SÁM
HỐI là một trong những pháp tu tập trong Phật giáo,
nó không những là một phương pháp tu tập khá phổ
biến trong Phật giáo Đại thừa, còn là một phương
pháp rất tích cực và hữu hiệu trong việc ngăn chận
sự tái diễn của những hành vi bất thiện của 3 nghiệp
trong Phật giáo Nguyên thủy. Nếu Phật giáo Đại thừa
chọn 2 ngày 14 hay ngày rằm, ngày 29 hay 30 làm ngày lễ
sám hối chung cho 2 giới xuất gia và tại gia, thì Phật
giáo nguyên thủy dùng phương pháp quan sát 3 nghiệp của
chính mình làm phương pháp tu tập, có nghĩa là kiểm
tra 3 nghiệp đã qua của mình, nghiệp nào trong 3 nghiệp
ấy phạm phải sai lầm, vị đó cần tìm vị thầy hay
tương đương vị thầy để bộc bạch trình bày lỗi
lầm của mình và phát nguyện từ đây trở về sau
không tái phạm sự sai lầm đó nữa.
Thật
ra, sự khác biệt giữa 2 phương pháp tu tập này chỉ
là sự khác biệt trên hình thức giáo dục, nhưng xét
về ý nghĩa thì cả 2 đều có chung ý nghĩa và mục
đích. Tại sao Phật giáo Đại thừa lấy việc lạy Phật
làm phương pháp sám sối, mong rằng ngang qua hình thức
thành khẩn lễ lạy này sẽ được chư Phật Bồ tát
chứng minh và thấu rõ hành vi sám hối của mình ? Nếu
chúng ta muốn lý giải vấn đề này một cách rõ ràng,
không mâu thuẩn giữa ý nghĩa tu tập và hình thức
tu tập, chúng ta cần liên hệ đến tinh thần giáo dục
của Phật giáo Đại thừa. Đó là một tinh thần giáo
dục mở, dành cho tất cả mọi người trong xã hội,
từ người nông phu cho đến tầng lớp tri thức, từ
tại gia cho đến người xuất gia. Một đối tượng giáo
dục quá rộng lớn như vậy, chắc chắn không thể sử
dụng hình thức giáo dục chuyên môn sâu sắc được,
mà phải là những hình thức giáo dục đơn giản dễ
hiểu, nhất là đại đa số quần chúng là những người
không có trình độ nhận thức, suy luận cao, vì đáp
ứng nhu cầu thực tế này, Phật giáo Đại thừa không
thể không sử dụng hay vay mượn những hình thức tín
ngưỡng quen thuộc của người dân,không nhu caàu suy luận
nhieàu, làm phương tiện giáo dục, khuyên con người bỏ
điều ác làm việc lành, mang tính hướng thiện, hay
nói một cách chính xác hơn Phật giáo Đại thừa không
ngần ngại sử dụng những văn hoá, lễ nghi tôn giáo
để gởi gắm một đạo lý sâu xa trong đó, để cho
người trí thức có ngang qua những hình thức này đón
nhận một chân lý tuyệt vời ở trong đó. Đó chính
là lý do tại sao Phật giáo Đại thừa chọn những hình
thức tu tập xem trọng về hình thức như vậy. Ngược
lại, Phật giáo Nguyên thủy thì đơn giản hơn, đối tượng
mà ngài giảng dạy trong kinh A hàm hay trong Nikàya hầu
như là những người xuất gia, là những người chỉ
có một mục đích duy nhất là thành đạt sự giác
ngộ và giải thoát. Một đối tượng giáo dục rất
là chuyên môn, hẳn nhiên những người này dù ít hay
nhiều phải nắm rõ đường lối tu tập trong chánh pháp,
do đó ngài không cần phải trình bày lòng vòng hay vay
mượn những hình thức văn hoá của thế gian mà trực
tiếp đề cập và phương pháp giải quyết vấn đề.
Đây chính là lý do tại sao 2 nền giáo dục khác nhau
giữa 2 hệ thống giáo dục Đại thừa và Tiểu thừa.
Cho
dù như thế nào đi nữa, bạn hiểu tính giáo dục của
Phật giáo Đại thừa là mê tín hay chánh tín, điều
đó không quan trọng, chỉ xác định trình độ hiểu biết
của bạn đối với quá trình phát triển tư tưởng
Phật học mà thôi, nhưng chúng ta phải thừa nhận một
điều rằng, người biết lạy Phật biết tụng kinh là
người biết phục thiện, tôn trọng đạo đức, sợ nhân
quả xấu, biết hổ thẹn…đây là những đức tính
cơ bản, để xây dựng một đời sống tốt đẹp và
lành mạnh trong xã hội. Nếu chúng ta đứng về mặt
giáo dục mà quan sát, nó có ý nghĩa tích cực trực
tiếp hoặc gián tiếp đóng góp về mặt xây dựng
đạo đức cho xã hội, giảm thiểu những tệ nạn xã
hội. Nhưng đứng về mặt ý nghĩa, nếu chúng ta không
nắm rõ tinh thần giáo dục và mục đích giáo dục của
Phật giáo Đại thừa, chỉ dựa vào hình thức giáo
dục, ngang qua sự phân tích mang tính suy diễn của cá
nhân, thì Phật giáo Đại thừa dễ dàng phát sinh sự
ngộ nhận đáng tiếc.
Bài
viết này với mục đích đáp ứng nhu cầu hiểu biết
Phật pháp cho người Phật tử. Người Phật tử lấy
đó làm cơ sở để từng bước tiến sâu vào vườn
hoa của Phật pháp, lấy đó làm cơ sở để vun bồi
niềm tin trong sáng của mình đối với Phật pháp, và
an tâm tu họy, nội dung bài viết này, tôi sẽ căn cứ
hai nguồn tư liệu của Phật giáo Nguyên thủy và Đại
thừa, cụ thể là ‘Kinh giáo giới Rahula trong rừng Ambala’
và một câu kệ trong pháp môn Sám hối mà mỗi nửa
tháng chúng ta thường nghe quí thầy cô xướng ‘Tội
từ tâm khởi…’ Để rút ra những điểm chung nhất
và cốt lõi của hai hệ thống kinh điển này, nhằm
giới thiệu cùng độc giả, và nơi đây tôi sẽ cố
gắng trình bày một cách đơn giản và dể hiểt, để
cho mọi người đều hiểu được lời Phật dạy.
1.
MỐI QUAN HỆ GIỮA SÁM HỐI VÀ 3 NGHIỆP
Như
tôi vừa giải thích, nghi thức ‘sám hối’ là một
trong những phương pháp tu tập trong đạo Phật. Ý nghĩa
chữ tu tập trong đạo Phật, nói cho cùng chính là sự
sửa đổi 3 nghiệp, có nghĩa chuyển hóa 3 nghiệp bất
thiện thành 3 nghiệp thiện.
Ở
đây, trước khi chúng ta muốn tìm hiểu ý nghĩa của
từ ‘SÁM HỐI’ thì công việc đầu tiên mà chúng
ta phải tìm hiểu trước tiên là: Thế nào là 3 nghiệp
? thế nào gọi là nghiệp ác ? và thế nào gọi là
nghiệp thiện ?
Trước
hết, chúng ta tìm hiểu thế nào gọi là 3 nghiệp(trìni-krmàni)1.
