Lời
nói đầu
Đây
là đề tài mà tôi nói chuyện trên Paltalk vào ngày
3/10/2004 do Ban tổ chức của Phật học đường Vạn Hạnh
yêu cầu. Sau đó, có một vài người yêu cầu tôi viết
lại thành lời để công khai đăng tải trên tờ báo nào
đó. Tôi nghĩ đây cũng là một ý kiến hay, lợi dụng
thời gian còn rảnh, vội ghi lại những gì đã phát
biểu và bổ túc thêm những gì chưa trình bày được
của buổi nói chuyện. Có thể là sự hiểu biết nông
cạn hay sự trình bày vụng về của mình, nhưng với
tôi chỉ một tấm lòng duy nhất mong muốn tinh thần trong
sáng và tốt đẹp, lợi mình lợi người của đức
Phật được toả sáng ngay trong đời sống của mọi người
Phật tử chúng ta.
Như
quí vị đã biết, với chủ đề này, tôi sẽ trình
bày với nội dung gồm 5 phần. Thứ nhất, Cái nhìn của
đức Phật về con người và xã hội; Thứ hai, Tinh thần
giáo dục và hình thức giáo dục của phật giáo; Thứ
ba, Quá trình diễn biến của đạo Phật; Thứ tư, Phật
giáo ngày nay và bối cảnh xã hội của nó; Thứ năm,
Làm thế nào để Phật giáo cùng xã hội phát triển
. Đây là toàn bộ nội của bài viết này.
Thưa
quí vị,
Nếu
chúng ta chấp nhận lời dạy của đức Phật tại vườn
Lộc Uyển (Isipatana) thuộc thành Ba la nại (Brnasi)
được “kinh Tương Ưng” ghi lại như sau: ‘ Này các Tỷ
kheo ! hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an
lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và
loài người….Hãy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn
viên mãn thanh tịnh…’ thì ắt hẳn chúng ta sẽ chấp
nhận quan điểm: sự xuất hiện của đạt với mục
đích giải quyết những vấn đề khổ đau của con người,
như vậy khi nào con người vẫn còn khổ đau thì đạo
Phật vẫn còn tồn tại. Nói một cách khác, quan điểm
tu tưởng và hành động của đạo Phật luôn luôn gắng
chặt với con người, đạo Phật không thể tồn tại
ngoài xã hội con người. Điều đó gợi ý cho chúng
ta nhận thức một vấn đề rõ ràng rằng, nếu như
đạo Phật không còn đáp ứng được những nhu cầu
của con người, kết quả tất nhiên mà đạo Phật phải
gánh chịu là con người dần dần từ bỏ đạo Phật.
Nếu đó là thực tế thì tôi cho rằng, nguyên nhân chủ
yếu dẫn đế sự kiện này chính là thái độ cố
chấp quá câu nệ vào hình thức của những người
làng tác truyền giáo.
Nếu
như chúng ta xem đạo Phật như là một thực thể sống,
thì sự sống ấy chúng ta không thể lấy một điểm
nào trong quá trình sống đó, áp đặt cho rằng: Đây
là hình thức sinh hoạt khuôn mẫu tiêu chuẩn cho Phật
giáo, lấy đó làm thước đo cho mọi sinh hoạt Phật
giáo khác, mặc dù thời gian và không gian đã hoàn toàn
biến đổi. Cách suy nghĩ như vậy, chẳng khác nào chúng
ta bắt mọi người cùng mặt chiếc áo cùng một kích
cỡ. Nếu như đạo Phật luôn luôn tùy theo không gian và
thời gian mà diễn biến thì cái gọi là đạo Phật
? phải chăng đạo Phật là đạo ba phải ? Ở đây, tôi
xin mạnh dạn trả lời rằng: Đạo Phật không phải là
một tôn giáo mang chủ trương ba phải, vì đạo Phật chỉ
có một mục đích duy nhất là làm thế nào để thành
đạt sự giải thoát giác ngộ đó. Sự giải thoát và
giác ngộ này chính là điều không biến đổi của
đạo Phật, là tinh thần của đạo Phật, cho dù nó sinh
hoạt dưới hình thức nào. Nhưng tinh thần đó ngang qua
thời gian và không gian khác nhau của từng xã hội, của
từng con người, vì sự lợi lạc cho con người đó,
xã hội đó, phương pháp giáo dục của đạo Phật cũng
tùy theo đó mà thay đổi. Để tránh sự hiểu lầm
này, tôi gọi mục đích giáo dục của đạo Phật là
‘Tinh thần giáo dục’ và sự khác nhau về cách giảng
dạy của đạo Phật là ‘Hình thức giáo dục’. Tinh
thần giáo dục là cái không thay đổi, nhưng hình thức
giáo dục luôn luôn phải thay đổi để phù họp với
căn cơ và trình độ của chúng sanh.
Như
vậy, chúng ta muốn sự nhận thức đúng đắng về
đạo Phật, chúng ta không nên dựa vào hình thức sinh
hoạt của đạo Phật để phê bình đạo Phật như thế
này hay thế kia mà chúng ta cần phải nhìn thẳng vào
xu hướng hay mục đích của những hoạt động này. Cũng
vậy, chúng ta muốn Phật giáo được tồn tại và phát
triển cùng với xã hội, chúng ta không nên có thái
độ quá câu nệ vào hình thức, cần phát huy tinh thần
phóng khoáng của Phật giáo Đại thừa trên nguyên tắc
từ bi và trí tuệ.
I.
Cái nhìn của đức Phật về con người và xã hội
Trong
phần thảo luận này, chúng ta nên lưu ý một vấn đề
căn bản trong đạo Phật là cái nhìn của đức Phật
về con người và xã hội như thế nào? Sự tìm hiểu
rõ ràng về vấn đề này chính là yếu tố cơ bản
để chúng ta tiếp tục thảo luận những phần tiếp
theo, nếu không nắm rõ vấn đề này thì khó nắm
bắt những vấn đề sau, hoặc phát sinh những ý kiến
trái ngược. Như vậy, cuộc nói chuyện trở thành vô
nghĩa.
Như
vậy, cái nhìn của đức Phật về con người và xã
hội như thế nào ? Để trả lời vấn đề này, trước
hết chúng ta nên tìm hiểu sự giác ngộ của đức
Phật dưới cội cây Bồ đề là gì ? Có một số
người cho rằng, giáo pháp mà đức Phật giác ngộ
dưới cội cây Bồ đề là pháp Tứ Diệu Đế (Catvri-ryasatyni),
vì sau khi giác ngộ, đức Phật lần đầu tiên thuyết
pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như là pháp Tứ Diệu Đế.
Nhưng theo tôi, giáo pháp mà đức Phật giác ngộ dưới
cội cây Bồ đề là pháp Duyên khởi (prattya-samutpda)
không phải là Tứ Diệu Đế. Nếu chúng ta thử đặt
vấn đề, đức Phật căn cứ vào nguyên tắc nào để
hình thành pháp Tứ Đế ? làm thế nào để trình
bày mối quan hệ giữa khổ và khổ tập, giữa diệt
và đạo đ ? Nếu như đức Phật không dựa vào nguyên
tắc duyên sinh thì không thể hình thành pháp Tứ đế.
Một lý do khác nữa mà chúng ta cũng cần lưu ý, sự
giác ngộ pháp Duyên khởi của đức Phật, nó chính
là câu trả lời chính đáng nhất cho giới triết gia
Ấn độ đương thời, khi họ không chấp nhận học thuyết
àtman (Phạm ngã đồng nhất thể) của Bà la môn, vì
nó là một học thuyết để xây dựng chủ nghĩa phân
chia giai cấp giữa người thống trị và người bị trị,
giữa giống người Aryan và những người thổ dân Ấn,
nhưng bản thân họ vẫn chưa có câu trả lời thích đáng
để phản bác lý thuyết ‘Phạm ngã đồng nhất thể’
của những người thống trị, phải đợi đến Thế
Tôn là người đầu tiên phát hiện và tuyên bố chân
lý Duyên khởi này.
Thuyết
Duyên khởi không những chỉ ra sự sai lầm của nền triết
học truyền thống của những người Bà la môn, mà nó
còn chỉ ra cho mọi người biết rằng, mối quan hệ giữa
người và người, giữa con người và xã hội, giữa
nhân và quả, giữa hạnh phúc và khổ đau…tất cả
những mối quan hệ đó, con người là chủ nhân có quyền
quyết định tất cả mọi sự kiện, tức là sự hạnh
phúc hay đau khổ của con người do con người định đoạt
không phải do đấng quyền năng nào thay thế con người
quyết định đời sống của con người. Căn cứ vào
định luật hay chân lý pháp Duyên khởi này, đức Phật
hình thành toàn bộ hệ thống giáo lý của ngài đều
dựa vào nguyên tắc duyên khởi, trong đó có giáo pháp
Tứ Diệu Đế cũng không ngoài ý nghĩa này, nói lên
quan niện của ngài đối với nhân sinh.
Để tìm hiểu quan niệm về con người của đức Phật,
chúng ta không nên tách rời chân lý Duyên khởi để tìm
hiểu về quan điểm của ngài. Như chúng ta được biết
ý nghĩa pháp Duyên khởi được đức Phật trình bày
trong kinh “Tạp A Hàm” như sau :
“Hôm
nay, ta sẽ nói pháp nhân duyên và duyên sinh. Thế nào là
pháp nhân duyên? Nghĩa là: cái này có cho nên cái kia
có. Như duyên vô minh có hành, duyên hành có thức…như
thế thuần đại khổ tụ tập. Thế nào là pháp duyên
sinh? Là vô minh, hành… dù Phật xuất hiện hay không
xuất hiện ở thế gian thì pháp này vẫn thường trụ…”
Ở đây, trước hết chúng ta cần chú ý đến ý nghĩa
từ duyên sinh và nhân duyên, ở một mặt nào đó có
ý nghĩa của 2 từ này khác nha, duyên sinh cũng gọi là
nhân duyên, nhưng ở góc độ dị biệt của nó pháp duyên
khởi mang ý nghĩa mặt quan hệ bình đẳng giữa sự
vật, không có pháp nào là chủ yếu và thứ yếu,
không có khái niệm trước và sau. Ví dụ, khái niệm
‘cha’ và ‘con’, thông thường chúng ta cho rằng khái
niệm ‘cha’ có trước và khái niệm ‘con’ có sau,
nhưng trên sự thật thì 2 khái niệm này cùng trong một
sát na xuất hiện, không có khái niệm nào có trước
và khái niện nào có sau, vì khi người con ra đời thì
ngay lúc ấy khái niệm ‘cha’ mới xuất hiện, nếu
như người con chưa sanh thì không có khái niệm ‘cha’.
Như vậy 2 khái niệm này đồng thời sanh khởi, đây
chính là ý nghĩa của pháp duyên khởi. Thế nhưng, ở
mặt nào đó, ý nghĩa từ nhân duyên thì không giống
như vậy. Pháp nhân duyên mang ý nghĩa nhấn mạnh đến
khía cạnh chính và phụ. Nhân là yếu tố chính; duyên
là yếu tố phụ. Ví dụ, hạt giống là nhân, các yếu
tố như nước, phân, ánh sáng mặt trời… là duyên.
Cái duyên tạo điều kiện giúp đỡ cho nhân hình thành,
nhưng bản thân của duyên không có yếu tố hình thành
cái đó, như phân, nước không thể thành cây. Đó là
sự khác biệt giữa khái niệm duyên khởi và nhân duyên
trong Phật giáo. Dẫu rằng, mỗi từ có ý nghĩa đặc
thù của nó, nhưng chúng ta đã có một thói quen sử
dụng 2 khái niệm này gần như giống nhau. Nói đến
nhân duyên là nói đến duyên khởi, nói đến duyên khởi
là nói đến nhân duyên.
