Đừng
quên Đạo Sư
Hãy
luôn luôn cầu nguyện Ngài.
Chớ
để niệm tưởng cuốn hút
Hãy
nhìn vào bản tánh của tâm.
Đừng
quên cái chết
Hãy
kiên trì trong Pháp.
Đừng
quên chúng sinh
Hãy
hồi hướng công đức của bạn cho họ với lòng bi mẫn.
GHI
CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Quyển
sách này là một món cúng dường. Nó là vật cúng dường
cho Thầy tôi, Dilgo Khyentse Rinpoche, cho những bằng hữu tâm
linh của tôi, và cho tất cả những ai có thể để mắt một
lát vào những hình ảnh này.
Năm
1967, tôi du hành tới Darjeeling ở Ấn Độ và gặp vị Thầy
đầu tiên của tôi là Kyabje Kangyur Rinpoche. Tôi thường xuyên
sống trong vùng núi Himalaya từ năm 1972. Sau khi Kangyur Rinpoche
từ bỏ thế giới này, tôi trải qua mười hai năm với Khyentse
Rinpoche ở Bhutan, Ấn Độ, và Nepal, học tập với ngài và
phụng sự ngài. Trong thời gian này, tôi trở thành một tu
sĩ Phật Giáo. Tôi có may mắn được hộ tống Khyentse Rinpoche
ba lần sang Tây Tạng.
Trong
nhiều năm, tôi đã chụp những bức hình các vị Thầy của
tôi và thế giới xung quanh các ngài. Nguyện ước chính của
tôi khi làm công việc này là để chia sẻ vẻ đẹp, sức
mạnh, và chiều sâu phi thường của thế giới của các ngài.
Theo
giáo lý đạo Phật, Phật tánh hiện diện trong mỗi chúng
sinh, và trạng thái tự nhiên của thế giới hiện tượng
thì hoàn toàn viên mãn khi không bị hiểu sai do ảnh hưởng
của những tư tưởng tiêu cực. Những phẩm tính tích cực,
chẳng hạn như lòng tốt, được tin là phản chiếu cấu trúc
chân thực và căn bản của con người. Vì thế, trong nghệ
thuật nhiếp ảnh, tôi hy vọng là tỏ lộ được vẻ đẹp
của bản tánh con người. Ngay cả trong sự khổ đau cùng cực
cũng có thể có phẩm cách và cái đẹp; ngay cả trong khuôn
mặt của sự hủy diệt và khủng bố vẫn có thể có niềm
hy vọng. Điều này đặc biệt chân thực đối với xứ sở
và dân tộc Tây Tạng, những người đã thành công khi vẫn
giữ được sự hỉ lạc, sức mạnh nội tâm, và sự xác
tín ngay trong những hoàn cảnh khó khăn nhất của họ.
Sau
khi Khyentse Rinpoche viên tịch vào năm 1991, cháu ngoại và vị
kế thừa tâm linh của ngài là Shechen Rabjam Rinpoche, với sự
trợ giúp của nhiều đệ tử của ông ngoại mình, đã nguyện
sẽ tiếp tục sự nghiệp và duy trì các giáo lý của ngài
tại các Tu viện Shechen ở Nepal và Tây Tạng và các tổ chức
chi nhánh của chúng tại những quốc gia khác trên thế giới.
Chính nhờ sự bảo trợ của Quỹ Tài trợ Shechen mà quyển
sách này đã được chuẩn bị.
Tiểu
sử cô đọng của Khyentse Rinpoche được biên soạn từ tự
truyện viết tay của chính ngài (nó bao gồm những năm đầu
đời của ngài), một vài cuộn băng thu âm trong đó ngài thuật
lại một vài giai đoạn của đời ngài ở Tây Tạng, và những
cuộc phỏng vấn vợ ngài cùng những đệ tử của ngài. Chúng
tôi cũng vô cùng biết ơn Erik Pema Kunzang đã cho phép chúng
tôi kết hợp những đoạn trích dẫn từ bản dịch hai tường
thuật của Tulku Orgyel Topgyal về cuộc đời Khyentse Rinpoche.
