Ðây
là bài thuyết giảng của Hòa thượng Ấn Thuận, dành cho
lớp cao học Phật học của Viện nghiên cứu Phật Quang Sơn,
do Quảng Tịnh ghi lại, được đăng tải trong bộ “Hoa Vũ
tập” tập 5. Tôi thấy bài viết này có ích cho những ai
muốn tìm hiểu Phật học, vì nó không những nói lên lập
trường nghiên cứu chân chính của tác giả mà còn đề xuất
phương pháp nghiên cứu Phật học khá mới mẻ, có hệ thống
và khoa học. Mặc dù tác giả là một vị xuất gia, nhưng
không vì thế mà tác giả quên đi tinh thần học thuật, là
tinh thần tôn trọng sự thật, sự thật như thế nào nói
như thế ấy, không thêm cũng không bớt, dù nó có xúc phạm
đến truyền thống tôn giáo. Tinh thần nghiên cứu Phật pháp
của Ngài đáng làm gương cho những người học Phật, nhất
là giới làm công tác nghiên cứu.
Theo
tôi, phương pháp nghiên cứu của Hòa thượng là kim chỉ nam
cho giới nghiên cứu, đáng được thay vào phương pháp nghiên
cứu cũ kỹ trước đây, dựa vào phương pháp phân tích triết
học của những người Tây phương khi nghiên cứu Phật học,
hoặc lấy tư tưởng Lão Trang để phân tích Phật học.
kết quả của hai phương pháp này không làm sao tránh khỏi
tính phiếm diện và pha trộn.
Tôi
thấy sự lợi ích như vậy, nên có thiện ý dịch sang tiếng
Việt, mục đích gợi ý để người Việt chúng ta có thêm
tư liệu tham khảo. Tôi hy vọng những người nghiên cứu Phật
học Việt Nam sẽ hài lòng với phương pháp nghiên cứu của
Ngài. Dưới đây là toàn văn bài nói chuyện.
(Lời
của người dịch)
Chư
vị nghiên cứu sinh thân mến! Bốn năm gần đây, thân thể
tôi (Ấn Thuận) già đi và phát sinh nhiều bệnh hoạn. Các
vị có nhã ý đến đây học tập Phật pháp, tuy lòng cảm
thấy rất vui, nhưng thân thể không tốt, tâm trí cũng theo
đó mà giảm sút đi nhiều, do vậy tôi cũng không biết lấy
gì để nói chuyện để giúp cho chư vị trong việc nghiên
cứu Phật pháp.
Hiện
nay, các vị đang tu học tại Học viện là giai đoạn nghiên
cứu Phật pháp. Như tôi đây, một số người cũng cho là
người nghiên cứu Phật pháp. Thật ra, tôi chỉ là người
y cứ vào những tác phẩm của Ðại sư Thái Hư và Pháp Tôn,
đọc qua những tác phẩm của hai vị này, có thể là một
cách tùy tiện nghiên cứu Phật pháp, từ đó rút ra một số
kinh nghiệm. Tôi không đủ phước đức như quý vị được
tu học ở Học viện lâu dài, có thể nói tôi học ở đây
một chút, ở kia một tí. Có người hỏi tôi học như thế
nào? Thật tình mà nói, tôi không biết trả lời cho họ như
thế nào? Vì tôi chưa từng học tập ở bất cứ ai, do đó
tôi cũng không biết bằng cách nào để dạy người khác.
Hôm
nay, các vị đến đây, mong muốn tôi trao truyền kinh nghiệm
nghiên cứu cho quí vị. Tôi chỉ đem những kinh nghiệm mà
trước đây tôi đã học, cùng những suy nghĩ của riêng mình
như là: Tại sao chúng ta phải học Phật? Bằng cách nào nghiên
cứu Phật pháp?v.v... Một cách tùy tiện, tôi tâm sự cùng
các vị, có thể là buổi nói chuyện vô ích, nhưng dù sao
đi nữa, đây cũng là những kinh nghiệm nho nhỏ trải qua quá
trình suy nghĩ và chọn lọc mà trước đây tôi đã tu học.
Khi
tôi còn ở cố hương, một cách rất tình cờ tôi gặp được
Phật pháp. Thật lòng mà nói, tình hình sinh hoạt Phật pháp
ở Hải Minh (là một địa danh ở Trung Quốc) là cố hương
của tôi rất là suy yếu, không phải như sự sinh hoạt Phật
pháp ở Ðài Loan. Ở đây, sinh hoạt Phật pháp đơn sơ chỉ
có tụng kinh bái sám. Sau khi gặp Phật pháp, tôi tự tìm Kinh
Luận xem, không người hướng dẫn. Sau khi xem xong, lòng tôi
xuất hiện hai dòng suy nghĩ, một là đạo lý của Phật pháp
rất thâm sâu, tư tưởng rất vĩ đại; Thứ hai, tôi tự cảm
thấy, Phật pháp và hình thức sinh hoạt của Phật giáo là
hai vấn đề không giống nhau. Cái được đại diện cho Phật
giáo ở đây như những người xuất gia của quê hương tôi,
cùng với Phật pháp mà tôi được xem trên kinh luận hoàn
toàn không giống nhau. Nhưng tôi không giống như Ðại sư Thái
Hư và vị Viện trưởng (chỉ cho ngài Tinh Vân) của quý vị,
muốn cải thiện Phật giáo, đem hết lòng chấn hưng cải
cách Phật giáo. Riêng tôi, chỉ muốn nghiên cứu một điều,
tại sao Phật pháp vi diệu cao sâu như thế, nhưng vì lý do
gì Phật pháp được thể hiện trên thực tế lại có sự
sai biệt quá lớn như thế? Nguồn gốc của sự sai biệt này
phát xuất từ đâu?