Trở lại vấn đề mà chúng ta đang thảo luận. Qua lời
đức Phật dạy vừa nêu trên, nó gợi ý cho chúng ta
nhận thức rằng, pháp duyên khởi hay pháp nhân duyên
là chân lý của cuộc đời, nó không phải là sự sáng
tạo của bất cứ ai, ngay cả đức Phật. Chẳng qua, đức
Phật là người đầu tiên khám phá chân lý này trong
cuộc sống, và chỉ nó cho chúng ta biết mà thôi, nếu
như không có đức Phật thì chân lý nàt này vẫn tồn
tại ở thế gian, và luôn luôn chi phối con người. Hay
nói một cách khác, chúng ta dù có ý thức hay không
có ý thức về nó, có chấp nhận hay không chấp nhận
qui luật này, thì con người vẫn phải chịu sự chi phối,
vận hành theo nguyên tắc của nó. Vì nó là nguyên tắc
tồn tại khách quan cho nên chúng ta gọi nó là ‘Chân
lý’.
Nói đến duyên khởi hay nhân duyên là nói đến sự
hình thành và tồn tại của bất cứ một sự vật,
hay một hiện tượng nào trên thế gian này, tất cả
đều là sự tập hợp của các pháp, do nhiều yếu
tố kết họp mà thành, không có một sự vật nào
tồn tại một cách độc lập, không liên hệ đến pháp
khác. Nói một cách khác, sự tồn tại của một sự
vật, ngay cả con người đều tùy thuộc vào những yếu
tố khác. Như lấy sự sống của chính chúng ta làm
một ví du điển hìnḥ, chúng ta muốn gặp người mình
thương mà người ấy không đến là ta buồn ăn một
bữa cho thật ngon, nhưng tài chính không cho phép cũng
đành chịu ; muốn trẻ mãi không già nhưng ai tránh
khỏi qui luật sanh lão bịnh tử...xét cho cùng sự sống
của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào những yếu tố
khác, có nghĩa là ta hoàn toàn không làm chủ chính mình.
Như vậy, cái gì tồn tại mà luôn luôn bị chi phối
bỡi những yếu tố khác thì cái ấy là ‘vô thường’,
tồn tại trong trạng thái biến đổi. Như vậy, trong ý
nghĩa của pháp duyên khởi mà đã được đức Phật
đề cập, nó gợi ý cho chúng ta nhận thức một điều
tối quan trọng là: Mọi vật trên thế gian này đều
ở trong trạng thái ‘vô thường’, ngay cả con người,
vì nó vô thường cho nên gọi nó là ngã’. Cái gì
là vô thường vô ngã mà chúng ta cố chấp cho là thường
hằng và hữu ngã là khổ.
Thật tướng của thế gian là như vậy. Chúng ta cần
phải ứng xử như thế nào với của cải vật chất
mà chúng ta đang sở hữu, với những người thân mà
chúng ta đang yêu thương, và ngay cả tự thân mà ta đang
sống cho phù họp với ý nghĩa vô thường đó? Đó
là vấn đề cốt lõi mà đức Phật muốn nhắc nhở
trao truyền cho tất cả mọi người chúng ta, đó là bức
thông điệp mà đức Thế Tôn muốn gởi đến nhân thế.
Ngài dạy:
“Sắc (thọ, tưởng, hành, thức) là vô thường, vô
thường tức khổ, khổ tức phi ngã; cái gì là phi
ngã thì cũng phi ngã sở. Quán như vậy gọi là chân
thật chánh quán. Thánh đệ tử do quán như vậy mà
yểm ly sắc, yểm ly thọ, tưởng, hành, y thức. Do yểm
ly cho nên không ưa thích, do không ưa táich cho nên được
giải thoát.”
Qua nội dung bài kinh vừa nêu trên, gợi ý cho chúng ta
nắm rõ những vấn đề như sau. Trước hết, cái nhìn
của đức Phật về con người là cái nhìn đứng từ
góc độ chân lý của cuộc sống, tức là pháp duyên
khởi. Từ cái nhìn đó, ngài phát hiện cái mà chúng
ta gọi là con người, hay trong truyền thống tư tưởng
Ấn độ gọi là ‘ngã’(tman) ấy, nó là sự tập
họp của 5 uẩn, tức là sắc, thọ, tưởng, hành, và
thức uẩn. Ý muốn nói rằng, cái mà chúng ta gọi
là thức (ngã), cái ấy do hành mà có; hành do tưởnǵ,
tưởng do thọ, thọ do sắc mà có. Như vậy sự tồn
tại của con người là sự giả họp, không bền chắc.
Điều đó cũng có nghĩa là sự chất dứt của sắc,
sẽ dẫn đến thọ chấm dứt…sự chấm dứt của hành
thì thức cũng theo đó chấm dứt. Như vậy, thật chất
của con người là duyên khởi tánh. Cái gì thuộc về
duyên khởi tánh thì cái ấy là ‘vô thường’. Như
vậy, con người là ‘vô thường’ là thật tế, không
ai tránh khỏi.
Từ ý nghĩa này, đức Phật phân tích cho chúng thấy
rõ vấn đề, làm thế nào để con người chấm dứt
khổ đau, đạt được sự hạnh phúc và an lạc. Đức
Phật phân tích rằng, cái gì là vô thường mà ý thức
chúng ta lại nghĩ nó là thường thì cái ấy mang lại
cho chúng ta sự đau khổ. Vì sao ? vì sự suy nghĩ không
đúng, không phù hợp với thực tế. Ở đây, tôi có
thể viện dẫn một ví dụ ‘Sợi giây’ trong Duy thức
học để chúng ta dễ thấu rõ vấn đề hơn. Vào ban
đm, một người đi đường thấy sợi giây lầm tưởng
là con rắn, tâm lý liền phát sanh sự sợ hãi. Trên
thật tế không ai lại lo sợ vì sợi giây có thể cắn
mình, nhưng tại sao người bộ hành này lại có tâm lý
sợ sệt khi dối diện với sợi giây? Phải chăng người
ấy đã lầm tưởng sợi giây thành con rắn cho nên tâm
lý sợ hãi liền sanh khởi ? Như vậy, sự sợ hãi
này được xuất phát từ sự nhận thức sai lầm,
không phải là sự nhận thức đúng. Cũng vậy, trên
thật tế con người là vô thường, nhưng ta lại không
chấp nhận sự thật đó, ngược lại cho nó là thường,
chính sự nhận thức sai lầm này là nguyên nhân mang
lại đau khổ. Đây là ý nghĩa mà đức Phật nói: ‘vô
thường tức khổ’; Nếu như chúng ta thấy rõ bản
chất con người và những sở hữu của con người là
vô thường là tính duyên khởi thì chúng ta không bao giờ
có thái độ cố chấp cho rằng: ‘cái vô thường và
khổ ấy là cái của tôi’. Vì thấy được bản chất
con người là phi ngã, cho nên không còn có thái độ
chấp trước, vì không chấp trước, do vậy người ấy
không xuất hiện trạng thái khổ đau, đây chính là ý
nghĩa của câu: ‘khổ tức phi nga’̃. Cái mà chúng ta
thường cho là ngã, nhưng qua sự phân tích của Phật
pháp, chúng ta hiểu được nó vốn là phi ngã, tức
trong 5 uẩn này, không có một uẩn nào được mệnh
danh là ngã. Nếu ngã đã không có thật thì làm gì
có cái gọi là ‘ngã sở’, tức là những cái thuộc
về ngã. Đây chính là ý nghĩa câu: ‘cái gì là phi
ngã thì cũng phi ngã sở’.
Ở
đây chúng ta nên lưu ý một điểm rằng, đức Phật
nói: con người là vô ngã, vô ngã, nó không mang ý nghĩa
coi thường sự sống của con người và không cần vật
những vật sở hữu mà con người cần để sống.
Điều đó không có nghĩa là khi thân chúng ta bịnh không
cần uống thuốc và chữa trị, không có bổn phận
và trách nhiệm với gia đình với con cái và xã hội,
những vật sở hữu mà ta đang có ai sử dụng cũng
được, mặc cho mưa gió...Ngược lại, nó mang một ý
nghĩa nhắc nhở và cảnh tỉnh chúng ta thấy rõ cuộc
sống này là vô thường, con người cũng bị vô thường
chi phối, chúng ta không nên có thái độ cố chấp, chỉ
có như thế này không được như thế kia, để tránh
khỏi sự khổ đau phát xuất từ sự nhận thức không
đúng. Đây chính là lý do tại sao đức Phật khi nói
đến con người và xã hội là nói đến tính duyên
khởi, vô thường và vô ngã. Có lẽ không ngoài dụng
ý, đức Phật khuyên chúng ta không nên có thái độ
‘chấp trước’. Vì chấp trước là thái độ xuất
phát từ vô minh, cái gì xuất phát từ vô minh thì cái
ấy không mang lại niềm vui, chỉ mang lại sự khổ đau.
Cũng
vậy, sự hình thành hay biến mất của một sự kiện
nào đó, nó luôn luôn tùy thuộc vào những yếu tố
khác, như nguyên tắc Duyên khởi mà đức Phật đã dạy
: Cái này sinh thì cái kia sanh, cái này diệt thì cái
kia diệt. Nguyên tắc này không những nói lên tính duyên
khởi của vạn pháp mà còn nói lên mối quan hệ giữa
nhân và quả là sự quan hệ tất yếú. Cái nhân đã
tạo ra như thế này thì cái quả chắc chắn phaỉ như
thế ấy, không thể khác đi được.
Từ
ý nghĩa này, nó gơị ý cho chúng ta hiểu về nguyên
tắc vận hành của xã hội. Những gì mà đang có trong
xã hội, như nhà cửa, đường xá, bệnh viện, trường
học.v.v... và ngay cả những tập quán của con người,
đây là những sản phẩm của mọi thành viên trong xã
hội ấy tạo ra, không phải là cái ngẫu nhiên, nhưng
khi nó không còn thích nghi với con người nữa thì xã
hội ấy chính là cơ sở để con người suy tư và hình
thành những hình thức sinh hoạt mới, phù họp với
con người hơn. Như vậy, điều đó có ý nghĩa, những
hình thức sinh hoạt hay cách suy nghĩ của con người trong
xã hội đó là quá trình suy tư tạo dựng của mọi
người trong xã hội đó, không phải do một cá nhân nào
tạo ra. Nếu vậy, những gì không còn thích nghi với
con người nữa, thì cái ấy chắc chắn sẽ bị xã
hội đào thải, dù chúng ta có muống muốn. Cũng vậy,
những hình thức sinh hoạt của tôn giáo ngay cả Phật
giáo, nếu như nó không còn đủ sức hấp dẫn đáp
ứng cho những nhu cầu của con người trong xã hội đó,
thì tất nhiên sớm hay muộn gì cũng sẽ bị xã hội
không còn chú ý nữa.
Như
vậy, những tư liệu để cho con người tư duy xuất phát
từ xã hội, và sản phẩm tư duy của con người là
thành quả của xã hội, đó là sự tương quan của luật
duyên khởi. Từ ý nghĩa này, nó cũng gợi ý cho chúng
ta hiểu rõ một điều, không nên bám lấy một hình
thức sinh hoạt cố định nào làm thước đo cho Phật
giáo, vì không thể chấp nhận khi bối cảnh xã hội
đã thay đổi, nhưng ý thức lại không thay đổi. Điều
đó chẳng khác nào, ta may một loại áo cùng kích cơ,̃
mặc suốt đời. Không những bản thân mình không mặc
được mà còn làm trò cười cho thiên hạ. Chúng ta nên
hiểu rằng, mục đích ra đời của đức Phật là vì
con người, như vậy khi ̀ xã hội thay đổi, suy tư của
con người cũng theo đó đổi thay thì sinh hoạt Phật
giáo cũng phải tùy theo đó mà thay đổi, đó là con
đường duy nhất để cho Phật giáo tồn tại và phát
triển.
