Jetsunma
Ahkon Lhamo, Giám Đốc Tâm linh của Kunzang Palyul Choling (KPC).
Jetsunma là phụ nữ Tây phương đầu tiên được His Holiness
Penor Rinpoche chính thức công nhận là một Lạt Ma Hoá Thân
hay Tulku trong Truyền thống Phật Giáo Tây Tạng. (1)
Một
trong những mẩu thông tin đã xuất hiện trong tiến trình thời
gian là sự hiện hữu luân hồi đó chỉ là thế – nó chuyển
động theo những chu kỳ. Có một chu kỳ trong đó Đức Phật
xuất hiện trước tiên, chu kỳ đó rất rộng mở. Trong một
thời đại như thế, ở một vài phương diện nào đó thì
cuộc đời rất đơn giản và thật dễ dàng, đặc biệt là
để đạt được Giác ngộ. Cơ cấu của dòng tâm thức của
chúng ta khoáng đạt hơn nhiều do bởi công hạnh của sự
xuất hiện của Đức Phật.
Sau
đó là một thời đại trung gian khi Đức Phật đã nhập Niết
Bàn, Giáo Pháp rất hưng thịnh và được tiếp tục bởi những
vị có thể nhớ lại những giáo lý, đã thuộc lòng và có
thể lập lại nguyên văn giáo lý. Giáo lý được giảng dạy
trong một dòng truyền thừa không đứt đoạn bởi những vị
từng thực hành Pháp và đã thành tựu một số kết quả,
nhưng không có trí nhớ chính xác của những bậc đã thực
sự nhìn thấy Đức Phật lịch sử, hay thậm chí nhìn thấy
những đệ tử của Đức Phật.
Giờ
đây ta nhận thấy mình trong một thời đại được coi là
thời đại suy thoái. Cơ cấu của những mối quan hệ nhân
và quả, nó bao gồm chính cơ cấu của dòng tâm thức của
riêng ta, bị thu hẹp tột bực. Giờ đây việc thành tựu
sự chứng ngộ còn khó khăn hơn nữa. Ta phải làm việc hết
sức cực nhọc trong thời đại này. Ta phải thọ nhận những
giáo lý, tích lũy nhiều lần trì tụng thần chú và lời cầu
nguyện, và thành tựu puja. Ta phải thực hành lòng sùng mộ
tới mức độ cao nhất, và thành tựu Bồ Đề tâm, lòng Bi
mẫn Vĩ đại. Ta phải từ bỏ đời sống bình thường, là
một nhàsư hay ni cô, hay trong một cách thế sâu xa hơn tận
đáy lòng, kiên cố và bất thối chuyển trong tâm thức.
Mặc
dù giờ đây có khó khăn, nhưng ở một mặt khác thì sự
Giác ngộ có thể được thành tựu còn rõ ràng và chắc chắn
hơn trước nữa, bởi trong thời đại của sự suy thoái này
khi nội dung của dòng tâm thức của ta bị cô đọng và thu
hẹp tới tột độ, nghiệp thực sự chín mùi thật nhanh chóng.
Bạn có thể ý thức điều đó. Nếu bạn tốt lành và từ
ái và nếu bạn thực hành Bồ Đề tâm đối với chúng sinh,
những điều đó sẽ làm bạn hạnh phúc. Và ngược lại,
nếu bạn không tốt, ích kỷ, sân hận, thì những điều đó
sẽ quay trở lại với bạn tức thì. Không phải là điều
này đã xảy ra cho bạn sao? Bạn có thể đối xử thật tệ
hại với ai đó, và trong ngày hôm ấy bạn có thể thấy nó
trở lại ngay trên mặt bạn. Cái mũi của bạn phản ảnh
điều đó.
Tin
tức tốt lành trong việc này là sự lợi lạc của việc thực
hành cũng trở lại nhanh chóng hơn nhiều. Nếu ta thực hành
thực sự tập trung và với lòng sùng mộ nhiệt tâm (ở đây
lòng sùng mộ là điều then chốt), thì ta có thể hưởng được
kết quả của việc thực hành của ta. Nếu điều đó không
xảy ra trong đời ta thì vào lúc chết, khi Phật Tánh tự hiển
lộ với chúng ta lúc các yếu tố (các đại) tan rã, ta sẽ
nhận thức rằng Phật Tánh là sự phô diễn của Bổn Tôn
và nhận ra Bản Tánh đó một cách tương ứng. Khi đã nhận
ra Bản Tánh đó, ta sẽ giác ngộ.
Truyền
thống ta thực hành ở đây được gọi là Kim Cương thừa.