Khi
tôi chưa xuất gia, đã có suy tư vấn đề này. Sự cao diệu
của Phật pháp là môn học cho những bậc tri thức, cho những
người học hành nghiêm túc, cầu chơn cầu thật, nhưng tình
trạng sinh hoạt Phật giáo hiện nay (chỉ cho Hải Minh) như
thế, chỉ là những tập tục tín ngưỡng của dân gian. Phải
chăng sự biến thiên của thời gian và không gian và con người,
dẫn đến trường hợp này ? Cũng giống như, hiện nay có
những sinh viên đại học nghiên cứu (Phật pháp) mà trước
đây không có, xuất hiện sinh viên nghiên cứu này chỉ có
ở giai đoạn gần đây, do đó dẫn đến sinh hoạt Phật giáo
và Phật pháp không giống nhau, tại sao lại xuất hiện hiện
tượng này? Tôi tự nghiên cứu kinh sách, đọc ở chỗ này
chỗ kia, cuối cùng vẫn không tìm được ẩn số.
Sau
khi cha mẹ tôi qua đời, cảm thấy rằng không còn gì phải
lo lắng cho gia đình, tôi quyết định xuất gia.
Quan
điểm và lập trường tu học Phật pháp và nghiên cứu kinh
luận của tôi, không ngoài mục đích muốn hiểu rõ cứu cánh
của phật pháp là gì, đồng thời cũng muốn tường tận
nguyên nhân tại sao dẫn đến sự diễn biến của Phật pháp.
Ðây là những vấn đề luôn luôn tồn đọng trong tâm tôi,
và chính nó là động cơ thúc đẩy tôi lúc nào cũng nghiên
cứu Phật pháp.
Trên
căn bản, Phật pháp đề xuất, người xuất gia chỉ có 3
con đường thực hiện. Con đường tối thượng là sự tu
tập, còn đường thứ hai là học tập và con đường thứ
ba là tu tập và tích lũy phước đức. Như là việc xây cất
chùa tháp là một điển hình.
Vấn
đề tu học Phật pháp chúng ta cho rằng, Phật pháp vốn tốt
đẹp, có ích lợi cho mọi người. Theo tôi, nếu đó là sự
thật, chỉ khi nào sự tốt đẹp và ích lợi đó được thể
hiện cho mọi người mới đúng, nếu học Phật pháp mà không
thể hiện được điều đó. Thế thì chúng ta căn cứ vào
đâu để nói Phật pháp là tốt đẹp là lợi ích cho mọi
người ? và tại sao chúng ta lại cứ khuyên mọi người nên
tu học Phật pháp? Theo tôi, nói như vậy không hợp lý. Tôi
tự hổ thẹn vì chính mình chưa có thể đi vào con đường
tu chứng, vì đối với Phật pháp, tôi đang trên con đường
truy tìm chân lý, truy cầu cái nguyên lý căn bản của Phật
pháp. Ðây là lý do tại sao mà tôi nghiên cứu Phật pháp.
Do
vậy, thái độ học tập Phật pháp của tôi là chỉ tin tưởng
vào đức Phật, không tin tưởng ở bất cứ ai, cũng không
nhất định phải tin tưởng vào các bậc Tổ sư. Có người
cho rằng, là người Trung Quốc, nhất định phải tin tưởng
vào giáo lý tư tưởng của những Tổ sư người Trung Quốc,
tôi hoàn toàn không đồng tình với quan niệm này. Giả sử
như cái gì là chân chánh của Phật pháp, dù nó là gì đi
nữa, tôi nhất định tin theo, ngược lại nếu như là những
điều không đúng với Phật pháp, đó chỉ là quan điểm riêng
của người Trung Quốc, nhất định tôi không thể tin theo
được.
Tôi
là người tín ngưỡng Phật pháp, không tín ngưỡng tôn giáo
khác người khác, do đó trên nguyên tắc tôi chỉ nghiên cứu
truy tìm Phật pháp mà tôi tin tưởng, vì trọng tâm nghiên
cứu của tôi là Phật pháp.
Ðối
với những học giả trên thế giới, tôi hiểu không nhiều
lắm, tuy nhiên tôi cũng đã viết khá nhiều tác phẩm, điều
mà tôi viết và nghiên cứu chủ yếu là truy tìm chân lý của
Phật pháp. Tôi muốn lấy cái căn bản, cái trung thực của
Phật pháp làm đối tượng tín ngưỡng. Khi hiểu rõ được
Phật pháp, chắc chắn nó có ảnh hưởng tốt đẹp đối
với nhân loại và trong đó có cá nhân tôi, đây là động
cơ căn bản và lý do chân chánh cho công tác nghiên cứu Phật
pháp của tôi.
Do
đó, mặc dù, tự xét mình ở bình diện tu chứng vẫn chưa
thành đạt, nhưng động cơ nghiên cứu Phật pháp của tôi
và những người khác không giống nhau. Có người nghiên cứu
Phật pháp dường như đem Phật pháp biến thành một loại
học vấn, do vậy khi nghiên cứu, người ấy đưa ra quan điểm
này hay quan điểm nọ, nhưng Phật pháp và bản thân người
nghiên cứu hoàn toàn không quan hệ gì với nhau. Trên nguyên
tắc chung, đây không phải là thái độ học Phật pháp của
chúng ta. Vì người học Phật nên hiểu rằng Phật pháp có
quan hệ mật thiết đến đời sống hằng ngày của chúng
ta, nếu như nó không liên hệ gì thì tại sao chúng ta phải
nghiên cứu Phật ? Nếu như chúng ta không hiểu được điểm
lợi ích của Phật pháp tại sao kêu gọi mọi người tin Phật
và học Phật ? Do đó, khi chúng ta hiểu được sự lợi ích
của Phật pháp bao nhiêu thì chúng ta càng tường tận tính
siêu việt thế gian của Phật pháp bấy nhiêu, càng tăng thêm
lòng tin tưởng đối với Phật pháp.
Có
người hỏi, tôi tu học theo Tông phái nào? Tôi không
biết phải trả lời như thế nào! Một số người nghĩ rằng,
nên y vào một Tông một phái nào đó tu học mới đúng. Nhưng
theo tôi, Tông phái chỉ là phương tiện đem Phật pháp để
thích ứng tính đặc thù văn hóa tư tưởng của từng thời
đại, do đó hình thành và phát triển thành Tông phái khác
nhau. Cũng giống như có nhiều con đường khác nhau cùng dẫn
đến đỉnh núi. Riêng tôi không thuộc về Tông phái nào cả,
chẳng qua có người cho tôi là Tam luận tông, cũng có người
gọi tôi là Luận sư.Thật sự mà nói, tôi cũng không hiểu
tại sao họ cho tôi như thế. Kỳ thực, tôi không phải là
người như thế đó, gọi như thế nào cũng được miễn là
tôi tự hiểu rằng, tôi không phải là người như thế là
đủ rồi.