Nếu
quan điểm này là đúng, phải chăng đạo Phật không có
lập trường, chủ trương ba phải ?̀ vì nay sinh hoạt Phật
giáo như thế này, mai như thế khác, thế thì bản chất
của Phật giáo là cái gì ? Để trả lời cho câu hỏi
này, chúng ta cần tìm hiểu tính đặc thù giáo dục
của Phật giáo,. Với chủ đề này chúng ta sẽ được
thảo luận dưới đây.
II.
Đặc
tính giáo dục của Phật giáo
Thảo luận về vấn đề giáo dục của Phật giáo, với
chủ đề này tự nhiên chúng ta có thể hình dung được
nội dung mà chúng ta cần thảo luận là: 1. Tinh thần
giáo dục của đức Phật, 2. Hình thức giáo dục của
đạo Phật. Đó là hai vấn đề chính mà chúng ta sẽ
thảo luận trong đề tài này.
1.
Tinh thần giáo dục
Bất
cứ chúng ta đứng từ góc độ nào trong xã hội, nhìn
về sự từ bỏ ngai vàng điện ngọc xuất gia của đức
Phật thì chúng ta đều có nhận định chung rằng: đức
Phật là người đầu tiên khai sáng con đường giác
ngộ trong đạo Phật, bằng cách thông qua những phương
pháp tu tập, huấn luyện thân và tâm, làm chấm dứt
những nguyên nhân gây ra khổ đau cho đời sống hiện
tại và mai sau. Chúng ta có thể gọi đây là tinh thần
giáo dục của đạo Phật, nó không gới hạn chỉ có
trong Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái hay Phật
giáo Đại thừa, vì đó là tinh thần chung của đạo
Phật, được chứa đựng trong Tam Tạng kinh điển của
đạo Phật, bao gồm trong 2 hệ kinh điển của Nam Bắc
truyền.
Để
làm sáng tỏ ý nghĩa này, ở đây chúng ta có thể
trích dẫn một vài ví dụ điển hình để cho chúng
ta nắm bắt vấn đề được rõ ràng hơn. Ví dụ, Thành
điển Nam truyền “Kinh Tương Ưng Bộ”, đức Phật dạy:
“…vì
hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho chư thiên và loài người…’
Cùng
trình bày ý nghĩa này, “Kinh Tăng Chi” đức Phật lại
nói rõ hơn :
“
Một người, này các Tỷ kheo, khi xuất hiện ở đời,
sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạch
cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người.
Một người ấy là ai ? Chính là Thế Tôn, bậc A la
hán, Chánh đẳng giác…”
Cũng
vậy, ở ‘Phẩm Tựa’ trong “kinh Diệu Pháp Liên Hoa”
là kinh điển của Phật giáo Đại thừa đức Phật
cũng nói:
“
…Chư Phật Thế Tôn chỉ vì nhân duyên lớn mà xuất
hiện ở đời, đó là vì muốn cho chúng sanh khai…
thị…ngộ… nhập… tri kiến Phật mà sinh ra ở đời.”
Qua
những lời trích dẫn cụ thể vừa nêu trên, cho chúng
ta nhận thức rằng, cả hai hệ thống kinh điển của
Phật giáo Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều ghi nhận rằng,
mục đích ra đời của đức Phật chính là mang lại
sự giác ngộ và giải thoát cho chúng sanh, hay nói một
cách khác, sự ra đời của đạo Phật là mang lại sự
hạnh phúc và an lạc cho con người. Đây chính là ý nghĩa
mà Bà la môn Àrmadada đứng trước tôn giả Kaccna
đã bày tỏ tâm tư của mình về đức Thế tôn như sau:
“
Thật vi diệu thay, thưa tôn giả Kaccna ! Thật vi diệu
thay, thưa tôn giả Kaccna ! Như người dựng đứng lại
những gì đã quăng ngã xuống, thưa tôn giả Kaccna,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ
lạc hướng, hay đem đèn vào bóng tối để cho những
ai có thể thấy sắc…con xin qui y tôn giả Gotama…”
Qua
đoạn kinh vừa nêu trên, chúng ta hiểu như thế nào về
trường hợp gọi là phơi bày ra những gì bị che kín,
chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn vào bóng
tối để cho những ai có thể thấy sắc. Ý nghĩa câu
nói này, ngoài ý nghĩa nói lên lời ca tụng về lời
dạy mang tính giáo dục hướng thượng của đức Phật,
còn mang ý nghĩa tố cáo về một thể chế chính trị
bưng bít và độc quyền của giai cấp Bà la môn. Vì
giai cấp thống trị đã phân chia xã hội thành 4 giai
cấp. 2 giai cấp đầu Bà la môn và Sát đế lợi là
những người thuộc dòng dõi Bà la môn giữ quyền cai
trị đất nước, còn lại 2 giai cấp Phệ xá và Thủ
đà la là 2 giai cấp chỉ biết làm lụng phục vụ cho
2 giai cấp trên, nhất là giai cấp Thủ đà la la giai cấp
nô lệ, họ không có quyền để yêu cầu bất cứ điều
ý, ngay cả quyền được tu tập để kiếp sau được
sanh làm người tốt đẹp hơn. Thật sự mà nói, trước
một thể chế khắc nghiệt như vậy, họ tưởng chừng
nhự không bao giờ có cuộc sống an lạc và hạnh phúc,
đời đời kiếp kiếp vẫn làm thân phận của người
đầy tớ cho kẻ khác, mặc dù họ sống với cuộc
sống lương thiện. Đây là truyền thống giáo dục của
Bà la môn. Có thể nói, đó là sự đen tối, là sự
qụy ngã.. của họ.
Thế
nhưng, tại sao đức Thế Tôn làm được những điều
đó, ngài đứng từ lập trường con người với khối
óc và suy tư của con người Ngài vận dụng chân lý duyên
khởi để bẻ gảy lý thuyết ‘Phạm ngã đồng nhấ’
của giai cấp bà la môn, đồng thời ngài sử dụng trái
tim của con người, nêu cao tinh thần thương yêu đồng loại,
đả phá chế độ phân chia giai cấp. Giả như, nếu chúng
ta là người kém phước làm kẻ nô lệ của xã hội
đó, chúng nghĩ như thế nào về sự ra đời của đức
Phật, phải chăng như Àrmadada đã nói: phơi bày ra
những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng,
hay đem đèn vào bóng tối để cho những ai có thể
thấy sắc. Từ sự kiện này, chúng ta có thể nói
đây là một trong những mặt đóng góp tích cực của
đức Phật cho con người và xã hội mà chúng ta hiểu
và nắm bắt được, trong đó còn biết bao sự đóng
góp to lớn của ngài mà chúng ta chưa thấy và thực
nghiệm được, như là sự giải thoát giác ngộ. Như
vậy, mục đích ra đời của đức Phật là mang lại
cho con người sự hạnh phúc và an lạc, thế thì điều
đó có ý nghĩa là tinh thần giáo dục của Phật giáo
lấy sự giải thoát và giác ngộ làm mục đích cho
dù đó là Phật giáo Tiểu thừa hay Đại thừa, Bắc
tông hay Nam tông. Như vậy, cho dù chúng ta nhân danh là Phật
giáo nào đi nữa, bản thân sinh hoạt của nó không có
liên hệ đến sự giác ngộ và giải thoát, thì Phật
giáo đó không thể gọi là Phật giáo, vì tính đặc
thù giáo dục của Phật giáo không có ở trong đó. Đây
là điểm mà chúng ta cần chú ý.
Sự
ra đời của đạo Phật giáo vốn là vì con người và
xã hội mà phục vụ, không phải Phật giáo sinh ra đời
để con người phục vụ đạo Phật. Nếu như ý nghĩa
này được chấp nhận thì vấn đề Phật giáo có
những nhu cầu về vật chất, chúng ta nên xem nó như
là phương tiện hữu ích và có ý nghĩa, giúp cho con
người mau chóng thành đạt mục đích mà đạo Phật
đã đề ra, không nên xem co sở vật chất như là sự
thành tựu của đạo Phật.
2.
Hình thức giáo dục của đạo Phật
Nói
đến giáo dục là nói đến đối tượng giáo dục.
Như vậy đối tượng mà Phật giáo giáo dục là CON
NGƯỜI. Như chúng ta đã biết, giáo pháp mà đức Phật
giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, ngài không có ý
dành riêng cho bất cứ ai, mà dành cho tất cả những
ai muốn được giác ngộ và giải thoát như ngài, tất
cả đều được đức Phật giảng dạy và trao truyền.
Thế nhưng, chúng sanh căn tánh không đồng, cho nên ngài
đã dùng nhiều pháp môn khác nhau, để hướng dẫn
chúng sanh ấy hướng đến giác ngộ.
Quan
điểm này, chúng ta rất thường gặp trong hai hệ thống
kinh điển của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa.
Ví dụ, ‘Phẩm Phương Tiện’ trong “Kinh Pháp Hoa” là
một ví dụ điển hình trong kinh điển Đại thừa; và
‘Kinh Nhiều Cảm Thọ’ trong “Kinh Trung Bộ” đức Phật
cũng nói lên ý nghĩa này nhưp được Ta thuyết giảng
t́p mơy Ananda, vìp được Ta thuyết giảng t́p mơn như vậy,
ăn đối với những ai khơng chấp nhận… thời sự kiy sẽ
xẩy ra: họ sẽ sống đấu tranh, khẩu tranh, luận tranh, đả
thững nhau với những binh khíp được Ta thuyết giảng t́p
mơy Ananda, vìp được Ta thuyết giảng t́p mơn như vậy, ăn
đối với những ai chấp nhy sẽ xẩy ra: họ sẽ sống hịn
đồng, t́y hỷ với nhau, như nước vớ\loch nhìn nhau với
cặp mắt tữi.’
Ở
đây, đức Phật gọi là ‘ta thuyết giảng tùy theo pháp
môn’ có ý nghĩa là, khi đức Phật nói pháp không
phải tùy tiện, y cứ vào trình độ hiểu biết của
đối tượng và nhất là khi ngài trình bày vấn đề
đó trong trường họp nào, nó chỉ có giá trị trong trường
họp đó, có thể sẽ không có giá trị trong trường
họp khác. Để vấn đề được hiểu rõ hơn, chúng
ta có thể lấy một ví dụ cụ thể là trong “ Kinh
Trung bộ” có 2 bài kinh đều giải thích về nghiệp,
đó là ‘KinhTiểu Nghiệp Phân Biệt’ (Cla kamma vibhanga
sutta)số 135 viết tắt là TNPB và ‘Kinh Đại Nghiệp
Phân Biệt’ (Mah kamma vibhanga sutta) số 136 viết
tắt là ĐNPB . Nhưng đức Phật trình bày nội dung tư
tưởng của 2 kinh này khác nhau. Kinh TNPB đức Phật dùng
những hình ảnh tốt và xấu của thế gian, để giải
thích mối quan hện nhân quả trong đạo Phật, như nói
người bố thí thì được giàu có, người sát sinh
thì có cuộc sống ngắn ngủi….lấy sự giàu có,
sống lâu…. làm thước đo hạnh phúc; lấy sự nghèo
khổ, đời sống ngắn ngủi…. tiêu biểu cho sự bất
hạnh. Phải chăng người giàu có là có hạnh phúc ? phải
chăng người có cuộc sống ngắn là người không có
hạnh phúc ? Ngược lại, kinh ĐNPB đức phật lấy vai
trò ‘chánh kiến’ và ‘không chánh kiến’ làm thước
đo cho hạnh phúc hay không hạnh phúc của con người. Có
nghĩa là người có chánh kiến là người đó có hạnh
phúc, va ngược lại người không có chánh kiến là người
sống trong đau khổ. Như vậy, vô minh là nhân của khổ,
hạnh phúc là quả của đời sống có trítuệ. Đây
chính là mối quan hệ nhân quả nghiệp lực mà đức
Phật muốn giải thích. Tại sao có sự sai khác này ?
nếu chúng ta không để ý đối tượng mà đức Phật
nói chuyện thì chúng ta khó lý giải được vấn đề
này. Đối tượng mà đức Phật nói kinh TNPB là thanh
niên Subha Todeyyaputta, là một cư sĩ tại gia, không am tường
Phật pháp. Nhưng ngược lại, đối tượng mà đức
Phật nói kinh ĐNPB là tôn giả A Nan và các vị Tỷ kheo,
là những người có trình độ căn bản về Phật pháp.