Loại giáo lý đặc biệt này mang lại lợi lạc vô cùng to
lớn cho những người được sinh trong thời đại suy thoái
này. Người ta nói rằng Kim Cương thừa thì như thể ngọn
nến đốt cả hai đầu. Chẳng hạn như khi ta thực hành giai
đoạn phát triển, ta không dập tắt sự thôi thúc coi ta là
một “bản ngã” mà đúng hơn, ta sử dụng khuynh hướng
đó. Có một năng lực được liên kết với sự bám chấp
vào bản thân ta như một bản ngã rất giống một sợi dây
cao su. Bạn có thể cố nghĩ về một điều gì khác, nhưng
dù bạn kéo dài nó tới đâu thì nó sẽ luôn luôn trở lại
hình dạng ban đầu của nó. Sự thôi thúc coi bản ngã như
có thực một cách bẩm sinh thì tương tự như năng lực khiến
cho một sợi dây cao su biến dạng; ta có năng lực đó theo
bản năng trong tâm thức.
Kim
Cương thừa thực sự sử dụng khuynh hướng đó trong việc
thực hành giai đoạn phát triển. Ở giai đoạn đó ta thiền
định về tánh Không, về trạng thái nguyên sơ tự nhiên không
giả tạo của tánh Không. Ta xem xét rằng mọi yếu tố của
các hiện tượng thuộc phạm vi của sự nhận thức đột
nhiên biến thành yếu tố tự nhiên của chúng: sự chói sáng
nguyên sơ.
Khi
thiền định về Tánh Không hay Shunyata, khi ấy ta phát triển
Bổn Tôn sử dụng cùng một năng lực đó khiến chúng ta xem
xét bản ngã. Khi phát triển bản thân ta là Bổn Tôn, ta phát
triển sự phô diễn thuần tịnh sở hữu mọi phẩm tính thanh
tịnh của Bổn Tôn. Phát khởi từ tánh Không, ta phát triển
Bản tánh Nguyên sơ theo cách nó là một sự vật thuộc phạm
vi hiện tượng, một sự phô diễn. Điều đó đôi mắt và
ý thức của ta có thể nhìn thấy. Chúng ta sử dụng chính
năng lực đã làm ta bám chấp vào một cái ngã để thành
tựu sự chứng ngộ. Kim Cương thừa có phẩm tính độc nhất
vô nhị đó. Bạn có thể thấy làm thế nào đốt cây nến
cả hai đầu? Ta sử dụng những gì ta có – ngọn lửa đó,
sự đam mê đó, ngay cả sự tham muốn, để thành tựu Bản
tánh Trí tuệ Nguyên sơ.
Trong
thời đại suy thoái này, tôi được dạy rằng sẽ tới một
lúc không giáo lý nào trong thế giới này có thể đưa chúng
ta tới Giác ngộ. Sẽ không có con đường, không có các Bồ
Tát hóa thân, và Đức Phật sẽ không hiện diện trong thế
gian này. Đó sẽ là một thời đại của bóng tối và những
cuộc chiến tranh khủng khiếp. Và cuối cùng sẽ là một thời
đại của đêm tối, của sự tăm tối. Ngay sau thời đại
đó vị Phật kế tiếp sẽ lại xuất hiện.
Giờ
đây trong khi những sự việc đang trở nên tối tăm hơn và
cô đọng hơn, ta vẫn còn một phát đạn. Những sự việc
đang sẵn sàng đến nỗi nếu ta thành tâm thực hành một
kỹ thuật có thể dẫn dắt tới sự Giác ngộ và đã từng
liên tục đưa những người khác tới Giác ngộ, nếu ta thực
hành nó với sự chú tâm, lòng sùng mộ, và niềm tin nồng
nhiệt ở một phương pháp nguyên sơ, thì ta có thể thành
tựu kết quả tốt lành – sự chứng ngộ ngay trong tiến
trình của cuộc đời này, hay trong Bardo, hoặc một sự tái
sinh tốt đẹp để thực hành một cách thuần tịnh và toàn
hảo.
Thật
kỳ diệu biết bao khi có được mọi sự sẵn sàng: việc
đến với con đường, có một vị Thầy mà bạn có thể gắn
bó, một vị Thầy có thể ban cho bạn con đường và cung cấp
những yếu tố cần thiết của con đường và những sự ban
phước của nó; có một con đường có thể mang lại kết
quả tốt lành. Chúng ta sẽ hoàn toàn là những kẻ điên khùng
nếu không tận dụng được cơ hội. Vào lúc này khi hầu
như đã quá trễ, đây là thời đại mà chúng ta nên nắm
bắt cơ hội. Không lúc nào tốt hơn lúc này, đặc biệt là
để gặp được con đường Kim Cương thừa này là con đường
có một vài yếu tố đặc biệt có giá trị cho thời đại
này.