Tôi
y cứ vào quan điểm và lập trường như thế tiến hành nghiên
cứu Phật pháp, dần dần phát hiện nguyên lý căn bản của
Phật pháp, cũng từ đó mà tường tận hiểu rõ điểm bất
đồng của từng Tông phái.
Có
lẽ các vị cho rằng quan điểm và tư tưởng của từng phái
rất phức tạp, nhưng qua kinh nghiệm nghiên cứu của mình,
tôi không cho là như thế. Ðại khái một vấn đề được
đưa ra không như thế này thì cũng như thế kia, nhiều quan
điểm khác nhau chẳng qua vấn đề nhiều ra, ngộ nhận chồng
chất, giống như có rất nhiều vấn đề khác nhau.
Tôi
không phải là người thuần túy nghiên cứu về một Tông
một phái nào cả, mỗi Tông mỗi phái đều có nghiên cứu
qua, nhưng rất là khái quát, không tường tận, vì tôi không
muốn là tử tôn của bất cứ Tông nào, cũng không muốn làm
một Ðại sư cho phái nào cả.
Phương
hướng nghiên cứu của tôi là như thế. Có thể có người
cho rằng, như thế không phù hợp với trào lưu và thời đại.
Mặc dù vậy, tôi viết ra những ý kiến của riêng mình, tôi
không cần phải lưu tâm đến những người có quan điểm
như thế, những tác phẩm của tôi nếu có người đọc cũng
tốt, không có người đọc cũng tốt. Viết xong một tác phẩm
bèn in ra đó, không bận tâm đến độc giả, chỉ tự hiểu
rằng đối với Phật pháp tôi thật sự thành tâm nghiên cứu
là đủ rồi. Tôi thật sư muốn truy cứu tính chân lý trong
Phật pháp, muốn tường tận tìm hiểu ý nghĩa cốt yếu của
Phật pháp. Ðối với Tam bảo, tôi chỉ có một chút cống
hiến như thế, nó tốt hay xấu tôi cũng không cần bận lòng
suy nghĩ. Trong thời gian khá dài vừa qua, thái độ nghiên cứu
Phật pháp của tôi vẫn như thế.
Trên
ý nghĩa này, tôi học tập Phật pháp cùng với Na Khai phụ
tử (?) hoàn toàn không giống nhau. Thành quả nghiên cứu của
ông ta giống như cửa hàng bách hóa cái gì cũng có, bạn cần
cái gì liền có cái đó cho bạn. Riêng tôi không có quan điểm
như thế, lý do mà tôi tìm tòi nghiên cứu chỗ này chỗ kia,
chỉ muốn tìm hiểu tính căn bản của Phật pháp, và ở trong
đó cái gì là điểm phát triển của nó, sự phát triển đó
có thể là tốt hay xấu, tùy theo từng vấn đề và các nhìn
của chúng ta. Cái gọi là “phương tiện” trong Phật pháp
là cái luôn luôn gắn liền với thời gian và không gian, tức
là nó ở một thời gian nhất định nào đó thì rất là tốt,
nhưng thời gian và không gian đổi khác, đôi lúc cái được
gọi là phương tiện đó, có thể nó trở thành một loại
chướng ngại cho Phật pháp.
Trong
“kinh Pháp Hoa” có một câu, tôi rất đắc ý: “Chánh chơn
xả phương trên, đán thuyết vô thượng đạo – xả bỏ
phương tiện một cách thích hợp, để nói đạo vô thượng”.
Thế nào gọi là xả? Ðến một giai đoạn nào đó, có cái
nào đó tốt hơn, lại vừa thích hợp hơn, phải chọn lấy
cái đó, như vậy cái gì không còn thích hợp liền phải bỏ
đi. Do đó, cái mà tôi nghiên cứu không phải cái nào cũng
đồng ý và đề cao. Tôi cũng không phải là một nhà phê
bình, tôi sinh ra không thích hợp thời đại, cho rằng tất
cả đều là phương tiện, không phải là cái cứu cánh. Ðối
với vấn đề này, nếu như các vị không có hoài nghi hoặc
không đồng ý, không muốn tôi nói chuyện nữa, tôi sẽ dừng
ngay nơi đây, nếu như các vị muốn tôi tiếp tục nói chuyện,
tôi chỉ biết nói như thế, muốn tôi nói chuyện những vấn
đề dễ nghe (thuận tai) để phụng hành, thật sự mà nói
tôi không biết nói gì cả.
Về
nguyên tắc nghiên cứu của tôi, nó mang ý nghĩa là duyệt
đọc phân tích Kinh Luận, đó là điểm trọng yếu cho việc
nghiên cứu Phập pháp. Một phương pháp nghiên cứu như thế,
nó phát triển như thế nào, được bao nhiêu người hoan nghinh,
tôi đều không lưu tâm. Ðây chính là động cơ và thái độ
của tôi đối với việc học Phật, thậm chí có thể nói
rằng, tôi là người bảo thủ như thế.
Sau
khi trải qua nhiều năm nghiên cứu, có thể nói, đó là thời
dân quốc trước năm thứ 30 (1941), đối với Phật pháp tôi
có một cái nhìn tổng quan về sự phát triển và diễn biến
của Phật pháp, đối với xã hội hiện nay có một vài điểm
thích hợp, phần còn lại không cần thảo luận ở đây, vì
nó rất thích hợp với một giai đoạn lịch sử nào đó trong
quá khứ, nhưng đối với hoàn cảnh hiện nay thì ngược lại.
Tôi có được sự nhận thức này, lúc đó tôi viết một
tác phẩm gọi là : “Phật giáo ở Ấn Ðộ”. Cách viết
tác phẩm này, cái gì tôi nghĩ đến liền viết ra. Cách viết
như thế chỉ nói lên ý kiến riêng của mình, trong đó phần
dẫn chứng cũng quá sơ sài, không giống như cách viết sách
ở thời nay, chịu ảnh hưởng văn hóa cận đại, điều mà
tác giả trình bày tuy chỉ là trình bày ý kiến của tác giả,
nhưng cần phải rõ ràng trong việc trích dẫn căn cứ. Rút
ra kinh nghiệm từ đó, tôi đem nối dung tác phẩm này viết
thành nhiều tác phẩm lớn, dẫn chứng một cách tường tận.