Đó là lý do tại sao mà đức Phật phải nói 2 kinh khác
nhau.
Cũng
vậy, trong kinh điển của Phật giáo Đại thừa thường
được ghi chép rằng, khi đức nói kinh điển Đại thừa
thì các hàng Thinh văn Tiểu thừa liền rời khỏi pháp
hội. Hiện tượng này, không những biểu lộ̀ sự
bất đồng về quan điểm mà còn nói lên sự hiểu
biết khác nhau. Có lẽ đây là lý do tại sao trong “Luận
Đại Trí Độ” Long Thọ đã đề cập đến Tứ Tất
đàn (Siddhnta), là 4 phương pháp giáo dục khác nhau của
Phật giáo Đại thừa . Thứ nhất là Thế giới tất
đàn, có nghĩa là căn cứ vào sự ưa thích của chúng
sanh, nói những pháp gì làm cho họ cảm thấy vui vẻ
để dắc dẫn họ vào đạo; Thứ hai, Các các vị nhân
tất đàn, Nhằm đáp ứng và thích nghi căn tánh và
trình độ không đồng của chúng sanh mà nói những pháp
khác nhau. Thứ ba, Đối trị tất đàn, có nghĩa là
y cứ vào căn tánh cá biệt của mỗi chúng sanh, nói
những pháp tương xứng để đối trị. Như người có
lòng sân hận, nói pháp từ bi cho họ; Thứ tư, Đệ
nhất nghĩa tất đàn là trình bày chỉ rõ thật tướng
của các pháp, cho chúng sanh giá chân lý.
Nói
tóm lại, tứ tất đàn là 4 phương pháp giáo dục khác
nhau của Phật giáo. Có nghĩa là tùy theo căn cơ trình
độ hay bối cảnh xã hội khác nhau của con người mà
đạo Phật hình thành phương pháp giáo dục khác nhau,
để thích nghi với từng người và từng xã hội.
Sự hình thành 4 phương pháp này không phải là sự vụ
lợi cho Phật giáo mà là sự lợi ích cho chúng sanh
và xã hội. Ở đây, chúng ta nên lưu ý một điều
là bất cứ hình thức giáo dục nào, trong đó cũng
cưu mang ý nghĩa, dẫn dắc chúng sanh hướng đến mục
đích giác ngộ và giải thoát, nếu như mục đích này
mất đi thì phương pháp giáo dục đó, không được xem
là của đạo Phật.
III.
Qúa trình diễn biến của đạo Phật
Nếu chúng ta nhìn Phật giáo như một thật thể sống
thì sự khai sinh của đạo Phật ở tại nước Ấn độ
vào Thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, tính cho đến
nay đạo Phật đã có tuổi thọ hơn 2.500 năm. Lịch sử
truyền bá của đạo Phật ghi lại rằng, vào những thế
kỷ thứ III trước Công nguyên Phật giáo đã được
nhà vua Asoka lập thành đoàn thể đem Phật truyền đến
nước láng giềng là Tích lan. Sau đó, Phật giáo bằng
nhiều ngã đường khác nhau truyền đến Thái lan, Miến
điện, Campuchia, lào, Tây Tạng, Trung quốc, Việt nam….
Từ đó lan rông khắp vùng Châu á, và cho cho đến nay,
Phật giáo đã truyền sang các Châu lục khác. Sự tồn
tại và phát triển của Phật giáo đã chứng tỏ bản
thân Phật giáo có một sức sống mạnh liệt vượt
lên trên cả thời gian và không gian, có lẽ Phật giáo
có nền giáo lý tuyệt vời, có giá trị thiết thân
với đời sống con người, và nhất là biết uyển
chuyển thích nghi với mọi đời sống xã hội khác
nhau, đó chính là những yếu tố cần thiết và cơ
bản để đạo Phật tồn tại và phát triển cho đến
ngày nay và ngay cả mai sau. Có lẽ đó là lý do tại sao
đạo Phật từ Phật giáo Nguyên thủy đã chuyển sang
Phật giáo Bộ phái, rồi phật giáo Bộ phái lại chuyển
sang Phật giáo Đại thừa, và tùy theo tâm tình và hoàn
cảnh của mỗi đất nước, Phật giáo lại tiếp tục
hình thành những tông những phái cát để đáp ứng
nhu cầu con người và cho xã hội đó.
Từ
những kinh nghiệm lịch sử đó, nó gợi ý cho chúng
ta nhận thức một điều là, hiện nay Phật giáo đang
đứng trước một thời đại tiến bộ của khoa học
và kỷ thuật, chắn chắn Phật giáo không thể lấy
một hình thức nào trong quá khứ làm khuôn mẫu để
áp đặt cho xã hội hiện nay, vì trong xã hội ngày
nay, suy tư của con người và những nhu cầu xã hội hoàn
toàn khác biệt với những thời đại xa xưa trước
đây. Chúng ta chỉ có thể ngang qua những hình thức sinh
hoạt trong quá khứ để rút ra những kinh nghiệm đáng
quí, lấy đó làm nền tảng để chúng ta đắng đo
suy nghĩ cho những vấn đề hiện tại và trong tương
lai. Khi tôi viết những suy nghĩ này, tôi vẫn biết nó
là cái khó chấp nhận cho một thế hệ người đi
trước, nhưng đồng thời tôi cũng hiểu một điều
rõ ràng rằng, những nhu cầu của thế hệ trẻ ngày
nay là một thực tế, không thể phủ nhận, tất nhiên
nó không phải là những nhu cầu của thế hệ trước,
và dĩ nhiên chúng ta không nên vì đáp ứng cho thế hệ
trước mà chúng ta lại bóp chết thế hệ trẻ, đang
tràn đầy sức sống và đang cần sự giúp đỡ của
đạo Phật, nhưng cũng không vì thế hệ trẻ mà chúng
ta lại vượt qua những ranh giới cái gọi là truyền
thống tư tưởng của đạo Phật. Trước tình hình đó,
chúng ta làm thế nào để chúng ta chọn ra một hình
thức sinh hoạt dung hoà, đ đôi bên đều chấp nhận,
cả hai thế hệ đều được đón nhận sự lợi ích
chân chính từ những lời dạy của đứcTừ phụ. Tôi
viết những điều này với một mục đích duy nhất,
làm thế nào để Phật giáo được tồn tại và phán
cùng với xã hội, đóng góp thiết thực cho con người
và xã hội đó.
Để để rút ra một vài kinh nghiệm từ sự diễn
biến của Phật giáo trong quá khứ, làm một bài học
thật tế, để cho chúng ta mạnh dạn trong việc tìm ra
một hình thức sinh hoạt thích nghi cho Phật giáo hiện
nay. Ở đây tôi muốn đề cập đến hai hình thức sinh
hoạt của Phật giáo Thượng toạ bộ hay Phật giáo Nguyên
thủy và Phật giáo Đại chúng bộ hay Phật giáo Đại
thừa.
Trước khi tìm hiểu về nội dung tư tưởng của 2 trường
phái lớn này, chúng ta cần nắm rõ nguồn tư liệu
của hai nền Phật giáo này.
Trước
nhất, thánh điển của Phật giáo Thượng Tọa Bộ.
Theo các nhà nghiên cứu cho rằng, các kinh A hàm và Nikya
là những bản kinh của Phật giáo Bộ phái, không phải
Phật giáo Nguyên thủy. Tuy nhiên, dù như thế nào đi nữa,
nếu chúng ta căn cứ vào những bộ kinh này nghiên cứu
và tìm hiểu tư tưởng và hình thức sinh hoạt của
Phật giáo nguyên thủy, thì ở đó chắc chắn nó sẽ
cho ta nhiều dữ kiện đáng tin cậy về Phật giáo Nguyên
Thủy, nếu chúng ta không căn cứ vào 2 nguồn tư liệu
này thì khó có thể hiểu được cái gì gọi làn
gốc tư tưởng của Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo
Thượng Tọa Bộ. Vì thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy
là thời kỳ khẩu truyền, không có kinh điển.
Kế
đến là nguồn tư liệu của Phật giáo Đại chúng bộ.
Ở đây, chúng ta cần hiểu rằng, Phật giáo Đại chúng
bộ không phải là Phật giáo Đại thừa, nhưng tư tưởng
Phật giáo Đại chúng bộ là nguồn gốc tư tưởng
của Phật giáo Đại thừa, nhưng đáng tiếc nguồn tư
liệu của Phật giáo Đại chúng bộ đã bị thất lạc,
hiện nay chúng ta chỉ có thế ngang qua những Kinh điển
của Phật giáo Đại thừa để tìm hiểu về tư tưởng
của Phật giáo Đại chúng mà thôi.
Thế
nào gọi là Phật giáo Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng
Bộ ? Theo nguồn tư liệu của Phật giáo Bắc truyền,
cụ thể là tác phẩm “Dị Bộ Tôn Luân Luận” ghi
lại rằng, Sau khi đức Phật nhập diệt vào khoảng hơn
100 năm, dưới triều đại của vua A Dục (Asoka), Phật giáo
có ý kiến bất hòa, tranh cã 5 việc của Đại Thiên,
do đó nội bộ Phật giáo bắt đầu rạn nứt, phân
chia thành 2 phái :Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ.
Thế nhưng, theo nguồn tư liệu của Phật giáo Nam truyền
cụ thể là tác phẩm “Kathvatthu” cho rằng, sau khi
dức Phật nhập diệt vào khỏang 218 năm, dưới thời
vua A Dục, nội bộ Phật giáo phát sanh sự bất đồng
ý kiến, chủ yếu tranh cãi về ‘Mười việc phi pháp’.
Sự bất đồng ý kiến này đã dẫn đến sự phân
chia Phật giáo thành 2 phái: Thượng Tọa Bộ và Đại
Chúng Bộ.
Qua
2 nguồn sử liệu này, cho chúng ta thấy sự ghi chép
không đồng nhất về niên đại và nội dung tranh cãi,
tạo thành chủ đề thảo luận cho giới nghiên cứu ngày
nay. Với bài viết này, tôi không thảo luận đến khía
cạnh niên đại hay nội dung tranh cãi, tôi chỉ đề cập
đến một góc độ khác là Phật giáo đến thời
kỳ vua A Dục, nội bộ tăng già đã có xuất hiện sự
rạng nứt, chủ yếu là sự bất đồng quan điểm về
cách lý giải lời dạy của đức Phật, trong đó bao
gồm hai vấn đề then chốt là tư tưởng và giới luật.
kết quả của sự tranh luận này dẫn đến sự phân
chia Phật giáo thành 2 bộ phái.