3 nghiệp bao gồm thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp;
Khái niệm ‘nghiệp’ vốn không phải là khái niệm
của người Hoa hay người Việt nam chúng ta, mà nó là
khái niệm được you nhập từ văn hóa Ấn độ, nó
cũng không phải là từ riêng của Phật giáo mà là từ
được sử dụng rất phổ biến trong các tôn giáo hay
các nền triết học của Ấn độ, điều mà chúng ta
cần chú ý là mỗi Tôn giáo và triết gia khi giải thích
từ này đều có ý nghĩa riêng biệt của nó, không
giống nhau hoàn toàn, nhưng có ảnh hưởng lẫn nhau. Ở
đây, vì tính chất và phạm vi của bài viết, không cho
phép chúng ta vượt qua những gì không liên quan đến
chủ đề. Như vậy, chúng ta chỉ giới hạn thảo luận
khái niện nghiệp trong Phật giáo. Thật ra, nếu chúng
ta đứng từ góc độ tư tưởng sử Phật giáo mà
nhìn, thì nghiệp của được giải thích theo lăng kính
của từng hệ thống tư tưởng khác nhau trong Phật giáo,
nhưng điểm chung nhất của các phái là trong 3 nghiệp
lấy ý nghiệp làm làm chính.
Nghiệp
tiếng Pàli là kamma tiến Phạn gọi là krma đều có
ý nghĩa là sự tạo tác, hành động, hành vi. Nhưng
ở đây chúng ta cần chú ý nghiệp trong Phật giáo đặc
biệt chú trọng vai trò của ý nghiệp (manas-krman)2, tức
là hành vi có ý thức, vì nó chính là chủ nhân của
mọi hành vi của thiện và ác3. Như vậy khi chúng ta nói
đến thân nghiệp(kàya-krma) hoặc khẩu nghiệp (ỳak-krman)có
nghĩa là đã đề cập đến ý nghiệp, vì bất cứ
hành vi nào không có ý nghiệp tham gia thì hành vi đó
không có kết giả vui hay khổ cho nên không thành nghiệp
hay gọi nó là vô ký nghiệp. Đây chính là ý nghĩa
chữ nghiệp trong Phật giáo.
Kế
đến, chúng ta thường hiểu , thế nào gọi là hành
vi ác nghiệp và thiện nghiệp ? Thông thường chúng ta
gọi những hành vi như là sát sinh, lấy của không cho,
sống tà hạnh, nói láo, uống rượu…là những hành
vi ác hay gọi là nghiệp bất thiện4, và ngược lại
được gọi là thiện nghiệp. Nhưng trên thật tế, đôi
khi chúng ta căn cứ trên mặt hình thức của những hành
vi đi đến kết luận nó là những hành vi bất thiện
hay thiện, có thể dẫn đến sự kết luận sai lầm,
vì đôi lúc động cơ thúc đẩy hành vi không hẳn là
như vậy. Ví dụ, khi ta thấy một kẻ khủng bố đang
tiến hành việc khủng bố người khác, ta biết được
hành vi của kẻ ấy, và trong trường họp ấy không có
cách nào khác, chỉ bằng cách đánh hoặt kẻ đó, mới
có thể cứu được người khác. Trong trường họp này,
hành vi đánh hoặc giết người, nếu chúng ta đứng
trên mặt hình thức mà đánh giá thì đó là hành
vi ác, nhưng đứng về mặt đạo đức mà suy xét, hành
vi đóng gọi là ác mà ngược lại gọi là thiện, vì
người đó giết người với tâm sáng suốt và từ
bi, vì sự an vui hạnh phúc cho con người và xã hội,
không phải với tâm ngu si hay lòng sân hận. Như vậy, trong
Phật giáo hành được định nghĩa là thiện hay ác
không căn cứ vào những hình thức bề ngoài mà căn
cứ vào tâm tư của người đó, cách suy của người
đó là thiện hay là ác thì hành vi đó căn cứ vào
tâm đó má xác định.
Thế
thì vấn đề được đặc ra ở đây là: Thế nào
là tâm thiện và thế nào là tâm ác ? liên quan đến
vấn đề này, trong “Kinh Trung Bộ” ‘Kinh Chánh Tri Kiến’
được đức Phật giải thích như sau:
“Chư
Hiền, thế nào gọi là căn bổn bất thiện? Tham là
căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si
là căn bổn bất thiện. Chư hiền, như vậy gọi là
căn bổn bất thiện……Chư Hiền, thế nào gọi là
căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân
là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư hiền,
như vậy gọi là căn bổn thiện.”5
Qua
đoạn kinh vừa dẫn trên, đức Phật đã cho chúng ta
một định nghĩa rất thực tế có liên hệ mật thiết
đến cuộc sống mà chúng ta đang sống, có những hành
vi biểu hiện bề ngoài rất là đẹp và đạo đức,
nhưng khi chúng ta đi sâu vào tâm hồn của họ thì không
là như vậy, một tâm tư khá lương lẹo và độc ác
mà chúng ta khó lường được; Ngược lại, cũng có
những người nhìn hình thức bên ngoài biểu hiện hành
vi rất thô lỗ dữ tợn, nhưng xét về tâm hồn của
họ thật là dễ thương và hiền hoà và trong sáng,
sự tương phản này là sự mâu thuẫn giữa hành vi và
sự suy nghĩ của con người, thật khó cho chúng ta đoán
định đâu là đúng đâu sai, đâu là thiện đâu là ác
? Đứng trước sự kiện gần như là bế tắc này,
đức Phật đã mở cho chúng ta một con đường đi thật
là rõ ràng và họp lý, Ngài chỉ ra rằng, ý thức
con người là chủ nhân sai sử mọi hành vi thiện ác,
sự biểu hiện bên ngoài chỉ là tay sai công cụ thực
thi ý muốn của ý thức, do vậy chúng ta muốn đánh
giá một hành vi nào, nó thuộc thiện hay ác thì căn
cứ vào ý thức. Và hành vi thiện hay ác được gắng
liền với 3 độc là tham sân và si mê. Nếu hành động
nào gắng liền với 3 độc này được gọi là căn
bản bất thiện, và ngược lại được gọi là căn bản
thiện. Tại sao gọi nó là căn bản, vì 3 độc là các
để con người biểu hiện nhưng hành vi khác nhau, cho
nên được gọi nó là ‘căn bản’. Như vậy, lòng tham
sân si hoặc lòng không tham không sân và không si chính là
động cơ thúc đây để cho thân và khẩu thực thi những
hành vi thiện hoặc bất thiện.
Nếu
chúng ta đứng từ góc độ này mà tìm hiểu ý nghĩa
sám hối trong đạo Phật, hẳn nhiên chúng ta thấy hành
vi sám hối của 3 nghiệp có mối quan hệ mất thiết
với việc đoạn trừ hay chuyển hóa lòng tham sân và
si này. Nếu như việc sám hối chỉ dừng lại ở mặt
hình thức, có nghĩa là thân lạy Phật, miệng đọc
tụng lời sám hối, nhưng tâm tư lại suy nghĩ việc bất
chính, không chịu thay đổi 3 nghiệp bất thiện của mình,
việc sám hối đó thật không có ý lợi gì. Vì sự
sám hối chỉ có lợi ích khi nào chúng ta thật sự
ăn năng hối hận và từ bỏ những lỗi lầm của mình.