Những tác phẩm này có thể biểu thị quan điểm và sự hiểu
biết của tôi đối với Phật pháp.
Chẳng
qua, sự nghiên cứu Phật giáo Ấn Ðộ của tôi cho đến nay
tôi chỉ viết có hai tác phẩm: 1. “Thuyết Nhứt thiết hữu
bộ vi chủ đích luận thư dữ luận sư chi nghiên cứu”;
2. “Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành”. Ngoài
ra, những tác phẩm còn lại, khi tôi viết đều có nhân duyên
đặc biệt, không phải là cái mà tôi muốn viết...
Hiện
nay, thân thể tôi lại nhiều bệnh hoạn, những gì trước
đây tôi muốn viết, nay không thực hiện được. Nhưng với
tôi không có gì để hối tiếc, vì chúng ta ở trong vòng vô
biên sinh tử, trong cuộc sống này điều gì có thể làm được
thì đem hết sức làm việc đó. Làm được bao nhiêu đều
dựa vào phước đức nhân duyên của mình và mối quan hệ
chằng chịt với xã hội, không phải mình muốn làm cái gì,
liền làm được cái đó. Do đó tôi chẳng có cái gì để
hối tiếc cả. Giả sử thân thể tôi còn mạnh khỏe tôi
muốn viết một tác phẩm rất quan trọng, tường tận trình
bày quá trình từ Phật pháp tối sơ diễn biến đến Ðại
thừa Phật pháp. Ý nghĩa của Ðại thừa Phật pháp là gì?
Rốt cùng cái gì được gọi là Ðại thừa? Chúng ta không
nên miệng nói Ðại thừa, nhưng trên thực tế lại không
là như thế, từ suy nghĩ cho đến việc làm. Công trình này
có thể hoàn thành được hay không, tự mình không quyết định
được gì cả, vì mạng người là vô thường, có thể sống
chỉ vài hôm nữa, nào ai biết được.
Trên
đây chỉ nói chuyện đề cập một số vấn đề về sự
nghiên cứu của cá nhân tôi, nó mang tính tượng trưng mà
thôi.
Trước
đây tôi có viết qua tác phẩm gọi là “Dĩ Phật pháp nghiên
cứu Phật pháp” (Dùng Phật pháp để nghiên cứu Phật pháp)
có nhiều người đọc qua, hỏi tôi rằng, bằng phương pháp
nào nghiên cứu Phật pháp? Ðương nghiên là nghiên cứu kinh
luận, các đạo lý của các Tông phái. Nhưng khi nghiên cứu
cần có phương pháp, từ chuyên môn gọi là “phương pháp
luận”.
Phương
pháp nghiên cứu của tôi về Phật học, có thể nói là rất
cố chấp, vì tôi cho rằng, chúng ta là một tín đồ Phật
giáo, cần phải lấy phương pháp của Phật pháp để nghiên
cứu Phật pháp. Thế thì chúng ta bằng cách nào để nghiên
cứu Phật pháp? Ðức Phật đã từng chỉ ra rằng, có một
loại chân lý rất phổ biến và hiện thực ở thế gian, cũng
có thể nói là sự thật của cuộc đời là: Tất cả sự
tồn tại của sự vật đều không thể tách rời nguyên tắc
phổ biến này. Nguyên tắc này, tức là “Các hành đều vô
thường, các pháp đều vô ngã”. Tôi cho rằng, khi chúng ta
nghiên cứu Phật pháp, nên vận dụng nguyên tắc này để
xử lý mọi vấn đề.
Nói
một cách đơn giản, cái gọi là “Các hành đều vô thường”.
Nó mang ý nghĩa, thuyết minh về tất cả những gì tồn tại
trên thế gian đều không ngừng biến hóa. Ví như, những lời
thuyết giảng của đức Phật, trải qua một thời gian sau,
được những đệ tử của Ngài hoằng dương, những lời
dạy đó, một cách rất tự nhiên hoặc nhiều hoặc ít cũng
bị cải biến theo thời gian và không gian. Như chế độ Tăng
già được thiết lập bởi đức Phật, chúng ta gọi nó là
giới luật, những giới luật này cũng tùy theo khu vực mà
có sự cải biến. Nếu như các vị cho rằng, hoàn toàn không
cải biến, không thay đổi. Ngược lại, tôi không cho là như
thế, chắc chắn nó phải thay đổi. Như Thái Lan hiện nay,
chế độ xuất gia của họ, mọi người đều có thể xuất
gia, có người xuất gia chỉ có bảy ngày, có người xuất
gia 15 ngày. Ðối với vấn đề xuất gia một cách nghiêm túc,
người xuất gia thọ giới cụ túc, cần phải trọn đời
hành trì, không thể nói rằng, tôi chỉ phát tâm thọ giới
Tỳ kheo trong vòng bảy ngày hoặc hai tháng, nếu như người
xuất gia phát tâm như thế, không thể thành tựu giới Tỳ
kheo, thế thì các vị cho quy chế của họ hiện nay là tốt
hay xấu ? Theo tôi, đây không phải là vấn đề tốt hay xấu,
mà chúng ta cần phải hiểu rõ vấn đề, đây là phương tiện
của sự biến hóa mà thôi.
Nói
đến “các pháp là vô ngã” là đề cập đến thật tánh
của tất cả pháp không tồn tại độc lập. Như một quy
chế nào đó được thiết lập, muốn hiểu rõ về nó, cần
phải tìm hiểu đến những nhân tố của thời đại và hoàn
cảnh của nó, nếu như tách rời bối cảnh và thời đại
để tìm hiểu về quy chế đó, thì cách tìm hiểu đó rất
mù mờ và trừu tượng, lại không thực tế. Nếu như hiểu
rõ phương pháp này, khi nghiên cứu vấn đề gì, chúng ta cần
chú ý đến những gì liên quan đến nó, càng tường tận
vấn đề bao nhiêu, thì đối tượng nghiên cứu càng chính
xác và rõ ràng bấy nhiêu.