Qua
nội dung tranh cãi của 2 nguồn sử liệu khác nhau, nó
cho phép chúng ta suy luận rằng, Thượng Tọa Bộ là
phái bảo thủ. Phái này mong muốn những lời dạy của
đức Phật không bị chi phối bỡi thời gian và không
gian, bị ảnh hưởng những tập tục tín ngưỡng, văn
hoá của xã hội. Có thể nói đó là lý do mà Phật
giáo Thượng Tọa Bộ cố tình duy trì đời sống sinh
hoạt của tăng già bằng sự tĩnh lặng trong rừng núi,
cách ly đời sống ồn ào của xã hội, mới có thể
an tâm thật hành thiền định. Ngược lại, Phật giáo
Đại Chúng Bộ là Phật giáo cấp tiến, với lý tưởng
muốn thực thi xã hội hoá Phật giáo, có nghĩa là
sự tu tập của Phật giáo không chỉ dành cho giới xuất
gia, sống đời sống đơn đc trong rừng núi, mà sự
tu tập đó cho tất cả mọi người trong xã hội, không
giới hạn cho người xuất gia mà cho cả những người
tại gia, sống trong lòng xã hội vẫn có thể tu tập
được, vẫn thành đạt sự giải thoát và giác ngộ.
Trên thật tế, kết quả của việc xã hội hoá Phật
giáo như thế nào thì chúng ta khó để giải thích về
mặt chứng đắc, nhưng riêng về mặt hoạt động xã
hội thì rất thành công, chúng ta cũng thừa nhận một
điều là không sao tránh khỏi sự phức tạp của nó,
nhiều vấn đề không lợi lạc cũng từ đây mà phát
sinh. Ai là người thúc đẩy xã hội hóa Phật giáo
đó ? Chúng ta phải nói rằng, trong sự kiện này nhà
vua A Dục là người có công nhất, chính nhà vua là người
ủng hộ, tạo thành tiền đề cho sự canh tân và phát
tiển, đưa Phật giáo vào xã hội, vì nhà vua đã đưa
Phật giáo thành quốc giáo. Có thể nói tinh thần đó,
được Phật giáo Đại thừa kế thừa và chọn lọc
đúc kết và hình thành tư tưởng ‘Bồ tát hạnh’.Như
đã được đề cao trong hầu hết các kinh điển Đại
thừa, nổi bậc nhất là 2 kinh: “Duy Ma Cật” và “Hoa
Nghiêm”. Với nội dung tư tưởng của 2 kinh này, đề
cao vai trò của người cư sĩ tại gia còn quan trọng hơn
là người xuất gia. Đây là vấn đề thực tế mà
chúng ta cần phải nghiền ngẫm và suy tư. Có thể xem
đó như là một ‘công án’ để hình thành một xã
hội Phật giáo đầy sức sống và năng động bằng
hình thức là những người cư sĩ tại gia làm công việc
hoằng dương Phật pháp, để cho giới xuất gia có nhiều
thời gian tu học và thực nghiệm con đường giải thoát.
Ở
đây, chúng ta thử đặt vấn đề, tại sao Phật giáo
có sự chuyển biến như vậy ? Nếu chúng ta đứng từ
góc độ tình cảm hay niềm tin cá nhân để đánh giá
vấn đề thì câu trả lời đó sẽ như thế này hay
thế kia, tùy theo niềm tin và tình cảm của mỗi người.
Nhưng, như thế thì không phải là câu trả lời mà chúng
ta muốn tìm hiểu ở đây. Theo tôi, để cho câu trả lời
họp lý được đa số người chấp nhận, chúng ta cần
tìm hiểu bối cảnh xã hội khác nhau của mỗi thời
kỳ Phật giáo. Tại sao Phật giáo Nguyên thủy hay Phật
giáo Thượng tọa bộ lại chủ trương với đời sống
xuất gia, sống trong rừng núi ? Theo tôi có những nguyên
nhân sâu xa như dưới đây. Thứ nhất là, đời sống
xuất gia trong rừng núi vốn là truyền thống xuất
gia của những người Bà la môn, nó không phải là hình
thức sinh hoạt được sáng tạo bỡi đức Phật. Sự
tìm đạo giải thoát của đức Phật cũng không ngoài
con đường này, và sau khi thành đạo, đức Phật cũng
cảm thấy rằng, chỉ có con đường này mới có thể
cắt đứt mọi sự ràng buột của thế gian, an tâm trong
việc tu tập, cho nên ngài khuyên dạy những người muốn
tìm đạo giải thoát phải xuất gia, sống đời sống
tịch mịch trong rừng núi; Thứ hai, mục đích của những
người theo đức Phật xuất gia trong thời đó, chỉ có
mục đích đơn giản và duy nhất là tìm cầu sự giác
ngộ và giải thoát. Khi đã xuất gia xong, với đời
sống xuất gia như vậy, thật khó tạo điều kiện cho
người ấy sanh khởi những ý niệm bất chính, có
lẽ đó là một trong những lý do chính đáng mà đức
Phật đã khích lệ đời sống xuất gia ở trong rừng
núi; Thứ ba, một yếu tố khá quan trọng, với đời
sống kinh tế của thời kỳ đức Phật còn tại thế
vẫn còn lạc hậu, chữ viết chưa thịnh hành, không
có kinh sách, và ngay cả những công cụ truyền bá lời
Phật dạy, do vậy người nào muốn tìm cầu sự giải
giác ngộ giải thoát như đức Phật chỉ có cách duy
nhất là xuất gia với ngài, mới có điều kiện được
sống bên ngài và học hỏi những kinh nghiệm tu tập
từ ngài. Theo tôi, đó là 3 lý do chính đáng để lý
giải vấn đề tại sao Phật giáo Nguyên thủy hay Phật
giáo Thượng tọa bộ đề cao vai trò người xuất gia,
sống độc cư tĩnh lặng trong rừng núi , đã được
đề cập trong kinh điển A hàm hay Nikya.
Ngược
lại, tại sao Phật giáo Đại chúng bộ hay Phật giáo
Đại thừa lại chủ trương xã hội hoá Phật giáo ?
Tất nhiên có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ
yếu và quan trọng nhất là có liên quan đến chính sách
của nhà vua A Dục, lấy Phật giáo làm quốc giáo. Nếu
như trước đó Phật giáo chỉ là một đoàn thể xuất
gia tu tập trong rừng núi, đến thời kỳ này, Phật
giáo đã trở thành ‘tôn giáo chính của quốc gia’-quốc
giáo. Đứng trước một vị trí như vậy trong xã hội,
Phật giáo không thể không có bổn phận và trách nhiệm
trước xã hội và đặc biệt nhất là sự tín nhiệm
của nhà vua. Để đáp ứng nhu cầu của nhà vua và hoàn
thành trách nhiệm với vị trí ‘Quốc giáo’ này,
Phật giáo không thể tìm nơi vắng lặng trong rừng núi
tu tập thiền định mà phải sống trong lòng xã hội
để giúp nhà vua chính sách trị nước an dân, bằng
cách đem tinh thần ‘từ bi’ và ‘trí tuệ’ của đức
Phật gieo rắc vào mọi tầng lớp trong xã hội. Đứng
trước một cục diện như vậy, Phật giáo không thể
không thay đổi những hình thức sinh hoạt của mình. Phật
giáo Đại Đại thừa đã lấy vai trò 'trí tuệ’ làm
ngọng đuốc chỉ đường và lấy tinh thần ‘xả’ làm
ngọn cờ để vương tới mục đích, bất chấp sự
chỉ trích của Phật giáo Thượng tọa. Đó là lý do
tại sao Phật giáo Đại thừa đề cao con đường Bồ
tát hạnh, như đã được mô tả trong các kinh điển của
Phật giáo Đại thừa. Đối tượng mà Bồ tát hoá
độ là mọi thành phần trong xã hội, từ những người
Bà la môn đến những người nô lệ, từ vua quan đến
những người thường dân, từ những người nông phu
đến những người làm ăn trên biển cả… đó chính
là ý nghĩa đức Bồ tát Quan Thế Âm thị hiện nhiều
hình tướng khác nhau để hoá độ chúng sanh như trong
“Kinh Pháp Hoa”. Có lẽ đó là phương pháp duy nhất
khi nêu cao tinh thần độ sanh của Phật giáo Đại thừa,
dẫu rằng trong ấy ẩn chứa nhiều hình thức mê tín
và thần thoại, nhưng đó là cách hay nhất để Phật
giáo gần gũi với quần chúng.
Từ
bài học thực tế này, nó gợi ý cho chúng ta nhận
thức rằng, bản thân Phật giáo không có một hình thức
sinh hoạt cố định nào, làm tiêu chuẩn duy nhất để
cho mọi thời đại noi gương theo. Phật giáo phải tùy
theo từng xã hội yêu cầu, căn cứ tinh thần giáo dục
của đức phật tự hình thành thiết lập một hình
thái sinh hoạt nào đó để đáp ứng cho nhu cầu của
con người và thời đại. Nếu như không nắm rõ tinh
thần ‘tùy duyêt biến, bất biến tùy duyên’ của Phật
giáo thì đó chính là tự mình bóp chết sự sống
động của Phật giáo, vì không hiểu lý thuyết duyên
khởi và vô thường của đạo Phật.
IV.
Phật giáo ngày nay và bối cảnh xã hội của nó
Qua những vấn đề mà chúng ta vừa thảo luận trên,
nó gợi ý cho chúng ta hiểu rõ một điều là, sự
tồn tại của đạo Phật là sự tồn tại ở ngay trong
lòng xã hội, không phải ở một cõi hư vô trườu tượng
nào, nhất là đạo Phật Đại thừa, lấy tinh thần
Bồ tát đạo – cứu nhân độ thế làm mục đích.
Nói cách khác, quan điển của đạo Phật luôn luôn gắng
liền với đời sống thật tế của con người, khi nào
con người vẫn còn có sự khổ đau thì giáo lý của
ngài vẫn còn tồn tại. Như vậy, đạo Phật và con
người có mối quan hệ mật thiết. Nếu chúng ta chấp
nhận quan điểm này, thì vấn đề cốt lõi mà chúng
ta đáng được tìm hiểu và thảo luận ở đây chính
là: nhu cầu của con người và xã hội mà chúng ta đang
sống là gì ? Nếu như vấn đề này chúng ta không nắm
rõ thì đó là nguyên nhân chủ yếu để dẫn đến
sự suy tàn của đạo Phật, hoặc đạo Phật chỉ tồn
tại dưới hình thức là một loại tín ngưỡng dân
gian, như tín ngưỡng bình vôi ông táo, thiếu sức sống,
vì bản thân đạo Phật không đáp ứng được những
vấn đề thuộc về tri thức, là một nhu cầu hiểu
biết xã hội thời nay.
Theo
tôi, trước khi chúng ta tìm hiểu câu hỏi: nhu cầu của
con người và xã hội ngày nay là gì ? điều trước
tiên chúng ta cần tìm hiểu con người và xã hội ngày
nay như thế nào trong quá trình phát triển của nhân loại.
Đề cập đến vấn đề này, có lẽ không một ai trong
chúng ta phủ nhận sự thật của lịch sử là, thời
đại mà chúng ta đang sống là một thời đại có nền
khoa học kỷ thuật cao nhất trong quá trình phát triển
của nhân loại. Nếu như ngày xưa ông cha ta nhờ vào sức
lực của trâu bò để làm nông thì ngày nay đã thay
thế vào đó bằng máy móc, nếu như ngày xưa con người
lấy nông nghiệp làm nền kinh tế chính cho xã hội
thì ngày nay thay thế vào đó bằng nền kinh tế công
nghiệp và thương mại, làm nền kinh tế chính cho xã
hội… kết quả của sự văn minh này, nó đã nâng cao
đời sống con người, thay đổi bộ mặt xã hội. Ở
đây chúng ta cần chú ý, thành quả xã hội mà chúng
ta đang có, nó không phải là cái từ trên trời rơi xuống,
nó chính là những sản phẩm tư duy của con người, và
ngược lại những hoạt động xã hội là cơ sở cho
con người tư duy, tạo thành những sản phẫm mới cho
xã hội. Những sãn phẩm mới là kết quả của quá
trình suy tư, chọn lọc và đào thải của những kinh nghiệm
trong cuộc sống, nó được gọi là ‘tri thức’.