Do vậy, để cho việc Sám hối thật sự có lợi ích,
chúng ta cần phải phối họp 3 nghiệp một cách chặt
chẽ, khi chúng ta 5 vóc gieo xuống đất-lạy phật với
lòng thành kính, miệng xướng danh hiệu Phật hoặc
đọc lời văn sám hối, cần chuyên tâm nhất ý lãnh
thọ lời Phật dạy, dùng hình ảnh đức Phật hoặc
lời Phật dạy làm ngọn đuốc soi sáng, phản chiếu
3 nghiệp của mình đã làm, thấy rõ hành vi sai trái,
hết lòng và thành thật sửa đổi. Nếu làm được
vậy, cõi ác càng ngày càng xa, cõi lành càng ngày
càng gần. Như vậy, sự sám hối này có quan hệ mật
thiết với 3 nghiệp, hay nói một cách khác, sám hối
cũng có nghĩa là sự chuyển đổi 3 nghiệp bất thiện
thành 3 nghiệp thiện..
2.
Ý NGHĨA SÁM HỐI TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Phần
lớn các nhà học giả cho rằng, Nguyên thủy Phật giáo
là thời kỳ sau khi đức Phật thành đạo cho đến khi
Phật giáo chưa chia rẽ thành Thượng tọa bộ và Đại
chúng bộ. Thật ra ở thời này, kinh điển Phật giáo
chưa kết tập thành vaăn tự, truyền thừa dưới hình
thức khẩu truyền. Thánh điển Pàli là 5 bộ Nikàya
và 4 bộ A hàm là những thánh điển của Phật giáo
bộ phái, được kết tập dưới thời vua Asoka vào
khoảng thế kỷ thứ III TCN. Như vậy, làm thế nào để
chúng ta có thể hiểu tư tưởng của Phật giáo Nguyên
thủy ? Có lẽ chỉ có cách duy nhất là ngang qua 2 nguồn
thánh điển này, chúng ta tìm hiểu về cuộc sống
và tư tưởng của đức Phật ở Phật giáo Nguyên thủy.
Do vậy, từ mà tôi gọi là Phật giáo Nguyên thủy là
muốn ám chỉ đến 2 nguồn tư liệu A hàm và Nikàya.
Liên
quan đến vấn đề sám hối mà chúng ta đang đề cập,
trong kinh tạng Pàli và A hàm có khá nhiều kinh đề cập,
với nội dung đức Phật giảng dạy, khi chúng ta vấp
phải sự sai lầm, cần có tâm ăn năng sám hối, vì
sám hối là pháp làm trong sáng tâm linh, là nền tảng
thăng hoa cuộc sống đạo đức, cũng là cơ sở cho người
xuất gia và tại gia vương tới cuộc sống giác ngộ
và giải thoát. Vì tránh sự trùng lập, do vậy ở
đây tôi chỉ trích dẫn một vài kinh mang tính tiêu biểu,
để trình bày ý nghĩa về pháp sám hối ở trong Phật
giáo nguyên thủy, lấy đó làm nền tảng để chúng
ta tìm hiểu sự phát triển của nó ở Phật giáo về
sau. Đề cập đến pháp sám hối, theo tôi, bài kinh tiêu
biểu nhất là: ‘Giáo giới Rahula trong rừng Am-ba-la’
trong “Kinh Trung Bộ”6. Trong kinh này, đức Phật khuyên
dạy Rahula khi vấp phải sự sai lầm nên ăn năn sám hối
như sau:
“Nếu
trong khi phản tỉnh, này Rahula, ông biết như sau: ‘Thân
(và khẩu) nghiệp này ta đã làm, Thân (và khẩu) nghiệp
này của ta đưa đến tự hại, đưa đến hại người,
đưa đến hại cả hai; thời Thân (và khẩu) nghiệp này
là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo
đau khổ’. Một thân (và khẩu)như vậy, này Rahula, ông
cần phải thưa lên, cần phải tỏ lộ, cần phải trình
bày trước các vị đạo sư, hay trước các vị đồng
phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình
bày, cần phải phòng hộ trong tương lai.”.7
Khác
với trường hợp của thân nghiệp và khẩu nghiệp,
trong trường hợp ý nghiệp được đức Phật giảng
dạy như sau:
“Sau
khi ông làm xong một ý nghiệp, này Rahula, ông cần phải
phản tỉnh ý nghiệp ấy như sau: ‘Ý nghiệp này ta đã
làm, ý nghiệp này của ta đưa đến tự hại, đưa đến
hại người, đưa đến hại cả hai; thời ý nghiệp này
là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo
đau khổ’. Nếu trong khi phản tỉnh, này Rahula, ông biết
như sau: ‘Ý nghiệp này ta đã làm. Ý nghiệp này đưa
đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại
cả hai; ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau
khổ, đem đến quả báo đau khổ’. Một ý nghiệp như
vậy, này Rahula, ông cần phải lo âu, cần phải tàm quí,
cần phải nhàm chán. Sau khi lo âu, tàm quý, nhàm chán,
cần phải phòng hộ trong tương lai.”8
Hai
đoạn kinh vừa nêu trên, là lời khuyên dạy của đức
Phật đối với tôn giả Rahula, là người con duy nhất
của ngài khi chưa xuất gia. Qua đó, nó gợi ý cho chúng
ta thấy, lời dạy của ngài rất thực tế, không mơ
hồ, nó luôn luôn gắng với đời sống hằng ngày của
con người và có giá trị rất thiết thực gắng liền
với đời sống hiện tại. Ngài khuyên răn nhắc nhở
Rahula trước khi làm một việc gì, đang làm một việc
gì và sau khi làm việc gì, chún xem xét quan sát việc
đó, nó có mang lại phiền não khổ đau cho mình và
người không, nếu như có thì đó là việc ác, nếu
ta đang làm thì cần phải dừng lại ngay, nếu như đó
là việc chúng ta sẽ làm thì nên từ bỏ ý định đó.
Còn nếu như chúng ta đã lỡ làm một thân nghiệp hay
khẩu nghiệp gì bất thiện, chúng ta cần phải đem sự
kiện này thưa lên với bậc Đạo sư hay vị đồng phạm
hạnh có trí, để cho vị ấy nắm rõ sự kiện và
có lời khuyên dạy thích đáng, nhằm chấm dứt việc
làm bất thiện của thân và miệng trong tương lai. Nhưng
riêng về ý nghiệp thì không hoàn tòan giống như thân
nghiệp và khẩu nghiệp, đức Phật dạy khi chúng ta
phạm phải sai lầm về ý nghiệp thì tự mình ăn năn
sám hối và phòng hộ trong tương lai không tái phạm,
nhưng đức Phật không khuyên người phạm sai lầm phải
đến trước vị Đạo sư hay người đồng phạm hạnh
có trí trình bày sự sai lầm của mình, vì sự sai
lầm đó chỉ xuất hiện trong ý thức chưa thể hiện
qua hành động, do vậy tự mình ăn năn sám hối là
đủ rồi.
Qua
đoạn kinh vừa dẫn trên, theo tôi nó có liên quan đến
cách Sám hối trong Phật giáo Đại thừa mà mỗi người
chúng ta đang tu tập, do vậy chúng ta cần lưu ý 3 vấn
đề̀: (a) Phản tỉnh, (b) Trình bày với bậc Đạo sư
hay đồng phạm hạnh có trí, (c) phòng hộ trong tương
lai.