Những
yếu tố khác nhau của bản văn được dịch từ tiếng Tây
Tạng hay được biên soạn và biên tập bởi Nhóm Dịch thuật
Padmakara, một nhóm các dịch giả quốc tế là những người
đã thực hành và nghiên cứu Phật giáo trong vài thập niên
dưới sự hướng dẫn của những Đạo sư Tây Tạng lỗi
lạc. Nhóm này tận tụy trong việc dịch thuật chính xác và
uyên bác những bản văn Phật Giáo và những giáo lý khẩu
truyền sang các ngôn ngữ Tây phương. Được đặt trụ sở
tại Dordogne, Pháp quốc, Nhóm Dịch thuật Padmakara được hướng
dẫn bởi Pema Wangyal Rinpoche và Jigme Khyentse Rinpoche, và đối
với quyển sách này thì còn có John Canti, Ani Jimba, Daniel Staffler,
Wulstan Fletcher, và bản thân tôi. Tôi đặc biệt cảm ơn Jill
Heald, Wendy Byrne, và Vivian Kurz về sự đóng góp vô giá đối
với dự án này.
Tôi
đặc biệt biết ơn Henri Cartier-Bresson đã mang lại cho tôi
những sự khích lệ, cảm hứng và hỗ trợ cho những mục
đích của quyển sách này, và Michael Hoffman mà nếu không có
sự nhiệt tâm, trí tuệ, và kinh nghiệm của ông thì quyển
sách này có thể chẳng bao giờ trở hành hiện thực. Cuối
cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu xa tới Đức Đạt
Lai Lạt Ma, người đã luôn luôn đối xử với các đệ tử
của Khyentse Rinpoche với một thiện tâm vĩ đại, đã chấp
thuận chia sẻ với chúng tôi những hồi tưởng và cảm xúc
của riêng ngài như một lời nói đầu của quyển sách này.
Matthieu Ricard
Mục
Lục
Hồi
Tưởng, Đức Đạt Lai Lạt Ma
Lời
Giới Thiệu
Những
Năm Đầu Đời
Gặp
Gỡ Những Đạo Sư Tâm Linh
Sự
Sâu Thẳm Của Thực Hành Tâm Linh
Vòng
Tròn Chuyển Hoá
Khyentse
Rinpoche, Nhà Xây Dựng
Trở
Về Tây Tạng
Đời
Sống Siêu Việt Thời Gian
Di
Sản Tâm Linh và Tính Liên Tục
Vòng
Tròn Viên Mãn
HỒI
TƯỞNG
Khyentse
Rinpoche là một trong những vị Thầy tôn quý nhất của tôi.
Tôi đã nhận từ ngài nhiều giáo lý quan trọng, nhất là
từ Cổ Phái (Nyingma) liên quan tới kinh nghiệm trong Giác tánh,
hay rigpa.
Ngay
từ lần đầu chúng tôi gặp nhau, tôi đã có một ấn tượng
rất tốt về ngài. Sau đó trong những kinh nghiệm và giấc
mộng sâu xa, tôi có những biểu thị rõ ràng cho thấy chúng
tôi có một vài mối liên hệ nghiệp đặc biệt. Kết quả
là tôi bắt đầu nhận từ ngài những giáo lý. Giờ đây
tôi cảm thấy vô cùng biết ơn ngài về mọi sự giúp đỡ
mà ngài đã ban cho tôi.
Khyentse
Rinpoche không bắt đầu bằng một vị trí cao cấp trong Giáo
hội, nhưng đã trở thành một vị Thầy vĩ đại bằng việc
phát triển những thành tựu viên mãn và đích thực. Là một
Hoá Thân của Đạo sư Tây Tạng thế kỷ mười chín Jamyang
Khyentse Wangpo, ngay từ khi còn nhỏ ngài đã bắt đầu biểu
lộ khả năng tâm linh mà ngài đã kế thừa từ những đời
trước. Ngài nhận những giáo lý từ nhiều Đạo sư, và thay
vì hoàn toàn để những giáo lý ấy nằm yên trong những trang
sách, ngài đã thực sự đưa chúng vào thực hành và gặt
hái kinh nghiệm trực tiếp từ chúng.