Như
vậy, tri thức là cái được hình thành từ những
kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, tách
rời những kinh nghiệm này chaắc chắn không có cái
gọi là ‘tri thức’. Nói một cách khác, những thành
quả xã hội là sản phẩm tư duy của con người, và
ngược lại, con người lấy xã hội làm đối tượng
nhận thức. Như vậy, con người và xã hội là mối
quan hệ bất khả phân, tương quan tương duyên, thay thế
cho nhau vừa làm nhân lại vừa làm quả.
Thế
thì để trả lời cho câu hỏi nhu cầu của con người
và xã hội ngày nay là gì ? chúng ta không thể tránh
né những vấn đề thực tế của xã hội. Vấn đề
thực tế của xã hội hiện nay là một xã hội hoạt
động với những công cụ khoa học và kỹ thuật, như
vậy nhu cầu của con người trong xã hội ngày nay là
nhu cầu về sự hợp lý và công bằng, hay nói khác
hơn là sự hiểu biết, khó có thể chấp nhận với
một lời giải thích vô lý mà bắt người khác chấp
nhận, ngay cả đó là tình mẫu tử. Trước một nhu
cầu xã hội như vậy, chúng ta làm thế nào vận dụng
lời dạy của đức Phật thành những thức ăn bổ dưỡng
cho cuộc sống, nó không phải là những giáo điều cứng
nhắt, bắt con người tínn ngưỡng và tôn thờ.Tri thức
không nên hiểu là những lý thuyết suông hay những kiến
thức ở trong sách vở khô cứng, phải là những kiến
thức đã được tiêu hoá, là sự kết họp giữa tri
thức và đời sống thực tiễn. Ví dụ, nếu chúng
ta cho rằng những lời dạy của đức Phật trong kinh điển
là những yếu tố cần thiết cho đời sống hạnh phúc
của con người, câu nói này chỉ có giá trị khi con người
áp dụng lời Phật dạy cảm thấy hạnh phúc, nếu kết
quả không là như vậy, thì câu nói đó có hai trường
hợp xảy rá. Thứ nhất là lời Phật dạy không có
liên hệ gì với cuộc sống; thứ hai là chúng ta đã
hiểu sai và áp dụng sai về lời dạy đó. Ở đây,
chúng ta có thể nói trường họp thứ nhất không xảy
ra, chỉ xảy ra trong trường hợp thứ 2 mà thôi, như vậy
tại sao lại có trường hợp thứ 2 này ? lý do tại sao
? đây chính là trường hợp đã được đức phật
giải thích trong kinh “Tăng Chi Bộ” như sau:
“Hai
pháp này, ày các Tỷ kheo, đưa đến sự hỗn loạn (mê
mờ) và biến mất của diệu pháp. Thế nào là hai
? Vaăn cú bị đảo ngược, ý nghĩa bị hiểu lầm. Nếu
văn cú bị đảo ngược thì ý nghĩa bị hiểu lầm.
Những pháp này, này các Tỷ kheo, là hai pháp đưa đến
hỗn loạn và biến mất của diệu pháp.”
Cũng
diễn tả về ý này trong ‘Kinh Ví Dụ Con Rắn’ thuộc
“Kinh Trung Bộ” đức Phật giải thích:
“
Chư Tỷ kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp,
như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, kệ tụng, Cảm hứng
ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương
quảng. Sau khi học những pháp này, họ không quán sát
ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp
ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên
trở thành không rõ ràng. Họ học pháp chỉ vì lợi
ích muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích muốn
khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục
tiêu mà học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm
giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu
dài. Vì sao vậy ? Vì nắm giữ sai lạc các pháp.”
Ở
đây, kết quả của sự đau khổ chính là sự nắm bắt
sai lạc, có nghĩa là hiểu sai lạc về những lời dạy
của đức Phật, do vậy, khổ đau xuất hiện. Thế nào
là sự hiểu sai ? hiểu sai là sự hiểu biết không
đúng với sự thật, sự thật như thế này mà lại
hiểu như thế khác, mang tính duy ý chí, từ chuyên môn
trong Kinh điểm Nam truyền gọi là ‘không như lý tác
ý’ hay trong “kinh Kim Cang” đức Phật gọi là ‘điên
đảo mộng tưởng’, là sự hiểu biết không liên hệ
đến sự thật. Thế nào gọi là sự thật ? Sự thật
là cái không bị bóp méo bỡi những suy đoán không đúng
của con người. Ví dụ, khi chúng ta đọc kinh điển Phật
giáo, chúng ta cần trả nó về với bối cảnh lịch
sử mà nó đã xuất hiện. Tách rời lời dạy trong
kinh khỏi bối cảnh lịch sử quá khứ của nó, chúng
ta lại lấy những kinh nghiệm của đời sống hiện tại
để lý giải trình bày tư tưởng của nó, có thể
nói đó là sự trình bày duy ý chí hay tưởng tượng,
không phù họp với sự thật. Đó là ý nghĩa của câu
‘ Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhất tự
tức đồng ma thuyết’ hay nói một cách khác, chúng
ta không nắm rõ tinh thần giáo dục và hình thức giáo
dục của đức Phật, chúng ta rất dễ bị rơi vào sự
hiểu lầm. Tôi gọi sự hiểu biết này là sự hiểu
biết suông hay loại kiến thức chưa được tiêu hoá.
Như
vậy, thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại
của văn min, thời đại của khoa học kỷ thuật tiên tiến,
nó tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, và
được xem như là thước đo chung cho mọi lãnh vực sinh
hoạt của con người, từ nông nghiệp cho đến công nghiệp,
từ giáo dục đến kinh tế, chính trị, xã hội, thậm
chí ngay cả sinh hoạt trong gia đình. Trước tình hình
đó, ngành giáo dục trở thành đội ngũ tiên phong gánh
lấy trách nhiệm đào tạo con người đi theo khuynh hướng
phát triển này. Như vậý, bất cứ ai sinh ra và trưởng
thành trong thời đại ngày nay không thể không chịu ảnh
hưởng của cái gọi là ‘thời đại vàng son của nền
văn minh khoa học’.
Khuynh
hướng giáo dục và đào tạo của xã hội ngày nay là
như vậy, cách suy nghĩ của con người ở thời đại
ngày là như thế. Thế thì đạo Phật muốn tránh khỏi
sự dị ứng của xã hội, để được cùng với xã
hội tồn tại và phát triển, điều kiện tiên quyết
bản thân Phật giáo phải lấy nền giáo lý ‘chánh
tri chánh kiến’, làm phương tiện đưa chánh pháp vào
cuộc sống xã hội, có lẽ đó là con đường duy nhất
để đáp ứng những nhu cầu của con người trong thời
đại ngày nay. Như vậy, sự đào tạo con người và trang
bị kiến thức chuyên môn cho người làm công tác tôn
giáo là một nhu cầu cần thiết và hết sức cấp
bách, làm tiền đề cho Phật giáo phát triển và lợi
lạc quần sanh.
V.
Làm thế nào để Phật giáo cùng xã hội phát triển
1.
Vấn đề người lãnh đạo và tổ chức Giáo hội
Theo
tôi, một trong những vấn đề then chốt để đưa Phật
giáo phát triển, phải nói đến hai việc quan trọng là
người lãnh đạo và cách tổ chức. Đề cập đến
vấn đề Giáo hội, tôi không đứng trên lập trường
của một người con Phật, lấy việc phụng sự đạo
pháp làm mục đích.
Nói
đến vấn đề tổ chức của Giáo hội, trước hết
là nói đến những người lãnh đạo, là những người
lèo lái con thuyền của Giáo hội, quyết định vậnh
thịnh hay suy của giáo hội, do vậy, theo tôi người lãnh
đạo Giáo hội, ngoài những yếu tố tiêu chuẩn mà
khi nay chúng ta thường chọn, chúng ta cần chú ý đến
việc năng lực, có khả năng nhìn xa thấy rộng, có
bổn phận và trách nhiệm đối với việc thịnh suy
của đạo pháp, xem đó như là sự đói no, nóng lạnh
của chính bản thân mình. Có như vậy, mới có khả năng
và chủ động hoạch định xu hướng phát triển, thúc
đẩy và sắp xếp những công việc của giáo hội.
Để
cho công việc của Giáo hội được thành tựu, Giáo
hội cần chú ý đến vấn đề tổ chức. Nói đến
vấn đề tổ chức là nói đến bộ máy điều hành
và hoạt động của giáo hội. Sự hình thành ban ngành
là nói đến những mặt hoạt động cụ thể và chuyên
môn, nhằm thực thi và hoàn thành những công việc mà
giáo hội đã đề ra, tránh trường họp xưa bày nay
vẽ, việc thừa người thiếu, chú trọng tính hiệu
quả. Từ đó, giáo hội mới thành lập những ban ngành
họp lý đảm đương công việc của Giáo hội.
2.
Vấn đề giáo dục và đào tạo
Có
thể nói giáo dục và đào tạo là ngành mang tính quyết
định cho sự phát triển của Giáo hội, vì nhân sự
của giáo hội làm việc có hiệu quả hay không, phần
lớn đều tùy thuộc vào khả năng chuyên môn của người
đó. Thông thường, nói đến tri thức là nói đến
vấn đề giáo dục và đào tạo. Một kinh nghiệm trong
thực tế cho thấy, đời sống nông thôn có thu nhập
thấp hơn và khổ hơn so với người dân sống ở thành
thị; đời sống của người có trình độ học vấn
thấp, thường có đời sống kinh tế khó khăn hơn so
với người có trình độ cao. Tại sao ? có lẽ lý do
chủ yếu chính là sự chênh lệch về sự hiểu biết,
tức là kiến thức chuyên môn, từ kiến thức chuyên
môn non kém, sẽ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hậu
quả xấu. Do vậy, muốn được phát triển Phật giáo
không thể không để ý đến vấn đề giáo dục và
đào tạo nhân tài.
Dẫu
rằng, Phật giáo là một tôn giáo lấy sự giác ngộ
và giải thoát làm mục đích, nhưng sự tồn tại của
Phật giáo không thể tách khỏi cuộc sống của xã hội,
nhất là Phật giáo Đại thừa đề cao vai trò Bồ tát
hạnh, lấy tinh thần độ sinh làm sự nghiệp, thế thì
Phật giáo không thể không sống trong lòng xã hội được,
không tìm hiểu cách suy tư tập quán của con người,
xu hướng phát triển của xã hội mà chúng ta lại đặt
vấn đề độ sinh, vấn đề hoằng dương Phật pháp
là một công việc làm hết sức mơ hồ, điều đó
chẳng khác nào như chúng ta muốn tạo ra một sản phẩm
để bán, nhưng chúng ta không suy nghĩ đến đối tượng
tiêu thụ sản phẩm là ai, như vậy thật là một việc
làm nguy hiểm. Hơn nữa, ý nghĩa sự giác ngộ và giải
thoát của đạo Phật không thể tách rời thế gian, tách
rời cuộc sống thực tế này mà có sự giác ngộ
và giải thoát. Đó chính là ý nghĩa của câu kệ: “Phật
tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mích Bồ
đề, du như cầu thố giác”. Như vậy, Phật giáo là
một tôn giáo của con người lấy con người làm đối
tượng để nói chuyện.
Xuất
phát từ ý nghĩa này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu
rằng, sự suy nghĩ và hành động của đạo Phật không
thể tách rời cách suy tư và hành động của con người.