Có
người hỏi tôi về nội dung và phương pháp nghiên cứu Phật
học của tôi như thế nào. tôi không biết phải trả lời
cho họ như thế nào, vì tôi chỉ căn cứ vào kinh nghiệm và
sự hiểu biết của mình tiến hành nghiên cứu. Trong thời
gian nghiên cứu, tôi có đọc qua những tác phẩm nghiên cứu
Phật học của người khác, tôi cảm thấy rằng, phần lớn
những tác phẩm này, có phạm vi nghiên cứu rất nhỏ, không
chú ý đến những vấn đề liên quan đến chủ đề mà mình
nghiên cứu. Nghiên cứu chuyên môn một vấn đề đôi khi rất
tường tận và rất hay, nhưng đứng từ bình diện tổng thể
mà nhìn, phát sinh vấn đề trước sau mâu thuẫn và không
chính xác.
Theo
tôi, cần phải có cái nhìn thật rộng, thành quả nghiên cứu
sẽ tốt hơn. Nếu như chúng ta không chú ý đến những vấn
đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu, giới hạn phạm
vi nghiên cứu rất nhỏ, thành quả nghiên cứu chỉ giới hạn
một vấn đề nào đó, nhưng về phương diện tổng quan, thành
quả của công trình nghiên cứu không mấy rõ ràng.
Phương
pháp nghiên cứu của tôi là vô thường và vô ngã. Vô thường
là chỉ cho thời đại luôn luôn diễn biến; vô ngã là những
mối quan hệ chằng chịt của nó, có nghĩa là vấn đề mà
mình đang tiến hành nghiên cứu, cần phải gắn liền với
thời gian và không gian của nó. Do đó, tôi nói với các vị
rằng: không có phương pháp nghiên cứu nào khác. Ở thế gian
có khá nhiều phương pháp nghiên cứu, tôi chưa từng xem qua,
tôi cũng không hiểu mấy. Tôi chỉ lấy quan niệm vô thường
và vô ngã của đức Phật đã dạy làm phương pháp nghiên
cứu Phật pháp, nó cũng chính là phương pháp luận cho công
tác luận thuật của tôi.
Các
vị còn đang trong thời kỳ học tập, sau khi ra trường không
hẳn tất cả các vị tiếp tục làm công tác nghiên cứu Phật
học, có lẽ có vị làm công tác hoằng dương Phật pháp,
có người nỗ lực tu tập, chắc cũng có vị tiếp tục con
đường nghiên cứu Phật pháp, do đó mà tôi đề cập đến
vấn đề này.
Trong
quá trình nghiên cứu, có một điều mà tôi cho là rất quan
trọng, đó là tìm hiểu điểm bất đồng trong Phật pháp
là gì, nó so với thế gian có gì tốt đẹp. Ðối với vấn
đề này, chúng ta phân làm hai phương diện để thảo luận.
Thứ
nhứt, ở thời kỳ đức Phật còn tại thế, Ngài đã đề
xuất một chế độ sinh hoạt rất hoàn mỹ đó là “Giới
luật”. Sau khi Phật giáo được truyền sang Trung Quốc, nơi
đây, lại có thêm chế độ sinh hoạt của tùng lâm. Có lẽ
cho đến nay, Phật giáo còn xuất hiện nhiều chế độ khác
nữa, chắc chắn những chế độ này không giống nhau. Căn
cứ chế độ của đức Phật, qua thực tế nghiên cứu cho
thấy, nhân số rất ít, thật ra tôi cũng chưa nghiên cứu
vấn đề này. Hiện nay, người Trung Quốc đề cập đến
giới luật là nói đến vấn đề gì? Không ăn cơm vào buổi
chiều, đến phòng vệ sinh phải đổi dép. Họ cho rằng những
giới điều này rất quan trọng, nhưng đối với tinh thần
chính yếu của giới luật, dường như họ không biết gì.
Do đó, ý nghĩa chân chánh của giới luật, chúng ta là những
người xuất gia cần phải tìm hiểu và nghiên cứu một cách
nghiêm túc.
Theo
sự hiểu biết của tôi, giới luật của Phật giáo là một
loại dành cho sinh hoạt tập thể, tu hành cũng ở trong tập
thể sinh hoạt mà tu tập. Căn cứ quan điểm của giới luật
trong Phật pháp không khích lệ cá nhân độc thân cư trú ở
cốc hay am tu hành, vì nó rất dễ dàng hòa nhập sinh hoạt
của thế gian, tuy nhiên không vì thế mà bài xích, Phật giáo
cũng rất tôn trọng quan điểm của những người này. Tính
đặc sắc của giới luật Phật giáo là gì? Nó là sự quản
lý bằng pháp luật và sự cảm hóa bằng đạo đức, phối
hợp hai mặt này là tính đặc sắc của giới luật. Khi một
người xuất gia có những hành vi sai lầm, trong giới luật
có rất nhiều nguyên tắc xử phạt, đôi khi cũng không nhất
định phải sử dụng hình thức xử phạt mà lại dùng đến
tinh thần bao dung của đạo đức cảm hóa người khác, cũng
có những quy định rất khắt khe để sửa đổi người phạm
phải sai lầm. Do đó, khi Phật còn tại thế, tuy có những
người xuất gia với mục đích chân chính, nhưng không rõ
tinh thần của giới luật, nó chính là động cơ biến thành
người không chân chính, nhưng những người này sống trong
đoàn thể trong thời gian vài năm, qua sự huấn luyện của
thầy bạn, hoàn cảnh tốt giáo dục tốt, dần dần ảnh hưởng
đến người ấy, trở thành bậc long tượng trong Phật pháp.
Sống trong tập thể sinh hoạt, mọi người đều có chung một
mục đích, hành vi trong sạch, sống trong tinh thần hòa hợp,
đây là tính đặc biệt của giới luật Phật giáo, nó có
tác dụng rất quan trọng cho việc duy trì và phát triển Chánh
pháp được tồn tại thế gian.
