Pháp
môn tu Tịnh Ðộ. (9/14) 3-6
Thiền nhân Hải Dương từ
xa tham tầm đến Khuông Sơn, cầu thọ giới pháp, được pháp
danh là Thâm Ngu, rồi dâng hoa cầu pháp:" Ðệ tử phát nguyện
cầu sanh Tây Phương Tịnh Ðộ. Thế nên, kết cùng cả ngàn
pháp lữ, đồng hội tụ một nơi, chuyên tu tịnh nghiệp.
Khất nguyện từ bi, dạy bảo pháp yếu."
Lão nhân vì đó mà bảo rằng
Phật thuyết pháp tu hành xuất sanh tử, phương tiện tuy có
nhiều môn, mà chỉ có pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh là
thẳng tắt. Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, pháp môn viên diệu, Phổ Hiền
diệu hạnh, rốt ráo chỉ quy Tịnh Ðộ. Mã Minh, Long Thọ,
cùng chư đại tổ sư ở cõi này như Vĩnh Minh, Trung Phong,
đều cực lực chủ trương pháp môn Tịnh Ðộ. Pháp môn này
do Phật tự thuyết, vốn bao trùm ba căn, độ khắp bốn chúng,
chẳng phải vì kẻ hạ căn mà quyền thiết. Kinh nói:" Nếu
muốn tịnh cõi Phật, thì phải thanh tịnh tự tâm."
Ngày nay tu hành tịnh nghiệp,
thì phải lấy việc thanh tịnh thân tâm làm gốc. Muốn tịnh
tự tâm, thứ nhất là phải thanh tịnh giới căn. Vì mười
việc ác của thân miệng ý vốn là nhân khổ của ba đường
ác, nên nay phải cần trì giới, khiến cho ba nghiệp được
thanh tịnh, tức tâm tự tịnh. Nếu thân không giết hại,
ăn cắp, tà dâm, nói láo thì thân nghiệp thanh tịnh. Nếu
miệng không nói láo, nói lưỡi hai chiều, nói lời ác độc,
nói lời thêu dệt thì khẩu nghiệp thanh tịnh. Nếu ý không
tham lam, sân hận, si mê, thì ý nghiệp thanh tịnh. Mười việc
ác này mãi đoạn đứt, ba nghiệp trong xanh, đó là điều
thiết yếu của sự tịnh tâm.
Trong lúc thanh tịnh thân tâm,
phải dấy khởi tâm chán khổ nơi cõi Ta Bà, mà phát nguyện
vãng sanh về miền an dưỡng; lập chánh hạnh niệm Phật;
tâm niệm Phật phải thiết tha vì sanh tử. Ðầu tiên, ngoài
đoạn ngoại duyên. Kế đến, bên trong đơn độc đề khởi
nhất niệm. Dùng một câu A Di Ðà Phật làm mạng căn. Niệm
niệm không quên, tâm tâm chẳng đoạn. Trong hai mươi sáu thời,
đi đứng nằm ngồi, cử động gân cốt, xoay mình cúi ngữa,
động tịnh đều quên. Trong mọi thời, không u mê không ngu
muội, lại chẳng làm duyên khác. Dụng tâm như thế, lâu ngày
thuần thục, cho đến trong mộng, cũng không quên mất; thức
ngủ như nhu, tức công phu miên mật, dệt thành một phiến,
tức là lúc công phu đắc lực.
Nếu niệm đến nhất tâm bất
loạn, thì lúc lâm chung, cảnh giới Tịnh Ðộ hiện ra trước
mắt; tự nhiên không bị sanh tử trói giữ, bèn cảm Phật
A Di Ðà phóng quang tiếp dẫn. Ðây là việc chứng nghiệm
quyết định vãng sanh.
Nhất tâm chuyên niệm đó là
chánh hạnh, rồi phải dùng tư lương quán tưởng để xem
xét rõ. Xưa kia, Phật vì hoàng hậu Vi Ðề Hy mà thuyết ra
mười sáu cách quán vi diệu, nên giải quyết xong một đời.
Hiện nay Quán Kinh vẫn còn tồn tại. Nếu kết duyên với
các tịnh lữ mà đồng tham học, dẫu ai có chí nguyện gì,
nơi mười sáu cách quán, tùy duyên chọn một; hoặc chỉ quán
Phật cùng diệu tướng của Bồ Tát; hoặc tùy ý mà quán
tưởng cảnh giới cõi Tịnh Ðộ, giống như kinh Di Ðà thuyết
về liên hoa bảo địa. Nếu quán tưởng rõ ràng, tức trong
hai mươi sáu thời, hiện tiền như sống tại cõi Tịnh Ðộ.
Ði đứng nằm ngồi, nhắm mắt mở mắt, như tại trước
mặt. Nếu quán tưởng thành tựu như thế, thì lúc lâm chung,
nhất niệm bèn vãng sanh. Thế nên bảo rằng sanh tức quyết
định sanh, mà đi thật chẳng phải đi. Ðây là ý chỉ vi
diệu về lý duy tâm Tịnh Ðộ.
Dụng công như thế, cùng tinh
nghiêm hành trì giới hạnh, tức sáu căn thanh tịnh, mãi đoạn
trừ ác nghiệp phiền não, khiến tâm địa thanh tịnh. Quán
niệm tương tục, thì diệu hạnh dễ dàng thành tựu. Hạt
nhân chân chánh vãng sanh qua cõi Tịnh Ðộ không ngoài cách
này.
Nếu miệng thuyết niệm Phật,
cầu vãng sanh Tịnh Ðộ, mà không trì tịnh giới, phiền não
không thể đoạn trừ, tâm địa vẫn còn cấu uế, thì Phật
bảo người này, mãi chẳng thành tựu. Vì vậy hành nhân,
việc thiết yếu bậc nhất là phải trì giới làm căn bổn;
phát nguyện làm nhân duyên phụ trợ; niệm Phật và quán tưởng
làm chánh hạnh. Tu hành như thế, nếu không được vãng sanh,
thì Phật sẽ đọa vọng ngữ.