Như vậy, Phật giáo hình thành cần sớm được hình
thành nền giáo dục làu cần thiết và thực tế. Hơn
nữa, Phật giáo là một tôn giáo lớn của xã hội,
được đại đa số người tin theo, nó có ảnh hưởng
trực tiếp đến con người và xã hội đó. Do vậy,
những người làm công tác tôn giáo-Phật giáo không
thể không được đào đạo, để có kiến thức chuyên
môn phục vụ con người và xã hội. Trong ý nghĩa này,
kiến thức chuyên môn của người truyền giáo là kiến
thức của người vừa có trình độ chuyên môn vềt
học vừa có kiến thức xã hội. Kiến thức Phật
học giúp cho người làm công việc hoằng pháp không làm
lệch đi tinh thần giáo dục của đạo Phật; kiến thức
xã hội là kiến thức giúp cho người làm công tác
truyền giáo hình thành những phương thức truyền giáo
thích nghi và đáp ứng được nhu cầu của con người
và lợi ích cho xã hội. Như vậy là sự kiện toàn
tinh thần ‘khế lý và khế cơ ‘của đạo Phật.
Như
chúng ta đã biết, thời đại mà chúng ta đang sống
là thời đại của khoa học kỷ thuật, với nền giáo
dục tiến bộ, nó hoàn toàn đổi khác so với xã hội
xa xưa. Ở xã hội ngày nay, nhất là xã hội của những
nước Tây phương, chúng ta không thể muốn nói gì thì
cứ nói cái ấy, không thể bảo người khác chấp nhận
và tin theo những điều vô lý của mình, ngay cả đó
là người con, người cháu trong gia đình của mình. Ngược
lại, con người của thời đại ngày nay, chỉ biết chấp
nhận và làm theo những gì họp lý, thật tế và hữu
ích. Tính họp lý thật tế và hữu ích vốn là gia
tài sẵn có trong đạo Phật. Bản chất đó ở đâu
? xin trả lời rằng, nó tiềm tàng ẩn chứa trong mọi
kinh điển Phật giáo, không giới hạn ở Nam truyền hay
Bắc truyền, có điều chúng ta bằng cách nào để
khai thác nó. Nếu như thời gian qua, con người không chú
ý hoặc cố tình quên đi, nhưng ở xã hội ngày nay,
nó là nhu cầu chính đáng của con người, chúng ta có
trách nhiệm làm sống dậy bản chất vốn có trong đạo
Phật́.
Như
vậy, Phật giáo muốn tồn tại và phát triển ở xã
hội ngày nay, Phật giáo cần chú ý đến vấn đề
giáo dục và đào tạo đội ngũ tri thức, có kiến
thức chuyên môn của Phật giáo. Ví dụ, ngoài ngành Phật
học, Phật giáo cần phải đào tạo những người chuyên
ngành khác như âm nhạc, kiến trúc, hội hoa, sử học̣...v.v…
Qua quá trình hoằng dương Phật pháp trong quá khứ để
lại cho chúng ta những kinh nghiệm đáng quí, qua những
kinh nghiệm đó, chúng ta chỉ cần biết phân tích tổng
họp và chọn lọc, chắc chắn chúng ta sẽ có hình thức
sinh hoạt rất sống động và hấp dẫn, và sẽ không
cảm thấy ngần ngại trước những áp lực giữa quan
niệm cũ và quan niệm mới. Ví dụ, những hình thức
lễ nhạc được lưu truyền trong Phật giáo, nếu tôi
nói không sai lầm, nó vốn là những lễ nhạc của thế
gian được người dân yêu thích. Phật giáo lấy nó
làm phương tiện truyền tải Phật pháp, bằng cách thay
vào đó bằng những lời Phật pháp, và được chính
thức tán tụng trong những ngày lễ và thậm chí được
xem nó như là một phương pháp tu tập trong đạo Phật,
nó trở thành công cụ truyền giáo đắc lực có hiệu
quả trong việc hoằng dương Phật pháp trong quá khứ.
Thế nhưng, loại âm nhạc này không đủ sức hấp dẫn
ở thế hệ của thời đại ngày nay, thế thì tại sao
chúng ta lại khư khư chỉ chấp nhận và cho rằng chỉ
có như thế mới là ‘truyền thống văn hoá của đạo
Phật’, ngoài ra đều không thể chấp nhận, đôi khi
còn có thái độ kỳ thị ? Thử hỏi truyền thống văn
hoá của đạo Phật là gì ? phải chăng là những hình
thức không còn sức sống ? nếu nó là cái không còn
sức sống thì tại sao chúng ta bắt nó phải sống ?
chúng ta làm như vậy có ngược giáo lý ‘duyên khởi’
và ‘vô thường’ của đức Phật chăng ? Nếu như, chúng
ta lấy mục đích hoằng dương Phật pháp, đem sự ích
lợi đến cho mọi người va mọi tầng lớp xã hội,
chúng ta thử nghĩ cách suy nghĩ và việc làm như vậy
có công bằng và họp lý chăng ? có phù họp với tinh
thần khế lý và khế cơ của đức Phật chăng ? Nếu
vậy, chúng ta cần phải tái tạo một loại âm nhạc mới,
tạo sự hấp dẫn cho giới trẻ, làm phương tiện để
cho chúng sanh gần gũi với Phật pháp, sự gần gũi
này đó là cơ hội tốt nhất để cho Phật giáo giới
thiệu cho họ một đời sống hướng thiện, đồng thời,
lời của bản nhạc với nội dung khuyên con người từ
bỏ những hành vi bất thiện làm việc thiện, tôi tin
chắc rằng lời nhạc này nó sẽ là vị thầy vô hình
hướng người đó trở thành con người tốt trong xã
hội. Vấn đề này, hôm nay chúng ta đặt ra tưởng rằng
nó là vấn đề mới, nhưng thật ra nó là vấn đề
rất cũ đã được các vị tổ sư, các vị tiền bối
trước đây đã dám nghĩ và dám làm, đây chính là
tinh thần của Phật giáo Đại thừa, là tinh thần cải
cách, bất chấp và vượt qua những chê bai và bất
đồng chính kiến, để vương tới mục đích vì lợi
ích, vì lợi lạc cho sống đông cho con người và xã
hội. Muốn làm được như vật giáo cần có những
người chuyên về âm nhạc, có nghĩa là phải nghĩ cách
đào tạo con người chuyên môn. Cũng vậy, về mặt kiến
trúc xây dựng, hội hoạ, hành chánh, nghiên cứu các
chuyên ngành khác cũng cần có những người chuyên môn.
Có thể nói, đây là một vấn đề hết sức quan trọng,
để đưa Phật giáo cùng với xã hội phát triển.
Qua đó, nó gợi ý cho chúng ta nhận thức một điều
quan trọng rằng, nhu cần hình thành hệ thống giáo dục
Phật giáo là một việc làm hết sức cấp bách và
thật tế, nó không những giải quyết được những
vấn đề khó khăn của Giáo hội Phật giáo, và còn
có nhiều sự lợi ích cho xã hội.
Nói
đến sự giáo dục là nói đến cơ sở giáo dục của
Phật giáo, hay nói rõ ràng là nhu cầu hình thành trường
Đại học Phật giáo. Nếu như chúng ta cho rằng, hơn một
nửa dân số người Việt nam theo đạo Phật thì vấn
đề thành lập trường Đại học Phật giáo làn thích
đáng, đó không phải là nhu cầu của một cá nhân nào
mà là nhu cầu của đại đa số người dân trong đó
có Phật giáo; nếu nền văn hoá truyền thống của
dân dộc Việt nam gắng liền với nền văn hoá Phật
giáo thì vấn đề hình thành một trường Đại học
không phải là vấn đề cá nhân của Phật giáo mà là
quyền lợi chung của dân tộc. Nếu như chúng ta cho rằng
Phật giáo Việt nam trong quá trình hội nhập và phát
triển luôn luôn gắng liền với quyền lợi của dân
tộc, thế thì tại sao Phật giáo không thành lập trường
Đại học để chuyên nghiên cứu về điểm tốt đẹp
của Phật giáo Việt nam ? Vậy thì Phật giáo Việt
nam và dân tộc Việt nam còn suy nghĩ và đợi chờ gì
nữa, không nhanh chóng thực hiện ý tưởng tốt đẹp
đó ?
Theo tôi, sự ra đời của trường Đại học Phật giáo
giải quyết được nhiều vấn đề tồn tại trong Phật
giáo và xã hội. Thứ nhất, bản thân Phật giáo làm
chủ được công việc đào tạo những ngành chuyên môn
có liên hệ đến những măt hoạt động của Phật giáo
nói riêng và ngành tôn giáo học nói chung, nó sẽ cung
ứng cho giáo hội và xã hội những người làm việc
chuyên môn về tôn giáo. Thứ hai, Đại học Phật giáo
là nơi tập họp những nhà nguyên cứu chuyên môn để
thảo luận những vấn đề liên quan đến Phật pháp
và vấn đề văn hóa của dân tộc; Thứ ba là nơi giao
lưu về mặt học thuật giữa Phật giáo Việt nam và
Phật giáo quốc tế; Thứ tư là nó sẽ là nơi đưa
ra những ý kiến tích cực góp phần xây dựng xã hội
trong việc ngăn chân những vấn đề tệ đoan của xã
hội; Thứ năm Đại học Phật giáo là một trường
Đại học dân lập, do vậy, ngoài mặt giáo dục, nó
cũng được xem như là một cơ sở kinh tế tự túc
của giáo hội, nguồn tài chính thu được sẽ được
trang trải cho những hoạt động của giáo hội. Ngoài
ra, nó còn nhiều mặt lợi khác, như tạo một số công
việc làm cho người dân.
Nói chung, việc xây dựng một trường Đại học Phật
giáo ở trên mảnh đất Việt nam là nhu cầu cần thiết
không những chỉ riêng cho Phật giáo mà cả dân tộc.
3.
Vấn đề phiên dịch và biên tập bộ Đại tạng kinh
Việt nam
Ý
tưởng về việc phiên dịch và biên tập bộ Đại tạng
kinh Việt nam có từ rất sớm, không những chỉ có Giáo
hội mà ngay cả những tổ chức cá nhân cũng đã nghĩ
và tiến hành làm công việc này, nhưng cho đến nay vẫn
chưa hoàn thiện. Theo tôi được biết, viện nghiên cứu
Phật học Việt nam, viện đã hình thành một bộ phận
gọi là Ban phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt nam, có trách
nhiệm biên tập và phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt nam.
Trên thật tế cho đến nay Ban này chỉ dừng ở việc
in lại những bản kinh Nam truyền do Hoà thượng Minh Châu
dịch, và những bản Kinh A hàm của Hoà thượng Thiện
Siêu và Thanh Từ dịch trước đây, cho đến nay Viện
đã xuất bản được tất cả 35 tập, nội dung và hình
thức biên tập có nhiều vấn đề cần được thảo
luận. Ngoài ra, tổ chức cá nhân của Thượng tọa Tịnh
Hạnh ở Taiwan cũng đang tiến hành phiên dịch và in ấn,
nội dung phiên dịch và sự biên tập như thế nào, chúng
ta còn đang chờ đợi. Theo tôi, công việc phiên dịch và
biên tập Bộ Đại tạng kinh Việt nam là công việc hết
sức quan trọng của Phật giáo Việt nam, vì nó không
những là nguồn tư liệu cần thiết cho người Việt
chúng ta được nghiên cứu về Phật học. Ngoài ra, còn
có ý nghĩa rộng lớn hơn, bất cứ người Việt nào
cũng có thể đọc và hiểu lời Phật dạy.