Khi
còn khá trẻ, ngài đã sống cuộc đời của một ẩn sĩ và
dâng hiến toàn bộ thời gian để thiền định những giáo
lý và chứng nghiệm ý nghĩa thực sự của chúng. Ngài đã
đạt được yếu nghĩa và điểm trọng yếu của thực hành
thiền định, và kết quả là trở thành một vị nắm giữ
truyền thống đang tồn tại – những quán đảnh, sự truyền
dạy, và những giáo huấn cốt tủy – của tám dòng truyền
tâm linh chính yếu đã phát triển ở Tây Tạng và bao gồm
những truyền thống Kinh điển và tantra.
Chưa
kể những phẩm tính ẩn mật khác của ngài, rõ ràng ngài
là một học giả và hành giả vĩ đại. Tôi đặc biệt cảm
kích quan điểm không bộ phái sâu xa của ngài. Ở Tây Tạng
đã hiện diện một số những truyền thống tâm linh khác
nhau, tương ứng với những phương pháp thực hành khác nhau,
mỗi truyền thống được mô tả bởi những điểm đặc trưng
duy nhất nào đó: một phương diện của sự thực hành có
thể được nhấn mạnh nhiều hơn hay ít hơn, hay một vài
vấn đề quan trọng của giáo lý có thể được giải thích
trong một cách thế đặc biệt. Nếu ta nghiên cứu những truyền
thống khác nhau này, ta sẽ nhận ra rằng chúng bổ túc lẫn
nhau. Do đó một sự tiếp cận không bộ phái rất ích lợi
cho sự thực hành của riêng ta, cũng như để hỗ trợ cho
việc duy trì giáo lý đạo Phật.
Mặc
dù nổi tiếng và có đồ chúng đông đảo, Khyentse Rinpoche
luôn luôn sống rất dễ thương và khiêm tốn. Kinh nghiệm
tâm linh sâu xa của ngài thật hiển nhiên, nhưng ngài không
bao giờ kiêu ngạo về sự hiểu biết của ngài. Đây là điều
rất đáng lưu ý. Ngài đối xử tốt lành với tất cả mọi
người như nhau, dù họ ở địa vị cao hay thấp, và thật
đúng đắn khi nói rằng chưa bao giờ người ta nghe thấy ngài
nói điều gì xúc phạm hay làm buồn lòng người khác.
Ngài
đã làm việc không mệt mỏi để giữ gìn và truyền bá những
giáo lý của Đức Phật vì lợi ích của tất cả chúng sinh,
cứu vãn và sao chép lại những Kinh điển hiếm có hầu như
đã biến mất, trùng tu những tu viện đã bị phá hủy và
đặc biệt là giảng dạy. Ngay cả khi đã già, bất kỳ lúc
nào ngài luôn luôn sẵn sàng để ban những bình giảng dựa
trên nguyên tác, những quán đảnh, và những giáo huấn cốt
tủy cho bất kỳ ai có thể trở thành một người nắm giữ
chân thực của dòng truyền thừa. Mọi sự ngài làm chỉ nhắm
vào việc giúp đỡ người khác và gìn giữ những giáo lý.
Ngài cũng biên soạn rất nhiều luận văn và các bình giảng.
Khyentse
Rinpoche là một mẫu mực cho tất cả những vị nắm giữ
giáo lý khác. Chúng ta không nên chỉ ngưỡng mộ sự hiểu
biết, trí tuệ, và thành tựu không thể nghĩ bàn của ngài,
mà quan trọng hơn nữa, chúng ta nên noi theo gương mẫu của
ngài và tự ganh đua để đạt được những phẩm tính đó.
Những giáo lý của Đức Phật có giá trị lớn lao đối với
mọi người, không chỉ với những hành giả hoàn toàn hiến
mình mà còn cả với các cư sĩ, và tất cả chúng ta phải
nỗ lực hết sức mình để thực hành và thực hiện chúng,
và để ganh đua với những vị Thầy vĩ đại là những người
đã noi theo gương mẫu của Đức Phật. Đó là cách thức
tốt đẹp nhất để hoàn thành những ước nguyện của vị
Thầy của chúng ta, sự cúng dường tối hảo mà chúng ta có
thể thực hiện cho ngài. Trong mức độ hiểu biết của tôi,
tôi có cảm tưởng rằng việc cúng dường sự thực hành
và thành tựu tâm linh của tôi cho Thầy tôi là cách thức
tốt đẹp nhất để làm vui lòng ngài, và tôi khẩn cầu mọi
bằng hữu tâm linh của tôi cũng phát triển nguyện ước này.