Loại
hình tổ chức này, cùng với những tổ chức trong xã hội
không giống nhau, vì tổ chức Phật giáo phối hợp từ hai
phương diện: cảm hóa bằng đạo đức và quản lý bằng
giới luật, bao gồm tinh thần bình đẳng và pháp trị. Mỗi
một giới điều được đề xuất, không phải chỉ căn cứ
một số ít người nào đó mà chế định. Như trong học viện,
vấn đề gì mà phần lớn học viên không đồng ý, chắc
chắn thầy giáo cũng sẽ không đồng tình. Những quy chế
mà đức Phật đã chế định, quy chế ấy phải được áp
dụng một cách bình đẳng cho toàn thể thành viên của đoàn
thể, ngay cả đức Phật khi còn tại thế vẫn phải căn cứ
quy chế sinh hoạt. Do vậy, tinh thần giới luật của Phật
giáo mang tính bình đẳng và dân chủ. Việc thực thi cảm
hóa đạo đức và quản lý bằng quy chế, nhằm mục đích
mọi người củng nhau hành trì Phật pháp, nghiên cứu ý nghĩa
của giới pháp mọi người đều phải tận lực phát huy.
Nhưng
trên thực tế, sinh hoạt Phật giáo hiện nay không còn mang
ý nghĩa như thế, nghĩa là không y cứ vào tinh thần giới
luật mà trụ trong tăng đoàn. Giả sử chúng ta nghiêm túc
nghiên cứu về giới luật, từ trong đó chúng ta rút ra những
nguyên tắc và tinh thần chơn chánh của nó, dùng phương thức
hiện tại thực hiện, tôi nghĩ điều đó sẽ tốt hơn là
chúng ta chỉ căn cứ vào quan niệm cá nhân mà thành lập tổ
chức, hay tham khảo những hình thức tổ chức chánh trị,
hoặc những tổ chức khác để hoàn thành quy chế, vì tất
cả đều là những quy chế, biện pháp tổ chức của thế
gian, nó sẽ không phù hợp với tổ chức của Phật giáo.
Tôi nghĩ cách tổ chức vừa trình bày sẽ phù hợp với Phật
giáo hơn. Ðây là tính đặc thù của Phật pháp, đó là điều
tôi hiểu được tinh thần và mục đích hình thành qui chế
của đức Phật, nó không giống như những hình thức tổ
chức của thế gian, do vậy tôi càng tăng thêm lòng tin đối
với đức Phật.
Thứ
hai, là phương diện lý luận, tức là phương pháp lý giải
vấn đề. Một mặt đức Phật sử dụng hình thức quy chế
để ràng buộc tăng đoàn và mặt khác đức Phật lại dùng
hình thức khai thị, có nghĩa là căn cứ đạo lý mà hướng
dẫn chỉ dạy mọi người. Như chúng ta biết, hoàn cảnh sống
vào thời kỳ đức Phật và hiện nay hoàn toàn không giống
nhau. Như vào thời đức Phật, không giống như hoàn cảnh
sinh hoạt hiện nay, được nghiên cứu “Kinh Pháp Hoa” và
“Kinh Hoa Nghiêm” là 2 bộ kinh lớn. Chẳng qua, trên nghĩa
lý hoặc ở phương pháp tu hành, có thể đức Phật giới
thiệu một cách rất đơn giản về ý nghĩa của nó.
Ở
đây, điều mà đức Phật muốn thuyết minh và chú ý đến
là vấn đề gì? Những điều đó phải chăng cùng với những
vấn đề được những người thế gian bàn luận không giống
nhau phải không ? Theo sự hiểu biết của tôi cho rằng, tất
nhiên quan điểm của Phật pháp với quan điểm của thế gian
không giống nhau. Tôi nghĩ, các vị đã nghiên cứu Phật pháp
qua mấy năm rồi, chắc chắn thấu rõ được điều này, chúng
ta cần phải xác định Phật pháp cùng thế gian pháp không
giống nhau. Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo, như đạo
Phật và đạo Hồi ở Ấn Ðộ, đạo Lão ở Trung Quốc, đạo
Thiên chúa ở Tây phương. Quan điểm và mục đích của Phật
giáo so với những tôn giáo khác hoàn toàn khác biệt. Ở phương
diện triết học cũng lại như thế, trên thế giới không
biết có bao nhiêu nhà triết học, quan điểm triết học của
từng người cũng không giống nhau. Nếu như chúng ta cho rằng,
Phật pháp là nền triết học vĩ đại, ngược lại chúng
ta nghĩ rằng Phật pháp và các nền triết học khác giống
nhau, có thể nói, đây là cách suy nghĩ không đúng, vì nếu
nó đã giống nhau thì cần đến Phật pháp để làm gì?
Phật
pháp là pháp không có trong bất cứ tôn giáo hay triết học
nào ở thế gian, đó là pháp “Duyên khởi tánh không” ‘không’
là pháp bất cộng của thế gia (có nghĩa là người thế gian
không chấp nhận); “Chư hành vô thường, các pháp vô ngã”
đều y cứ vào pháp này mà xuất hiện. Duyên khởi là nói
đến tất cả những hiện tượng ở thế gian, bao gồm thiên
văn, địa lý, tự nhiên, động vật cho đến lãnh vực hoạt
động tâm sinh lý của con người, đều y vào pháp nhân duyên
mà sinh diệt. Phật dạy pháp duyên khởi là nguyên tắc phổ
biến, y cứ vào nó chúng ta mới hiểu được quy chế của
Phật giáo cùng với những quy chế khác không giống nhau. “Lý
luận” và “chế độ” có mối quan hệ mật thiết, Phật
pháp gọi là “Y pháp nhiếp tăng”, căn cứ nguyên tắc Duyên
khởi không luận ở bình diện tư tưởng quy chế hay tu tập,
chúng ta đều phát hiện Phật pháp và thế gian đều có điểm
không giống nhau. Trong thế gian có khá nhiều tư tưởng, gần
với học thuyết “Duyên khởi”, nhưng họ lý giải không
thể đạt đến hoàn toàn và triệt để như Phật giáo.
Tại
sao chúng ta phải tin Phật ? Vì Phật là người đã hoàn toàn
giác ngộ. Cái gọi là triệt để giác ngộ của Phật như
thế nào ? Nếu các vị không biết thì tôi cũng chẳng biết.
Một vấn đề không biết, thế thì tại sao chúng ta phải
tin?
