, and made
his living by taking earth that had eroded from the river bank and making
it into pots. These pots he left at the side of the road and anyone who
wished could leave a suitable amount of rice or food and take the pots.
In this way Ghatikara supported himself and his blind parents. (See Ghatikara
Sutta of Majjhima Nikaya.)
This
demonstrates how money is an impediment to enlightenment and how the truly
enlightened do not use money. The above quotes all prove that the acceptance
of money by monks is not a small fault, and that it can render a monk incapable
of attaining Nibbana.
Part
3. The Rules concerning Money
The
meaning of `money´ in all these rules is: Anything that is used as currency
for buying and selling. It includes coins, banknotes, cheques, gold, and
silver.
Why
is a cheque unallowable? A cheque is unallowable because sometimes it is
negotiable and also because a cheque is a command to a bank to give money
to the bearer. It usually says something like, `Pay the sum of one hundred
dollars to the bearer, Dhamminda Bhikkhu.´ Therefore a cheque written
out to a monk is a command to give money to that monk and if he accepts
it then he is accepting that money in the bank. It is the same as the third
way of accepting money; `In such and such a place that money, that is mine,
that is for you.´ Therefore a cheque is a way of giving money to a monk
and must be refused.
A monk
who writes a cheque commits an offense for commanding money. If he accepted
the fund in the first place it would be a nissaggiya pacittiya offense
or if the fund was left with a kappiya in a correct way it is a dukkata
offense for wrong arrangement.
A novice
is required to keep ten precepts of which the tenth is to abstain from
accepting gold, silver, and money. In practise this means that a samanera
keeps all the rules connected with money in the same way as a monk does.
For
monks (bhikkhus) there are four major rules concerning money found in the
Vinaya:
1.
Rupiya-sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya, no. 18)
2.
Mendaka-sikkhapada (Vinaya Mahavagga, Bhesajja Khandhaka)
3.
Raja-sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya, no.10)
4.
Rupiya-samvohara-sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya, no. 19)
The
translations of 2 & 3 have already been given above and the translations
of 1 & 4 are as follows:
1.
Rupiya-sikkhapada
Whatever
bhikkhu should himself accept money or cause another to accept it for him,
or consent to having it placed near him or kept for him, has committed
a nissaggiya pacittiya offense.
4.
Rupiya-samvohara-sikkhapada
Whatever
bhikkhu should engage in the exchange of any of the various forms of gold,
silver, or money has committed a nissaggiya pacittiya offense.
Rupiya-sikkhapada
needs to be thoroughly understood because if this rule is kept properly
a monk will not misinterpret the other rules concerning money. It prohibits
a monk form doing three things:
a.
Accepting money himself.
b.
Causing another to accept money for him.
c.
Consenting to having money placed near him or kept for him.
The
original Pali text defines these three as:
a.
sayam ganhati - He takes it himself.
b.
aññam gahapeti - He causes another to take it for him.
c.
idam ayassa hotu ti upanikkhittam sadiyati - They say, `This is for you
Venerable Sir,´ and he consents to their placing it near him.
Kankhavitarani
commentary explains the above three ways of accepting in this way:
1.
He takes money himself when it is offered for him, or he takes it himself
when he has found it in any place and it does not belong to anyone.
2.
In these same instances (when it is offered for him or he has found it)
he causes another to take it (for him).
3.
If with the money in his presence they say, `This is for you,´ or when
the money is kept somewhere else they say, `In such and such a place that
money, that is mine, that is for you.´ Then if they communicate that donation
by simply speech or hand signals and that monk does not refuse that by
bodily sign or speech and accepts it mentally then that is called `consenting.´
If he consents mentally and desires to accept, but by body or speech he
refuses saying, `This is not allowable,´ or if he does not refuse by body
or speech but with a pure mind does not consent thinking, `This is not
allowable for us,´ then that is allowable (not called consenting).
With
this rule, the Buddha has prohibited all the possible ways in which money
could be accepted. If someone tries to offer money to a monk in any of
these three ways he cannot say: `Such and such is my kappiya. Give this
money to my kappiya. Take this money for me. Put the money over there.´
All he can do is refuse to accept that money by saying, `This is not allowable.´
Refusal is the only action he needs to remember to do.