Tôi tin tưởng rằng những hành giả hiện tại có thể rút
ra được những lợi lạc to lớn từ việc học tập cách
thức các hành giả vĩ đại trong quá khứ đã nỗ lực trên
con đường.
Là
đệ tử của Khyentse Rinpoche, tôi muốn chia sẻ cảm xúc của
tôi với những đệ tử khác của ngài rằng chúng ta đã rất
may mắn khi được gặp ngài và nhận những giáo lý của ngài.
Những gì chúng ta nhận lãnh từ ngài thì vô giá. Như thế,
giờ đây điều cốt yếu là chúng ta phải thực hiện các
giáo lý của ngài trong đời sống hàng ngày của ta, để chúng
ta trở thành những đệ tử tốt lành của một Lạt Ma tốt
lành như thế.
Những
kinh nghiệm tâm linh sâu xa, là những gì dường như siêu vượt
sự giảng giải luận lý, thì không dễ dàng diễn tả bằng
ngôn từ hay được trao truyền bằng phương tiện giảng dạy
khẩu truyền. Đúng hơn, chúng phụ thuộc vào sự hứng khởi
và những sự ban phước được nhận lãnh từ dóng truyền
tâm linh qua vị Thầy của ta. Đó là lý do tại sao trong Phật
Giáo (và đặc biệt là Kim Cương thừa), sự thực hành Guru
Yoga – “sự hợp nhất với bản tánh của vị Thầy” –
được coi là có một tầm quan trọng như thế. Bởi thực
hành Guru Yoga cực kỳ quan trọng nên những phẩm tính của
bản thân vị Thầy cũng quan trọng không kém. Những phẩm
tính cần thiết đối với một vị Thầy chân chính đã được
chính Đức Phật mô tả chi tiết trong nhiều Kinh điển và
tantra. Tất cả những phẩm tính này tôi đều tìm thấy ở
Khyentse Rinpoche.
Khi
những giáo lý đạo Phật bắt đầu nở rộ ở Tây Tạng,
những sự ban phước của Guru Padmasambhava, người đã đưa
Phật Giáo vào Tây Tạng, là một tác nhân hết sức quan trọng.
Những lời nguyện và lòng bi mẫn của Ngài đã thiết lập
một sự nối kết rất đặc biệt giữa Ngài và xứ Tây Tạng.
Giờ đây chúng ta đang sống trong một thời đại trong đó,
theo một quan điểm tâm linh, những điều kiện đã bị hư
hoại. Con người rất thông minh và đầy sáng tạo; nhưng phẩm
tính mà họ thường thiếu là thiện tâm thực sự của con
người. Trí thông minh của họ càng ngày càng được sử dụng
trong những cách thế hủy diệt. Bản thân những người Tây
Tạng đã từng trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn,
với sự hủy diệt rộng khắp khiến đất nước và Phật
Giáo Tây Tạng phải chịu đau khổ. Và ở khắp nơi trên thế
giới, mọi loại biến động và bất hạnh đã phát sinh. Trong
những thời đại khó khăn như thế, những sự ban phước
của Guru Padmasambhava rất cần thiết, và tôi có cảm tưởng
rằng sự ban phước của Khyentse Rinpoche thì cũng y như vậy,
bởi ngài có một mối liên hệ đặc biệt với Guru Padmasambhava.
Như
thế, đây là điều tôi suy nghĩ về Thầy tôi.
Tôi
rất hài lòng về việc xuất bản quyển Hành trình đi tới
Giác ngộ, tiểu sử của Khyentse Rinpoche được minh họa bằng
những bức ảnh tuyệt đẹp. Với những lời cầu nguyện
trí tuệ của Thầy tôi có thể thấm đẫm tâm thức chúng
ta, tôi muốn cảm ơn nhiếp ảnh gia, Thượng tọa Konchok Tenzin
(Matthieu Ricard), nhà xuất bản, và tất cả những ai đã cộng
tác trong tác phẩm này.