Sau
khi đức Phật giác ngộ dưới cội cây Bồ đề, vì lòng
thương muốn chúng sanh cũng được giác ngộ như Ngài, do đó
Phật mới nói pháp. Giáo lý mà đức Phật đã nói ra, đều
mang ý nghĩa chỉ đạo cho mọi người nên sống đúng với
nguyên lý của vũ trụ, hay gọi là quy luật, là nguyên tắc
vận hànhchung của thế gian. Ðây biểu thị nội dung
chứng ngộ của Ngài cùng với thế gian cũng không giống nhau,
qua đó chúng ta có thể hiểu được pháp mà Ngài đã giác
ngộ, cũng giống như người khác nghĩ gì chúng ta không biết,
nhưng người ấy nói ra, biểu lộ trên hành động, qua đó
chúng ta có thể hiểu được người ấy. Nguyên tắc căn bản
của việc nghiên cứu quy chế của Phật giáo là sự thống
nhất giữa lý luận và hình thức. Dựa vào nguyên tắc này,
tôi dần dần phát hiện nghĩa lý của Phật pháp siêu việt
hơn thế gian, sự chứng ngộ của đức Phật chúng ta đều
không biết, nhưng qua sự biểu hiện bằng hành động và lời
giảng dạy của Ngài đều mang ý nghĩa làm lợi lạc cho mọi
người, chính điều đó khiến tôi tin tưởng sự chứng ngộ
của đức Phật.
Tôi
có khá nhiều ý kiến không giống ý kiến của người khác.
Ví như, vấn đề tu hành và chứng ngộ, nó đương nhiên là
việc làm tốt, là mục đích chung của người xuất gia, nhưng
chúng ta phải chú ý rằng, vấn đề tu chứng không chỉ có
Phật giáo đề cập mà các tôn giáo khác trên thế giới đều
đề cập, như Trung Quốc có Ðạo gia, Nho gia, Ấn Ðộ có
Bà-la-môn giáo và 6 phái triết học, phương Tây có Thiên chúa
giáo. Nói chung, mỗi tôn giáo đều có đề cập đến vấn
đề tu hành và chứng ngộ, thậm chí hình thức cầu nguyện
cũng được xem là hình thức tu tập. Tu hành một cách chân
chánh, thân và tâm tự nhiên có một số kinh nghiệm đặc
biệt, đây là người có niềm tin đối với tôn giáo, là
điều cần có niềm tin, mặc dù bạn chưa lần nào đạt đến
loại kinh nghiệm này, nhưng đây là điều đáng tin tưởng.
Từ trong nội tâm hoặc trên thân thể muốn đạt đến sự
tu chứng của tôn giáo đều phải y vào loại đặc thù kinh
nghiệm này. Trong Phật giáo, vấn đề thần thông cũng tương
tợ như vậy.
Do
đó, đề cập đến vấn đề tu hành không nhất định chỉ
có trong Phật pháp, vì các tôn giáo trên thế giới đều có
đề cập đến vấn đề tu hành. Thế thì, đối với vấn
đề này, các vị đã thấy được những gì? Những kinh nghiệm
đó không thể chứng minh được cái mà các vị thấy và kinh
nghiệm chính là Phật pháp. Thế thì dựa vào nguyên tắc nào
để phân định điều này ? Theo tôi có hai nguyên tắc:
Thứ
nhất, xem xét điều đó có phù hợp với nghĩa lý căn bản
của Phật pháp không. Thứ hai: biểu hiện hành vi như thế
nào? Ở đây tôi xin kể một mẩu chuyện để làm sáng tỏ
vấn đề. Người Trung Quốc chúng ta đôi khi rất kiêu ngạo
về Thiền học. Có nhiều người Tây phương đến học thiền,
chúng ta bèn bảo rằng: “Hàn sơn cũng rất thơm”. Thế là
được họ kính phục và sùng bái. Đây chỉ là câu chuyện
điển hình, nhưng qua câu chuyện này, tôi nghĩ rằng, nếu
chúng ta lấy cách trả lời này làm mô phạm cho việc giảng
dạy Phật học (Thiền học), mọi người y vào đó mà học,
người ấy sẽ trở thành người như thế nào? Chắc chắn
quí vị sẽ hiểu được kết quả của nó là gì, ở đây
tôi không cần phải nói thêm. Phật giáo hay bất cứ một
tôn giáo nào khác đều cần phải dạy dỗ rõ ràng và có
phương pháp, người học (tu hành) cũng cần có tâm bình thường
để học. Trong quá khứ, Phật giáo Trung Quốc có rất nhiều
vị đại sư, biết cách tổ chức và phát huy Phật pháp, tất
cả họ đều lấy tâm bình thường minh mẫn mà làm việc.
Như đức Phật giáo hóa, cái gọi là “thần thông”, “giáo
giới”, “thọ ký tâm”, thậm chí có thể dùng thân nghiệp,
khẩu nghiệp, ý nghiệp để giáo hóa, nhưng trọng tâm của
Phật pháp vẫn là phương pháp “Giáo giới”, tức là dùng
ngữ ngôn văn tự chỉ dẫn chúng sanh để học tập Phật
pháp, khiến cho họ đều hưởng được sự lợi ích và hạnh
phúc của Phật pháp.
Hiện
nay, có một số người cường điệu việc tu hành, bèn nói
việc kiếp trước đời sau, thần thông.v.v... Theo tôi, đây
không phải là chân chánh Phật pháp. Sau khi Phật chứng ngộ,
cái mà Phật biểu hiện là những sự việc có thật trên
lịch sử, là sự hoạt động của tăng đoàn, không phải
là sự việc kỳ quái như Hàn Sơn, Tế công, Lạt Phong Tử
Lạt ma. Ðức Phật là người sinh ở nhân gian dùng ngôn từ
và hành vi của con người răn dạy chúng sanh, không phải là
những chuyện thần thông kỳ quặc. Ngoại đạo cũng có thần
thông, nếu lấy thần thông hoằng dương Phật pháp, có nghĩa
là Phật pháp và ngoại đạo giống nhau. Ðối với việc nghiên
cứu Phật học, tôi rất chú trọng hai phương diện này, sự
hiểu biết về nó là cơ sở để cho lòng tin Phật pháp càng
tăng trưởng, là động cơ thúc đẩy tôi nghiên cứu Phật
pháp.