The
Samantapasadika commentary explains that it is not only unallowable to
accept money in one of these three ways for oneself, but also if the money
is for the sangha, a group, another person, a pagoda, a monastery, or for
anything else. If a monk accepts money in one of these three ways for himself
it is a nissaggiya pacittiya offense. If he accepts for the others just
mentioned it is a dukkata offense.
There
is a recently written book on Vinaya which presents a mistaken viewpoint.
It says:
One
is allowed to `cause to be deposited´ money for a monastery, for a fund
for requisites, for a charitable appeal (orphanage fund say), but not for
any particular monk. For example a donor giving money to the temple may
be instructed to, `Put it in the donation box´, or `Put it in this account
number´, though such money may not be received into a monk´s hands. The
sangha, or its appointed officers may direct the use of such a fund, even
saying, `Buy this,´ or `Get that.´
It
has been shown above that it is not allowable to cause to be accepted or
deposited, money for a temple or for anything else. This viewpoint therefore
is not in agreement with the Vinaya.
The
commentary illustrates the principles involved in these rules with a fictitious
story. It deals with a situation in which the donor ignores the refusal
of the monk and simply leaves the money in front of the monk and departs.
It shows that:
1.
If a monk says, `Keep it here,´ it would be a nissaggiya offense for accepting.
2.
If the monk wishes to buy something and says, `Take this,´ it would be
arranging in an unallowable way. (If the fund were allowable).
3.
This rule is like walking a tightrope with only a slip of the tongue being
necessary to fall into committing an offense.
The
story reads:
Suppose
that a person should place a hundred or a thousand coins at a bhikkhus
feet and say, `This is for you,´ and the bhikkhu refuses it saying, `This
is not allowable,´ but the layperson replies, `I have given this to you,´
and then departs.
Then
if another layperson comes and asks, `Venerable Sir, what is this?´ Then
he can be told what was said by the first person and by the bhikkhu. If
that layperson should say, `Venerable Sir, let me keep it secure, show
me a secure place.´ Then having ascended a seven storied mansion he can
explain, `This place is secure,´ but he should not say, `Keep it here.´
By saying just this much it becomes allowable or unallowable. (Vimativinodana
sub-commentary states: If he says, `Keep it here,´ that is accepting money
and a nissaggiya pacittiya offense.) He can then close the door and protect
it.
If
later a salesman comes with merchandise such as a bowl or robes and says,
`Take this Venerable Sir,´ then the bhikkhu can say, `Layperson I have
need for this and the means to obtain it exists, but there is no kappiya
here now.´ And if the salesman says, `I will be your kappiya, open the
door and give it to me.´ Then having opened the door he should say, `It
is placed in this room.´ He should not say, `Take this.´ Thus depending
on what is said does it become allowable or unallowable. Then if that salesman
should take those coins and give allowable requisites to the bhikkhu then
that is allowable. If he takes too many coins then that bhikkhu should
say, `I will not take your merchandise, go away!´
2.
Mendaka-sikkhapada
A translation
of this was given above. There is no separate information to this allowance
in the commentaries. Everything that needs to be said about it is explained
in the commentary to Raja-sikkhapada. The last line of this allowance is
worth remembering as a summary of all the rules concerning money: `Bhikkhus,
in no way whatsoever do I allow money to be accepted or searched for.´
3.
Raja-sikkhapada
A translation
of this was given above. The commentary to this rule gives a lot of information
which helps a monk to know what to say and do in different situations.
Below are some translations of selected quotes from the commentaries along
with some further explanations by the author.
Selections
from Kankhavitarani Commentary
1.
`Having bought a robe with this money, offer it to such and such a bhikkhu´,
is said (in the rule) to show the purity of intention with which the money
is sent. If the donor sends the messenger saying, `Give this money to such
and such a bhikkhu,´ then that is sent impurely because of reference to
money which is unallowable. In that case a bhikkhu should never point out
a person as a kappiya.
If
the donor himself comes and says, `I offer this money to you,´ then a
bhikkhu cannot point out a kappiya. If a bhikkhu just says, `Such and such
is my kappiya,´ at this point it would be causing money to be accepted
for him and a nissaggiya pacittiya offense. All a bhikkhu can do in this
case is refuse to accept the money.
2.