LỜI
GIỚI THIỆU
Quyển
sách này cố gắng mở cánh cửa đi vào một thế giới cổ
xưa và tuy thế thật đáng lưu ý có liên quan tới thời đại
của chúng ta, và mang lại một cái nhìn thoáng qua – từ bên
trong – về cuộc đời của một vị Thầy Phật Giáo Tây
Tạng và về một nền văn hóa độc nhất vô nhị mà, mặc
dù những biến động trong quê hương của nó, vẫn tồn tại
trong toàn bộ tính chất xác thực.
Trong
hơn một ngàn năm, nền văn hóa Phật Giáo đã nở rộ trong
xứ Tây Tạng như nền tảng của một xã hội nguyên vẹn.
Số lượng tăng ni được ghi chép lại lên tới một phần
tư dân số, một con số có lẽ không nơi nào khác trong những
nền văn hoá hay lịch sử của nhân loại có thể sánh kịp.
Thực hành tâm linh rõ ràng là mục tiêu chính trong cuộc đời,
và những cư sĩ – đàn ông và đàn bà, những người du cư,
nông dân và các thương nhân – cũng cho rằng mặc dù những
hoạt động hàng ngày của họ là cần thiết, tuy thế nếu
so với nguyện ước sâu xa này thì chúng chỉ có tầm quan
trọng thứ yếu.
Không
còn nghi ngờ gì nữa, hứa nguyện phổ quát như thế đối
với thực hành Phật Giáo đã được thúc đẩy bởi sự tiếp
cận rất thực tế của Phật Giáo để trở thành một con
người tốt hơn, nhờ làm sáng tỏ những kinh nghiệm đích
thực về hạnh phúc và đau khổ và những nguyên nhân của
chúng. Hẳn nhiên là nó cũng được nuôi dưỡng bởi vẻ đẹp,
sự bao la và sự thuần tịnh nguyên sơ bi tráng của phong cảnh
Tây Tạng, điều đó mang lại một môi trường hỗ trợ cho
đời sống thiền định. Trên hết, Phật Giáo Tây Tạng sản
sinh ra một số những người (nam và nữ) xuất sắc, như những
mẫu mực sống động của sự Giác ngộ, là một nguồn cảm
hứng không ngơi nghỉ cho cộng đồng.
Một
cách đặc trưng, cuộc du hành của những người vỡ mộng
đối với những mục đích duy vật hay tự-quy khởi hành bằng
việc tìm kiếm một vị Thầy và sự phát triển niềm tin
nơi vị thầy đó và những giáo huấn của ngài. Khi ấy với
sự dâng hiến vĩ đại, người học đạo nghiên cứu và thiền
định trong những tu viện hay những ẩn thất trong núi non,
hoặc, trong trường hợp của những gia trưởng, tại nhà trong
thời gian rảnh rỗi được sắp xếp theo lối sống truyền
thống của Tây Tạng. Cuối cùng, một số hành giả trở thành
những vị Thầy có phẩm tính, có khả năng đóng góp cho hạnh
phúc của người khác. Quả thực, mục đích của mỗi đệ
tử khi tự hoàn thiện chính mình là để có được phương
tiện nhờ đó có thể thực sự giúp đỡ người khác.
Như
thế Phật đạo được bắt rễ trong sự vị tha. Ở một
bình diện văn hóa, sự quan tâm tới người khác này
được biểu lộ như sự bất bạo động – bất bạo động
đối với người khác, đối với thú vật, và đối với
môi trường sống. Những người Tây Tạng lánh xa chiến tranh,
việc săn bắn, đánh bắt cá, và tránh làm suy yếu quốc gia
và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú của họ bởi việc
khai thác quá mức.
Tất
cả những ai du hành tới Xứ Tuyết hay gặp gỡ những người
tị nạn ngoài xứ Tây Tạng đã hết sức kinh ngạc bởi sự
pha trộn độc nhất vô nhị của sự hoan hỉ, ngoan cường,
và niềm tin sâu xa nơi giáo lý đạo Phật là đặc tính của
người dân Tây Tạng.
Vào
cuối thập niên 1950, một biến cố đau thương đã bất thần
xé rách sự an bìinh một ngàn năm khi Trung Cộng xâm lăng Tây
Tạng. Vào những năm 1960 xảy ra cuộc Cách mạng Văn hoá,
và trong thời gian hai mươi năm sau đó, một triệu người
Tây Tạng – một phần sáu dân số – đã chết vì sự đói
khát hay bị ngược đãi. Sáu ngàn tu viện và đền chùa
bị phá hủy. Kinh sách bị thiêu hủy hay bị ném xuống sông.