1.
Phản tỉnh
Phản
tỉnh là sự quan sát, xem xét lại những hành vi đã
qua, thuộc về những việc đã xảy ra trong qua khứ. Tại
sao đức phật phải khuyên ta ‘phản tỉnh’ ? Một trong
những lý do chính đáng là, chúng ta quá hời hợt với
cuộc sống chính mình, việc gì chúng ta đã làm, dường
như không muốn lưu tâm suy xét về nó, cho rằng cái gì
đã qua thì cho nó qua dù việc đó là việc tốt hay
xấu. Theo tôi cách suy nghĩ như vậy không phù họp với
lời dạy của đức Phật, vì mặt dù ngài khuyên dạy
chúng ta ‘Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước
vọng…,’9 nhưng ý nghĩa lời dạy này không mang ý nghĩa
đức Phật khuyên chúng ta: ‘không nên phản tỉnh quan sát
hay kiểm tra lại những việc làm trong quá khứ hay việc
sẽ làm ở tương lai. Với ý nghĩa của bài kinh này
đức Phật chỉ khuyên chúng ta không nên vì chuyện đã
qua mà khổ, vì chuyện tương lai mà sanh ưu sầu, vì
chuyện đã qua chúng ta có nuối tiếc cũng không được
gì, còn chuyện tương lai thì lại chưa đến mà cuộc
sống luôn luôn chuyển dịch theo từng sát na để có
một cái chính xác như ta đã muốn. Trận sóng thần
vừa qua là một chứng minh cụ thể. Như vậy với ý
nghĩa của lời dạy này không đồng nghĩa’ không kiểm
điểm những hành vi đã qua’. Sự kiểm điểm quan sát
này, nó giúp cho con người chúng ta rút ra những kinh
nghiệm đáng quí trong quá khứ, có phản tỉnh chúng
ta mới biết được lý do tại sao chúng ta vấp phải
sự sai lầm này, từ đó nó cho chúng ta một bài học
để tránh sự lập lại sự sai lầm trong tương lai. Đây
là ý nghĩa và lý do tại sao, đức Phật khuyên chúng
ta cần phải phản tỉnh.
2.
Trình bày với bậc Đạo sư hay đồng phạm hạnh có
trí.
Thật
ra khi còn là con người, ắt hẳn ai cũng vấp phải những
chuyện sai lầm dù ít hay nhiều. Nhưng sự khác biệt
giữa người trí và kẻ ngu là thái độ cư xử đối
với việc sai lầm đó. Thông thường người trí khi
vấp phải sai lầm thì họ thừa nhận sự sai lầm đó,
côi đối phương và với tâm mong cầu được sửa đổi.
Thế nhưng, kẻ ngu thì ngược lại, luôn luôn lúc nào
cũng bưng bít, bằng nhiều thủ đoạn che dấu lỗi lầm
của mình và không chấp nhận sửa đổi. Đó là sự
khác biệt giữa người trí và kẻ ngu. Ở đây, đức
phật khuyên các đệ tử của mình nên học tập thái
độ của người trí đó, bằng cách khi biết được
mình vấp phải hành vi sai lầm nào đó, cần đem việc
đó trình bày với bậc đạo sư hay người đồng phạm
hạnh, nhưng phải là người có trí, trình bày sự sai
lầm của mình lên họ, để mong họ cho mình những lời
khuyên thích đáng, lấy đó làm hành trang cho tương lai.
Đó là lý do tại sao đức phật khuyên đệ tử của
ngài, khi phạm phi sai lầm cần trình bày với người
đồng phạm hạnh có trí. Ý nghĩa này chính là yếu
tố mà Phật giáo Đại thừa đã thiết lập hình thức
lạy Phật, có nghĩa là chúng ta đối diện trước ngài
thành khẩn lễ lạy, mong ngài chứng minh sự thành tâm
của mình với một ý thức thật sự muốn sửa đổi
lỗi lầm của mình. Đây là điểm mà chúng ta cần
lưu ý.
3.
phòng hộ trong tương lai
Phòng
hộ là thái độ cẩn thận biết bảo vệ, biết giữ
gìn. Ở đây, câu ‘phòng hộ trong tương lai’ có nghĩa
là cẩn thận giữ gìn, không để cho 3 nghiệp ác tái
phạm. Đứng về mặt ngữ nghĩa mà nói, thái độ
phòng hộ hay giữ gìn thường được xuất hiện, khi
con người vấp phải sự sai lầm nào đó, vì để tránh
trường hợp tái diễn cho nên con người cần có thái
độ phòng hộ. Thế nhưng, trên thực tế chúng ta vấp
phải sự sai lầm, nhưng rất ít người rút kinh nghiệm
từ sự sai lầm đó, làm bài học cho tương lai. Do đó,
sự sai lầm cứ tiếp tục xảy ra với người đó, nó
là một trong những nguyên nhân gây khổ đau cho con người.
Đó là lý do tại sao đức Phật khuyên chúng ta cần
phải có thái độ phòng hộ hay cẩn thận với 3 nghiệp.
Liên
quan đến vấn đề ‘Sám hối’ trong phật giáo Nguyên
thủy, chúng ta thấy trong “Kinh Tạp A Hàm” kinh số 347
có đề cập đến vấn đề này, vì để độc giả
hiểu rõ pháp sám hối trong Phật giáo đóng một vai
trò khá quan trọng trong tiến trình tu tậy nơi đây, tôi
xin tôi xin giới thiệu khái quan nội dung kinh này để
người đọc có cơ sở tìm hiểu pháp Sám hối trong
Phật pháp. Nội dung Kinh 347 này ghi rằng, trong thời đức
Phật còn tại thế, các ngoại đạo thường có lòng
ganh tị với đạo Phật giáo, vì tăng đoàn của đức
Phật được nhà vua, các đại thần, trưởng giả, Bà
la môn, cư sĩ cung kính tôn trọng và cúng dường, do đó
các ngoại đạo đã sai Tu Thâm là người rất thông minh
lén vào trong đạo Phật xuất gia, với mục đích phá
hoại đạo Phật. Sau khi Tu Thâm được xuất gia, sống
trong chúng tăng, đưa ra những hoài nghi và giải thích
không phù họp Phật pháp, làm xáo trộn tăng chúng. Đức
Phật đã gọi Tu Thâm giảng dạy Phật pháp và chỉ ra
những ác ý này. Sau khi Tu Thâm nghe Phật giảng dạy xong,
cảm thấy ăn năn hối hận vô cùng và thành thật xin
Sám hối cùng Phật và tăng chúng. Đức Phật chấp
nhận sự ăn năn sám hối của Tu Thâm và bảo Tu Thâm
nên nói lên những lời ăn năn sám hối như sau:
“Ngày
xưa con ngu si bất thiện, vô trí ở trong chánh pháp luật
lén xuất gia, ngày nay ăn năng lỗi lầm, tự thấy tội,
tự biết tội. trong đời sau sẽ thành tựu luật nghi,
công đức tăng trưởng, trọn không thối giảm. Vì sao?
Hễ có người có tội tự thấy, tự biết và ăn
năn lỗi lầm của mình thì ở đời sau luật nghi sẽ
thành tựu, công đức tăng trưởng, trọn không thối giảm”10.