`We do not accept money for buying a robe, we accept robes if they are
offered at an appropriate time and if they are allowable,´ has been said
to show that the money must be refused because, even though the fund for
a robe was sent in a pure way, the speech of the messenger is unallowable.
(`Please accept this money for buying a robe.´)
A fund
of gold, silver, coins, or currency is a cause for a nissaggiya pacittiya
offense. Pearls, gems, rubies, precious stones, the seven types of grains,
female slaves, male slaves, paddy fields, cultivated fields, orchards,
or flower gardens are called things which are the cause for a dukkata offense.
It is not allowed to accept any of these for oneself, a pagoda, the sangha,
a group, or another person.
Here
and elsewhere throughout the commentaries `to accept´ means to accept
in any one of the three ways mentioned in Rupiya-sikkhapada.
3.
If the messenger asks in an allowable way saying, `Venerable Sir, is there
anyone who performs services for you?´ Then it is permitted to point someone
out. If however the messenger asks, `Who will take this?´ or `Who should
I give this to?´ then it is not allowable to point out anyone as a kappiya.
If
the bhikkhu points out a kappiya when the layman asks in the wrong way
it will be a nissaggiya pacittiya offense for causing another to accept
the money for him.
4.
`Such and such performs services for bhikkhus´, is said to show the allowable
way of speech for a bhikkhu. He can only say it in this way and should
not say, `Give it to him. He will keep it. He will exchange it. He will
purchase it.´
If
the layperson asks in the allowable way the bhikkhu can point out a kappiya
only in the allowable way. If he points out in the wrong way it will be
a nissaggiya pacittiya offense.
5.
`That person who you pointed out has been instructed by me. Venerable Sir,
approach him at an appropriate time and he will offer you a robe,´ means:
that person has been commanded by me when the need for a robe arises for
you he will offer you a robe. If the messenger really says this then, after
being informed like this, it is allowable to ask for a robe. It is not
allowable to ask if he merely goes and gives the fund for a robe into the
hands of a kappiya.
It
would be wrong-livelihood to ask for a robe from someone who had not given
an invitation to ask.
6.
If a bhikkhu says, `This is a person who performs services for bhikkhus,´
pointing out a person who is present at that time. Then if the messenger
in the presence of the bhikkhu gives the fund into the hands of that person
saying, `Having bought a robe for this Thera offer it to him,´ and then
he leaves. Then even without being told, `... has been instructed by me...´
it is allowable for the bhikkhu to ask for a robe.
If
the messenger as he is about to leave should say to the bhikkhu, `I will
give this into his hands, you take a robe,´ and if then he leaves or if
he sends another person to inform the bhikkhu then in either of these cases
it is allowable to ask for a robe. Even though this rule only mentions
a `messenger´ if the donor himself were to bring the fund then the procedure
is the same and the distinctions are the same as just mentioned above.
7.
`I need a robe,´ shows the correct way for asking for the robe. It is
allowable to say anything of the same meaning using any language whatsoever.
It is never allowable to say, `Give me a robe, Bring me a robe, Purchase
me a robe, Buy me a robe.´
Selections
from Samantapasadika Commentary
1.
Not only is it unallowable to accept money for oneself, but it is also
unallowable to accept money if it is brought by the donor and he says,
`This I offer to the sangha. Make a park, pagoda, eating hall or anything
whatsoever.´ Whoever accepts money for any other person has committed
a dukkata offense according to Mahapaccariya commentary. (An old commentary
no longer extant.)
2.
If a bhikkhu refuses to accept money saying, `It is not allowable for bhikkhus
to accept this.´ Then if the donor says, `I will place this in the hands
of a carpenter or workman. You simply watch them to see that their work
is done properly.´ Then if he gives the money into their hands and leaves
then that is allowable. If he says, `I will place this in the hands of
my man or I will keep it myself. Whatever you want to be given to whomever
send them to me to obtain it.´ This is also allowable.
3.
If without referring to the sangha, a group, or an individual they simply
say, `We give this gold, silver, or money for the pagoda, for the monastery,
for new work,´ then it is not allowed to refuse that. The bhikkhu should
inform his kappiya saying, `This is what they said.´ If however they should
say, `We offer this for the benefit of the pagoda, monastery, new work,
you take this and keep it.´ Then the bhikkhu must refuse it saying, `It
is not allowable for us to take this.´
In
the first case the bhikkhu does not have to refuse because he is not being
asked to accept the money. He cannot do anything except to tell his kappiya
what they said. He cannot accept that money.