Những tượng đồng quý báu bị nấu chảy và bị đúc thành
súng ống và đại bác. Cả con người lẫn văn hóa đều bị
hủy diệt.
Trên
một trăm ngàn người Tây Tạng, dưới sự dẫn dắt của
vị lãnh đạo tâm linh và thế tục của họ là Đức Đạt
Lai Lạt Ma, đã đào thoát sang Ấn Độ và những quốc gia
lân cận, ở đó họ nuôi dưỡng ngọn lửa tự do và nền
văn hóa Tây Tạng sâu xa và rộng lón của họ. Nhiều vị
Thầy vĩ đại của bốn trường phái chính của Phật Giáo
Tây Tạng đã tiếp tục giảng dạy và sáng lập nhiều tu
viện mới ở hải ngoại.
Sau
cái chết của Mao Trạch Đông, sự tự do ở Tây Tạng khá
hơn chút ít. Năm 1981, sau hai mươi lăm năm hoàn toàn im lặng,
những người tị nạn Tây Tạng bắt đầu nhận được tin
tức từ thân quyến của họ còn ở lại Tây Tạng. Một số
tu viện được xây dựng lại, và một số giới hạn các
tu sĩ được phép tiếp tục việc nghiên cứu Phật Giáo và
sự tu hành của họ. Đó là một kinh nghiệm khác xa sự tự
do chân thực, tuy thế những cải thiện này đã được đón
nhận. Một cây cầu đã được xây dựng giữa những vị
Thầy lớn tuổi vẫn còn sống ở Tây Tạng và một thế hệ
trẻ nỗ lực đáng ngạc nhiên để nghiên cứu và gia nhập
các tu viện. Người Trung Quốc nhận ra rằng những thập kỷ
của sự ngược đãi đã chẳng thay đổi được gì đối
với những thái độ của người Tây Tạng. Chế độ đã
bắt đầu chuyển sang những phương pháp khác từ đó. Hơn
là cố gắng sửa đổi bản thân người Tây Tạng, giờ đây
họ nhắm vào việc làm giảm bớt dân số Tây Tạng bằng
một dòng thủy triều những thực dân Trung Quốc tới mức
độ làm cho dân Tây Tạng trở thành một thiểu số trong chính
xứ sở của họ. Trừ phi được nhanh chóng ngừng lại, sự
di dân có thể rất thành công ở nơi mà sự hành hạ ngược
đãi bị thất bại, và làm biến mất khỏi thế giới chúng
ta một dân tộc và một nền văn hóa độc nhất vô nhị.
Ngay
trung tâm thế giới Tây Tạng là Lạt Ma, hay vị Thầy tâm
linh. Năm 1985, một trong những Lạt Ma Tây Tạng vĩ đại nhất
trong thời gian gần đây là Dilgo Khyentse Rinpoche đã viếng
thăm Tây Tạng sau ba mươi năm sống ở hải ngoại. Sự thiết
tha và sức mạnh của những đám đông lũ lượt kéo tới
để gặp ngài có thể là biểu hiện rõ ràng nhất cho thấy
ở Tây Tạng một sự hồi sinh vẫn có thể xảy ra. Tuy thế,
đây không đơn thuần là sự trở về quá khứ. Trong một
chừng mực nào đó, kết quả của việc phải bắt buộc rời
bỏ quê hương của họ, nhiều Đạo sư Phật Giáo Tây Tạng
đã có thể gây truyền cảm hứng và giảng dạy mọi người
từ khắp nơi trên thế giới, là những người đã nhận ra
giá trị khổng lồ và phổ quát của nền văn hóa đặc biệt
này.
Trong
quyển sách này chúng tôi miêu tả chân dung Khyentse Rinpoche,
nguyên mẫu của vị Thầy tâm linh, người mà cuộc du hành
nội tâm của ngài đã đưa dẫn ngài tới một sự thấu suốt
sâu thẳm phi thường và khiến cho ngài có thể là một suối
nguồn của lòng từ ái, trí tuệ và lòng bi mẫn đối với
tất cả những ai gặp được ngài.