Theo
kinh này ghi lại, sau khi sám hối xong, Tu Thâm nhờ vậy
được chân chính xuất gia trong với Thế Tôn, nhờ vậy
được lơị lạc từ Phật pháp, kiến pháp, đắc pháp
và giác ngộ, các lậu hoặc cũng theo đó được đoạn
trừ.
Ở
đây, chúng ta thử đặt vấn đề, tại sao đức Phật
khuyên bảo người phạm tội phải tự mình nói lên những
lời ăn năng sám hối này? Không phải trong đạo Phật
nói rằng, tâm tạo tội lỗi, đem tâm đó sám hối là
được rồi hay sao ? Trên nguyên tắc là như vậy, nhưng
chúng ta cần phải xét đến góc độ xã hội, tức
là mối quan hệ giữa người với người, hành động
sai lầm của chúng ta khi đã được biểu hiện qua thân
và miệng, hành vi đó chắc chắn sẽ được nhiều
người biết đến, do vậy chúng ta cũng cần bằng lời
nói của chính mình công khai sám hối, điều này đồng
nghĩa với hình thức xin lỗi của thế gian. Cách làm
này có hai ý nghĩa, thứ nhất tự tâm mình cảm thấy
an ổn không còn chướng ngại, khi mình đã thật lòng
sám hối; thứ hai qua những lời công khai sám hối này,
người khác cũng sẽ cảm thông cho mình, và sẵn sàng
tạo điều kiện cho mình thăng tiến trong cuộc sống.
Có lẽ đó là 2 lý do mà đứt khuyên một người phạm
sai lầm cần phải phát lồ sám hối. Cũng vậy, Tu Thâm
là người ngoại đạo đã lén lút trà trộn trong tăng
chúng xuất gia với ác ý, đã tạo thành sự xôn xao
bàn luận trong chúng. Mặt dù, sau khi ông nghe Thế Tôn
giảng dạy chỉ ra sự sai lầm của mình. Chính ông đã
thức tỉnh, cũng đã bày tỏ sự ăn năn sám hối của
mình với đức Thế Tôn, nhưng còn chúng tăng và sự
đồn đãi trong xã hội như thế nào, nhất là những
người mới vào đạo hay chưa biết gì về đạo, họ
sẽ có cái nhìn không tốt thiếu thiện cảm với Tu
Thân, sẽ tạo thành những chướng duyên cho cả đôi bên.
Trong trường họp này, phương pháp hay nhất Tu Thân tự
mình ăn năn sám hối, đng thời công khai sám hối cùng
đại chúng. Đó là lý do tại sao phương pháp tu tập
trong Phật giáo có pháp sám hối.
Tóm
lại, phương pháp sám hối trong đạo Phật nguyên thủy,
đức Phật đặc biệt chú trọng phương pháp̣ ‘phản
tỉnh 3 nghiệp’, sau khi phản tỉnh hay quan sát cảm thấy
3 nghiệp đã qua của mình không phù hợp với chánh pháp,
mang lại sự khổ đau cho mình và người, lập tức phải
ăn năn sám hối 3 nghiệp đó, bằng cách nếu đó là
ý nghiệp thì tự tâm mình ăn năn sám hối là đủ
rồi, nhưng nếu nó là thân nghiệp hay khẩu nghiệp,
có nghĩa là những hành vi sai lầm đã được người
khác biết đến, người đó cần phải, trước nhất
là trình thưa với bậc Đạo sư hay những người phạm
hạnh có trí tuệ, đồng thời nếu sự việc sai lầm
đó có liên quan đến người khác thì cần phải công
khai tự mình nói lên những điều sám hối, để được
an lạc cho cả đôi bên, và một điểm quan trọng nữa
là sau khi sám hối cần phải thận trọng giữ gìn không
tái phạm sự sai lầm đó nữa. Đây là ý nghĩa sám
hối trong Phật giáo nguyên thủy.
3.
Ý NGHĨA PHÁP SÁM HỐI TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO ĐẠI
THỪA
Về
mặt hình thức, pháp 'Sám hối' trong Phật giáo Đại thừa
khác với Phật giáo Nguyên thủy. Nếu như Phật giáo Nguyên
thủy lấy việc thiền quán để kiểm soát 3 nghiệp làm phương
pháp tu tập, thì Phật giáo Đại thừa không làm như vậy,
lấy việc lạy Phật và miệng tụng đọc danh hiệu Phật
hay sám văn làm phương pháp tu tập. Nói một cách khác Phật
giáo Nguyên thủy chú trọng 'ý nghiệp', còn Phật giáo Đại
thừa chú trọng đến thân nghiệp và khẩu nghiệp, nhưng xét
cho cùng cả hai hệ thống kinh điển đều dựa vào 3 nghiệp
để tu tập sám hối. Nếu chúng ta muốn tìm hiểu tại sao
hai hệ thống kinh điển trong Phật giáo có sự dị biệt này,
chúng ta cần chú ý đến đối tượng mà Phật giáo Đại
thừa giáo hoá, đó là dành cho tất cả mọi đối tượng
trong xã hội từ giới tri thức đến người bình dân, từ
người xuất gia đến tại gia, không như Phật giáo Nguyên
thủy đối tượng mà đức Phật giáo hoá chính là giới xuất
gia, sự khác biệt về đối tượng này chính là nguyên nhân
dẫn đến sự khác nhau về phương pháp giáo dục, đây là
một trong những điểm mà chúng ta cần chú ý.
Đối
tượng giáo dục là người tại gia, dành cho tất cả mọi
thành phần trong xã hội, như vậy chúng ta cũng khẳng định
rằng đây là một đối tượng khá phức tạp, đại đa số
người trong đó là những người đến với đạo Phật cầu
tài cầu phước, hay nói đúng hơn là cầu phước báo hữu
lậu, không phải mong cầu sự giác ngộ và giải thoát, nhất
là Phật giáo tồn tại và hoằng dương Phật pháp trong nền
văn hoá của Bà la môn với những hình thức lễ nghi tôn giáo
phức tạp, trong một bối cảnh như vậy, Phật giáo Đại
thừa không thể không sử dụng đến cửa phương tiện, gieo
trồng hạt giống bồ đề trong xã hội, đề cao vai trò đạo
đức, thúc đẩy xã hội phát triển trong trật tự, khuyên
dạy mọi người nên lấy việc tụng đọc kinh Phật và thường
ngày lễ lạy chư Phật để ăn năn sám hối những lỗi lầm
của mình, có lẽ đó là lý do tại sao Phật giáo Đại thừa
chú trọng miệng tụng đọc sám văn và thân lễ lạy Phật.
Tuy
nhiên, chúng ta không nên căn cứ vào hình thức này mà cho
rằng Phật giáo quá chú trọng đến vấn đề lễ nghi là
không đúng, vì Phật giáo Đại thừa vẫn lấy tâm làm cơ
sở cho việc sám hối, như chúng ta thấy câu kệ sau đây:
Tội
từ tâm khởi, đem tâm sám,
tâm
được tịnh rồi, tội liền tiêu;
Tội
tiêu, tâm tịnh thảy đều không,
Thế
mới thật là chân sám hối.