Trọng
tâm mà tôi nghiên cứu là những điều căn bản trong Phật
pháp, nếu như các vị yêu cầu tôi giảng về Duy thức học,
chắc chắn tôi nói không hay mấy, nhưng nếu giảng tư tưởng
căn bản của Duy thức học, tôi có thể hiểu một tí, tôi
đọc sách vẫn còn mang tập quán của người Trung Quốc, là
đọc sách chú trọng ở tổng thể, viết sách chú ý phần
dẫn chứng, đây là điểm tốt để thích ứng thời đại.
Chúng
ta nghiên cứu Phật pháp cần phải duyệt đọc những tư liệu
gốc, là những kinh luận được dịch tra từ tiếng Ấn Ðộ
và những bản chú giải của người Trung Quốc cổ đại.
Trước hết chúng ta cần phải đọc và hiểu được nội
dung của nó, để chúng ta thấu hiểu tinh thần “Ôn cố tri
tân” (ôn lại chuyện xưa để hiểu việc nay). Nhưng chúng
ta không nên dừng ở chỗ đọc và hiểu, vì dừng ở đó
sẽ không tiến bộ. Từ sự “ôn cố” bằng cách duyệt
đọc kinh luận, để có kiến thức đúng đắn và mới mẻ,
sau đó tiến hành viết thành bài nghiên cứu và phát biểu,
nhưng không phải ai sau khi duyệt đọc cũng làm được điều
đó, có làm được cũng chưa chắc gì chính xác, nhưng không
phải vì thế mà lùi bước. Chúng ta muốn Phật pháp càng
ngày càng hưng thịnh và tiến bộ thì công tác nghiên cứu
và trước tác là viên gạch lót nền.
Giả
như, chúng ta y cứ kinh luận, trong đó nói cái gì, chúng ta
bèn nói cái ấy, đó không phải là công tác nghiên cứu và
sẽ không tiến bộ. Vì thế giới mà chúng ta đang sống luôn
luôn thay đổi, do vì các hành là vô thường, chúng ta dừng
lại tức là lùi bước, học vấn cũng như vậy.
Vấn
đề học tập, có người không biết cách học, bèn dùng cách
ghi chép, thầy giáo nói điều gì ghi chép điều ấy, về sau
cứ y như thế mà phát biểu. Ðứng về phương diện học
vấn mà nói, đây không phải là cách làm của người nghiên
cứu, nó sẽ không giúp ích gì cho sự tiến bộ của chúng
ta. Khi chúng ta đọc sách, cần phải phát hiện những điều
mới mẻ ở trong đó. Trước khi xem sách, người đọc cần
có một vài ý niệm đơn sơ về nó. Trong quá trình đọc duyệt
kinh luận, tự biết mình có những nhận thức sai lầm, tự
biết sai lầm, có nghĩa là đã tiến bộ, nếu như ba năm về
trước tôi cho rằng cái này là như thế này, cho đến nay
vẫn như thế, tức là không có gì mới mẻ, nó đồng nghĩa
không tiến bộ. Vấn đề nghiên cứu, chúng ta cần có nhiều
thời gian suy tư về nó, bằng nhiều góc độ khác nhau để
phát hiện chúng ta sai ở điểm nào và tại sao sai, chúng ta
luôn sửa đổi nhận thức sai lầm của mình, sửa thành chính
xác hơn đúng hơn, điều đó cũng sẽ cống hiến cho mọi
người tốt hơn. Do vậy, chúng ta cần phát huy tinh thần “ôn
cố tri tân”.
Một
điểm nữa, Phật giáo là một tôn giáo, sau khi chúng ta học
Phật, các vị nghĩ như thế nào những loại đạo lý này,
nó đối với các vị có tác dụng gì và lợi ích gì? Như
Phật pháp nói, chúng ta cần giảm bớt phiền não, tăng trưởng
lòng từ bi. Trước hết, chúng ta cần có lòng nhiệt thành
đối với Phật pháp, hộ trì Phật pháp. Cho rằng, chúng sanh
chịu vô lượng đau khổ, như vậy, bằng cách nào để cứu
độ họ? Sau khi chúng ta học Phật mà lòng chúng ta không khơi
dậy những quan niệm này, chúng ta chỉ là những người thuần
túy xem những quan niệm này ở trên bàn mà thôi, nó không
thành quan niệm sống của chúng ta.
Tôi
không cần thảo luận sự chân thật tu chứng, nhưng khi chúng
ta nghiên cứu học vấn, phụng sự Phật pháp hay làm những
việc phúc lợi xã hội, chúng ta cần phải lấy Phật pháp
làm kim chỉ nam chỉ đạo cho chính mình, sách tấn chính mình,
điều đó sẽ giúp cuộc sống tinh thần của chúng ta càng
ngày càng tốt hơn. Nếu như vị nào đối với việc học
tập, cảm thấy càng học càng phiền não đau khổ, hoặc tự
cho rằng, không ai bằng mình, sanh tâm khinh mạn, thậm chí
phụ ân thầy tổ huynh đệ đều không bằng, người này chắc
chắn cũng sẽ gặt lấy khổ đau. Người chân chánh học Phật,
thường đem Phật pháp áp dụng vào cuộc sống, cải đổi
thói hư tật xấu, Phật giáo vốn là một tôn giáo, không
chỉ đơn thuần chỉ là tri thức thế gian. Nghiên cứu Phật
pháp mà cuộc sống không có chút gì gọi là Phật pháp, thì
công việc nghiên cứu ấy cũng giống như những tri thức của
thế gian, nó không phải là Phật pháp.
Thời
gian qua, tôi không nỗ lực cho việc tu chứng chỉ đem toàn
bộ thời gian và tâm lực nghiên cứu Phật pháp. Tôi chỉ
có thể làm được ở phương diện này, đã được trình
bày một cách khái quát, các vị lấy đó tham khảo. Hy vọng
tất cả chúng ta trong lúc học tập nghiên cứu Phật pháp,
tìm được niềm vui và sự lợi ích, đó là sự cống hiến
cho Phật pháp. Cần ghi nhớ rằng, học Phật là chuyện rất
dài tính theo thời gian, không phải là việc chỉ vài năm,
vì vậy, chúng ta cần tinh tấn nỗ lực nghiên cứu Phật pháp.
06-11-2008
11:23:46