Trong
đời bạn, đã bao nhiêu lần bạn nhận ra mình bị đối mặt
với bữa tiệc thịnh soạn nào đó và bạn giữ thái độ
của một nông dân chỉ dùng những vụn bánh của bữa tiệc
ấy? Bạn đã mất cơ hội bởi bạn không biết làm thế nào
để nắm lấy. Bạn nhận ra mình lưỡng lự, nhảy nhót ở
bên lề.
Đó
không phải là điều đang xảy ra sao? Chẳng phải là chúng
ta đang ở giữa một bữa tiệc thịnh soạn, đang nắm giữ
một viên ngọc quý báu mà phải trải qua vô tận cuộc đời
mới tìm thấy nó, và ta hoàn toàn không biết phải làm gì
hay sao? Cách này hay cách khác, ta cứ mải ngó quanh. Ta không
thể tự cứu giúp mình.
Vì
thế hãy nắm lấy nó, sử dụng nó. Bạn đang đứng ở ngưỡng
cửa của sự giải thoát, đang nhìn ngắm tâm đích thực của
sự giải thoát, khuôn mặt của Guru Rinpoche. Mỗi ngày Guru
Rinpoche đang chạm vào đời bạn; Đức Phật đang chạm vào
cuộc đời bạn. Bản tánh đó được tiết lộ cho bạn, nhưng
bạn không thể nhận ra nó bởi bạn có tập quán là hành
khất trong một bữa tiệc. Giờ đây bạn phải thôi làm điều
đó. Hãy ngồi vào bàn như vị vua hay hoàng hậu mà bạn vốn
là và thưởng thức bữa tiệc. Không điều gì nhận được
tốt hơn hay dễ dàng hơn điều này. Hãy tận dụng nó.
Khi
tôi nói điều như thế này với bạn chính là bởi sự quan
tâm tới hạnh phúc của chúng sinh, và tới bạn. Hãy thành
tựu lòng bi mẫn bằng cách trở thành chư vị Bồ Tát hay
chư Phật để bạn có thể liên tục quay trở lại cõi sinh
tử này vì những người khác. Tôi và những Lạt Ma khác không
thể tìm ra phương cách để nói với những người không có
nghiệp nghe về Con Đường. Nhưng một ngày nào đó bạn sẽ
có thể. Trong một đời tương lai nào đó những người mà
bạn có duyên nghiệp với họ sẽ xuất hiện và bạn sẽ
là niềm hy vọng duy nhất của họ. Họ sẽ đặt những hy
vọng ở bạn. Bạn sẽ sẵn sàng, hay bạn sẽ bỏ lỡ cơ
hội? Tôi đang nỗ lực để làm cho bạn nghe điều này vì
họ. Giờ đây hãy bắt đầu trước khi quá muộn./.
Jetsunma
Ahkon Lhamo
Nguyên
tác: “Vajrayana’s Final Hour
A
Teaching from Jetsunma Ahkon Lhamo”
http://tara.org/Teachings/Vajrayana_s_Final_Hour.pdf
Bản
dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Chú
thích:
(1)
Jetsunma Ahkon Lhamo là phụ nữ Tây phương đầu tiên được
công nhận là Đạo sư Hoá Thân hay Tulku của Phật Giáo Tây
Tạng. Sinh tại Brooklyn, New York, được kế thừa truyền thống
Ý và Do Thái, lòng bi mẫn và khát khao chấm dứt nỗi khổ
của thế giới đã được biểu lộ thật rõ ràng trong con
người bà từ thủa thiếu thời.
Jetsunma
bắt đầu giảng dạy năm 1981, quy tụ những đệ tử ước
muốn tìm ra một con đường thoát khỏi đau khổ và vô minh.
Năm 1985, His Holiness Pedma Norbu (Penor) Rinpoche - hiện là Vị
Lãnh đạo Tối cao của phái Nyingma, dòng truyền thừa cổ
xưa nhất của Phật Giáo Tây Tạng, cũng là vị trì giữ ngai
tòa của hệ thống tu viện Palyul rộng lớn - viếng thăm trung
tâm của bà trong lần đầu tiên Ngài du hành tới Châu Mỹ.
His Holiness đã tỉ mỉ hỏi bà về căn bản và những phương
pháp giảng dạy của bà. Cuối cùng, His Holiness đã tuyên bố
rằng bà đang giảng dạy những giáo huấn Đại thừa thuần
túy. Ngài ban cho những đệ tử của Jetsunma sự quy y và những
giới nguyện Bồ Tát theo truyền thống Phật Giáo và tiên
đoán rằng trung tâm của bà sẽ phát triển mạnh mẽ.
Cũng
trong năm này trung tâm của Jetsunma bắt đầu khóa tỉnh thức
cầu nguyện 24 giờ một ngày không ngừng nghỉ được tiếp
tục cho tới ngày nay (tháng 4 năm 1999 đánh dấu kỷ niệm
14 năm).