Với
nội dung bài kệ này, giải thích phương pháp sám hối trong
Phật giáo Đại thừa. Trước hết là câu: " Tội từ tâm
khởi, đem tâm sám". Với nội dung và ý nghĩa câu này, trước
hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm 'tội'. tội là gì ?
tội, thông thường người Phật tử chúng ta được hiểu
là những hình thức trừng phạt trong địa ngục như đã được
mô tả trong các kinh điển Phật giáo, là kết quả của việc
làm bất thiện. Thật ra khái niệm 6 đạo hay 5 luân hồi,
nó vốn là khái niệm được sử dụng trong tôn giáo truyền
thống của Ấn độ, không phải khái niệm chuyên môn đặc
trưng của Phật giáo, đức Phật thấy nó có giá trị và
ích lợi trong việc giáo dục, lấy nó làm phương tiện răng
đe khuyên dạy con người, cho nên đức Phật đã vay mượn
nó để mô tả sự nguy hiểm của hành vi bất thiện của
3 gnhiệp, sẽ dẫn đến nổi khổ cho con người, cũng giống
như là nổi khổ trong địa ngục. Lấy hình ảnh trừng phạt
trong địa ngục làm hình thức răng đe con người, với mục
đích ngăn chận hành vi bất chính của con người, tức là
ngăn chận 3 nghiệp ác, nhưng trong 3 nghiệp này ý nghiệp vẫn
là nghiệp cơ bản, chỉ đạo cho thân nghiệp và khẩu nghiệp.
Từ ý nghĩa này, nó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, khái niệi
'tội' trong câu kệ này đề cập, mang ý nghĩa ngăn chận suy
nghĩ bất chính của con người, vì nó là nguồn gốc phát
sinh mọi khổ đau. Như vậy, Phật giáo đề cập đến khái
niệm 'tội' là đề cập đến nghiệp, đề cập đến nghiệp
là đề cập đến 'ý nghiệp; đề cập đến nghiệp là đề
cập đến nhân của khổ, đề cập đến tội là đề cập
đến kết quả của ác nghiệp. Thế nhưng, tại sao câu kệ
này không đề cập đến nghiệp mà lại nói đến khái niệm
'tội' mang ý nghĩa gì ? đây là điểm mà chúng ta cần lưu
ý. Để lý giải vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu câu
" Bồ tát sợ nhân chúng sanh sợ quả" trong Phật giáo, vì
thông thường con người chúng ta thường chú ý kết quả của
một hành động hơn là chú ý đến nguyên nhân hay tiến trình
hình thành của một sự kiện. Ví dụ, con người thường
sợ hãi tù tội hơn là sợ hãi nguyên nhân dẫn đến tù tội.
Cũng vậy, con người thường nghĩ đến cái vui nhỏ bé của
việc cờ bạc rượu chè hơn là nghĩ đến cái khổ do nhậu
của của việc này gây ra, cho nên con người đã lao vào việc
cờ bạc rượu chè. Đó chính là lý do tại sao đức Phật
thường nêu đến vấn đề tội và phước, khái niệm tội
khiến cho chúng sanh sợ hãi, từ đó không làm điều bất
thiện, ngược lại khái niệm phước khiến cho chúng sanh cảm
thấy vui vẻ thích thú, nó làm động cơ thúc đẩy cho chúng
sanh làm việc lành, nếu không có hai khái niệm này, chúng
sanh sẽ không thích làm việc thiện và từ bỏ các việc ác.
Như
vậy câu "Tội từ tâm khởi, đem tâm sám" có ý nghĩa rằng,
tất cả các nghiệp ác ở trong hiện tại hay ở vị lai mà
chúng ta phải gánh lấy đều do tâm của chúng ta tạo ra. Cái
tâm này chính là nguồn gốc của tất cả nghiệp, nghiệp
thiện cũng như nghiệp ác, làm Phật hay làm chúng sanh cũng
do tâm này tạo thành. Không ai đủ khả năng cho ta phước
đức cũng không ai có quyền đày đoạ ta khổ đau, tự mình
quyết định cuộc sống cho chính mình, với tâm tham lam sân
hận và ngu si đó là yếu tố trở thành chúng sanh, tự tạo
ra cảnh địa ngục; ngược lại với tâm sáng suốt không
còn ba độc là nhân tố tác thành một bậc thánh, một vị
Phật. Nếu như tâm là nguồn cội của tất cả các nghiệp
thiện ác thì những tội lỗi mà chúng ta đang có cũng từ
tâm tạo thành, vậy thì chúng ta muốn chấm dứt những lỗi
lầm này, cũng phải bắt nguồn từ tâm, có nghĩa là chúng
ta cũng phải sửa đổi nó từ ngay trong tâm của chúng ta,
không phải là sự sửa đổi bên ngoài, đó là ý nghĩa câu
"Tội từ tâm khởi, đem tâm sám". Chữ sám ở đây có nghĩa
là sám hối, là ăn năn hối cải những lỗi lầm của mình,
không chỉ giới hạn ở việc tụng đọc lời văn sám hối
và lễ lạy chư Phật. Việc tụng đọc kinh văn chỉ mang ý
nghĩa để cho chúng ta hiểu được lời Phật dạy, thấu rõ
những lỗi lầm của mình; Và việc lạy Phật chỉ là hình
thức chúng ta đối diện chư Phật chư Bồ tát và đại chúng
biểu lộ thái độ thành khẩu ăn năn sám hối những lỗi
lầm của mình, không mang ý nghĩa chúng ta lạy một lạy là
Phật sẽ trừ cho ta một tội, cũng không có nghĩa việc lễ
lạy làm động lòng chư Phật Bồ tát, để các ngài trừ
bỏ lỗi lầm cho chúng ta, vì lỗi lầm của chúng ta giảm
bớt hay tăng trưởng đều tùy thuộc vào sự sửa đổi của
chúng ta, không phải tùy thuộc vào việc lạy lục hay cầu
xin. Đây chính là ý nghĩa câu: "tâm được tịnh rồi, tội
liền tiêu".
Ở
đây, khái niệm 'tịnh' mang ý nghĩa trong sạch, nó là một
trạng từ bổ nghĩa cho chữ 'tâm', có nghĩa là 'với tâm trong
sạch'. Thế nào gọi là tâm trong sạch ? Tâm trong sạch là
tâm không bị lòng tham lam sân hận và si mê nhiễm trước,
vì đạo Phật cho rằng, chính tâm tham sân và si này tạo tác
các nghiệp ác, nó là tâm ô nhiễm không trong sạch. Như vậy,
khi tâm của ta không còn tham sân và si nữa thì các nghiệp
ác từ đâu mà có, cho nên nói là 'tội liền tiêu', có nghĩa
là sau khi chúng ta sám hối chúng ta nhận thấy rõ sự sai lầm
của mình và một lòng sửa đổi sự sai lầm đó, từ đó
trở về sau nghiệp xấu đó không tái sanh nữa, đây chính
là ý nghĩa của pháp sám hối trong đạo Phật.
Và
hai câu cuối cùng là: "Tội tiêu, tâm tịnh thảy đều không.