Trên
thực tế cho thấy, mặt dù đạo Phật được truyền
vào Việt nam từ rất sớm, nhưng thành quả nghiên cứu
về Phật học của người Việt chúng ta so với thế
giới quả thật còn rất giới hạn. Sự giới hạn này
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên
nhân không kém phần quan trọng là Phật giáo Việt nam
chua có bô Đại Tạng Kinh bằng chữ việt, sự thiếu
sót này đã kéo theo một số vấn đề khác, như là
vấn đề giáo dục và nghiên cứu….chắc chắn nó
có ảnh hưởng rất lớn trong lãnh vực này. Như vậy,
muốn tạo thành phong trào học Phật cho người Việt
được lên cao, được phong phú và đa dạng hóa, điều
trước tiên Phật giáo Việt nam cần phải có Bộ Đại
Tạng kinh bằng tiếng Việt.
Theo
kinh nghiệm cá nhân của tôi, việc chuyển dịch Bộ Đại
Chánh tân tu Đại tạng kinh ra Việt ngữ, tôi cho rằng
không đơn giản như chúng ta nghĩ, chỉ cần biết chữ
Hán hay bên cạnh chúng ta có quyển tự điển là chúng
ta có thể dịch được kinh điển của Phật giáo. Vì
vấn đề tư tưởng Phật học và sự am hiểu chữ
Hán là 2 lãnh vực hoàn toàn khác nhau. Nói một cách
dễ hiểu là không phải ai biết chữ Hán là người
ấy giỏi về Phật học, một điển hình cụ thể là
không phải ai là người Trung Hoa thì người ấy giỏi
về Phật học. Ở đây tôi xin kể một câu chuyện điển
hình để chúng ta hiểu 2 vấn đề không phải là một.
Tôi cho học viên (người Taiwan) làm bài kiểm tra bằng
cách phân tích ý nghĩa của một bài kinh trong “Trung
A hàm”, kết quả phần lớn họ không làm được tốt
lắm, tôi rất làm ngạc nhiên và tìm hiểu nguyên nhân,
mới biết rằng họ không quen tư tưởng và cách lập
luận của Phật giáo Thượng tọa Bộ, do đó họ cứ
lấy tư tưởng và cách lập luận của kinh điển Đại
thừa giải thích kinh A Hàm. Qua đó, nó gợi ý cho chúng
ta hiểu một vấn đề quan trọng là, ngoài vấn đề
biết chữ Hán, người địch cần có kiến thức chuyên
môn về Phật học, không thể biết chữ Hán là chúng
ta dịch được Kinh điển Phật học. Ngoài vấn đề
tư tưởng, cách chấm phẩy và phân đoạn trong kinh điển
bằng chữ Hán rất là phức tạp, có nhiều chỗ
sai, nhất là phần luận ( A tỳ đàm), một điển hình
cụ thể là tác phẩm “Tam Di Để Bộ Luận” là một
bộ luận của phái Độc tử bộ, người Nhật khi biên
tập tác phẩm này không nắm rõ nội dung tư tưởng
của luận, dẫn đến sự chấm phẩy luận này có
rất nhiều điểm sai lầm. Nếu chúng ta không rành về
tư tưởng của Độc tử bộ, cứ căn cứ theo cách chấm
phẩy này, rất khó cho chúng ta hiểu được tư tưởng
của bộ luận này, có lẽ đó là lý do dẫn đến
ít người nghiên cứu bộ luận này. Tất nhiên, đây
chỉ là một điển hình mang tính gợi ý cho chúng ta
hiểu thêm về vấn đề phiên dịch Đại Tạng kinh mà
thội.
Thế
thì công việc phiên dịch kinh điển chữ Hán sang Việt
ngữ như thế nào mới cho có được kết quả tốt
? Theo tôi, qua kinh nghiệm của bản thân, việc nghiên cứu
về kinh điển chữ Hán, muốn có một bản dịch nghiêm
túc không thể chỉ dừng lại ở việc biết chữ Hán
mà còn phải có trình độ chuyên môn về Phật học,
nhất là Phật học Ấn độ, có như vậy, người dịch
mới đủ khả năng giải toả những vấn đề tế nhị
và khó khăn của một bản Kinh bằng chữ Hán. Thế thì
công việc phiên dịch và biên tập Đại Tạng kinh Việt
nam phải là những người chuyên môn về Phật học và
Hán học, không thể là những người không chuyên môn.
Một việc làm vô trách nhiệm có tác hại không nhỏ
đối với bản thân người dịch và người sử dụng
bản dịch đó.
Do
vậy, đối với vấn đề phiên dịch bộ Đại Tạng
kinh chữ Hán sang việc văn , Giáo hội cần có kế hoạch,
bằng cách thường xuyên đào tạo người không chỉ thông
thạo chữ Hán mà còn phải am tường Phật học, tốt
nhất gởi người đi du học ngành Phật học ở những
nước lấy chữ Hán làm ngôn ngữ chính. Đây là một
vài ý kiến cá nhân đối với công việc phiên dịch
và biên tập bộ Đại Tạng Kinh Việt nam.
VI.
Kết luận
Sự
giác ngộ của đức Phật dưới cội cây Bồ đề là
giáo lý duyên khởi. Từ chân lý này đức Phật phát
hiện nhân sinh và vũ trụ vốn là duyên khởi tánh, không
do ai làm ra, cũng không ai có quyền hủy bỏ nó. Sự hình
thành của mọi sự mọi vật là do nhân duyên và sự
biến mất của nó cũn duyên. Như vậy, bản chất cuộc
đời là vô thường là chuyển biến.
Sau
khi đức Phật thành đạo, vì lòng thương chúng sanh,
ngài đã đem khoảng thời gian còn lại của ngài (45 hay
49 năm) vì chúng sanh mà nói pháp. Giáo pháp mà ngài
đã nói tuy rất nhiều nhưng chỉ có một vị, đó là
vị giải thoát, với thiện ý muốn cho chúng sanh nhận
thấy chân lý để được giác ngộ và giải thoát.
Thế nhưng, chúng sanh căn tánh không đồng trình độ
cũng không đồng, do vậy lời Phật dạy cũng tùy theo
đó mà có sự khác biệt. Chúng ta có thể gọi những
gì mà đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề
là tinh thần hay mục đích giáo dục của đạo Phật,
những gì mà chúng ta thấy trong Phật giáo. Như là Đại
thừa hay Tiểu thừa, Nguyên thủy hay là Bộ phái và
ngay cả 3 tạng mà chúng ta hiện có là những hình thức
giáo dục của Phật giáo. Đây chính là tinh thần ‘tùy
duyên bất biến’ trong kinh Viên Giác.
Căn
cứ từ tinh thần này, đạo Phật không ngừng phát triển.
Từ đời sống vô gia cư trong rừng núi, dần dần đã
phát triển đến đời sống định cư ở thị thành;
từ trung tâm Ấn độ mở rộng đến bốn phương, từ
trong nước đến ngoài nước, cho đến nay Phật giáo
đã có mặt khắp cả địa cầu, hình thức sinh hoạt
của Phật giáo ở từng mỗi địa phương cũng không
giống nhau, nhưng tất cả đều hướng đến sự giải
thoát và giác ngộ. Đó là điểm đặc thù của Phật
giáo.
Ở
thời đại ngày nay, Phật giáo đang đứng trước sự
thử thách lớn. Phật giáo có nên chăng thay đổi những
hình thức sinh hoạt không còn thích nghi với xã hội.
thay vào đó những hình thức hoạt động mới, để
đáp ứng nhu cầu thực tiễn của con người của xã
hội ngày hôm nay. Ở đây, tôi gọi sự thử thách, nó
không đồng nghĩa bản thân giáo lý Phật giáo không đủ
sức đáp ứng nhu cầu về mặt tri thức của xã hội
ngày nay, mà tôi muốn nói đến sự daằng co giữa một
quan niệm cũ và quan niệm mới, nếu như Phật giáo
không mạnh dạn trong việc cải cách các mặt hoạt động
của phật giáo thì đó là bức tường ngăn cản của
tuổi trẻ đến với đạo Phật. Đây là một vấn đề
thực tế đang xảy ra chung quanh ta, nhất là ở những
xã hội Tây phương.
Nếu
như chúng ta chịu khó ôn lại quá trình phát triển của
đạo Phật, ở đó nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng,
đạo Phật luôn luôn cùng với xã hội phát triển, tùy
theo từng xã hội khác nhau, Phật giáo vượt qua những
chướng ngại, sớm hình thành một hình thức nào đó
phù hợp với con người ở xã hội đó, miễn là
không trái với tinh thần giác ngộ và giải thoát của
đức Phậng câu nệ với bất cứ hình thức nào, nhờ
vậy Phật giáo luôn luôn tồn tại với mọi con người
ở mọi thời đại. Nếu chúng ta đứng từ góc độ
truyền thống văn hoá của đạo Phật mà nói, thì chúng
ta phải nói truyền thống vaăn hoá của Phật giáo là
duyên khởi là vô thường là không chấp thủ. Như vậy,
chúng ta không có lý do gì để bám lấy bất cứ hình
thức gì nào, và cho rằng chỉ có đây mới là đạo
Phật, ngoài ra không phải là đạo Phật.
Ở
xã hội ngày nay, nhất là ở những xã hội có nền
có nền kinh tế cao, khoa học kỹ thuật tiên tiến, Phật
giáo muốn tồn tại và phát triển ở những xã hội
này cần đề cao vai trò ‘chánh tri chánh kiến’ ở
trong các mặt hoạt động của Phật giáo. Muốn được
thực thi tinh thần này, trước mắt chúng ta cần chú
ý đến những mặt: người lãnh đạo và công tác tổ
chức, đưa công tác giáo dục và đào tạo lên hàng đầu,
để đáp ứng những nhu cầu nàt giáo cần chủ động
việc mở trường Đại học, thúc đẩy công tác nghiên
cứu và xem việc phiên dịch và biên bộ Đại Tạng Kinh
Việt nam là trọng trách của Giáo hội.
Trên
đây, chỉ là ý kiến cá nhân, là sự thao thức và
trăn trở của cá nhân với tư cách là một người con
Phật, muốn tinh thần trong sáng và hữu ích của đức
Phật được tồn tại và phát triển trong lòng xã hội.
Nơi đây, rất mong được sự nhiệt tình góp ý của
các bậc thiện tri thức.
Kinh
sách tham khảo:
-
HT.Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 1, Viện NCPHVN
ấn hành, 1993.
-
HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ” tập 1, Viện NCPHVN
ấn hành, 1996.
-
HT. Minh Châu dịch , “Kinh Trung Bộ” tập 1 và 2, Viện
NCPHVN ấn hành, 1992.
-
HT. Thiện Siêu và Thanh Từ dịch, “Kinh Tạp A Hàm” tập
1, Viện NCPHVN ấn hành, 1993.
-
“kinh Diệu Pháp Liên Hoa”, Đại Chánh Tạng quyển 09, số
262.
-
“Dị Bộ Tôn Luân Luận”, Đại Chánh Tạng quyển 49, số
2031.
-
Lữ Trưng, “Ấn độ Phật học Tư tưởng khái luận”
Taipei, NXB Thiên Hoa, 1982.
Địa
chỉ liên lạc mua sách:
Tại
Việt Nam
Nguyễn
Thành Tâm
Địa
chỉ: A7/14 Bis, đường Lương Định Của, P. An Khánh,
Q.
2, Tp. HCM. Tel: (08) 7400569, Di động: 0908 181 556
Tai
Đức (GRRMANY)
Trần
Thị Mỹ Nga,
Mozartstr
12, 73430 Aolen GERMANY,
Tel:
(49) 7361969230
Email:
Mynga@online.de
Hoặc
chị Việt Hương
Tel:
(49) 21517639662
thanhnghiem54@yahoo.de
06-11-2008
05:23:13