Năm
1987, Jetsunma du hành tới tu viện của His Holiness Penor Rinpoche
ở Bylakuppe, Ấn Độ, ở đó Ngài và His Holiness Dilgo Khyentse
quá cố chính thức công nhận bà là Hóa Thân của Genyenma
Ahkon Lhamo, một vị thánh Tây Tạng vào thế kỷ 17. Genyenma
Ahkon Lhamo đã có công xây dựng tu viện Palyul nguyên thủy
ở đó anh ngài, Vidyadhara Kunzang Sherab là vị trì giữ ngai
tòa đầu tiên. Trong hầu hết đời mình, Genyenma Ahkon Lhamo
đã sống và thực hành trong một hang động phía trên Palyul,
là nơi đã trở thành một địa điểm cho những cuộc hành
hương. Những dấu hiệu kỳ diệu xuất hiện vào lúc ngài
mất, kể cả sự phát sinh xá lợi linh thiêng nhất tại Palyul.
Trong đời này, Penor Rinpoche đã cầu nguyện xá lợi này để
Ngài có thể tìm thấy Hóa Thân của Genyenma Ahkon Lhamo. Một
phần của xá lợi còn tồn tại sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa
của Cộng Sản Trung Hoa, và His Holiness đã tặng nó cho Jetsunma
năm 1988 vào lễ đăng quang chính thức của bà. Hiện nay nó
được cất giữ tại chùa Poolesville. Trong dịp đăng quang
của Jetsunma, His Holiness cũng tuyên bố trung tâm Poolesville là
trụ xứ của dòng Palyul ở Tây phương và đặt tên cho nó
là Kunzang Odsal Palyul Changchub Choling (Lục địa Pháp Toàn Giác
của Tịnh Quang Tuyệt đối).
Năm
1994, Jetsunma được công nhận thêm là Hóa Thân của Lhacham
Mandarawa (một Hóa Thân của Đức Tara Trắng). Mandarawa là phối
ngẫu tâm linh Ấn Độ của Đức Padmasambhava (Liên Hoa Sanh),
Đạo Sư Kim Cương thừa thành lập Phật Giáo ở Tây Tạng.
Một quyển tiểu sử 38 chương của Mandarawa do các đệ tử
của bà dịch thuật chẳng bao lâu nữa sẽ được xuất bản.
Sự công nhận này cũng đưa tới một chuyến hành hương quan
trọng tới Ấn Độ và Nepal được thực hiện vào tháng Ba
năm 1996. Trong chuyến đi này, Jetsunma và 25 đệ tử của bà
viếng thăm những thánh địa được gắn liền với Mandarawa
và Đức Padmasambhava. Một đoàn làm phim tài liệu chuyên nghiệp
làm việc trong một chương trình về Phật Giáo tại Tây phương
đã ghi lại chuyến hành hương này. Cũng theo cách đó, Jetsunma
cũng nổi bật trong quyển “Tái sinh ở Tây phương,” của
Vickie MacKenzie, một công trình nghiên cứu về những Tulku ở
Châu Mỹ và Châu Âu.
Tại
trung tâm KPC (Kunzang Palyul Choling), Jetsunma đã duy trì một thời
khóa biểu nghiêm nhặt trong việc giảng dạy và hướng dẫn
những cuộc nhập thất, luôn luôn nhấn mạnh rằng cần phải
phát triển lòng bi mẫn và nội quán phi thường vào chân tánh
của các hiện tượng. Các đệ tử của bàhiện lên tới
vài trăm người, bao gồm 34 vị thọ giới xuất gia (tăng và
ni) theo truyền thống, một trong những nhóm lớn nhất ở Bắc
Mỹ. Bà đã đứng ra tổ chức những buổi giảng dạy rộng
rãi của các Lạt Ma Nyingma vĩ đại nhất còn sống, bao gồm
việc Penor Rinpoche ban giảng toàn bộ các khóa Rinchen Terdzod
và Nam Cho. Jetsunma cũng đã thiết lập một khóa nghiên cứu
kinh viện và nhập thất bảy năm được gọi là Shedra, cũng
như giám sát việc xây dựng 28 stupa (tháp) mà 10 cái trong số
đó có thể được nhìn thấy trong nơi trú ngụ của muông
thú hoang dã rộng 65 mẫu Anh. Và nổi tiếng do việc cúng dường
bài ca sùng mộ cho những vị Thầy, giọng hát của Jetsunma
có thể được nghe qua một đĩa CD mới có tên là “Sự Khẩn
cầu,” hát lên lời cầu nguyện mãnh liệt của bà tới Đức
Padmasambhava.