4.
If a person should bring a large amount of gold, silver, or money and say,
`This I offer to the sangha, Venerable Sirs, use the four requisites obtained
from this.´ Then if that sangha should accept that then that acceptance
is an offense and using the requisites obtained with it is also an offense.
If
at that time when it is offered to the sangha one bhikkhu refuses it by
saying, `This is not allowable,´ and that layperson goes away saying,
`If this is not allowable then I will keep it.´ Then those other bhikkhus
should not say to that bhikkhu, `You have obstructed the gains of the sangha,´
or anything else to that effect. For whoever says such a thing to him has
committed an offense (dukkata) because by refusing that single bhikkhu
has saved many from committing an offense.
If
those bhikkhus refuse the money saying, `It is not allowable,´ and the
layperson then says, `I will give this into the hands of a kappiya or to
my man or keep it myself. You just accept and use the requisites obtained
with it.´ That is allowable.
The
commentary explains that the method shown in this rule does not need to
be practised with all kappiyas. It explains that there are ten types and
two classes of kappiyas. The details are as follows:
5.
If a certain person sends a messenger with a fund for buying a robe for
a bhikkhu and that messenger having approached that bhikkhu should say,
`Venerable Sir, such and such a person has sent this money to buy a robe
for you. Take this money.´ Then that bhikkhu must refuse saying, `This
is not allowable.´ If the messenger then asks, `Venerable Sir, do you
have anyone who performs services for you?´ Then if there is such a person
whether he has been instructed by a layperson saying, `You perform services
for these bhikkhus,´ or if he is just a friend or associate of that bhikkhu
and performs services for him. Then if at that moment that person is sitting
in the presence of that bhikkhu and he points him out saying, `This is
a person who performs services for bhikkhus.´ Then if the messenger should
give that fund into the hands of that person and say, `Having bought a
robe give it to this Thera,´ and then he leaves. Then this is called pointed
out by the bhikkhu in his presence. (1)
However
if that person is not sitting in the presence of that bhikkhu at that time
and the bhikkhu points him out saying, `In such and such a village a person
called such and such performs services for bhikkhus.´ Then if that messenger
having gone there should give the fund into that person´s hands saying,
`Having bought a robe give it to this Thera,´ and then should return to
the bhikkhu and inform him of this before leaving. Then this is called
pointed out by the bhikkhu not in his presence. (2)
If
however the messenger does not return himself to inform the bhikkhu, but
sends another person to inform him saying, `Venerable Sir, the fund for
a robe was given by us into the hands of that person. You take a robe.´
Then this is called a second type pointed out by the bhikkhu not in his
presence. (3)
If
however the messenger does not send someone like this, but instead before
going says to the bhikkhu, `Venerable Sir, I will give the fund for a robe
to that person, you take a robe.´ Then this is a third type pointed out
by a bhikkhu not in his presence. (4)
Thus
there are four kappiyas pointed out by a bhikkhu, one pointed out by a
bhikkhu in his presence and three pointed out by a bhikkhu not in his presence.
In all of these four instances a bhikkhu should practise in exactly the
same way as stated in the rule of Raja-sikkhapada. .
If
the bhikkhu has been asked by the messenger in the same way as previously
stated above and if the bhikkhu because of either having no kappiya or
no desire to make such arrangements should say, `I do not have a kappiya.´
Then if at that time a person arrives and the messenger gives that fund
into that person´s hands and leaves after having said, `Take a robe from
the hands of this person.´ Then this is called pointed out by the messenger
in the presence of the bhikkhu. (1)
In
another case the messenger enters into the village himself and selects
a person and gives the fund into the hands of that person. Then in the
same ways as was previously stated either returns and informs the bhikkhu,
sends another to inform him, or before going says, `I will give this fund
into the hands of a person named such and such, you take a robe,´ and
then leaves. These three cases are called pointed out by the messenger
not in the presence of the bhikkhu. (2, 3 & 4)
These
four together are called kappiyas pointed out by the messenger. In these
four cases a bhikkhu should practise in exactly the same way as is said
in Mendaka allowance which says:
Bhikkhus,
there are people of faith and respect and if they should entrust money
in the hands of a kappiya and instruct him saying, `With this money offer
allowable requisites to this Venerable One,´ then bhikkhus I allow you
to accept whatever allowable requisites are obtained with that money, but
bhikkhus, in no way whatsoever do I allow money to be accepted or searched
for.´
According
to this allowance there is no limit to the number of times a bhikkhu can
ask. A bhikkhu, who has not consented to the acceptance of the fund, even
if he asked or stood for a thousand times is allowed to accept the allowable
requisites obtained. If they do not give anything, then having appointed
another person as his kappiya he should cause that person to bring the
requisites. [A bhikkhu is not allowed to cause the money to be transferred
from one kappiya to another. He should say to the new kappiya, `Someone
has left a fund for robes with such and such and I need a robe.´] If he
wishes to he can inform the original donor, but he does not have to if
he does not wish to.