Thế mới thật là chân sám hối". Ý nghĩa hai câu này nói
lên quan điểm tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Nếu
như chúng ta đứng từ góc độ tư tưởng sử mà nhìn Phật
giáo thì sau khi đức Phật nhập diệt vào khoảng hơn 100 năm,
trong nội bộ tăng đoàn tranh cãi nhau về '5 việc của Đại
Thiên' (Mahàdeva)11 hoặc theo nguồn sử liệu của Phật giáo
Nam truyền ghi chép, sau khi Phật diệt độ khoảng 218 năm,
nội bộ Phật giáo tranh cải về 'Thập sự phi pháp' 12. Kết
quả cuộc tranh cãi này dẫn đến sự rạn nứt, phân chia
Phật giáo thành hai phái là Thượng toạ bộ và Đại chúng
bộ. Phái Đại chúng bộ là tiền thân của tư tưởng Phật
giáo đại thừa. Quá trình hình thành tư tưởng của Phật
giáo Đại thừa khá phức tạp, vì tính chất và nội dung
của bài viết này có giới hạn, do vậy, ở đây tôi không
đi sâu vào điểm này, nhưng đại khái sự hình thành tư tưởng
Phật giáo Đại thừa gắng liền với tư tưởng Phật giáo
Bộ phái, nhất là tư tưởng của phái Thuyết nhất thiết
hữu bộ (Srvastivadin), gọi tắc là Hữu bộ, vì phái này chủ
trương, có quan điểm cho rằng: Các pháp trong ba đời đều
thật có và vĩnh viễn tồn tại; ngược lại Phật giáo Đại
thừa không chấp nhận tư tưởng này cho nên trong hệ thống
Kinh Bát nhã đã đưa ra tư tưởng 'Tất cả pháp đều là
không' hoặc Long thọ cho rằng: 'Duyên khởi tánh không'. Nói
chung Phật giáo đến thời kỳ Bát nhã Long Thọ lấy tư tưởng
'không' phản bát tư tưởng của Phật giáo bộ phái cụ thể
là phái Hữu bộ. Qua đó, khái niệm không trong Phật giáo
Đại thừa nó có một bối cảnh như vậy, nếu chúng ta muốn
tìm hiểu tư tưởng 'không' này, việc cần làm trước tiên
là chúng ta cần làm việc so sánh đối chiếu giữa 2 nguồn
tư liệu Hữu bộ và Đại thừa, nếu không làm như vậy,
ngược lại dùng phương pháp phân tích triết học của Tây
phương hay dùng tư tưởng của Lão Trang nghiên cứu tư tưởng
Phật giáo đại thừa, theo tôi, đó là việc làm khá mạo
hiểm.
Như
vậy, khái niệm 'không' được đề cập trong câu kệ này
chính là khái niệm không của Phật giáo Đại thừa. Ở đây,
nói đến 'tội tiêu, tâm tịnh thảy đều không' là nói đến
tinh thần vô chấp hay vô phân biệt của tư tưởng Phật giáo
Đại thừa. Thế nào gọi là tinh thần vô chấp vô phân biệt
? Chúng ta muốn hiểu tinh thần này cần phải hiểu khái niệm
trí tuệ trong hệ thống kinh điển Phật giáo Đại thừa cụ
thể là Kinh Bát Nhã. Trong hệ thống kinh điển này thường
mô tả trí tuệ siêu việt của Phật bằng tiếng Phạn là
Pra-jña, tiếng Tàu dịch là Bát nhã, tiếng Việt gọi là trí
tuệ. Thật ra, từ pra-jña được dịch là 'trí tuệ' thì vẫn
chưa mô tả hết ý nghĩa của nó, vì từ này được ghép
lại bỡi pra là 'trước' 'trước khi' và jña là thức, hiểu
biết, phân biệt..., như vậy, từ pra-jña mang ý nghĩa là 'trước
khi nhận thức, trước khi phân biệt...', cái đó được gọi
là pra-jña, tức là loại nhận thức, hiểu biết trước khi
đối tượng nhận thức xuất hiện, nó khác với ý nghĩa
của từ pañña(trí tuệ) trong kinh tạng Pàli hay phái Thượng
toạ thường được sử dụng, vì ý nghĩa của từ pañña
là một loại nhận thức bao giờ cũng cần có đối tượng
nhận thức, có lẽ chính vì vậy mà các nhà dịch thuật Trung
Hoa chỉ dịch âm, không dịch nghĩa, do vậy, nếu chúng ta xét
từ góc độ tư tưởng thì hai từ này mang nội dung và ý
nghĩa không giống nhau, mặt dù chúng ta đều được dịch
là 'trí tuệ'.đây là điểm chúng ta đáng được chú ý khi
nghiên cứu hai hệ thống kinh điển Đại thừa và Tiểu thừa.
Từ
nội dung và ý nghĩa từ pra-jña này, nó gợi ý cho chúng ta
hiểu thế nào gọi là 'tội tiêu, tâm tịnh thảy điều không.'
Đây chính là mô tả sau khi hành giả thực hành pháp sám hối
thành đạt được pra-jña, ở đây chúng ta tạm thời gọi
nó là trí tuệ siêu việt, cho nên vị ấy không còn đối
tượng nhận thức của cái gọi là 'tội' tiêu' và 'tâm tịnh'
nữa, chúng ta thường giải thích là trạng thái vô phân biệt
của bậc chứng ngộ, tức là sự nhận thức của pra-jña
của Đại thừa, không phải là pañña của thượng tọa bộ.
Đồng
thời khái niệm 'không' trong câu 'tội tiêu, tâm tịnh thảy
đều không' này, chúng ta không nên hiểu nó như là một khái
niệm 'trống không, hư không' mà nên hiểu khái niệm này gắng
liền với khái niệm pra-jña, như là sự vô phân biệt, vô
chấp trước của bậc giác ngộ, trạng thái đó được gọi
là 'không'.
Khi
hành giả thực hành pháp sám hối thành đạt được trạng
thái pra-jña này, được gọi là sự sám hối tối thượng,
cho nên ở đay gọi là 'thế mới thật là chân sám hối'.
Thật ra pháp sám hối của Phật giáo Đại thừa, trên căn
bản là sự kết họp giữa phương pháp sám hối của Phật
giáo Nguyên thủy và tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Đây
là ý nghĩa pháp sám hối của Phật giáo Đại thừa.
3.
SỰ LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI BIẾT THỰC HÀNH PHÁP SÁM HỐI
Qua
sự trình bày về pháp sám hối giữa hai hệ thống kinh điển
của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa hay nói đúng hơn
giữa Phật giáo Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, nó cho
chúng ta nhận thức rõ ràng rằng, cho dù chúng ta tu tập sám
hói theo truyền thống Phật giáo Đại thừa hay Tiểu thừa
đều làm cho cuộc sống càng ngày càng thăng hoa tiến bộ
hơn, nó là yếu tố cơ bản xây dựng đời sống an lạc và
hạnh phúc, miễn là chúng ta thực hành đúng theo phương pháp
sám hối đã được đức Phật chỉ dạy.
Nếu
như chúng ta hiểu phương pháp sám hối của Phật giáo có
ý nghĩa giúp cho con người tự kiểm soát lại hành vi của
chính mình, và khi phát hiện 3 nghiệp thân khẩu và ý đã
lỡ làm những hành vi bất thiện, thì sám hối của đạo
Phật là phương pháp giúp cho chúng ta làm trong sạch và có
trách nhiệm ngăn ngừa các lậu hoặc phát sinh trong tương
lai, bằng cách phản tỉnh và có thái độ ăn năn hối hận
những lỗi lầm đó.