If
the bhikkhu has been asked by the messenger in the same way as stated above
and the bhikkhu replies, `I do not have a kappiya.´ Then if a certain
person present at that time should hear that and say, `Friend bring that
here, I will buy a robe for the Venerable One and give it to him.´ Then
if that messenger should say, `Well then friend you give it,´ and having
given that fund into that persons hands and without informing the bhikkhu
should leave (without telling the bhikkhu that he should take a robe from
that person). This is called becoming a kappiya by ones own mouth.
In
another case if the messenger should simply give the fund to any person
and tell him, `You give a robe to the Venerable One,´ and then leave.
Then this is called becoming a kappiya by the mouth of another.
These
last two types are called kappiyas which are not pointed out. In these
cases a bhikkhu should practise in the same way as if they were people
who are not relatives or who have not given an invitation to ask for requisites.
If they of their own accord bring a robe and offer it then it can be accepted.
If they don´t he should not say anything.
Even
though in the rule only a messenger brings the fund, if the donor brings
it himself or it is a fund for food or something else the procedure is
the same as above.
4.
Rupiya-samvohara-sikkhapada
Whatever
bhikkhu should engage in the exchange of any of the various forms of gold,
silver, or money has committed a nissaggiya pacittiya offense.
Rupiya-samvohara-sikkhapada
prohibited the accepting of gold, silver, or money. This rule prohibits
the exchange of gold, silver, and money for other things made of gold or
silver (such as jewellery), or for allowable goods (such as robes, bowls,
or other requisites). This rule also prohibits the exchange of allowable
requisites, or things made of gold or silver, for gold, silver, or money.
The
Samantapasadika commentary gives an explanation by way of an example called
`the four unallowable bowls.´ It reads:
In
order to show the great fault in breaking this rule the four unallowable
bowls should be explained: If a bhikkhu having accepted money buys iron
ore and has it smelted into iron and then made into an alms-bowl. Then
this bowl is called a `great unallowable bowl´ because there is no way
whatsoever by which it can be made allowable. If that bowl is broken up
and made into cups they would also be unallowable. If it is made into a
knife then tooth-woods made with that knife would be unallowable. If it
is made into fish hooks then even the fish caught on them would be unallowable.
If he were to heat the blade of a knife made from it and dip it into water
or milk and warm them then that water or milk would be unallowable.
If
a bhikkhu having accepted money buys a ready-made bowl then that bowl is
unallowable. It is said in Mahapaccariya Commentary that, `That bowl is
unallowable to any bhikkhu, bhikkhuni, samanera, samaneri, or sikkhamana.´
This bowl can be made allowable again. If he returns it to where he bought
it, takes back his money, and gives back the bowl, then it becomes allowable.
If then it is obtained in an allowable way it is allowable to use it.
If
a bhikkhu having accepted money goes to a bowl shop with his kappiya and
having seen a bowl he says, `I like this one,´ and that kappiya gives
the money and arranges with the shopkeeper to buy the bowl. Then even though
that bowl was obtained by allowable speech it is still unallowable because
of the original acceptance of the money. It is no different from the second
example. Why are they unallowable for other bhikkhus also? It is because
the original money was not forfeited (in accordance with Vinaya in the
midst of the sangha).
If
a bhikkhu has not accepted the money and a kappiya is sent having been
instructed saying, `Having bought a bowl give it to the Thera.´ Then if
the kappiya and bhikkhu go toge |