Nếu
chúng ta thừa nhận là con người ai cũng phạm phải sai lầm,
thì phương pháp sám hối của đạo Phật có chức năng giúp
cho người đó có đủ năng lực làm trong sạch cuộc sống
bằng cách nhìn thấy và chấp nhận sửa sai lỗi lầm của
mình. Thái độ nhìn nhận và sửa sai là hành vi biết phục
thiện, biết hổ thẹn hành vi sai lầm của mình, biểu hiện
ý chí cầu tiến, là chiếc áo giáp bảo vệ và ngăn chận
không cho 3 nghiệp phát sinh hành vi bất thiện. Nếu như con
người sống bằng 3 nghiệp thiện thì đó là nền tảng để
xây dựng đời sống hạnh phúc của thế gian và cũng là nhân
tố chính để trở thành bậc thánh. Nếu chúng ta bình tâm
suy nghĩ, căn cứ từ những kinh nghiệm của đời sống hằng
ngày, cho ta thấy rõ điều đó, gia đình mất hạnh phúc là
gia đình có đời sống bất chính, thiếu sự hiểu biết cố
chấp, không biết phục thiện, không nhìn thấy lỗi lầm của
mình, chỉ nhìn lỗi của người, đó là nguyên nhân dẫn đến
mất hạnh phúc. Ví dụ, người chồng với lý do chính đáng
vì công việc làm ăn thường hay tiếp xúc với sự việc không
lành mạnh trong xã hội, dần dần thành thói quen, và xem đó
như là việc bình thường, tạo thành sự xào xáo mất hạnh
phúc trong gia đình. Vì bảo vệ hạnh phúc của gia đình người
vợ hay cha mẹ, bà con hay bạn bè...khuyên răng người đó,
không nên gần gũi với những việc bất thiện ấy nữa, nếu
người ấy biết phục thiện, biết ăn năn sám hối những
lỗi lầm của mình thì đó là yếu tố để cho mọi người
tha thứ, hàn gắng lại vết thương bị đổ vỡ ở trong lòng
của mọi người, cũng từ đó mái ấm của gia đình sẽ tái
thiết định, tôi tin rằng sẽ kiên cố hơn và hạnh phúc
hơn; Ngược lại, khi được người khác khuyên răng chỉ điểm,
nhưng không biết phục thiện, ăn năn và sám hối thì đức
Phật gọi người đó, không có việc ác nào mà người đó
không dám làm, vì đức tính biết xấu hổ biết phục thiện
của người đó không còn nữa. Ở đây, thái độ ăn năn
sám hối chính là ý nghĩa sám hối trong đạo Phật. Ý nghĩa
Sám hối trong đạo Phật không mang ý nghĩa là nghi thức rửa
tội như các tôn giáo khác đã làm, mà nó mang ý nghĩa nhận
sai và sửa sai, hình thức tụng đọc sám văn chỉ có ý nghĩa
giúp cho con người biết được thế nào là việc thiện và
thế nào là việc bất thiện, làm tiêu chuẩn cho cuộc sống,
để cho con người phân biệt biết được đâu là việc sai
và đâu là việc đúng, đồng thời hình thức lễ lạy chỉ
biểu hiện thái độ thành thật ăn năn sám hối của mình,
không phải là sự van xin năn nỉ để được ngài tha thứ
những lỗi lầm của mình, vì học thuyết nhân quả nghiệp
báo của nhà Phật đã nói rõ tính công bằng giữa nhân và
quả.
Như
vậy, pháp sám hối của nhà Phật chỉ có giá trị giúp sức
cho con người có đủ sức mạnh để vượt qua những mặt
cảm về tâm lý xã hội, hướng dẫn con người thấy rõ vịệc
tội lỗi của chính mình, và ngăn chận những lỗi lầm trong
tương lai. Nếu như chúng ta thực hành đúng theo lời Phật
dạy, như trong hai hệ thống kinh điển, chắc chắn nó sẽ
là điều kiện cơ bản để mang lại đời sống hạnh phúc
cho gia đình, và nó cũng là nhân tố để hoàn thành đời
sống giác ngộ và giải thoát.
4.
KẾT LUẬN
Nếu
nước bốn bể của đại dương chỉ có một vị mặn thì
giáo pháp của Phật tuy có nhiều tông phái, Đại thừa và
Tiểu thừa, nhưng tất cả đều có một vị chung là vị giác
ngộ và giải thoát, vị đó là đặc tính chung nhất của
đạo Phật.
Cũng
vậy, dù rằng trên mặt hình thức hai phương pháp sám hối
của hai hệ thống kinh điển có khác nhau, nhưng giống nhau
về mặt nội dung tư tưởng. Cả hai hệ phái đều lấy ý
nghiệp làm nền tảng cho việc sám hối, có nghĩa là xem ý
như là nguồn gốc của các nghiệp thiện hay ác, do vậy nghiệp
bất thiện cũng do đây mà phát sinh, như vậy việc ăn năn
sám hối cũng bắt đầu từ ý nghiệp, tức là thấy rõ nghiệp
ác và quyết tâm sửa sai. Cách lễ lạy và tụng đọc sám
văn là hình thức biểu hiện sự thành tâm ăn năn sám hối
của mình, cũng là cách tu tập mang tính khế lý và khế cơ.
Căn
cứ vào những điều đã được trình bày trên, hương pháp
sám của Phật không những mang lại cho bản thân người đó
có đời sống an ổn, tự tin mà còn là nhân tố mang lại
đời sống hạnh phúc cho gia đình, cũng là sự đóng góp không
nhỏ cho việc xoá bỏ những tệ đoan xã hội, nêu cao tinh
thần có bổn phận và trách nhiệm.
Hơn
thế nữa, phương pháp sám hối của đức Phật là nền tảng
cơ bản cho những ai muốn thành đạt giác ngộ và giải thoát.
1 Thich
Hạnh Bình, “Tìm hiểu Đạo Phật Nguyên thủy” NXB Tôn
giáo, Hà nội, 2004.
2 ‘Nếu
kẻ nào cố ý tạo nghiệp, Ta nói rằng kẻ ấy phải
thọ quả báo, hoặc thọ ngay trong đời hiện tại, hoặc
thọ vào đời sau. Nếu tạo nghiệp mà không cố ý,
Ta nói rằng người ấy chắc chắn không phải thọ quả
báo’. (Viện CĐPH Hải đức dịch, “Kinh Trung A Hàm”
tập I, VNCPHVN ấn hành, 1992, trang 137.)
3 Tịnh
Minh dịch, “ Kinh Pháp Cú” ‘Phẩm Song Yếu’, Kệc.Nếu
nĩo liền theo sau,Như xe theo bị vậy.
4 Xin
tham khảo, HT.Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập I, VNCPHVN
ấn hành, 1992, trang 112~113.
5 HT.Minh
Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập I, VNCPHVN ấn hành, 1992,
trang 112~113.
6 Tương
đương Hán tạng ‘Kinh La Vân’ thuộc “Kinh Trung A hàm”.
7 HT.
Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập II, VNCPHVN ấn hành,
1992, trang 176~178.
8 HT.
Minh Châu dịch, “Kinh Trung Bộ” tập II, VNCPHVN ấn hành,
1992, trang 181.
9 Xin
đọc ‘Kinh Nhất dạ Hiền giả’ trong “Kinh Trung Bộ”,
bản dịch của HT. Minh Châu.
10
“Kinh Tạp A Hàm” tập II, VNCPP Việt nam ấn hành, 1994,
trang 39.
11
Xin tham khảo "Dị bộ tôn luân luận" Đại chánh tân tu Đại
tạng kinh, quyển 49.
12
Xin tham khảo "Kathàvatthu".
06-11-2008
12:34:55